Welcome Guest! To enable all features please Login. New Registrations are disabled.

Notification

Icon
Error

Nhã Ca
Phượng Các
#1 Posted : Thursday, November 25, 2004 4:00:00 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)



Nhã Ca





Tên thật Trần thị Thu Vân, sinh năm 1939 tại Huế
Giải thưởng thi ca toàn quốc năm 1965 (thơ Nhã Ca)
giải văn học nghệ thuật toàn quốc (Giải Khăn Sô Cho Huế)

Tác phẩm đã xuất bản:

Nhã Ca Mới(1965)
Ðêm Nghe Tiếng Ðại bác (1966)
Ðêm Dậy Thì (1966)
Bóng Tối Thời Con Gái(1967)
Khi Bước Xuống(1967)
Người Tình Ngoài Mặt Trận(1967)
Sống Một Ngày (1967)



Xuân Thì (1967)
Những Giọt Nắng Vàng (1968)
Ðoàn Nữ Binh Mùa Thu (1969)
Giải Khăn Sô Cho Huế(1969)
Một Mai Khi Hòa Bình (1969)
Mưa Trên Cây Sầu Ðông (1969)
Phượng Hoàng (1969)
Tình Ca Cho Huế Ðổ Nát (1969)
Dạ Khúc Bên Kia Phố (1970)
Tình Ca Trong Lửa Ðỏ
Ðời Ca Hát
Lăn Về Phía Mặt Trời(1971)
Trưa Áo Trắng (1972)
Tòa bin-ding bỏ không (1973)
Bước Khẽ Tới Người Thương (1974)
Hoa Phượng Ðừng Ðỏ Nữa (truyện dài)
Sài Gòn Cười Một Mình (tập truyện)
Hồi ký Một Người Mất Ngày Tháng
Chớp Mắt Một Thời (truyện dài)
Ðường Tự Do Saigon


Phượng Các
#2 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:11:02 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Chuyện Đôi Ta

I

Năm mười bảy tuổi, Nguyễn mới có chuyện tình. Đối với những cô bạn gái đồng trang lứa với Nguyễn, đứa nào cũng dấu thư tình trong tập vở từ năm mười lăm, mười sáu. Tại sao Nguyễn muộn như thế nhỉ ? Có nhỏ xấu miệng, xì xầm to nhỏ rằng : Con đó gà tồ. Con đó nhan sắc không hấp dẫn. Ừ, chỉ có nhan sắc kém, thiếu duyên dáng, mới ít kẻ tán tỉnh. Nguyễn nghe hết. Thì bọn nó, nói là cốt để cho Nguyễn nghe đó thôi. Nguyễn mĩm cười. Nguyễn biết Nguyễn chứ. Đẹp rực rỡ, duyên dáng ? Có lẽ Nguyễn không dám chủ quan. Nhưng tươi sáng, thông minh, nhanh nhẹn đó là đặc điễm của Nguyễn. Chuyện tình tới muộn. Nguyễn phải rõ hơn hết mọi người. Tới chậm, vì người ta chưa muốn cho nó tới sớm.

Khi nói ra, mọi người có thể nghĩ là con Nguyễn này dóc. Nguyễn đã lố bịch hoá câu chuyện. Vì vậy, những gì về trước năm mười bảy tuổi xóa, quên nó đi. Chỉ có một chuyện đáng nhớ là trước mười bảy tuổi, Nguyễn là Lê nguyễn, và từ năm mười bảy tuổi trở đi, Nguyễn vẫn là Lê Nguyễn. Mang hoài cái tên con trai, trong tâm hồn một người con gái. Lâu quá rồi, nếu trách ông già bà già đặt tên kỳ cục thì phải trách từ lúc nhỏ. Bây giờ, đã muộn.

- Người yêu kiếp trước của Lưu Nguyễn chăng ?

- Nó đâu phải là con gái. Chắc là sự kết hợp của hai anh chàng gàn dở Lưu Nguyễn đó.

Bọn bạn gái, hay gán ghép này nọ để trêu Nguyễn. Còn bọn con trai, khi mới tán tỉnh làm quen, nghe tên Lê Nguyễn, tưởng là Nguyễn nói đùa hay chanh chua. Con gái chanh chua, hay kê tủ đứng, hộc bàn thì ai mà chẳng sợ. Các anh rút lui từ từ. Còn bọn con trai đã quen rồi, thì đem Nguyễn ra mà diễu.

- Ơ, Vậy Nguyễn đâu phải con gái há. Nguyễn là trai giả gái há.

Nguyễn ghét. Chỉ có một người, năm Nguyễn mười bảy tuỗi, đã reo lên, sửng sốt :

- Ô, Lê Nguyễn. Tên đẹp quá.

Nguyễn khoái. Nhưng còn làm bộ :

- Đẹp gì đâu. Tên Hoa, tên Huệ, này nọ mới đẹp. Chớ tên Nguyễn, mà Lê nữa, thì đẹp ở chỗ nào ?

Anh chàng lắc đầu :

- Không phải. Tên của Nguyễn là một sự bền bỉ của hạnh phúc.

Nói văn hoa chăng ? Nói văn hoa quá thì Nguyễn không hiểu. Anh chàng giải thích :

- Lê họ cha. Nguyễn là họ mẹ. Như vậy, tên của Nguyễn là tên của thương yêu, của hạnh phúc.

Cám ơn. Gia đình Nguyễn thì hạnh phúc lắm. Bố và Mẹ, bây giờ đã già, nhưng Nguyễn bảo đảm là thương yêu nhau kinh khủng. Gia đình ít người nên tình thương đâu có chia xẻ bao nhiêu. Anh của Nguyễn Lê Thương. Bởi mẹ muốn thương Bố hoài, rồi tới Nguyễn. và anh chàng đã nói đúng gần như thầy bói. Nguyễn phải cười. Nụ cười của Nguyễn làm mắt anh chàng chớp hoài. Chắc cảm động. Nguyễn thú thật, lần đầu tiên trong đời, Nguyễn biết chú ý tới một chàng con trai. Chú ý ngay từ lúc chàng mới nhào dô tán tỉnh.

Anh chành. Nguyễn xin dài dòng giới thiệu một chút. Nếu là loại thanh niên thời đại thì chắc không có phút làm quen nữa. Không hiểu bọn bạn gái của Nguyễn thích loại con trai như thế nào ? Nguyễn chỉ nói phần Nguyễn thôi. Mặc kệ ý thích của Nguyễn, vì có thể mẫu người Nguyễn thích đối với kẻ khác xấu ỉn. Những loại quê mùa, đi giầy đơ cu-lơ là không có Nguyễn. Loại mặc quần ống loa thì kinh khủng rồi. Đi giày cao một tấc. Tóc để dài có thể kẹp bím được. Cho Nguyễn hai chữ bình an. Còn nữa, áo hoa sặc sỡ, hay loại mút-sơ-lin mỏng dính triển lãm đủ ba mươi sáu cái xương sườn ! Nguyễn khó tính ? Nguyễnh nhà quê ? Và loại Nguyễn thích chắc là một anh chàng đi đứng lớ ngớ, tóc húi cua, mặc quần ống túm. Nghĩ như vậy thì khinh Nguyễn quá. Chàng của Nguyễn (dám xác nhận mà) là người lịch sự, gì cũng vừa đủ thôi. Vừa đủ nghĩa là không lố lăng, không làm cái gì quá đáng. Nguyễn khoái nhừng màu áo chàng mặc. Nhạt, quí phái, sang trọng, thường đi với những màu quần hoà hợp. Và không phải lúc nào chàng cũng chỉ có những màu đó. Đôi khi, chàng có nhừng mầu áo dữ dội, thật đậm, để đi với những màu quần hay màu áo thật mơ. Xám nhạt. Nâu nhạt. Giày chàng đi không màu mè, không kiểu cọ. Còn đầu tóc không dài ngang vai mà cũng không ngắn như mới ở quân trường về. Chắc có bạn bịt mũi cười. Có bạn phê bình : Vậy chàng của Nguyễn chắc làm quảng cáo cho một hiệu may. Tệ hơn, là một ông phó may chính cống. Nguyễn vui vẻ cười góp liền. Cũng không cần giải thích. Lối ăn mặc, tư cách phong thái của chàng, tố cáo chàng là con nhà giàu. Nhưng chàng khiêm nhượng, lúc nào cũng đi chiếc Honda nặng ký, 120 mã lực. Nhưng chàng không phải tay đua gì. Đua ở trong cái thành phố be; tí tẹo này để đi nằm nhà thương dài dài à. Chắc tại chàng khoái tốc độ, phải nên đi xe như thế, để đi thật từ tốn trong thành phố, kiế chế sự thống khoái tốc độ đó bớt đi. Như vậy chuyện gì, Nguyễn cũng bênh chành hết.

Nguyễn gặp chàng rất tình cờ. Trong thư viện Quốc gia. Thật ra, Nguyễn chẳng khoái thư viện. Nguyễn đâu có cặp kiếng dày cộm và muốn trở thành một nữ giáo sư dạu triết lu;c nào cũng ôm sách vở đầy trên tay ! Nói thiệt ba mớ hiện sinh buồn nôn, sao nhức đầu quá. Vô phúc, Nguyễn cầm một tập truyện mà có chữ gì đại để là nôn mữa, là Nguyễn muốn nôn mữa liền. Bộ nôn mữa là triệu chứng gì độc quyền của mấy ông nhà văn. Mấy ông muốn dành nghề một cách bất chính hả. Nhưng con bạn của Nguyễn lại có bốn mắt và một đầu óc loại bác học thông thái. Hôm đó, kẹt quá, không biết đi chơi với ai Nguyễn mới dại chui vô thư viện. Đụng đầu chàng cái cốp. Và gặp rắc rối ngay.

- Cô kiếm cuốn gì. Tôi giúp cho.

- A... Thôi, cám ơn ông. Tôi tìm tầm bậy tầm bạ mà.

Chàng ngó Nguyễn, nụ cười diễu cợt :

- Bây nhiêu lớn mà đã tìm sách tầm bậy tầm bạ ?

Khí giới của con gái là cái nguýt, cái háy. Bĩu môi. Lặng yên bỏ đi chỗ khác tỏ vẻ khinh bỉ. Nhưng chết chưa. Nguyễn vẫn cứ đứng, không cất bước đi được mà cũng không bĩu môi. Sao thế nhỉ ?

Con bạn bốn mắt. Kẻ triết gia đi tìm mãi không bao giờ thấy ý nghĩa cuộc đời. Bỗng lù lù xuất hiện. Nó hích Nguyễn :

- Bạn ha ?

- Không. Ơ...

- Mày mượn gì đọc đi. Thiếu gì sách. Đứng đó cho người ta...

Nó nhíu mày, chém mạnh :

-... Cho người ta hỏi vớ vẩn.

Nó kéo tay Nguyễn. Nguyễn biết nó cáu anh chàng. Anh chàng lặng lẽ ngó Nguyễn, còn cô bạn của Nguyễn thì anh làm như không thấy, không biết, không có ở trên đời. Nguyễn theo con bạn ngồi vào một góc, nụ cười của anh chàng dán theo hoài. Và bỗng Nguyễn cảm thấy vui tươi, rộn rã chi lạ. Đâu biết tại sao ? Cần gì biết. Com bạn, liếc Nguyễn một cái, ném cho Nguyễn một cuốn sách :

- Coi đi. Mày chỉ ưa lộn xộn.

Chắc vậy. Nguyễn đang ưa lộn xộn đây. Nguyễn đâu có đọc được gì. Anh chàng đứng ngoài hàng lang, ngó xuống sân cỏ. Làm bộ chờ hai con mắt anh chàng đang ở đằng sau ót hả. Nguyễn mĩm cười. Chữ nghĩa gì đâu, cứ như những sinh vật nhỏ, bay vù vù trước mắt.

Con bạn, sau khi đã nghiền ngẫm kỹ, đã cóp trong sách vở một mớ triết lý, vội bảo Nguyễn đứng dậy, lấy cái lưng che che, Để làm gì thế ? Dể hiểu quá.. Để xé cái roẹt, hai ba trang sách rời ra, đút vào cái bóp nhỏ. Nguyễn cũng tài tình giúp bạn. Cả hai, thu xếp bút nghiên, trả sách cho thư viện, ra về.

Anh chàng còn đi theo một đoạn, và mở lời nữa chớ :

- Còn sớm mà.

- Nham nhở. Sớm cái gì ?

Nhỏ bạn trả lời cay nghiệt. Chớ Nguyễn thì không. Nhưng anh chàng, đã nói la coi như không có cô bạn đi bên Nguyễn trong đời này, chỉ cười với Nguyễn :

- Coi vạt áo.

Chết cha. Nguyễn quay lại. Một phần vạt áo bị giắt lại. Chắc tại lúc ngồi vô ý. Nguyễn sượng trân.

Đó là phút gặp gỡ. Còn phút làm quen mới ly kỳ.

II
Nguyễn biết anh chàng học văn khoa. Không phải Nguyễn nhờ thám tử tư điều tra đâu. Cần gì điều tra. Ngay buổi chiều gặp gỡ ở thư viện, con bạn đèo Nguyễn về. Nguyễn quay lại thấy anh chàng cho xe theo xa xa. Phắc. anh chàng biết rõ nhà Nguyễn. Nguyễn hơi kiêu hãnh. Tại nhà Nguyễn ở ngay mặt lộ, dễ kiếm. Nhưng coi chừng. Nhà có chó dữ, có tường cao. Cỗng sắt kiên cố. Anh chàng còn lâu mới vô nhà được. Nguyễn kiêu hãnh làm chi đã chứ. anh chàng đâu cần vô nhà. Ít khi người ta chạy vô nhà, ngồi ở phòng khách để tán tỉnh nhau lắm. Anh Thương của Nguyễn đào huê một cây, đã thường nói về khinh nghiệm những vụ tán tỉnh :

- Vô nhà hả. Ngu. Đứng ngoài cổng đôi khi còn bị bắt cóc đem vô nhốt lại rồi. Tán tỉnh chán gì chỗ, xa xa, để dọt cho lẹ chứ.

Nguyễn cười anh quá. Anh làm bộ, lúc nào cũng coi thường con gái. Phải làm bộ như thế vì không thể coi thường được. Con gái, đã trở thành một thứ mê hoạc, một thứ thần tượng trong tâm hồn những chàng trai mới lớn. Mất công đeo đuổi, mất công tán tỉnh. Đau đớn, nói để tự rửa hận, để cho khoái mồm đó mà. Tội nghiệp.

Anh chàng, từ hôm biết nhà, liền thay đổi lộ trình. Chỉ còn một đường duy nhất là đi qua con đường nhà Nguyễn ở. Mà lúc nào, cũng đúng lúc Nguyễn về tới ngõ. Vừa mới xuống xe, lúi húi bấm chuông là đã nghe còi xe của anh chàng inh ỏi. Anh chàng vụt qua, như chớp, biến mất. Nhừng Nguyễn biết, trước đó anh chàng đã ngắm Nguyễn mãn nhãn. Làm quen kiểu đó còn lâu. Nhưng anh chàng, nhất định làm quen rồi, không cần làm quen nữa. Và một bận, Nguyễn vừa ra trường, đi một đoạn, đang vọt ngon lành thì choáng váng, suýt té vì một cái xe ngược chiều đang phóng lù lù, nhanh như mũi tên.

- Ui da.

- Ủa.

Cả hai xe đều thắng két két. Ê cả răng. Khi ngừng, hai xa sát nhau, suýt chút thì đụng độ. Tay chân Nguyễn run lẩy bẩy. Anh chàng, không chút lính quýnh, còn làm ra bộ ngạc nhiên :

- May quá, gặp người quen.

- Quen hồi nào. Sợ chết được.

Nguyễn dắt xe vô lề. Bây giờ, đố Nguyễn lên xe đi được đó. Đang run, đang mất bình tĩnh. Giờ buổi chiều, con đường lớn, xe hàng chạy vèo vèo. Phải nghĩ một chút cho bình tĩnh lại đã. Anh chàng cũng dựng xe. Trả lời Nguyễn tỉnh bơ.

- Ủa làm mặt hả. Ngó coi.

- Xì. Tui...

Chẵng nghĩa lý gì hết. Tự nhiên nói xì, rồi nói tui. Tui làm sao ? Nguyễn nín thinh. Anh chàng tỏ vẻ lo lắng :

- Xe có sao không ?

- Biết đâu.

Nguyễn đứng tránh qua một bên để anh chàng coi cái xe. Muốn coi thì coi chớ hư hao gì. Đã đụng nhau đâu. Còn muốn đụng nữa hay sao đây ? Anh chàng xoa hai tay :

- Không sao hết. Ngon lành.

Và anh chàng cười :

- Nhớ tui hông ? Tui, bữa gặp ở thư viện đó... Thấy không, cô nhỏ quên mà chiếc xe nó nhớ. Nó nhớ nên nó định nhào tới rua cái xe của cô.

- Đi đâu mà như mù. Mù thì có. Đi gì lạ vậy ?

- Đi về nhà.

Nguyễn bật cười. Đã nói Nguyễn chết vì cái tính vui vẻ, mau quên. Vậy là chỉ mười phút sau, anh chàng đã song song xe với Nguyễn. Nguyễn bạo quá chăng ? Tự nhiên quá chăng ? Nhiều người nói tính Nguyễn giống tính con trai. Dạn dĩ, tươi vui, bộc trực. Nguyễn cũng biết điều đó. Nhưng làm bộ e lệ, nhõng nhẻo thì Nguyễn chịu.

- Hỏi tên được không ?

Dấu làm gì. Và Nguyễn nói để thấy anh chàng sửng sốt và Nguyễn vui thích. Lần đầu tiên, một người tin Nguyễn ngay, không cho là Nguyễn đùa. Và cũng tự nhiên, Nguyễn muốn biết tên anh chàng :

- Anh có tên không ?

- Có chớ. Ai mà không có tên cha mẹ đặt.

- Cho biết đi.

- Tên há. Được ngay. Tui là Nguyễn ngọc Diệp.

- Trời đất.

Nguyễn che miệng kêu lên. Bộ trời đất đã xếp đặt chăng ? Cô Lê Nguyễn, có bạn trai là cậu Nguyễn ngọc Diệp.

- Đâu phải ông trời đặt. Ông già tui đặt đó.

- Đừng có đùa nghe.

- Ơ, tui tin cô Lê Nguyễn ngay. Tai sao cô Lê Nguyễn không tin anh Nguyễn ngọc Diệp nhỉ ?

- Anh ?

- Vậy làm em chăng ? Cô Nguyễn đã lớn, nhưng tui lớn hơn. Phải kính trọng người trên chớ.

Phát mệt với anh chàng. Phát mệt khi nghe anh chàng dài dòng kê khai lý lịch. Chưa hết đâu. Nguyễn xì nẹc anh chàng ghê lắm. Xì nẹc nhưng chịu anh chàng. Coi, anh chàng nói chuyện ngang như cua.

- Nguyễn thì dễ thương. Nhưng ông anh của Nguyễn chuế quá.

Chết cha. Có ai tán đào kiểu đó không ? Thường thường, theo kinh nghiệm các đấng đàn ông, và kinh nghiệm sách vở, thì muốn được lòng nàng, chang phải được lòng từ ngoài sân tới trong bếp. Ngoài sân là con chó, trong bếp là chị ở. Huống chi ông anh của nàng. Ông anh, to lắm, quyền huynh thế phụ chứ bộ. Dù vậy, Nguyễn cũng ngấm ngầm công nhận anh chàng nói đúng. Ông anh của Nguyễn là loại con trai thời trang hạng nặng. Hơi lố bịch. Lố bịch vì cái mã khá bô của mình. Anh hơi huyênh hoang và ham biết nhiều thứ quá. Cái gì anh cũng biết một chút xíu. Các cụ nói nhiều nghề cá trê chui ống là vậy.

- Nguyễn giận há ? Xin lỗi, sự thực mất lòng.

- Kể ra phê bình một người vắng mặt, không được lịch sự lắm.

Nguyễn đâu có thua, dù trái tim đã đập loạn xạ vì anh chàng, nhưng lý trí của Nguyễn vẫn sáng suốt như thường. Phản ứng của anh chàng khi nghe Nguyễn nặng nhẹ ra sao à ? Như người khác thì xấu hổ, thì tìm cách chuồn. Nhưng anh chàng trái lại, gật gù :

- Bởi không ai ở đời dám nhận la mình hoàn tất cả. Hôm nay, cám ơn Nguyễn đã giúp tôi một bài học.

Và anh chàng, làm như chuyện đó đã qua, đã quên rồi. Cho xe đi sát vào Nguyễn hơn cười :

- Đi dạo một vòng được không ?

- Đường về nhà cũng còn khá khá cho anh theo. Đừng tham, bạn ạ.

Anh chàng, nghe Nguyễn công nhận là bạn, hân hoan :

- Tình bạn, muôn năm.

Chưa bao giờ Nguyễn thấy những hàng me hai bên đường đẹp thế. Không còn một giọt nắng, và lá me không còn được lọc màu xanh trong nên thẫm lại, đặc và bâng khuâng. Trong mắt Nguyễn, bóng chiều thật êm đềm. Hình như có lúc, cả hai đều không nói gì, và họ nghĩ gì, chỉ riêng mỗi người biết lấy.

III
Anh Chàng Nguyễn Ngọc Diệp đã hoan hô tình bạn muôn năm. Nhưng sau đó, anh chàng suy tính lại. Chắc thấy tình bạn thiệt quá. Mỗi lần hai đứa gặp nhau, chỉ bạn bạn tui tui, đi chơi suông rồi ai về nhà nấy, thắp đèn mà tương tư. Anh chàng hủy bỏ tình bạn muôn năm, tiến tới một thứ tình khác là tình yêu. Hai tuần lễ sau, Nguyễn nhận được thư tỏ tình của anh chàng. Thư với thẩn làm Nguyễn muốn điên lên. Dù chưa có tình yêu, nhưng đâu phải Nguyễn không nhận thư tình bao giờ. Lá thư của anh chàng làm Nguyễn chưng hửng...

... Thì cũng phải như mọi người cái gì cũng có phần thủ tục. Tại bị trước đây tui viết nhiều thư tình quá, nên thư tình của tụi bị thiên hạ đem bán kí lô, gói mắm gói muối ở chợ hết. Tui không muốn tiếp tục công việc làm ân nhân cho các ônq bà mua bán ve chai. Tui làm đơn gửi tới Lê Nguyễn, để xin được Lê Nguyễn nhận làm người yêu. Nếu được, xin gửi thư báo về địa chỉ... Còn nếu đơn bị bác, xin Lê Nguyễn xếp vào hồ sơ lưu, tôi sẽ tới xin lại. Dù chưa biết có được nhận đơn hay không, tôi cũng chân thành cảm tạ.

Xin đính kèm : Bản sao giấy khai sinh. Giấy hoãn dịch vì lý do học vấn. Giấy chủng đậu, giấy chứng nhận đã chích đủ ngừa bịnh tê liệt, phong đòn gánh, yết hầu, dịch, hạch và dịch tả lúc nhỏ.

Nguyễn đã cười tới bể bụng khi nhìn ba tấm hình chụp theo lối căn cước anh chàng kèm theo. Ảnh chụp đầu từ hồi nào. Thộn. Nhà quê. Ngu. Con nít. Hề. Ðủ thứ. Bộ không còn gì để nghịch chăng, đem chuyện tình yêu ra mà diễu. Phải cho anh chàng một trận mới được. Lúc đầu, Nguyễn cáu, nhưng càng lúc càng thấm, Nguyễn cười ghê quá. Một tuần lễ, anh chàng mất mặt. Nguyễn đã hơi thương hại rồi. Nghĩ rằng, chắc anh chàng xét lại, thấy đùa cợt khiêm nhã quá, và hối hận. Một tuần lễ, mất biệt để hối hận thì cũng đủ cho Nguyễn tha thứ. Nhưng đầu tuần ngày thứ hai, anh chàng xuất hiện. Cũng ở khoảng đường như mọi lần. Anh chàng đã giải thích tại sao không đón trước cổng trường như những anh chàng trồng cây si khác. Trồng cây si chỉ chờ vờ chàng vàng, cản trở lưu thông công lộ. Mốt đó cũng thời thượng rồi. Con người phải tiến bộ, luôn luôn phát minh ra những sáng kiến mới. A, thì ra cách tán gái của anh chàng là do
sự tiến bộ chớ không phải khiêm nhã. Cứ nhìn mặt anh chàng, nhìn nụ cười, cái dáng bình tĩnh, thong dong đó, thì anh chàng còn lâu mới hối hận hay xét lại.

- Mấy ngày không gặp Nguyễn, thấy Nguyễn hơi gầy đi đấy nhé.

- Xí. Biết gì mà nói ?

- Có biết, nhưng sợ không đúng thôi. Chắc có chuyện gì vui nên cười nhiều phải không ? ông giáo sư Henri gì đó có viết một cuốn sách, nói cách chữa bệnh mập hay nhất là cười nhiều. Cười nhiều cũng mất ca-lo-ri.

Cái ông Henri nào đó chực ở trên nguyệt cầu và chữ nghĩa của mộc tinh, lung tung tinh gì đó, chớ không có ở trái đất. Vậy mà cứ tỉnh bơ. Ghét. Nguyễn cố rán đừng cười. Thua anh chàng thì ức ghê lắm.

- Có lẽ tui sắp bận rộn lắm Nguyễn ạ.

Chết. Như vậy, không gặp nhau, không đưa đón nữa sao ? Buồn quá. Nguyễn mở lớn mắt :

- Sao vậy ?

- Tui đã di xin việc làm.

Nguyễn chợt hiểu. Lần này thi làm sao mà nín cười được. Nguyễn bưng miệng.

- Có gì đâu mà Nguyễn cười. Lớn rồi, phải lo công ăn việc làm. Lâu nay tui thất nghiệp dài dài.Vừa mới tìm được một nơi, gửi đơn rồi. Không biết có được nhận đơn hay không. Nhưng có nhiều hy vọng lắm.

Anh chàng tự tin ghê chưa. Phải chặt bớt của anh chàng một khúc đuôi mới được. Ðuôi dài quá, khó coi.

- Có sở nào toàn người không biết gì mới nhận đơn của anh. Nếu là Nguyễn, còn lâu.

- Sao vậy ?

Nguyễn đâu biết tại sao. Nhưng cứ nói đại :

- Người ta thì mặc kệ, nhưng Nguyễn, Nguyễn không chịu. Có thế thôi.

Anh chàng gật gù :

- Dù sao tui cũng cứ hy vọng như thường. Lo gì. Còn tới để cho người ta phỏng vấn nữa, còn thời gian lập sự. Mình cũng phải lượng sức, biết người biết ta trước khi gửi đơn chứ.

Đáng lẽ ra, với một anh chàng nào khác, giở giọng nói thế, Nguyễn đã lẳng lặng rút lui rồi. Mà chắc rút lui từ đầu kia. Nhưng tại sao với cậu Nguyễn ngọc Diệp này thì không hỉ. Vô lý Nguyễn chịu thua anh chàng ? Thua, Nguyễn cũng không thấy mình thua gì hết. Anh chàng, tuy gàn bướng, như vẫn phải hạ mình làm đơn kia mà. Cỏ lẽ Nguyễn phải bao dung, độ lượng hơn. Người trên kia mà. Nguyễn mỉm cười :

- Cứ đợi xem. Khi không chấp nhận, anh cũng cỏ thư báo để tới rút hồ sơ lại.

- Tui hứa khi nào được chấp nhận làm việc tui sẽ mời Nguyễn đi ăn để mừng. Mừng rằng, đã sang một đời mới.

Anh chàng, thật như ma quỷ. Anh chàng đâu cần đợi đơn được chấp nhận gì. Ngay buồi chiều hôm đó, hai đứa đã ra ngồi ở Ngân đình. Không ăn uống gì linh đình đâu. Anh chàng uống bia, còn Nguyễn, Nguyễn gọi một ly hồng xà. Anh chàng, thở khói thuốc rất điệu, một vòng thuốc bay vào ly hồng xà của Nguyễn, và quấn quít rất lâu làm Nguyễn chớp mắt hoài. Và như thế, có phải khi uống, Nguyễn đã nuốt một ít khỏi thuốc, một ít hơi thở của anh chàng không ?

Nói chuyện gì lang bang đâu mà cũng lâu ghê. Chiều lặn mất lúc nào không hay. Ðiện sáng trong quán, che mất giòng sông sẫm tối. Nguyễn không thể ngồi lâu hơn. Cũng chẳng phải sợ về nhà bị mắng đâu,
Nguyễn đâu phải mười bốn mười lăm. Thường đi với bạn bè, Nguyễn vẫn về muộn. Miễn là đừng muộn quá để cả nhà lo lắng, phải đi tìm.

- Có lẽ Nguyễn phải về.

- Chưa về được.

- Quyền quá nhỉ. Chưa ai ra lịnh cho Nguyễn hết.

Anh chàng cười, thổi tới mặt Nguyễn một vòng khỏi nữa. Nhưng anh chàng làm hỏng, vòng khỏi loãng ngay, tan rất nhanh. Nguyễn chợt cười khủc khích. Anh chàng chăm chăm ngó Nguyễn :

- Sao cười ?

- Tại anh hỏng rồi.

- Chưa.

Bàn tay của Nguyễn đặt trên bàn, bị anh chàng nắm chặt từ bao giờ. Sao hai mặt gần nhau quá, gần tới như hơi thở của nhau đã thành một khối, bay lên. Anh chàng, chẳng làm mặt buồn rầu, chẳng đóng vai si
tình, lạc giọng gì hết, mà rất bình tĩnh.

- Đừng thèm chơi trò tình bạn nữa Nguyễn ạ. Yêu nhau nhé.

Không phải anh chàng diễu đâu. Mắt anh chàng thành thật lám. Chỉ có tay Nguyễn run rẫy trong tay anh chàng thôi. Còn anh chàng, tay cứng như sắt, bóp tay Nguyễn thật chặt.

- Ðừng trả lời. Như vậy là đủ.

Anh chàng thả tay Nguyễn ra. Và Nguyễn cúi mặt xuống, Người con gái nào khi nghe tỏ tình cũng phải cúi mặt xuống, phải không ? Anh chàng lại tiếp tục phun những vòng khói. Anh chàng cố làm tĩnh, làm gan đấy thôi. Không có vòng khói nào tròn trịa cả. Tấm lòng anh chàng đang rối loạn mà. Tim anh chàng đập tới nhịp mấy. Nguyễn bỗng liếc nhìn anh chàng. Thấy anh chàng cố gắng quá bắt tội nghiệp. Nguyễn cười nhỏ. Anh chàng liếng thoáng :

- Cười gì.

Nguyễn lắc đầu. Gục xuống tay mà cười tiếp. Cười tới chảy nước mắt luôn.

Không thấy giòng sông đâu nữa. Đêm đã nuốt mất. Nhưng trong mắt Nguyễn, cả trong mắt anh chàng nữa, đang chia nhau một giòng sông trong vắt. Trên đường về, tối hôm đó, đâu có gì để nói na. Chỉ có bầu trời thật đầy sao. Chỉ có những hàng cây chụm đầu, thì thầm và dòng đèn đường, ngượng ngùng, trơ trẻn vì thấy mình quá sáng.

IV
Yêu nhau, rồi để đó. Có lẽ tình yêu học trò chỉ nhẹ nhàng, dễ thương có vậy thôi. Nhưng cũng mất thì giờ lắm. Dạo này mỗi chiều hai đứa đều gặp nhau, và trên một khoảng đường. Có nhiều chuyện để nói lắm. Chuyện học hành, sách vở, bè bạn, ít khi có chuyện nhung nhớ. Có ngày nào không gặp nhau đâu mà nhớ. Chút nôn nao, đợi chờ khi gặp thì có. Thỉnh thoảng, hai đứa cũng rủ nhau vô thư viện, để nhớ kỹ niệm đầu. Rồi vô lẽ ngồi ngó nhau. Hai đứa cũng có hai cuốn sách, chăm chú đọc, đù chữ nghĩa có nhảy múa lung tung cũng chăm chú đọc hoài. Lâu lâu, ngó nhau một cái, cười. Nói thật nhiều trong nụ cười đó. Trong quán nước, hay trước phút chia tay trong ngày, đôi lúc anh chàng cũng cầm nhẹ bàn tay Nguyễn, ngó vào mắt Nguyễn, để đêm đó Nguyễn mơ thấy một bầu trời sao. Nếu cứ như thế mãi, thì dễ thương quá. Nguyễn sẵn sàng làm người tình bé nhỏ, dù Nguyễn cũng không còn nhỏ bé gì, của anh chàng mãi mãi. Nhưng...

Ðó là chữ đầu của những câu chuyện rắc rối.

Ông anh của Nguyễn, Nguyễn đã giới thiệu từ đầu đó, là Thương. Ông bắt đầu chú ý kiểm soát sự đi về của em gái. Chẳng phải vì bổn phận hay vì bố mẹ nhờ vả, bảo săn sóc, bảo coi chừng em đâu. Mà trước đây, ông thường cứ quấn lấy Nguyễn vì Nguyễn có nhiều bạn gái đẹp. Nguyễn cũng không có kép để đi chơi, nên cũng vui với anh. Từ ngày có anh chàng, Nguyễn tránh anh Thương ghê lắm. Nguyễn cũng chẳng thiết gì bạn gái. Nói cho ngay, lũ bạn gái của Nguyễn, tới tuổi lâu rồi, đứa nào cũng có cặp. Khổ là trong số bạn của Nguyễn, anh Thương chịu nhất con Kim, có cặp kính dày tám độ rưỡi Anh Thương ưa tác điệu, cho Kim có dáng dấp trí thức. Con gái đẹp thiếc gì nhưng kiếm một cô trí thức khó lắm chứ. Mà con Kim, nó mát ơi là mát. Nó biết nó xấu nên khinh trước mọi người. Nó đâu có ngờ anh Thương cỏ tấm lòng trung với nó, cho là chuyện đùa, nên càng ghét anh ra mặt. Chuyện có thế, tội lỗi đổ lên đầu Nguyễn. Anh Thương không có lòng dạ đàn ông mà mang lòng dạ đàn bà. Trời đổi cho Nguyễn mà. Anh tìm cách hại Nguyễn ghê quá. Tìm cách hại Nguyễn thì dễ ợt vì Nguyễn đâu thèm dấu diềm ai chuyện gì. Anh Thương biết tỏng ngay chuyện.

- Mày đi với thằng nảo vậy ?

- Bạn em.

- Bạn gì mà chiều nào cung dung dăng dung dẻ.

- Em cũng đã tới tuổi được quyền dung dãng dung dẻ.

- Tao có cấm đâu, nhưng cũng tùy người mà chơi chớ.

- Bộ phải để anh chọn ?

- Nhưng thằng đó, tao coi thấy cô hồn quá.

Nói quá đáng. Không cô hồn. Chỉ hơi tự kiêu. Hơi lập dị. Nhưng có hại tới ai đâu.

Không làm quen chiều chuộng anh Thương; như vậy là người đứng đắn. Nhưng anh Thương, đã nói có bụng dạ đàn bà. Bố Mẹ biết liền sau đó. Kể ra, tới tuổi của Nguyễn, Bố Mẹ không biết, Nguyễn cũng chẳng làm gì để Bố Mẹ buồn hết. Nhưng Mẹ, lúc nào con trai cũng nặng ký hơn, anh Thương thắng. Mẹ quyết định nhanh chóng lắm.

- Ba chúng nó. Tôi thấy con Nguyễn nó cũng lớn rồi. Không thể cấm nó có bạn trai được. Chuyện hồi trước mình đã định với anh chị bác sĩ Ngọc đó. Cũng nên cho nhà người ta tiến tới là vừa...

Nguyễn còn lạ gì chuyện này. Hai bà chơi với nhau, thân lắm. Và bà nọ, ngấp nghé con bà kia để đem về là làm dâu. Cái điệu ngày xưa thật là xưa. Lối xỏ mũi trâu đem đi ấy à. Với Nguyễn hoàn toàn vô hiệu lực. Mẹ bắt đầu chất vấn :

- Con à. Con đã lớn. Con cũng phải tính toán chớ. Hay con thương yêu ai rồi ? Thương yêu ai thì cho Bố Mẹ biết. Đừng lén lút người ta cười chê.

Kể ra. Mẹ cũng có lý. Nhưng Nguyễn. Nguyễn khó tính quá. Thương yêu, Nguyễn có thương yêu.Còn chuyện đi lại, chuyện hôn nhân thì đâu phải là chuyện nói bây giờ. Nguyễn trả lời mẹ :

- Con chưa có gì, chưa quyết định gì đâu mẹ.

- Mẹ nghe nói con có bạn trai ?

Nguyễn cười :

- Mẹ cũng hiểu cho bọn con, thời buồi này, đi học, gặp gỡ, con cũng phải có bạn trai chứ. Bạn trai có gì xấu đâu mà mẹ sợ mang tiếng ?

Người lớn cho những tư tưởng đó là thiển cận, lố bịch. Mẹ cương quyết :

- Không. Mẹ không bằng lòng con cứ đi chơi, hò hẹn ở đường. Có người nào thì họ phải tới nhà cho Mẹ coi mặt, Mẹ xét-đoán tính tình.

Nguyễn còn biết sao hơn. Tới nói với Diệp. Anh chàng cười quá. Ðâu có gì khó mà em lo, tới thì tới chứ. Nguyễn đã năn nỉ anh chàng chịu khó ăn mặc chỉnh tề một chút. Và Nguyễn chờ đợi cái ngày trọng đại đó ghê quá.

Về phía gia dình Nguyễn, anh chàng hoàn toàn thất bại. Ba phiếu chống, một phiếu thuận là Nguyễn. Nhưng còn điều kiện khác khó khăn hơn. Mẹ nghiêm khắc :

- Như vậy mà con chưa sáng mắt hả Nguyễn ?

- Dạ thưa chi ?

- Thằng nhỏ làm như không cần biết ai hết, chỉ biết có con. Mà với con, hình như hắn cũng chưa tính toán gì hết.

Trời đất. Mẹ định bắt anh chàng tính toán gì ? Đi hỏi ? Cưới liền tay ? Làm rể. Anh chàng còn đi học và còn tùy thuộc gia đình mà. Hai đứa mới chỉ có tình yêu. Người cẩn thận, đâu chỉ trông vào tình yêu mà vào đời với nhau được. Nguyễn phải học. Anh chàng cũng phải học.

- Nhưng chúng con đang trong giai đoạn tìm hiểu nhau mà, mẹ.

- Tìm hiểu ở ngoài đường ấy à ? Không. mẹ sẽ có biện pháp nếu con còn cãi lời mẹ.

Lỗi không phải ở Nguyễn. Lỗi không phải ở Nguyễn ngọc Diệp. Cũng không phải ở Bố, Mẹ hay anh Thương, hay ai hết.

Nhưng lỗi lầm, dù lúc đầu rất nhỏ, cung ăn lan xoài. Chỉ có anh Thương là cười đắc thắng :

- Nếu nó chịu khó biết điều với tao một chút. Đằng này, nó coi tao như nơ-pa há. Con người có học, phải biết chào hỏi, ăn nói lịch sự chớ. Ðằng này nó lầm lầm lì lì, nó làm như nó là cái rốn của vũ trụ. Loại con trai đó chẳng bao giờ nên người.

Lầm lầm lì lì. Cho mình là cái rốn của vũ trụ đâu phải là tính nết của anh chàng. Anh Thương suy ai ra đấy chứ. Nguyễn phải nhắc lại cho anh rõ, đó là cô bạn bốn mắt của Nguyễn. Nguyễn cứ bênh anh chàng chằm chặp, anh Thương ghét anh chàng là đúng. Còn phần anh chàng. Hôm ở nhà Nguyễn ra về, nói với Nguyễn, nói thẳng ruột ngựa :

- Nguyễn ạ. Nếu vì em mà anh nhận một ông anh như anh Thương, anh không ân hận. Nhưng ở ngoài đời, anh có một người bạn như anh Thương, chắc anh sẽ chán anh vô cùng.

- Rồi anh tính sao ?

Anh chàng, rất lạc quan. Cầm tay Nguyễn bóp chặt.

- Chúng mình nên biết chờ đợi.

Nguyễn giận anh chàng quá. Sao anh chàng không tìm một giải pháp nào để tình yêu hai đứa còn có thể chắp cánh bay hoài trong bầu trời tuổi mộng. Nguyễn sẽ đau đớn ghê lắm khi mất anh chàng. Nhưng chẳng thà như thế. Khi chưa có gì tha thiết lắm (điều này, Nguyễn dối lòng rồi), còn hơn là đề tới khi chín muồi. Nguyễn nghĩ là sẽ chịu đau đớn được. Mười bảy tuổi, với một tình đầu tan vỡ. Nguyễn còn đủ sức để đi tiếp đoạn đường đời. Chắc còn nhiều chông gai, cũng như còn nhiều điều mới mẻ chờ đợi.

Nguyễn khép mắt. Khép cánh cửa lòng. Cũng phải tiểu thuyết hoá một chút.

V
Tụi bạn bỗng nhiên nhốn nháo, xầm xì về Nguyễn suốt ngày. Nó làm sao ấy. Nó thay đổi quá chừng. Sa sút nặng. Chắc con nhỏ thất tình. Mà thất tình ai? Đứa thân nhất của Nguyễn cũng chưa hề biết sự giao du giữa Nguyễn và anh chàng. Chúng chỉ đoán mò, dựng những chuyện như chuyện thần thoại. Chắc mê ông giáo rồi. Chuyện này không có Nguyễn. Không bao giờ có Nguyễn hết, vì giáo sư là giáo sư. Học ông một vài năm, đã ớn, đem yêu ông giáo sư đã dạy dổ mình một đời. Liều tận mạng. Kệ, cho chúng hiểu lầm. Nguyễn đang cần im lặng, đang cần được lãng quên.

Rồi thời gian sẽ giúp Nguyễn. Thời gian thân ái.

Có thể, Nguyễn sẽ quên được anh chàng có cái tên bổ túc cho Nguyễn, Nguyễn Ngọc Diệp. Nhưng nhiều khi, Nguyễn không tin bói toán, mà cũng phải nương tựa vào sự bói toán để đổ thừa cho những trường hợp đặc biệt xảy ra trong đời. Anh chàng không tha Nguyễn. Tránh mặt anh chàng được một tuần lễ. Nguyễn bị anh chàng tóm ở một đầu đường khác. Hai xe song song, và anh chàng thở dài, giọng bâng quơ:

- Trời hôm nay đẹp lạ.

Nguyễn đã tính rú ga, phóng xe đi trước rồi. Nhưng Nguyễn biết tánh anh chàng , chắc chắn sẽ đuổi theo. Rượt đuổi nhau trên đường để làm trò cho thiên hạ sao. Nguyễn uất ức chịu thua anh chàng. Nguyễn đưa mắt nhìn đi chổ khác, làm như không nghe.

- Trời đẹp, chắc phải ra bờ sông chớ, Nguyễn?

Ơ....Nguyễn đang giận lòng mình ghê gớm. Lòng Nguyễn đang mềm dần, mềm dần. Anh chàng sành tâm lý, đợi lúc Nguyễn trố mắt ngó anh, anh chàng chớp mắt mỉm cười. Trong mắt đẩy ra một làn thương nhớ, mê hoặc. Thế là Nguyễn thua nữa.

- Đừng trẻ con thế Nguyễn. Anh rất nhớ em.

Bàn tay Nguyễn run run. Bàn tay cũa Nguyễn cũng rất nhớ. Rồi trái tim đập loạn xạ. Rất nhớ. Đó, bàn tay, trái tim đều phản đối trí óc của Nguyễn. Lại thua. Thua nên mới ứa nước mắt:

- Nguyễn ơi. Anh tiếc giọt nước mắt của em quá. Đừng để rơi ngoài đường như vậy. Anh rất yêu em.

Nguyễn bủn rủn. Cầm ghi đông xe không nổi nữa. Nhưng ở một nơi nào khác kia. Bây giờ, đang đi ở đường, Nguyễn không thể té. Và vì câu nói của anh chàng, nước mắt Nguyễn rơi ghê lắm.

Nước mắt không bao giờ đem tới sự hên cả. Đúng lúc đó, không biết tình cờ hay đã theo dõi từ trước. Anh Thương xuất hiện. Anh thấy những giọt nước mắt của Nguyễn. Chỉ thoáng ngạc nhiên thôi. Anh chận đầu xe của hai người lại. Anh đã vì em gái mà tưởng tượng đủ chuyện. Thằng lưu manh ức hiếp gì em tao? Thằng sở khanh tính lợi dụng gì? Thằng khốn nạn chọc ghẹo em người ta đến phải khóc giữa đường. Và anh thương, không cần hỏi đầu đuôi gì hết, sấn sổ:

- Khốn nạn. Mầy giở thói gì vậy, heo chó hả?

Diệp hơi sửng sốt. Có lẽ anh chàng định nói gì mà đưa tay lên. Để phân trần? Nhưng anh Thương nghiến răng giận dữ:

- Này chọc gái...

Bốp. Một cái tát hằn lên má Diệp. Nguyễn đưa tay lên che miệng. Nhưng không bịt kín tiếng kêu thảnh thốt: "Anh Thương, đừng..." Hình như anh chàng đang âm mưu một chuyện gì. Diệp mím môi, nắm tay lại. Nguyễn chụp tay anh:

- Đừng anh Diệp.

Anh Thương hơi sững sốt. Anh ngó Nguyễn.

- Mày có về không? Mày chết nghe chưa.

Anh Thương lại đưa đưa tay lên nữa. Nhưng giọng Diệp lạnh như băng:

- Vì anh là anh của Nguyễn, tôi cho anh nợ cái tát. Nhưng anh đụng vào Nguyễn, tôi làm thịt anh tại đây.

- Về.

Anh Thương thả tay, nói như hét. Nhưng Nguyễn đã chán ghét anh Thương quá. Diệp đã vì Nguyễn mà chịu nhục. Thì đó, bao nhiêu người đã dừng xe lại vây quanh, chờ xem một màn đấu võ miễn phí. Hai con gà trống kình nhau vì mái xùy. Nguyễn nghe rõ. Và giọng cười của đám người đứng coi, soi lủng tim Nguyễn.

- Em đi với anh.

Nguyễn gật đầu. Bất cần thiên hạ. Bất cần anh Thương. Nguyễn lau nước mắt, mỉm cười leo lên xe. Diệp theo sau. Để lại anh Thương. Anh cũng phải chuồn gấp, chớ đứng để làm bia cho thiên hạ. Chỉ có mấy phút. Không đến nỗi dài thế đâu. Chừng chục cái tíc tắc. Vậy mà lâu ơi là lâu. Thời gian dừng lại, chết giấc ở đó. Chuyện vừa xảy ra , còn như in, mà sao với Nguyễn, không tưởng tượng nổi. Như là trong mộng vậy.

Lòng Nguyễn rối như tơ. Cái tát của anh Thương phàm phu quá. Câu mắng chửi của anh cũng tục tĩu, thiếu nhân cách. Tại sao anh làm thế nhỉ? Anh Thương hằng ngày, đâu đến nổi nào. Nguyễn chết từng khúc ruột vì cử chỉ của Diệp. Nếu lúc đó, Diệp đánh lại, chửi lại,có phải Nguyễn giải quyết dễ dàng không? Nguyễn sẽ chán ghét cả hai người. Ừ, ở đó mà đánh nhau. Đánh nhau chết đi. Nguyễn chán nghét tất cả. Hoặc anh Thương điềm đạm, nghiêm khắc, Nguyễn cũng khó xử chớ. Giữa anh và người yêu. Chắc Nguyễn sẽ ríu ríu theo anh Thương về nhà. Nhưng anh Thương đã làm hỏng chuyện. Đã làm hỏng chuyện anh trước mắt Nguyễn. Cũng không quan trọng bằng trước mắt Diệp. Nguyễn không thể bỏ Diệp một mình với đám đông, với một cái tát in trên má. Nếu Diệp đánh lại, nếu không hơn anh Thương thì cũng chẳng thua. Diệp không làm thế, không phải vì sợ anh Thương mà vì mình. Vì Nguyễn. Ôi Diệp. Diệp đã làm Nguyễn chín thêm một chút nữa. Không chín mùi mới đúng.

Không ai nói gì mà cả hai xe đều song song ra bờ sông. Cả hai ngồi ở quán cũ. Nơi Nguyễn uống chút khói, chút hơi thở của Diệp lần đầu.

- Bỏ cái mặt rầu rỉ đó đi. Nguyễn.

Anh chàng đưa tay ra. Nguyễn để cho anh chàng cầm tay mình. Choáng váng ngây ngất. Bàn tay, nhớ nhau lâu rồi, bây giờ không cuống quít sao được.

- Nguyễn à, Anh nhớ nụ cười của em.

Nguyễn guợng cười. Nụ cười chẳng đẹp đẽ gì đâu. Lòng không vui, làm sao cười vui được. Nguyễn lắc đầu:

- Em buồn quá?

- Tại sao buồn?

Còn tại sao nữa. Nguyễn mím môi:

- Chắc từ nay, em chẳng gặp anh nữa. Chúng mình nên xa nhau thôi anh ạ. Gia đình em khó quá. Anh Thương có thành kiến với anh.

Nguyễn rơm rớm nước mắt, tiếp:

- Hơn nữa, anh Thương đã làm chuyện kỳ cục quá. Nguyễn rất xấu hổ. Và anh, chắc anh cũng đã khinh...

- Nguyễn ạ. Đó là những chuyện nhỏ. Anh sẽ không có ý kiến gì với anh Thương hết. Anh nghĩ rằng, Nguyễn sẽ giúp anh tránh những chuyện khó xử.

Nguyễn gật đầu:

- Em sẽ ráng. Và như thế, chuyện chúng ta...
Phượng Các
#3 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:12:43 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Thành Phố Buồn

Chuyến xe từ Đà Lạt vào thành phố Sài gòn lúc tám giờ mười lăm phút.

Đến gần mười giờ xe mới tới bến được. Chưa bao giờ Khuyên chịu đựng một cảnh kẹt xe lâu tới thế. Mọi người trong xe ai cũng văng tục. Lúc xe còn nối đuôi từng dọc dài, ông tài xế cũng cáu tiết , ông ta bấm còi inh ỏi mặc dù buổi tối, theo luật giao thông cấm bóp còi. Mỗi tiếng còi xe tin tin như bấm vào trái tim của Khuyên đang nôn nao.

Sốt ruột quá. Khuyên kêu thầm mãi.

Cho tới khi xe tới bến Khuyên còn phải bị kẹt lại trong xe hơn mười phút mới xuống được. Xuống được xe lại còn cái nạn tìm tắc xi. Lúc này bao nhiêu tắc xi còn trực ở trước cửa phòng trà, trước những cái bar, trước rạp ciné và cải lương. Khuyên đứng dưới lề đường, mỗi lần có chiếc xe nào đi qua cũng ngoắc rối rít. Nhưng xe nào cũng có người, đôi khi xe trống nhưng người tài xế thò đầu ra lắc lắc tỏ vẻ không chịu rước. Cái gọi được thì hành khách tranh mất.

Hành khách cùng chuyến xe với Khuyên toàn đàn bà với đàn ông đứng tuổi. Họ không ga lăng chút nào cả. Khuyên bực mấy chú tài tắc xi thì ít mà bực mấy người đàn ông tranh bước của Khuyên thì nhiều. Khuyên cứ đi bộ tới trước được một chút thì họ lại bước lên đứng đón phía trước Khuyên ngay liền. Cái xách tay quá nặng làm Khuyên bước đi muốn té nhào tới trước. Buổi sáng khi rút con bài bói thử thời vận, Giao tính toán một hồi rồi nói:

- Hôm nay mày đi thế nào cũng có lắm cái bực mình. Mày thật đồ khùng, ngày nào không đi lại chọn ngày năm cùng tháng hết mà đi. Xui là phải.

Khuyên ra bến xe mua được vé. Khi lên xe rồi, Khuyên nói với Giao:

- Cô thầy non ơi, tao lên xe, bây giờ chỉ đợi có về tới nhà. Nói cho mày biết, chiều nay tao sẽ tới, sẽ gặp người ta. Tối nay người ta sẽ ngạc nhiên tới ngất xỉu.

Giao cười mũi. Cái lối cười mũi của Giao rất đểu.

- Coi chừng, đi về thình lình, không báo trước bắt được người ta ngoại tình rồi chết giấc luôn.

Không bao giờ Khuyên tin điều đó có thể xảy ra được. Giao nó có thể nghĩ như thế vì nó có rất nhiều mối tình trời ơi đất hỡi. Nhớ lại cái cười mũi của Giao, Khuyên thấy giận bạn ghê gớm. E nó cứ cầu cho Khuyên gặp chuyện bực mình hoài hủy.

Chờ lâu lắm mới có một chiếc xe xích lô đạp đi tới gần. Cái bà đứng tuổi nảy giờ lấn đứng trước mặt Khuyên nhào ra liền. Bà ì à ì ạch xách hai tay hai cái xách lớn, lồng thêm vào vai một cái ví màu đen căng tròn. Chiếc xích lô từ từ chậm lại, qua chỗ người đàn bà đứng nhưng còn đà trường thêm tới đằng trước và may mắn dừng lại trước mặt Khuyên. Trong lúc người đàn bà ì à ì ạch đi tới nữa. Khuyên leo thốc lên xe. Người đàn bà đứng khựng lại:

- Ơ hay cái cô này, xe người ta vẫy lại leo lên.

Khuyên làm mặt lì. Người đàn ông đứng tuổi đạp xe xích lô vừa đẩy xe để lấy đà nhảy lên đạp, vừa trả lời:

- Thôi bà cố nội. Bà chừng đó ký lô thêm chừng đó thứ phụ tùng bù lon đinh ốc, ông nội tui đạp cũng không nổi.

Khuyên bật cười. Lòng nàng reo vui một cách ích kỷ. Sự sung sướng vừa trẻ con, vừa độc ác như khi đang ngồi học, thấy một con muỗi đậu nơi cái chụp đèn, Khuyên rình mò để hai bàn tay cho ngay rồi đập đập hai bàn tay lại, dở tay ra thấy xác con muỗi. Sự yên tâm một cách thỏa mãn, tâm thần gật gù một cách khóai trá. Khuyên liên tưởng tới khuôn mặt người đàn bà bị đứng lại mà quên ngay nỗi bực dọc chờ đợi của mình vừa mới mắc phải như người đàn bà kia.

- Cô đi về đâu?

- Bác cho tôi lên Đa kao, rẽ vào đường Trần văn Thạch.

- Cô cho ba trăm nghe.

Khuyên giật thót người:

- Trời ơi, bác lấy gì nhiều dữ vậy. Đây về đó có chút xíu.

- Ba trăm là rẻ, tụi nó lấy một cuốc xe cuối năm sáu trăm bạc.

- Tui là học sinh, chớ có phải Mỹ đâu mà bác tình nhiều vậy.

- Thời buổi này nhìn ai cũng như ai, biết sao mà nói được. Tui đi xe thì tui tính giá cả như nhau.

Khuyên cố kỳ kèo:

- Bác lấy hai trăm thôi bác. Tui đâu có nhiều tiền.

- Các cô bây giờ chán gì tiền. Cô tiếc chi trăm bạc cô.

Giọng người đàn ông phu xe đểu giả làm Khuyên nóng mặt. Nàng đành ngồi im. Sự mừng rỡ tìm được chiếc xe để về nhà biến mất, nàng lại bắt đầu bực mình. Khuyên không tính về Sài gòn ăn Tết, nàng đã gữi thư về báo tin ở lại Đà Lạt, và đã nhận được tiền của anh, của chị, của ba me gửi lên cho tiêu Tết. Đến ngày 29, Khuyên cảm thấy nhớ nhà ghê gớm. Nàng sợ đêm Giao Thừa nàng chịu không nỗi cảnh cô đơn, nên quyết định trở về. Giao than phiền Khuyên nhiều nhất vì hai đứa đã quyết định ở lại ăn Tết với nhau. Khi nghe tin Khuyên tỏ ý về Sài gòn, Giao kêu:

- Cóc chịu nổi mày, ba hồi này ba hồi nọ.....

- Tao nhớ nhà quá.

- Khỏi, tao biết. Mày nhớ Việt thì có. Gớm, chàng mới có đổi về Sài gòn có gần một tháng mà quýnh lên.

- Mày nghĩ sao cũng được.

- Mà mày cũng nên về để coi tình ý chàng ra sao? Tao nghi quá, cái bản mặt đó nhiều đào lắm nghe. Tao coi tướng thấy rõ hai con mắt đào hoa, chắc tử vi có riêu y đi kèm rồi.



Thành phố vắng vẻ hơn thường lệ, lúc này người ta đang dồn ứ trong những ngôi nhà để đón giao thừa. Khuyên biết chắc là nàng đã trễ nãi hết mọi việc. Theo dự tính Khuyên định về nhà vào buổi chiều, cả nhà chắc sẽ ngạc nhiên lắm. Tịnh và Hiền sẽ ôm cứng lấy Khuyên, ba đứa kéo nhau vào phòng riêng tha hồ mà nói chuyện. Nhưng như vậy cũng không được. Khuyên phải tới thăm Việt nữa. Có nên kéo Tịnh hay Hiền đi theo không? Đó cũng là điều thắc mắc của Khuyên khi ngồi trên xe đò. Bây giờ thì hết rồi.

Chiếc xe xích lô như muốn ngừng lại Khuyên đưa tay chỉ tới đằng trước:

- Tới một đoạn nữa bác. Đàng cuối đường kia kìa.

- Có ba trăm bạc mà đi xa quá trời.

Người phu xe cằn nhằn. Ngày cuối năm gặp một người phu xe như thế này còn đỡ, mồng một mồng hai mà gặp thì chắc xui cả năm. Khuyên tự an ủi. Và muốn cho lòng mình được vui vẻ, đỡ nhớ tới cái bản mặt của ông ta, khi xuống xe Khuyên còn cho thêm mấy chục bạc lẻ nữa. Hắn mỉm cười, dù không nói tiếng cảm ơn, nhưng với nụ cười mừng rỡ đó, Khuyên cũng cảm thấy yên lòng đôi chút. Hai cánh cổng được gài chặt ở bên trong. Sao đèn đuốc tối tăm thế này. Khuyên nhìn vào nhà, qua cái sân rộng, hình như không có đèn ở phòng khách. Khuyên đoán cả nhà đang tụ tập ở phòng ăn hay ở một phòng nào phía sau. Có thể ba me đã đi đến xin thẻ ở Lăng Ông hay đi chùa. Còn Tịnh và Hiền dám đi dự tiệc ở đâu lắm.

Gọi cửa, bấm chuông rất lâu mới có người đi ra sân. Bà vú già vừa điếc vừa ngọng. Khuyên rối rít:

- Mở cửa, mở cửa u già.

- Ai?

Bà vú nhướng mắt nhìn Khuyên một lúc mới nhận ra, nhận ra rồi cũng chưa vội mừng mà còn chậm rãi:

- Cô Khuyên phải không?

- Cô Khuyên đây. Mở cửa mau. Đứng ngoài đường hoài sốt ruột quá trời.

- Nhà đi vắng hết rồi cô.

- Ủa nhà vắng, thì cũng mở cửa cho tôi vào với chớ.

- Ông bà, mấy cô mấy cậu đi vắng hết.

Khuyên nói như hét:

- Tôi nghe rồi. Mau mở cửa cho tôi chứ.

-Dạ, cô nói chi?

- Trời ơi mở cửa ra đi.

Tiếng kêu giận dữ của Khuyên đã lọt vào lỗ tai người đàn bà già nua. U già hối hả mở hai cánh cửa rồi lệt bệt xách cái xách tay cho Khuyên.

- Cô đứng đó để tôi vô bật đèn.

- Sao đèn đuốc tối thui thế này.

- Dạ, nhà đi hết mà.

- Tôi hỏi sao không bật đèn.

U già như không nghe , đi nhanh tới đằng trước. U khuất vào cửa hông, Khuyên đứng trước thềm nhà đợi. Ngọn điện trước nhà bật sáng, cánh cửa phòng khách mở rồi những ngọn điện trong phòng khách được tuần tự bật lên hết. Sự trống trải của gian phòng khách làm Khuyên chưng hửng.

- Ủa sao lạnh tanh thế này.

Khuyên quay lại , u già đã đi đâu mất, nàng lại gọi lớn:

- U ơi, u!

Một lúc sau u già mới lật đật đi ra, cái khăn còn vắt trên vai:

- Tôi quét phòng cô Hiền cho cô ngủ.

- Vậy nhà đi đâu hết. Ba mẹ tôi bao giờ mới về hả u?

- Ông bà và mấy cậu về Vĩnh Long ăn Tết rồi. Mồng hai mới lên.

Khuyên ngồi phịch xuống ghế sa lông. Mấy ngọn đèn như vừa mờ đi một lúc.

Khuyên vừa buồn, vừa giận, giận cả nàng và giận đủ mọi thứ.

- Mời cô đi nghỉ. Khuya rồi.

Khuyên trợn mắt nhìn u già, nàng tính gây u một lúc cho hả giận, nhưng nàng cũng vừa nhận ra sự vô lý của mình. Khuyên chán nản:

- U để mặc tôi.

- Cô dùng sữa không tôi đi pha.

- Kệ tôi mà u. U đi nghỉ đi.

- Dạ, để tôi đi đóng cửa. Ông bà dặn dò kỹ lắm. Dạo này trộm đạo như rươi cô ơi.

- Ừ.

- Sao cô về mà không báo cho ông bà hay.

Thấy Khuyên làm thinh, u già lật đật đi ra, khép cửa lại.

Đồng hồ đổ một tiếng lẻ. Khuyên đưa tay che miệng ngáp. Cái ngáp vừa buồn ngủ vừa ngao ngán. U gì lại mời Khuyên đi nghỉ. Chợt nhớ tới Việt, Khuyên hỏi:

- Ở đây mấy giờ giới nghiêm.

- Dạ, đêm nay không giới nghiêm mà cô.

Lòng Khuyên chợt lóe lên một hy vọng. Nhưng hy vọng đó cũng tắt ngay. Khuyên biết giờ này Việt cũng không có nhà. Có thể chàng ăn Tết ở một gia đình người quen nào đó như trong thư nàng viết.



Khuyên đi vào phòng Hiền. Chiếc bàn học của Hiền đã được thu dọn ngăn nắp. Trên bàn tấm ảnh chụp hai chị em Hiền và Khuyên đang ôm nhau tươi cười. Ngăn kéo khóa, chiếc chìa khóa dấu dưới mấy chồng sách, Khuyên tìm được. Nàng mở ngăn kéo của em. Mấy lá thư của Khuyên viết từ Đà Lạt và một lá thư của Hiền viết dở dang. Tò mò Khuyên cầm lên đọc.

Lại lá thư Hiền viết gửi cho Khuyên. Tụi này sắp về quê ăn tết, chắc vui ghê lắm. Ở Đà Lạt Khuyên ăn tết sẽ buồn. Thôi chịu khó khi Hiền về sẽ viết tiếp sẽ kể chuyện cho mà nghe. Lá thư không đầu không đuôi. Cuốn nhật ký nhỏ của Hiền: Ê, chị Khuyên có kép, chị Khuyên không còn thì giờ nghĩ tới mình nữa, mình ghen ghê quá. Tết này chị không về cho mình cấu chị cho đã tức. Tức ghê đi Khuyên ơi.

Chị em Khuyên thường gọi nhau bằng tên. Hiền năm nay mười sáu. Cầu trời em chưa biết gì, em còn ngây thơ. Khuyên nhìn lại tấm ảnh, nụ cười của Hiền tươi hơn nụ cười của Khuyên nhiều. Chắc Hiền sẽ sung sướng .

Đêm nay, Khuyên sẽ đón giao thừa một mình. Con Giao nói đúng. Bây giờ ở Đà Lạt một mình trong phòng trọ, chắc Giao đang nguyền rủa Khuyên. Giao sẽ tưởng tượng đủ thứ. Hắn cho mình đang sum họp, đang vui chơi và quên hắn, Khuyên nghĩ tới mình và thương bạn hơn.

U già nấu xong ấm nước sôi, pha trà thì cũng vừa tới giờ giao thừa. Khuyên thay áo. Dù một mình, Khuyên cũng phải đón giao thừa. Khuyên nhìn lên tường, tờ lịch ai đã bóc sẵn. Năm mới đang rình rập, leo vào tới chân thềm, chỉ chờ tiếng pháo nổ, năm mới sẽ tràn vào đầy ắp.

Tự nhiên Khuyên cảm thấy hồi hộp, sự chờ đợi xôn xao trong tim nàng, tan đều trong da thịt nàng. Một ngày cuối của một năm mới mẻ chờ đợi. Như mồng một mồng hai buồn quá Khuyên sẽ bay trở lên Đà Lạt cho Giao ngạc nhiên chơi. Hoặc có thể nàng đi Vĩnh Long, và có thể có những điều không ai ngờ tới. Khuyên sẽ về Vĩnh Long để nhìn thấy cảnh trễ tràng.

Một tiếng pháo nổ. Tâm hồn Khuyên ló ra một chồi xanh hân hoan. Năm mới đã tới.

Khuyên dậy trễ, ngày đầu của năm mới lại nhận một sự trể tràng nữa. Đêm qua Khuyên đã thức khuya, với lại cả một ngày vất vả trên chuyến xe đò, người Khuyên như rã rời ra. Khi đặt người nằm xuống, Khuyên mê đi ngay.

Có lẽ Khuyên đã thức khuya ghê lắm. Khi tràng pháo đầu tiên đón giao thừa, lòng Khuyên nao nức, nao nức vì Khuyên vừa từ giã một năm cũ, thêm một tuổi nữa, Khuyên thêm một tuổi sẽ có thêm nhiều biến đổi, hình như mỗi năm mỗi lớn, Khuyên có thêm nhiều mối lo nghĩ, nhiều chuyện rắc rối hơn lên. Khuyên ăn một miếng bánh đẻ mừng tuổi mình.

Miếng bánh chưa lọt vào khỏi cổ, Khuyên đã giựt mìnhvì những tiếng súng ban đầu lẹt đẹt xa xa, rồi tiếng súng nổi lên tứ phía. Kinh nghiệm của một năm buồn thảm tang tóc cũ làm Khuyên có phản ứng ngay, nàng lăn xuống chân bàn. Nàng gọi u già rối rít. Mãi lúc sau u già mới thủng thỉnh đi lên, vừa đi vừa vấn tóc:

- Cô Khuyên, cô Khuyên, chuyện gì đó?

Khuyên đã ngạc nhiên hết sức khi trông thấy u già đi tỉnh bơ. Hay u đã điếc tới độ không nghe tiếng súng. Chắc chắn không phải thế. Sự hồi hộp căng thẳnh từng phân da của Khuyên.

Đầu Khuyên dính đầy mạng nhện. Khuyên đưa tay vuốt và lo sợ ghê gớm.

Mới những giờ phút đầu năm mà đã bao nhiêu xui xẻo như thế này rồi.

Thế rồi Khuyên đi ngủ. Đầu óc mệt mỏi quá, Khuyên cũng không có thì giờ nằm mà suy nghĩ, mà bực mình với tiếng súng bắn đi khắp tứ phía nữa.

Nhưng sáng nay dậy trễ, Khuyên lại giận những tiếng súng đó ghê gớm. Thật ra nếu chẳng giận tiếng súng làm Khuyên giựt mình hồi hôm, Khuyên chẳng còn cái gì để giận nữa.

U già cắt mấy cái bông hoa ở ngoài vườn đem vào chưng trong phòng khách, đem cái bảng đề chủ nhà về quê ăn Tết ra treo ở trước cổng trong khi Khuyên sửa soạn đi.

- Trưa nay cô về nhà ăn cơm nghe cô.

Khuyên nhớ tối qua mở hai tủ lạnh, tủ nào cũng đầy ắp trái cây và thức ăn. Khuyên gật đầu. Ra tới cửa nhìn thấy vạt áo là vội hơi nhăn vài nếp nhỏ, Khuyên lại bực mình và nhủ thầm: Đừng gắt gỏng nữa, không thì rông cả năm.

Để vui tươi, Khuyên nghĩ tới Việt.

Sáng mồng một nàng đi xông nhà người yêu, dù sao, về tới Sàigòn nàng cũng có một công việc chính đáng.

Anh sẽ không đi đâu hết trong ngày mùng một. Đêm giao thừa để nhớ em, mồng một ngồi viết thư cho em. Khi Khuyên tới, chắc Việt ngạc nhiên lắm, cây bút trên tay chàng sẽ rơi xuống đất, và chàng sẽ nhẩy lên như đứa trẻ con, như đêm sinh nhật nào chàng đã nhảy chân sáo, đã hát đã vỗ tay như một đứa bé khi gặp chuyện hết sức vui thích .

Khuyên tìm nhà Việt không khó khăn, căn nhà nằm trong một đường hẻm nhỏ ở trước có giàn hoa giấy như trong thư đã tả . Cánh cửa sơn màu xanh như trong thư đã nói. Khuyên hồi hộp đứng một lúc dưới giàn hoa giấy. Trời ơi, Việt sẽ hiện ra sau cánh cửa kia, và Khuyên sẽ làm gì nhỉ? Làm gì để tỏ sự vui mừng quá thể.

Trái tim của Khuyên đã bắt đầu đập mạnh, người Khuyên bần thần như qua một cuộc chạy đua. Khuyên phải đứng yên một lúc cho trái tim bớt rộn ràng rồi đi những bước thật khẽ tới gần cánh cửa. Những tiếng đập cửa cũng rộn ràng, nhảy nhót như trái tim đang reo vui.

- Có ai trong nhà không?

- Có Việt trong nhà không?

Tiếng kêu nào chạy vòng quanh óc. Nhất định Việt đang ở nhà, đang viết thư cho Khuyên. Căn gác phía trên đầu mình đây, chắc chắn như thế. Cánh cửa sổ mở về phía nào chứ không mở ra phía đường, chàng sợ ánh nắng sẽ làm mau khô mực trên những tờ thư chăng? Hay sợ nắng sẽ tràn lấp luôn hình ảnh cô Khuyên dễ thương, ngoan hiền, chung thủy. Trời ơi mơ mộng gì mà người ta gõ cửa gần rụng cánh tay.

Có tiếng chân đi trong nhà, tiếng chân đến gần cửa và trái tim Khuyên càng đập mạnh hơn, đập đến nổi Khuyên nghe thình thịch khi cánh cửa bật mở ra phía ngoài. Ủa , ai vậy nhỉ? Ai mà không phải Việt của Khuyên. Người đàn bà cau có:

- Cô tìm ai?

Khuyên đáp lí nhí như đang hổ thẹn:

- Dạ tôi hỏi ông Việt.

- À, cậu Việt. Cậu ấy thuê trên gác, nhưng hôm nay cậu không có nhà.

Sự tuyệt vọng làm Khuyên gần khóc. Người đàn bà nhìn Khuyên chằm chặp rồi ánh mắt dịu hơn:

- Cô vào đây đã.

Làm ra vẻ vui hơn, ngươì đàn bà kéo tay Khuyên :

- Đằng nào cô cũng xông nhà. Vào đây uống ly nước để tôi chúc cô năm mới .

Khuyên bước hẳn vào bên trong. Gian nhà chiều ngang hơi hẹp, mọi vật trang trí trong nhà bày vẻ nghèo nàn. Bộ bàn ngế kê giữa nhà có vẻ chướng mắt vì bình hoa ny-lông và mấy hộp nhựa đựng mức bánh màu sắc lòa loẹt.

- Cô là gì của cậu Việt?

- Dạ tôi là em bà con.

Người đàn bà hơi mỉm cười, vẫn dáng điệu vồn vã:

- Cô dùng nước, uống nước trà.

- Dạ.

- Năm mới chúc cô phát tài bằng năm bằng mười năm ngoái.

Khuyên nhớ tới vẻ cau có của bà ta lúc ra mở cửa cà nhủ thầm năm nay chắc sẽ xui bằng năm bằng mười năm ngoái. Khuyên giật mình cho mình đã nghĩ dại. Người đàn bà đẩy ly nước trà về phía Khuyên:

- Uống nước cô.

- Cảm ơn bà, tôi cũng chúc bà năm nay phát đạt, ăn nên làm ra.

Không biết Khuyên đã thuộc lòng câu nói đó từ bao giờ. Có lẽ đây là lần đầu tiên Khuyên dùng câu đó. Người đàn bà có vẻ hài lòng, bà ta bốc một nắm hạt dưa:

- Sáng nay chỉ có một mình tôi ở nhà tiếp khách, ông nhà tôi với xấp nhỏ đi chùa cả rồi.

- Dạ.

- Cô ăn hạt dưa.

Khuyên ngập ngừng:

- Dạ thưa bà, anh Việt cháu có về nhà hôm nay không ạ.

- Cô không biết gì hết sao?

Màu xanh đã nhuộm hết da mặt, Khuyên cố giữ khỏi run giọng:

- Dạ thưa chuyện chi ạ.

- Năm nay lính cấm trại trăm phần trăm mà. Cậu Việt vào trại chiều ba mươi.

Lệ đã dâng đầy hai mắt, Khuyên cố ráng:

- Dạ chắc lúc này anh ấy có mặt ở trại?

- Nghe cậu ấy nói phải đi giữ an ninh ở đâu đó, đâu ở vòng đai Sài gòn gì đó.

Khuyên vội vàng đứng dậy. Khuyên phải đi ra khỏi ngôi nhà này thật nhanh, nhưng nàng chưa kịp chào thì chân đã vấp phải một con chó con đang loanh quanh nơi chân nàng. Con vật kêu ẳng ẳng rồi bỏ chạy ra sân. Người đàn bà cũng đứa Khuyên ra sân:

- Con chó này của Việt đó. Không biết cậu định mua cho ai đó rồi thôi.

Khuyên thấy con chó không đẹp một chút nào. Nó gầy nhom, lông lại lốm đốm những đóm tròn như ai lấy mực bôi vào. Người đàn bà như biết ý Khuyên, cười ngắc nghẽo:

- Cười lắm cô ơi, nghe đâu cậu Việt mua ba ngàn đó. Hôm đem về, cậu Bình với cậu Việt cãi nhau hoài, cậu Bình nói con chó này là chó giả, chó mà chó giả, buồn cười không cô. Cậu Việt nhứt định nói là chó ngọai quốc, loại chó Đức hay Ý chi đó. Cậu Bình cá với cậu Việt năm ngàn, nuôi lớn mà coi. Vậy mà chó giả thiệt cô ơi, nó lớn nó ốm nhom, chó Việt nam chớ tây mỹ gì đâu, Hổm tui tắm dùm, trời đất, tụi nó lấy mực chấm vào lông, ra dơ thấy bà.

Nói dứt câu người đàn bà còn cười. Con chó giả chạy lăng quăng quanh chân Khuyên, Khuyên cố ráng cười một cái thật nhạt để góp vui với người đàn bà, tiện thể từ giã luôn.

Khuyên chưa về nhà, nàng ra bến xe hỏi mua vé đi Đà Lạt. Ngày mai mùng hai mới có chuyến đi. Khuyên lấy vé buổi sáng sớm. Nàng nghĩ sẽ không viết thư để lại cho Tịnh và Hiền. Khi lên tới Đà Lạt, Khuyên sẽ nói với Giao :

- Tao nhớ mày quá nên tao vội về.

Chắc chắn Giao sẽ bảo ngay là Khuyên nói dối. Nhưng mặc kệ, phải bỏ ngay Sài Gòn sớm chừng nào hay chừng ấy. Khuyên không thấy háo hức chờ đợi, dù chỉ chiều mai gia đình nàng sẽ về tới Sài gòn.

Không có cuộc chạy đuổi nào cả. Nàng trông về nhà cho mau. Khuyên sẽ không đi đâu nữa hết, ngoài buổi sáng sớm hôm sau lên đường. Nhưng biết đâu đó, những chuyện bực mình vẫn còn đeo đuổi Khuyên nữa.
Phượng Các
#4 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:14:02 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Một Cái Chết Dịu Dàng


Buổi chiều đến tự lúc nào tôi không hay biết. Tôi đã ngủ một giấc khá dài. Khi tỉnh dậy, cuốn sách còn úp trên mặt và chiếc khăn mùi xoa đã khô, loang lỗ những vết lệ. Không biết là tôi đã ngất đi hay là đã ngủ một giấc no đầy. Buổi trưa khi ăn cơm xong, tôi đã tiếp Tịnh trong căn phòng nhỏ này, và khi nghe Tịnh hốt hoảng báo tin Hoàng bị thương, hiện đang nằm bệnh viện, tôi chỉ kịp gục đầu vào vai Tịnh mà khóc, khóc vồn vã, ray rứt, khóc dai dẳng như bị một điều gì oan ức quá, oan ức đến độ không ai có thể bảo lãnh, phân minh hộ được.

- Anh Hoàng bị thương rồi Lê.

Lúc Tịnh nói, khuôn mặt nó cũng dầm dề nước mắt. Tôi không đưa Tịnh xuống lầu như mọi khi. Tịnh về một mình, và tôi hiểu trên đường về hẳn Tịnh sẽ khóc một mình, và lúc Tịnh về đến căn nhà quen thuộc sẽ có cả nhà cùng khóc. Còn tôi, tôi không thể tâm sự với ai, chia xẻ cho ai nỗi buồn đau này.

- Anh ấy còn nằm phòng lạnh chưa biết ra sao. Chưa vào thăm được.

Giọng Tịnh run run và sau câu nói đó, răng nó cắn chặt.

Lúc sau đó, tôi ngồi yên lặng như pho tượng đá, mắt mở lớn nhìn ra cửa sổ. Nắng vàng rực đổ chói chang trên những mái ngói ẩm màu đất. Không một cành cây cho tôi nương dựa chút bóng mát. Trưa yên lặng và sửng sốt. Tôi ngồi như thế, mặc nước mắt chảy, mặc mệt mỏi. Tôi lười biếng cả việc với tay đóng cửa, và cứ thế tôi mở cuốn sách học úp lên mặt, trôi nổi trong giòng buồn khổ, lo lắng. Làm sao nhìn thấy khuôn mặt chàng. Cuộc tình đến đây là kết thúc rồi sao? Không thể được. Nhưng làm sao tôi có thể chiến đấu một mình được. Tôi không còn đủ sức chống lại cơn buồn ngủ, Cùng cơn mê sảng đang bủa vây . Và tôi trôi vào trong cảm giác đau đớn tê lịm.

Ánh nắng đã lệch nghiêng những vệt dài phía mé giường, tôi không đoán được thời gian này là lúc nào. Chiếc đồng hồ dưới nhà như vừa đi tiếng chuông, tôi lẩm bẩm đếm theo rồi bỏ dở nữa chừng. Ba, bốn hay có thể năm, sáu tiếng gì đó. Những tiếng ngân nga của kim khí như loãng vào đầu tôi và đi mãi, đi mãi. Tôi dụi mắt mấy lần nhìn vào những vệt nắng uể oải im trên mặt nệm và ao ước được yên lặng, ngã ngớn mãi như thế.

Bây giờ tôi không thể nằm xuống, cũng không thể ra khỏi căn phòng. Tôi muốn được yên lặng để nghĩ đến chàng. Anh Hoàng, Tại sao như thế được, mới hôm nào, còn như hôm qua, anh đi vào Thủ Đức. Hai tháng rưỡi gắn An pha, bốn tháng chia ngành và chín tháng mãn khóa. Còn nhớ những lần anh được phép ra khỏi trại. Anh tới bằng xe tắc xi. Em nằm trên gác cũng đoán được anh tới vì tiếng mở cửa xe vội vàng, tiếng đóng cửa xe nóng nảy.

Lúc em mở cửa sổ nhìn xuống, thấy anh trong bộ đồ vàng vai đeo An pha tung tăng hai con cá li. Còn quên, có những lần anh còn lủng lẳng đeo dây biểu chương nữa chứ. Và em như được một sức mạnh nóng bỏng đẩy nhanh xuống cầu thang, chạy vào phòng khách mở tung hai cánh cửa lớn.

Đáng lẽ ra em phải nằm gọn trong hai cánh tay anh dang ra mừng rở. Nhưng em kịp dừng lại và anh ôm một khỏang cách to lớn giữa chúng ta. Hai nụ cười, bốn mắt nhìn nóng bỏng, mừng rỡ đến tê dại, rồi thôi sau đó, ngồi đối diện ở salon, mỉm cười nhìn nhau. Tình yêu chỉ có thế, chỉ đến thế và dừng lại. Anh không thể tiến tới, em không thể bước xa hơn, vì giữa chúng ta còn sự hiện diện của gia đình, của ngượng ngùng e thẹn. Giữa hai chúng ta còn sự tinh khiết thần thánh, còn tình yêu của tuổi nhỏ, còn đầy mơ mộng của những lần bàn tay đưa hờ trên mái tóc. Phải không anh?

Vậy tại sao chuyện đó lại xẩy ra đến sớm sủa như thế. Hai tuần trước đây sau khi trả an pha để gắn lon chuẩn uý, anh đã nôn nao trở về Sàigòn, đã tìm em và chúng ta đi chơi với nhau sung sướng bàn định tương lai.

Làm sao em quên được trước ngày lên đường nhận nhiệm vụ mới, buổi tối hôm ấy anh đã ngồi lì ở nhà em đến đỗi ba mẹ phải ngạc nhiên.

- Sao dạo này thằng Hoàng siêng tới chơi vậy?

Em cười lỏn lẻn, sung sướng. Biết trả lời ba mẹ làm sao. Làm sao để nói được: Con yêu Hoàng lắm. Như dự liệu của chúng ta thì mới đến chỗ ba mẹ cất tiếng hỏi: Con có bằng lòng không? Và em đó mặt bỏ chạy.

Còn Thụy nữa. Chưa đến lúc em phải trả lời. Trước khi Thụy mang trầu cau đến hỏi thì chuyện của chúng ta đã tỏ rõ với mọi người. Nhưng một tuần lễ nay em không được tin tức gì của anh ngoài bức điện tín báo tin anh đã đến nhiệm sở. Rồi Tịnh đến và mang tin anh bị thương. Thế là hết. Hết hở anh? Mối tình của đôi ta chấm dứt? Hoàng ơi.

Em vừa nói gì thế, em vừa gọi tên anh đấy ư. Hoàng, màu vàng bạc ác đang lùi dần theo những vệt nắng.

Lạy trời, xin cho chàng đừng mong manh sắp tắt như những giọt nắng ngoài kia. Một người bạn khóa chuẩn úy trước anh đã từng ra trận nói:

- Chỉ đợi saú giờ sáng, giờ mặt trời lên, giờ thắng tử thần.

Vậy mà sao mặt trời đem hy vọng rồi mặt trời tắt. Không, tôi phải cam đảm và hy vọng nữa. Hoàng đang chiến đấu trong từng mạch tim, nhịp thở. Bây giờ chàng vẫn nằm yên trong phòng lạnh, mắt nhắm hiền từ. Chàng không mở mắt đâu khi mặt trời chưa ló dạng.

- Chưa vào thăm anh ấy được đâu. Tiếng của Tịnh còn vang trong đầu tôi. Sao cứ lởn vởn hình ảnh quan tài, nến thắp, những cánh áo vàng, tiếng mõ, tiếng kinh.

Tôi cứ xô đuổi những hình ảnh ghê rợn đó, nhưng những nhgọn nến vẫn bập bùng trước mắt tôi và khuôn mặt của Hoàng làm tôi ứa lệ.

Lúc này Tịnh đang làm gì? Nó đang khóc như tôi? Chung quanh là những người thân cùng khóc cho Hoàng.

Tôi bỗng muốn đến đó, nhà Hoàng, nơi mọi người mang cùng tâm sự, cùng niềm đau đớn như tôi.

Tôi đứng lên đi rửa mặt, thay quần áo. Chút hoạt động làm tôi tỉnh táo lại, nhưng sao lúc soi bóng mình trong gương tôi lại muốn khóc. Hoàng ơi, đừng để em lẻ loi.

Tôi bước ra khỏi nhà vừa lúc những tia nắng nhợt nhạt cuối cùng vừa láy trên ngọn cây, láy lên rồi lại tắt lịm. Tôi bổng nghe tim mình nhói đau. Một ngọn nắng vừa tắt, một ngày vừa qua. Có còn kịp gặp anh không, Hoàng.

Ba tôi đưa tờ báo lên cao, che kín cả khuôn mật. Có lẽ ông đang đọc những giòng chót của tờ báo. Tôi muốn nhìn thấy khuôn mặt của ba tôi lúc đó để đoán xem ông đang nghĩ gì. Tiếng mẹ tôi hòi:

- Có gì lạ không ông, xem có trận đánh nào lớn không?

- Lạ thật, bà hỏi chuyện đánh nhau làm chi vậy?

- Lãng nhách, có một tờ báo mà ông ôm lấy đọc, đọc đủ hết các cáo phó, tin mừng.

Ba tôi ngừng đọc, nhìn mẹ tôi cằn nhằn, giọng ông ôn hòa:

- Đi chơi bà cũng cằn nhằn, ở nhà bà cững cằn nhằn. Thôi đi chứ bà. Vợ chồng già rồi đừng để con gái cười. Sắp có rể rồi đó.

Tôi giật mình, ba nói gì vậy. Sắp có rể?

- Sao Lê ngồi buồn như bụt vậy con?

Mẹ tôi quay sang hỏi.

Buồn mà như bụt hở mẹ. Giá được như bụt, lòng tôi sẻ thoải mái biết bao.

Buổi chiều lúc đến nhà Tịnh, klhông gặp nó con bé đã một mình đi xuống bịnh viện Cộng Hòa. Tôi chỉ gặp bà cụ ngồi đọc kinh trước bàn Phật. Tôi đã đứng yên lặng thật lâu sau lưng bà, ngước mắt nhìn lên tượng Phật. Khuôn mặt hiền hòa và nụ cười nhân ái của Phật làm tôi xúc động. Hình ảnh người mẹ già ngồi cầu nguyện cho đứa con trai thân yêu khiến tôi rưng rưng cảm động.

- Bà ấy suốt ngày chỉ đi chùa với tụng kinh.

Hoàng kể cho tôi nghe như thế. Nhưng chưa bao giờ tôi dám nhìn mặt bà cụ. Mỗi lần đến chơi với Tịnh, tôi vẫn ngập ngừng, tránh mặt bà.

Tụng kinh xong, mẹ Hoàng quay lại nhìn tôi:

- Ủa cháu, cháu mới đến hả, ngồi chơi chờ bác một chút.

Bà cụ thay chiếc áo tràng màu lam, tháo đôi kính nặng nề và nét mặt giữ bình tĩnh:

- Cháu đến tìm Tịnh đấy hả?

- Vâng ạ. Giọng tôi mất vẻ bình thường.

- Tịnh vào bịnh viện rồi cháu ạ. Anh Hoàng nó mới bị thương.

Mắt bà cụ rơm rớm, nhưng không muốn để tôi trông thấy, bà cụ vội quay đi. Tôi cũng cố ngăn tiếng nấc chỉ chực trào ra cổ. Cố giữ đi Lê, đừng khóc trước mặt mẹ Hoàng. Tôi cố lấy cam đảm để hỏi bà về bịnh tình của Hoàng, nhưng tôi không thể.

Tôi không dám ngồi lâu với bà cụ. Nói chuyện một lát, tôi nại cớ sợ trời tối để xin phép cáo từ. Tôi không biết nếu còn ngồi bên mẹ Hoàng thêm một lát nữa tôi có còn cầm được nước mắt hay không?

Trở về nhà, tôi không đủ cam đảm ngồi một mình trong phòng, sau bữa cơm tối, tôi xuống salon ngồi với ba mẹ.

- Lê.

- Thưa mẹ gọi con.

- Chiều nay con đi đâu về mà trông con buồn hiu vậy.

- Dạ đâu có gì. Sắp thi rồi nên con lo đấy mẹ.

- Thi đỗ đi rồi mẹ gã chồng cho.

-Có con gái lớn trong nhà mẹ con cứ lo ngay ngáy.

Giọng ba tôi bông đùa.

- Hay chửa. Tôi lo cái gì đâu....mà cũng phải lo chứ. Có con ai lại chẳng lo cho con .

- Ừ thì tôi bảo bà lo chứ có nói gì đâu.

- Ông chỉ giỏi nói bông đùa. Có chuyện đứng đắng sao không nói cho con nó nghe đi.

- Mẹ con nói với nhau có phải tiện hơn không? Nhưng thôi để tôi xem ý nó thế nào.






Nét mặt của ba tôi trở nên nghiêm chỉnh, ông nhìn tôi nói tiếp:

- Lê à. Con nghĩ thế nào về cái đám cậu Thuỵ . Người ta ngỏ ý với ba mẹ đôi ba phen rồi đấy.

- Thưa ba mẹ, con chưa nghĩ gì cả, nhất là lúc nầy con hãy còn lo học thi.

Nhắc đến chuyện cưới gả, tôi lại nhớ Hòang xót xa. Hoàng ơi ! Bao giờ anh đến nói với ba mẹ em? Bây giờ anh ra sao?

Nước mắt tôi ứa ra. Hai giòng lệ không kịp ngăn chảy đi xuống má.

- Sao thế Lê? Mẹ tôi hốt hoảng.

- Ba mẹ tha lỗi cho con. Tôi nức nở

- Gì vậy Lê. Có điều gì con cứ nói cho ba mẹ hay. Ba mẹ đâu đã ép con. Ba tôi nói.

- Lê, con làm gì kỳ vậy? Hay con có chuyện gì buồn? Mẹ tôi đứng dậy sang ngồỉ cạnh tôi.

- Nếu con không thích, ba mẹ chẳng bao giờ ép. Ép dầu ép mỡ chớ ai nỡ ép duyên con. Hay là con yêu ai rồi, nếu thế con cứ nói cho ba mẹ biết.

- Con thương anh Hoàng. Tôi lại bật khóc.

- Hoàng nào cái thằng chuẩn úy mới ra trường đó hả. Ba biết rồi, thằng đó bảnh trai. Tuần trước ngồỉ lì cả tối ở đây này.

- Nhưng nó có nói gì với con chưa. Mẹ tôi lo lắng.

- Dạ có. Tôi đáp thật nhỏ.

Ba mẹ tôi nhìn nhau, dường như ba tôi gật đầu.

- Con thương thằng đó được. Tính tình nó vui vẻ, hiền hòa. Chỉ phải cái tội nó đi lính. Nhưng thôi, thời buổi này ai mà chả phải đi lính. Không đi lính trước cũng vô lính sau.

Không đi lính trước cũng vô lính sau.Tôi rùng mình Sao cứ nghĩ những điều kinh khũng. Tôi đứng lên ôm mặt bỏ chạy.

- Con gái tôi xấu hổ. Sắp lấy chồng chứ nhỏ bé gì nữa mà mắc cở. Tiếng cười của ba tôi vọng theo.

Suốt ngày hôm nay, tôi lẩn quẩn theo chân Tịnh. Tôi hồi hộp, tim muốn bứt ra theo mỗi cái nhíu mắt, cau mày của Tịnh khi tôi và Tịnh xuống đến bệnh viện Cộng Hòa, chiếc giường của Hoàng đã có một thương binh khác vào nằm.

Còn Hoàng, bác sĩ đã cho đưa vào phòng lạnh ngay từ khi bác sĩ trông thấy thương tích một viên đạn trong bụng, đâm suốt ra đằng sau lưng, một viên khác mắc kẹt gần ống phổi.

Từ sáng đến giờ, ba giờ chiều, tôi chưa được trông thấy mặt Hoàng.

Chỉ còn mình tôi ngồi đợi ngoài phòng lạnh. Tịnh đã đưa bà cụ về nhà. Chờ suốt buổi sáng để nhìn mặt con trai, bà cụ gần kiệt sức. Tôi ngồỉ trên băng ghế gỗ, lòng bồn chồn. Lúc đầu tôi còn dán mắt vào cánh cửa phòng lạnh, tưởng như có thể trông thấy chàng qua lớp gỗ. Nhìn được một hồi, mắt tôi bắt đầu mỏi, tôi ngã người dựa vào tường, mắt khẻ nhắm Những hình ảnh quáí dị chập chờn làm tôi kinh hoàng. Tôi lại mở bừng mắt nhìn vào phòng lạnh. Tôi chẳng trông thấy gì được. Giá cánh cửa bằng kiếng, tôi sẽ trông thấy rõ chàng. Tôi đứng lên đi lui đi tới trong hành lang. Chiếc hành lang bệnh viện đi hun hút. Hai bức tường trắng chạy dài lạnh lẻo, rợn người.

Buổi chiều thật vắng lặng, giữa tôi và Hoàng cả một khoảng vách mênh mông.

Buổi sáng tôi đã gặp được bác sĩ và hỏi được thương tích của chàng.

- Cụt chân hay cụt tay không bác sĩ?

- Không. Tay chân không nguy hiểm.

- Thế vết thương nguy hiểm thế nào?

- Hai viên đạn mất khá nhiều máu.Nhưng không sao đâu. Nhiều người còn bị nặng hơn thế.

Những người bị nặng hơn thế và như thế họ có còn sống sót hay không. Tôi thèm trông thấy mặt chàng. Hoàng ơi, đến lúc nào anh mới tỉnh lại?

Nắng rực rỡ trên mái bệnh viện và những hàng cây xanh chói sáng trong nắng làm tôi nhớ những trưa nắng Thủ Đức. Lần đầu tiên tôi đi thăm chàng, hai đứa đã nhìn nhau như muốn nuốt lấy hình ảnh nhau. Trên thảm cỏ những đôi nhân tình dìu nhau âu yếm Tôi chỉ dám đứng nhìn Hoàng, tay chưa dám cầm tay. Chuyện tình của chúng tôi vương vấn bàn tay, vuốt hờ mái tóc. Chỉ thế thôi cũng đã đủ cho má tôi hồng như thoa phấn. Tiếng động đánh thức tôi ra khỏi giấc mơ kỷ niệm. Ngưới y tá từ phòng lạnh bước ra, khi ông thấy tôi, mắt ông ta nhìn thật lạ.

- Cô là người nhà ông Hoàng.

- Vâng.

- Còn ai nữa không?

- Dạ mẹ và em gái anh ấy sắp vào.

- Thế cô là gì của ông ấy?

- Dạ em họ. Tôi ấp úng.

Người y tá nhìn tôi ngập ngừng rồi vội quay đi.

- Thưa ông ....

- Tôi đi mời bác sĩ .

- Thưa ông.

Ông ta không còn nghe tôi nói, bóng ông khuất nhanh sau lối rẽ của hành lang.

Một bầu trời nắng vàng vừa tối lại trước mắt tôi Hoàng ơi. Cho em được vào với anh. Hoàng ơi,cho em thấy mặt anh. Không ai cho em vào, không ai cho em được biết gì đang xảy đến với anh.

Bác sĩ đến. Tôi nhào vào theo. Vô ích, người ta ngăn tôi lại:

- Đừng làm thế. Cô cứ chờ ở ngoài. Hãy để bác sĩ lo cho bệnh nhân.

Cánh cửa phòng khép lại che đôi mắt người y tá cúi xuống tránh nhìn tôi.Tôi ngồỉ vật xuống ghế. Hy vọng, Lê ơi cố lên. Bám lấy hy vọng. Miễn là Hoàng chưa chết.

Chỉ một lát, Tịnh đưa bà cụ vào. Trông thấy nét mặt thất thần của tôi, cả hai đều hốt hoảng.

- Vào được chưa Bác sĩ nói sao hả Lê . Tịnh hỏi dồn dập.

- Bác sĩ đang ở trong đó.

- Chuyện gì vậy. Mắt Tịnh loé lên ánh sáng linh cảm.

- Người ta không cho biết.

- Lạy trời. Con tôi...Mẹ Hoàng ngẹn ngào.

Bác sĩ đi ra trước, người y tá theo sau.

- Thưa Bác sĩ ....Bà cụ lên tiếng trước nhất.

Bác sĩ chỉ lắc đầu, mắt ông chẳng nhìn ai.

- Thưa Bác sĩ thế nào?

- Không được. Nét mặt ông thật dịu dàng, buồn bả.

Tịnh òa lên khóc. Mẹ Hoàng rũ xuống như một tàu lá.

- Khoan đã cô. Để chờ đưa qua nhà xác. Người y tá vội vàng giữ tay Tịnh lại khi nó chạy vào phòng.

- Chúng tôi lạy ông, cho chúng tôi được nhìn mặt con con tôi.

- Xin bà hiểu, luật ở đây như thế, phải chờ đưa qua nhà xác. Chúng tôi cho đưa qua ngay bây giờ.

- Lạy ông cho chúng tôi thấy mặt ...con...Bà.. cụ nấc lên từng hồi.

Tô đứng lặng nhìn mẹ con Tịnh vật vả. Nước mắt ướt đẩm gương mặt tôi nhưng tôi không khóc. Đau đớn đè nặng trái tim làm tôi nghẹt thở. Trước mắt tôi nhoè nhoẹt màu vàng, một màu vàng của nắng chiều tàn lụi.

Hết. Thế là hết hở anh Hoàng. Chân tôi tự động bước ra khỏi hành lang hướng về cổng bệnh viện. Nắng vẫn vàng rực trong sân, màu vàng mê loạn của một cơn sốt. Dường như có tiếng ai gọi tôi. Người y tá xuất hiện, báo cho tôi biết Hoàng đang được đưa vào nhà xác và chỉ đường cho tôi đến. Tôi không hiểu cách nào đôi chân tôi thôi hướng về cổng mà bước theo hướng vào nhà xác. Nơi đó tôi sẽ gặp Hoàng. Một lần cuối để nhìn chàng rồi hết, mãi mãi.

Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi đứng chờ trước bậc thềm.

-Mẹ.

- Con đi đâu từ sáng đến giờ. Buổi trưa con không về làm ba mẹ lo lắng. Ba con đã đi tìm con.

Tôi đứng chết trân trước mặt Mẹ, Mẹ ơi, mẹ biết con đi đâu không. Mẹ biết Hoàng mất không mẹ.

- Con đi đâu sao không nói trước cho ba mẹ biết. Con làm ba mẹ lo sợ. Con đã lớn đừng để ba mẹ buồn.

- Mẹ. Con đi với Tịnh .

-A, Con đi chơi với nó hả. Lần sau muốn đi đâu phải thưa trước với ba mẹ, chứ con đi như thế làm ba mẹ lo lắng

- Mẹ con đi gặp anh Hoàng.

- Thế thì con hư quá. Con lại đi chơi với nó chứ gì. Lần sau các con phải xin phép ba mẹ trược. Giọng mẹ tôi vừa nghiêm nghị vừa âu yếm.

- Thôi con vào thay quần áo đi. Mẹ cũng vào làm cơm kẻo muộn rồi.

- Mẹ anh Hoàng...

- Thằng Hoàng muốn xin lỗi hả. Được rồi. Tụi mày hư lắm.

- Mẹ, con muốn nói với mẹ anh Hoàng...

- Đừng bào chữa nữa. Trông cái mặt tái mét cũa con mẹ cũng biết con sợ lắm rồi, đừng ấp a ấp úng nữa. Thôi mẹ đi làm cơm đây.

- Mẹ ơi, Mẹ nghe con nói ....

- Mẹ không muốn nghe nữa. Lát nữa, ba về con hãy xin lỗi ba. Con đã hối hận, mẹ không giận con đâu. Giờ mẹ phải làm cơm.

- Mẹ.

Mẹ tôi khuất rồi. Mẹ không muốn nghe tôi nói. Mẹ không muốn biết tin Hoàng.

Sao mẹ có thể tưởng chiều nay tôi đi chơi với Hoàng.

Buổi chiều cuối cùng, không một lời trăn trối, không một ánh mắt gửi lại.

Mẹ vô tình như nắng vẫn vô tình nhảy nhót giữa không gian, khi mà Hoàng, ánh nắng sười ấm tim tôi đã tắt.
Phượng Các
#5 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:15:21 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Hơi Thở


Ấm nước sôi đã hơi lâu, dễ chừng tới mươi lăm phút. Mấy lần Dung định đưa tay nhấc cái ấm xuống, tắt lửa. Nhưng nàng không làm được việc đó. Tiếng nước reo sao không ròn như niềm vui, mà nhắc đi, nhắc lại trong lòng nàng một điệu sầu. Tâm hồn nàng chán nản kỳ lạ. Tình trạng như nàng mang thai đứa con đầu lòng. Đứa con. Vết thương cày sâu, êm ái làm nàng muốn ngất lịm. Nhưng rồi Dung cũng nhấc ấm xuống. Phải có một phích nước sôi. Một gói trà thứ tốt. Hiệp thích uống trà vào buổi tối, trước khi đi ngủ, Dung đứng lên, đi tìm cái phích. Dung hơi bực bội, cái phích để lâu ngày không dùng, bụi bám đầy trông dơ dáy quá.Nàng không ngac nhiên gì, chính nàng, dù có chồng, vẩn chưa thể rời rức hẳn cuộc sống độc thân. Hiệp đổi đi xa. Lính tráng ngày nay ấy mà . Còn Dung đời sống công chức, ngày hai buổi đi về, cơm hàng cháo chợ. Hiệp viết thư về nói: Anh muốn em bỏ con mẹ nấu cơm tháng tháng. Mỗi ngày nhai đi nhai lại mấy món thức ăn, lập y từng ngày trong tuần lễ. Hiệp không đề nghị nàng tự nấu ăn lấy. Nàng không hiểu tại sao? Cuộc sống lông bông của chàng khiến chàng chưa nghĩ tới một thứ tự trong gia đình. Dung cũng vậy,một căn phòng thuê trong buiding , đồ vật ngổn ngang, đồng lão với sự lười biếng. Những giờ rảnh, không đi đâu, Dung thường nằm như liệt giường. Đôi lúc, chẳng thiết tới ăn uống nữa.Lấy nước. Tắt lửa. Dung đem phích nước để lại chỗ cũ. Có lẽ phải lau sạch bụi bặm trên giường một tí. Nàng vụng về sút làm đổ cái bình nước. Khi xê dịch bình nước đi chỗ khác, nàng lại đánh rơi một mẫu giấy nhỏ. Dung cúi xuống lượm lên. Điện tín của Hiệp đây thôi. Anh về ngày thứ sáu, 13. Đừng có sợ. Chắc chắn gặp nhau vào khoảng 3 giờ tại P.N.L. Dung đọc lại và tức cười. Điện tín dài dòng đủ thứ lại viết tắt ba chữ Phạm Ngũ Lão. Thứ sáu, mười ba thì ăn nhằm gì. Dung chẳng tin. Chẳng tin một thứ dị đoan nào hết. Nếu có số mệnh, có duyên số, Dung đã không lấy Hiệp. Trước khi lấy Hiệp, Dung đã có người tình. Làm đủ cách, bói toán, ở đâu cũng cam kết hai người lấy nhau. Hai người sinh ra để lấy nhau. Vậy mà vuột. Hiệp ở đâu,lò dò tới, Hiệp đã có một đời vợ. Cuộc tình với Hiệp sao buồn hiu. Toan xa cách.

Dung nhìn đồng hồ. Còn sớm quá. Phải nằm nghĩ một chút. Lưng nàng mỏi đừ. Có lẽ vì sáng nay đánh máy hơi nhiều. Mấy thứ giấy tờ pha3i thanh toán cho xong trước khi xin phép ông trưởng phòng nghĩ một buổi:- Cô Dung, cô nói thiệt đi, cô có chuyện gì? Dung cố dấu vẻ khó chịu:- Dạ việc riêng gia đình.Há việc riêng? Tôi biết rồi nhé. Cô không nói thật tôi không cho nhỉ. Có phải anh ấy về không? Tha hồ....May, lúc nào hắn cũng kịp gượng lại câu nói sau cuối. Dung đã sửa soạn vẻ mặt nghiêm trang. Nàng đâu có quên được nụ cười quá khổ cuả ông trưởng phòng. Mắt ti hí, lẳng, lúc nào cũng sẳn sàng bắt bồ với ai muốn hợp tác. Thế cô có cần nghỉ vài hôm không? Chắc cô cũng cần...Bao nhiêu lần hắn muốn nói nham nhở với Dung rồi nhỉ? Dung cố trầm tỉnh: Thưa ông, một buổi đủ cho tôi thu xếp công chuyện.

- Trông cô Dung có vẻ nghiêm trọng quá, chắc hờn mát nhau chăng?

Ai? Ai hờn mát? Dung ngạc nhiên. Nhưng nàng mỉm cười quay đi. Đàn ông, thì ra ông trời cho chung một nết. Dung nghĩ tới Hiệp, nhớ lại những tưởng tượng của mình. Nàng cay đắng. Biết đâu đó. Đi xa như thế. Một lần, mới đây lúc về phép, một người bạn hỏi:

- Sao mày, đi xa, mày có nên cơm cháo gì chưa?

À, chuyện nọ kia hả? Tao luôn luôn sẳn sàng theo luật người cày có ruộng.

Lúc đó, chỉ có bọn đàn ông ở phòng ngoài. Dung đang ở trong toa - lét súc bình cà phê. Giả dụ có Dung thì Hiệp có nói vậy không? Và nghe như vậy, Dung có phản ứng gì? Làm sao Dung biết được.

Dung nằm duổi thẳng tay chân. Nàng tự kiểm điểm coi lòng mình có chút nô nức nào không? Không thấy gì lạ hết. Tại sao? Mà hình như trạng thái này có từ lâu rồi. Có lẽ tại Hiệp đi xa đều đều, và nhiều lần về phép, những mong đợi, náo nức trong tâm hồn nàng đã bị diệt lần mònh hết rồi chăng? Chẳng phải đâu. Chính chuyện đó....Dung rùng mình, nhớ lại lần Hiệp đưa nàng vào nhà hộ sinh. Xong xuôi, Dung khóc, Hiệp vỗ về:

-Chẳng sao đâu em. Với lại, mình còn nghèo, còn lông bông quá, anh chưa muốn bó buộc. Kể ra cũng buồn, nhưng cũng là cái hay. Mắt Dung ráo hoảnh, khi nghe Hiệp nói xong câu đó, mặc dù lòng nàng như bị ai xé. Một núm ruột đã đứt lìa. Một phần thịt da, xương cốt của mình đã gữi trong đất. Về sau, chỉ có Dung thường đi thăm mộ đứa nhỏ. Hiệp luôn luôn bực dọc:

- Em lúc nào cũng mơ mộng, lãng mạn. Thăm làm gì. Nó đã đi đầu thai. Dung sững sờ, Sao đi thăm mộ con lại là một chuyện mơ mộng, lãng mạn? Hiệp làm Dung chết dần mòn tình cảm. Lỗi ở Hiệp.

Dung đặt một tay lên ngực mình. Ở đó, trái tim đập nhịp nhàng. Trái tim đã đập nhịp nhàng như thế này từ lúc mối tình đầu tan nát. Dung lạ lùng không hiểu mình có nhớ thương gì không. Có điều, khi lấy Hiệp rồi, Dung coi như mình chấm dứt hết. Dung có một cô bạn gái lúc còn đi học tới bây giờ hai đứa vẩn còn liên lạc. Con nhỏ tên Thùy Mỵ nhưng nó lại rất loạn. Chưa có chồng. Nó thường tới nằm dài ra với Dung nói đủ thứ chuyện. Dung nhớ mới ngày hôm qua, buổi chiều đi làm về đã thấy nó đợi ở hành lang. Lúc nào nó cũng ồn ào:

- Trời ơi, mày đi xe gì về đây. Mày biết ,tao đợi mày cả tiếng đồng hồ rồi.

Dung cười:

- Tao biết. Vì cái tật đến sớm, xem đồng hồ nhầm mà kép nó cho mày rơi hoài.

- Con quỷ. Mày cười được hả. Cười nữa đi. tao cá với mày, ông Hiệp của màycó một tá con mèo.

- Cũng được. Miễn là không có mày trong số đó.

Nó đấm Dung tới lọi lưng luôn. Vô phòng, chưa kịp cho Dung thay áo dài, nó đã xô Dung nằm xuống giường:

- Thôi mày, thay làm gì. Nằm đây, Ơi, tao leo cầu thang nhà mày mỏi đừ giò. Tao chỉ có một cặp giò thôi....Ủa sao mày buồn quá vậy Dung. Mày có nhớ ông lúc ông đi với mèo.

Dung mỉm cười. Trong lòng Dung lúc này cũng nhen một khối nghi hoặc. Lần về mới duy nhất, Hiệp không báo tin. Lúc Dung đi làm về thấy Hiệp đứng ở dưới đường đợi:

- Anh về từ lúc nào?

- Lúc ba giờ.

Đáng lẽ Dung hỏi tiếp sao về lúc ba giờ mà không gọi điện thoại cho em, hay sau lúc năm giờ không đón em. Dung chỉ hỏi:

- Anh ăn cơm chưa? Rồi, anh ăn cơm tiệm. Dung cố không thốt ra câu anh ăn cơm tiệm với một ai? Hỏi làm gì, chắc hiệp đi với một người. Buổi tối Hiệp không rủ Dung đi ciné gì hết, mà nói : Chiều xem phim hay quá. Dung làm thinh. Đến phiên Hiệp thắc mắc:

- Em không cần biết anh đi với ai à?

Dung trả lời không. Hiệp cười:

- Anh gặp một cô bạn cũ. Em buồn không?

Dung bật cười, Hiệp nói: Em chỉ thiệt. Buổi sáng hôm Hiệp đi, Dung tình cờ đọc được mẩu giấy nhỏ trong túi áo bẩn của chàng:

- Anh Hiệp, đợi anh ở quán Nhớ. Giờ như mọi lần.

Cô gái ký tên tắt, một chữ H. Biết thêm làm gì? H là Hoa, là Hồng, là Huệ. Dung không cần. Chỉ cần biết là Hiệp đã phụ bạc.

- Mày có vẻ tin ở ông Hiệp quá Dung ạ.

Dung mím môi. thùy Mị tiếp:

- Hồi còn đi học tao thấy mày hay đa nghi. bây giờ mày đổi tính nết rồi. Mày hiền quá

- Chuyện mày đến đâu?

- Chuyện gì? Chuyện nào?

- Tao muốn biết mày với thằng kép mới.

Thùy Mị cười rú lên:

- Tao có tới ba thằng kép mới. Mày nói đứa nào mới được chứ. Mày đừng để ý chuyện của tao làm gì. Tao đang lo cho mày.

Dung, sao dạo này tao thấy mày sút quá. O coi cổ tay mày gầy nhom. Mắt mày sâu hỏm. Hiệp có làm gì mày không? Hay ở sở mày có chuyện gì...

- Đâu đến nổi. Mày ăn cơm chưa?

- Có lẽ nên đi ăn. hay thôi. Mày xuống mua bánh mì lên hai đứa đớp. Nhớ mua hai bịch nước ngọt. Cho nhiều đá vào. Nhớ....hihi, răng tao sắp rơi hết mà tao vẩn khoái nước đá như thường.

Hiệp nói với Dung:

- Cô bạn của em có ít nhất là năm cái răng giả. Dung tò mò ngó Thùy Mỵ. Con bé câng cái mặt lên:

- Mày ngó gì? Mặt tao có lọ nồi không? Dơ không? Mày ngó gì? Mặt tao có lọ nồi không? Dơ không?Không. Dung lắc đầu, ngồi dậy. Nàng mở ví lấy tiền. Nhưng Thùy Mỵ cũng nhổm dậy theo:

- Tao đi với. Nằm một mình buồn chết. Ăn bánh mì, nói chuyện gẩu tới đêm, lúc về Thùy Mỵ còn thắc mắc: - Hay mày với ông Hiệp làm sao rồi? Dung đưa bức điện tín ra: - Coi có làm sao không? Thùy Mị cười lớn lên: A há, khi người ta hạnh phúc quá, người ta cũng sửng người, ngó như đồ ngu.

Dung dụi đầu vào gối. Nàng muốn không nghĩ gì hết. Nhưng làm sao mà không nghĩ được. Có lẽ lần này, nàng phải nói với Hiệp. Nói về mảnh giấy, nói về những hồ nghi trong lòng nàng. Hay không nói gì hết? Tâm hồn nàng mệt mỏi, chán nản lạ lùng. Từ mấy hôm nay. Dung có ý nghĩ ly dị. Thật tức cười. tại sao nàng có ý nghĩ đó? Dung hoàn toàn không hiểu. Nàng chỉ biết nàng rất chán, chán tới độ tránh nhìn cả bức hình của Hiệp, lúc nào cũng ngó nàng chằm chặp, cười diễu cợt.

Rồi mình sẽ làm gì? Tiếp tục cuộc đời độc thân. Thì bây giờ đâu có gì thay đổi. vẩn đời độc thân, trừ những khi có Hiệp. Nhưng hình như Dung có ao ước một điều gì đó chưa rõ rệt. Hình như Dung cũng chán cuộc đời độc thân, trơ trọi này rồi. Nghĩ tới Hiệp, lúc này có lẽ đang từ giã cô gái tên H nào đó. Dung hình dung ra hiệp đang đóng bộ mặt buồn bã:- Anh chỉ về với vợ anh vài hôm. Anh sống bên em nhiều hơn. Dung lăn người một vòng, rồi trườn đầu lên cao để mặt lên gối như cũ. Có lẽ mình không đi đón Hiệp ở nhà ga. Mình đợi Hiệp ở nhà . Có lẽ lần này mình phải nói hết...

Nghĩ như vậy nhưng Dung vùng ngồi dậy. Nàng ngó mặt mình trong gương. Tò mò nhìn mấy dấu nhăn ở mép môi, ở đuôi mắt. Nàng nhướng mắt lên, mỉm cười. Nàng thất vọng. Không nhìn thấy nét trẻ trung đâu nữa. Mình xuống dốc quá. Làm gì đến nổi thế này. Dung đưa tay xoa xoa mấy nếp nhăn. nàng nghĩ tới một thứ mỹ phẫm quảng cáo trên báo. Có lẽ phải làm đẹp một tí. Dung bắt đầu trang điểm. Lúc trang điểm xong, chuông đồng hồ mới điểm có hai giờ. Nhưng có lẽ nên ra ngoài thôi. Ngồi rán lại, chắc Dung sẽ không đi đâu nữa hết.

Lâu lắm Dung mới ghé vào cái quán nước này. Quán nước còn ghi một kỷ niệm buồn của nàng. Nhưng không hiểu sao Dung đã quả quyết bước vào đó. Ngồi một mình với ly cô ca lạnh ngắt. Dung tưởng mình sẻ chết vì kỷ niệm. Tưởng như vậy là lầm. Lâu nay, mỗi khi nhớ tới chổ ngồi này, Dung nghĩ rằng, có lẽ mình sẽ khóc, sẽ tê lịm người khi kỷ niệm thôi thúc. Nhưng Dung cũng chẳng cảm thấy gì hết

Thình lình, Dung bắt gặp một khuôn mặt quen. Một người đàn ông làm chung sở. Hắn đi với một cô gái lạ không phải là vợ hắn.Dung biết mặt vợ hắn, vì một lần hắn đã dẩn vợ tới dự một đám cưới bạn bè. Hắn chưa nhìn thấy Dung. Rồi cũng thình lình nữa, vợ hắn xuất hiện ở một cánh cửa ra, vô. Hắn đứng bật dậy, như phóng ra một cửa khác, mở cữa một xe tắc xi rất nhanh và mất hút. Chỉ cỏn lại hai người đàn bà. Người đàn bà dợm bước theo người đàn ông. Cô gái mở ví đặt vội tờ giấy năm trăm lên bàn rồi cũng lật đật đi. Ra tới cửa, người đàn bà trông thấy, lật đật đi theo. Dung nghe một tiếng gọi khá hằn học:

- Ê, cô kia.

Rồi họ khuất mất ở đâu, chuyện gì sau đó, Dung không biết nữa.

Dung uống nốt ly cô ca. Câu chuyện vừa xảy ra không đem tới cho Dung chút giải trí nào, như nhiều người khác ở trong quán. Chì có một câu duy nhất lập đi lập lại: - Đàn ông, trời cho nết giống nhau. Dung nghĩ tới Hiệp. Lúc này, chắc chàng ở trên máy bay. Và trước đó, ho5 chia tay nhau. Hai người đã hôn nhau. Cầm tay bịn rịn. Rồi gì nữa. Hẹn hò, bi thảm. Nước mắt. Ôi, chỉ là kịch. Với dung, đời sống vợ chồng giữa hai người cũng là kịcfh. Vở kịch chưa buông màn đúng lúc cũng tẻ nhạt, chẳng ra cái gì. Lòng Dung nguội ngắt.

Ở quán nước ra, Dung leo lên một chuyến xe buýt. Con đường từ quán ra tới da Phạm Ngũ Lão ngắn thôi. Nhưng khi thấy chuyến xe buýt ngừng. Dung leo lên, rồi lại hối hận. Xe buýt chật ních không còn một chổ ngồi. Dung đứng, vịn tay vào ghế. Người đàn bà mập bự, đưa cái lưng ép vào tay Dung. trước mặt Dung, một bà bầu, bám chặt cả hai tay vào thanh sắt. không ai nhường nhịn ai nữa. Ngay sát chổ bà bầu đúng, hai thanh niên ngồi hút thuốc lá phì phèo. Xe dừng lại, Dung bước xuống. Nàng có thể đợi thêm mõt trạm nữa thì gần ga hơn. Dung đã không đợi. Nàng lội bộ. Suýt nữa Dung bị một chiếc xe xích lô đâm vào người. Chưa hết, nàng tông vào một đứa nhỏ chạy băng ngang. Đứa nhỏ dừng lại định sừng sộ. Rồi có vẻ nhìn thấy vẻ mặt ngơ ngác của nàng, nó nhe răng, làm mặt khỉ, rồi cười ré lên, bỏ chạy.

Dung đâm ra cáu kỉnh. Có điềm xui gì đây. Có thể hôm nay Hiệp sẽ không về. Phích nước sôi của nàng đun sẳn sẽ nguội ngắt, và như thế, để chờ tới lúc nào nàng nhận một tờ điện tín khác, phích nước mới được thay. Nhớ lần vừa rồi, vì về bất chợt. Hiệp hấp tấp lấy bình trà rót một ly, đưa lên miện uống. Dung ngăn cản không kịp, Hiệp phun ra giữa nhà, chưa hết, thiếu điều chàng móc miệng cho nôn mửa ra. Bình trà đóng mốc xanh, mốc đen. Làm sao được.

- Dung. Dung. Ê.

Thùy Mị vừa dừng xe vừa đưa tay vẫy rối rít. Cô hét lớn tiếng:

- Ê, đi đâu vậy Dung.

Dung tới gần cười:

- Đi đón ông Hiệp.

- Trời ơi, đi đón chồng mà mày đủng đỉnh như đi dạo phố. Lên đây tao đèo. Ê, Dung. Tao ngạc nhiên, trông mày giống con mlụ thất tình quá.

Thùy Mị cưới ngất. Vài người ngó hai đứa. Đúng là con điên. Dung nghị thầm. Nàng vẩn giữ nụ cười dịu dàng:

Thôi cám ơn mày. Nàng chỉ về phía ga. Tao đón anh Hiệp ở đàng kia. cám ơn mày nghe.

- Dung...

- Hử ?

- Thôi. Nhưng sao tao tức cười quá.Khỉ. Thôi tao đi không cười chết mất.

Thùy Mị chưa đi, còn nói với:

- Cho tao gửi lời thăm ông Hiệp nghe mày. Nói với ông...

Tự nhiên Thùy Mị cắt ngang . Nói với ông cái gì? Nhưng Dung không hỏi lại mà gật đầu. Còn một khoảng quá ngắn thì tới ga. Lạ chưa, Dung càng thấy lòng trống rỗng tợn.

Vì Hiệp mà Dung mới tới chỗ này. Dung ghét nhà ga chi lạ. Vừa vô tới, Dung đã bị bao quanh bởi các người bán hàng. Mua ổ cô. Mận ngọt cô. Chục xòai có nghìn rưởi cô. Vé số cô. Cô mua giúp em. Thật khó nho5c, Dung mới thoát được đám người đó. Nàng đi vào bên trong, đứng ở một mái hiên. Hình như mới có một chuyến xe vừa về. Chiếc xe trống đang de tìm chổ đậu. Một vài người đứng từ trước, ngó Dung, cứ coi đồng hồ hoài. Dung chăm chú nhìn người đàn bà bán hàng đang bóc một quả bưởi bằng con dao nhỏ. Bà ta bóc rất khéo tay. Những múi bưởi, chẳng mấy chốc được tách ra, trắng nỏn, mọng căng nước mà vẩn được bao bằng lớp màng mỏng dính. Thấy Dung ngó bà cười xã giao: Bưởi Biên Hòa cô. Dung lắc đầu nữa. Có mấy đứa trẻ chắc chờ lâu quá, bày đặt tró chơi trốn tìm . Chúng kéo cả vạt áo của Dung mà núp. Người đàn ông chắc là ông bố, gọi con lại phàn nàn, rồi ngó Dung , ra điều cô thông cảm, cháu nó dại. Ông mua mấy múi bưởi. Lần này, tụi nhỏ đứng vyên một góc, cắm cúi chấm chấm mút mút với một gói muối ớt thật nhiều. Dung trả lời nụ cưới ngượng nghịi của người đàn ông bằng một nụ cười vu vơ.

Dung nghĩ tới Hiệp. Liệu chàng có vui mừng gì khi trông thấy mình tới tận đây đón chàng không? Chàng đi một mình hay với ai nữa? Có thể chàng cùng về với cô nhân tình trẻ, mới mẻ. Họ sẽ đóng kịch trước mặt mình. Nàng lại mỉm cười chua xót. Roi-éi nàng giận cả lòng mình, cho rằng, mình đã trở thành một con người chối bỏ hết ý nghĩa của cuộc sống. Không ham thích, không thiết tha. Đúng không? Vẩn không thể chắc được gì. Hình như nghĩ tới Hiệp , nàng chỉ thấy chán ngắt. Tại sao? Dung cố bác bỏ ý nghĩ là mình ghen tuông. Ghen với một cái tên tắt? Với một người không hề biết mặt? Không, Dung không muốn nghĩ tiếp nữa.

Cô gái đứng bên Dung bỗng bắt chuyện:

- Bà đi đón người nhà.

Dung gật đầu.

- Hôm nay chắc máy bay trễ. Bà đi đón chuyến nào? Qui Nhơn hay Ban Mê Thuột?

- Cô đón chuyến nào?

- Em đón chuyến Qui Nhơn.

Và cô gái như không dừng lại được. Cô có nhu cầu phải nói, phải thố lộ. Sự chờ đợi đã làm lòng cô đầy tràn.

- Em đi dón từ trưa. Nhà em nói sẽ tới lúc hai giờ. Lúc nào em cũng đi đón sớm. Anh ấy thích vậy. Tới mà chưa thấy em là mặt sụ một đống. Nhà em con nít lắm chị ơi. Tụi em mới lấy nhau, nhà em bỉ đổi. Em xin theo mà má em không cho . Tại bị em con một đó chị. Nhà em về hoài, lấn này là lấn thứ ba trong một tháng. Buồn cười, hồi nảy có một chuyến, có ai giống nhà em quá trời, tí nữa em túm lấy rồi...Nhà em....

Dung cắt:

- Mấy giờ rồi?

Cô gái đưa đồng hồ lên:

- Ui da, Ba giờ rưỡi rồi cô. Dễ chừng tời bồn giờ. Đồng hồ của em chạy ẩu một cây. Ít nhứt cũng gần bồn giờ. Lạ quá, sao hôm nay tàu trễ vậy. Trời ơi, em lo là lo.

Bốn giờ. Vậy chuyến tàu từ Đà Nẵng vô cũng trễ sao. Cô gái lại hỏi:

- Chị đón chuyến nào?

- Đà Nẵng.

- Ý . Đà Nẵng tới rồi. Đó, cái xe trống đang đõ hàng xuống đó chị. Tới lúc ba giờ. Đông ơi là đông.

Dung thở dài. Còn cách nào hơn là trở về. Hiệp đã có mặt ở sài gòn. Và chắc giờ này cũng đang lang thang đâu đó. Có thể lát nữa chàng đón nang ở sở. Cũng có thể chàng sẽ trở về nhà muộn. Dung quay lưng đi.

- Ủa, chị không đợi...

- Không.

Dung trả lời. Bước nhanh . Ra khỏi ga đường phố phường trước mặt. Dung nghĩ về nhà lúc này cũng vô ích. nằm, đầu óc sẽ mệt mỏi thêm. Vì vậy, nàng đi ra phố, và để giết thì giờ, nàng cứ chúi đầu, dí mắt vào những cửa hàng ngắm đồ đạc. Những thứ đồ dùng mà ngươì nội trợ nào cũng ước mơ. Chỉ với nàng, nàng thấy dửng dưng. Nàng tưởng chừng như mình còn thích đời sống độc thân lắm. Thực ra nàng đã chán ngấy.

Chẳng qua, nàng đã quá lười biếng, lười biếng kinh niên, đã giết hết mọi sự tha thiết của tâm hồn nàng.

Nàng đi lang thang mãi, trong thàng phố nàng biết đang có Hiệp, cho tới lúc đèn đỏ.

Thật tình cờ, hai người đi ngược chiều nhau, đụng độ nhau trước building, nơi Dung cư ngụ. Hiệp tươi cười, trong khi Dung cố nhếch mép:

- Không đi đón anh há. Nhận đượcđiện tín không?

- Có. Nhưng em đi đón trể giờ.

Rồi Dung hỏi khi hai người đứng trong tháng máy:

- Anh có tới sở làm kiếm em không?

- Không .

- Em nghỉ sở chiều nay .

Nàng tưởng chàng sẻ hỏi nàng đi đâu, giờ này mới về. Nhưng chàng nói huyên thuyên chuyện này, chuyện nọ. Mà chuyện nào nàng cũng chán ngắt. Cuối cùng họ cũng lên tới phòng . Nàng tra chìa khóa vào ổ xoay mạnh. Chàng đẩy lưng nàng vô trước

- Có áo sạch không. Cho anh một cái. Mặc đồ lính, nặng như chì. Mệt.

Nàng đang bận ngó chiếc đồng hồ treo tường. Nàng hỏi:

- Đồng hồ anh mấy giờ?

- Tám giờ. Đúng lúc quả lắc đồng hồ như rung mạnh. Rồi đổ bảy tiếng. Mèn ơi. Dung kêu.

- Tại cái đồng hồ chết tiệt. Cái đồng hồ này điên, muốn chạy ra sao thì chạy. Nàng chỉ biết trách mà không biết nghĩ cho nó. Có tới hai năm, nàng không cho nó ăn một chút dầu mỡ, mà nó đã làm việc tận lực để đúng giờ cho nàng bao nhiêu ngày rồi.

- Lấy áo cho anh đi.

- Anh đã ăn gì chưa?

- Rồi. Anh gặp một cô bạn cũ nữa. Còn em. Em ăn gì chưa?

Dung chưa có gì trong bụng, nhưng nàng đáp:

- Em cũng ăn rồi. Em cũng gặp một anh bạn cũ.

- Thế à.

Chàng trả lời không chút nào nhạc nhiên. Nàng hơi sùng.

- Để em pha trà.

- Ấy đừng, trong mồm anh còn mùi trà mốc. Lần này, chắc mùi còn đặc hơn nữa.

Chàng cười lớn. Tự nhiên Dung sững người lại. Nàng nhìn chàng đăm đăm. Lúc đó, nàng đứng ở phía sau lưng chàng, và Hiệp đang bỏ sơ mi ra. Rồi Hiệp quay phắc lại.

- Lại đây.

Dung đi tới. Hiệp mở rộng vòng tay. Nàng dúi mặt vào ngực chồng. Nàng vừa hít được hơi thở thơm tho, hơi thở như chất hồi sinh, làm nàng tỉnh táo lại. Và nàng tiếp tục hít hơi hướm trên vùng ngực rộng mênh mông của Hiệp. Nàng vít cổ Hiệp xuống:

- Trả lời cho em biết H là ai?

Hiệp ngẩn ra một lúc. Rồi chàng cười rộ:

- H à? H là Hoa, một cái hoa bên đường lúc anh đi qua. Được chưa.

- Đồ kim sanh.

Nàng bổng nghiêm nghị:

- Anh Hiệp.

- Cắm nước sôi đi. Anh phải uống trà nóng.Dung lắc đầu. Nước mắt muốn ứa ra:

- Không. Anh Hiệp. Chắc mình phải ly dị.

Hiệp nâng mặt Dung lên, nhưng nàng nhất định vùi mặt mình xuống.

- Đúng.

- Cám ơn anh.

- Đúng. Phải ly dị, phải bỏ cái đời sống này đi. Em không thể ở một mình như gái độc thân thế này được. cuộc sống này giết chết tâm hồn em.

Dung bổng khóc thành tiếng. Nàng tiếc quay mắt. Nhưng nàng không hiểu tiếc cái gì. Tiếc không mất Hiệp? Tiếc đời sống y như còn độc thân? Hay tiếc là những điều mình đã nghĩ, đã quyết định, đã bị hơi thở của chàng xóa sạch.

Chàng lại phà hơi vào mặt nàng. Và chàng đẩy nàng ra xa:

- Thôi, đủ rồi cô. Để cho người ta gội rửa cái hơi hướm của những bông hoa bên đường đi đã. Đừng có khóc. Em con nít quá.

Nàng cứ khóc. Khóc như bị một nỗi oan khiên không cách gì chứng minh được. Khóc tới chàng phải ngạc nhiên, không giỡn được nữa.

- Em. Em làm sao vậy.

- Em ghét anh. Em ghét anh.

Và nàng đấm thùm thụp vào ngực chàng, vào tay chàng. Chàng giữ tay nàng lại, và ôm chặt lấy nàng:

- Em có điên không. Có gì nói đi.

- Em không nói được. Không nói được.

Nàng vùng vẫy, rồi nàng chợt như không còn phút sức lực nào khi bắt gặp hơi thở nồng mùi quen thuôc, mùi thuốc lá, mùi nhựa răng. Nàng khóc nữa.

Lúc chàng vào buồng tắm. Nàng nhìn căn phòng, nhìn phích nước đã đun lúc trưa. Nàng nhìn tới chiếc cà mên dựng ở một góc. Rồi nàng ngồi thu chân trên giường. Bổng dưng, nàng mỉm cười trong khi nước mắt vẫn còn thi nhau rơi.

Nàng lắng nghe tiếng nước dội ở trong phòng tắm. Chàng đang gội rửa những mùi vị của những bông hoa bên đường.

Nàng ngạc nhiên quá vì nụ cười mới mẻ đó.
Phượng Các
#6 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:16:25 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Xuân Muộn


Đợi mẹ ngủ say, Bình mới rón rén sửa soạn quần áo. Nàng đứng trước tủ kính ướm thử chiếc áo màu xanh da trời vào người, rồi mới mặc vào. Chiếc áo xanh da trời này may đã lâu lắm, dạo hết tang chồng, mẹ nàng đã mua cho xấp hàng này để mặc Tết. và chiếc áo này cũng di cư cùng Bình vào nam, Bình nghĩ mà buồn cười, dạo trước, cổ áo may thấp, tà áo hơi ngắn, mấy năm qua đã lổi thời bây giờ lại trở thành mốt mới. Chỉ có dạo đó eo áo may rộng, và Bình mập nữa. Chiếc áo này đã được sữa lại nhiều lần, những đường chỉ tháo ra may lại còn để nhiều tì vết. Bình không hiểu tại sao mõi lần tới thăm Định nàng thích mặc chiếc áo này. Chiếc áo đã cũ mang một dĩ vãng không mấy tươi vui, và rất ít khi Bình dùng đến. Có tiếng máy đan rè rè ở phòng Trâm. Bình mở quạt máy cho mẹ rồi đi_ vào phòng em dâu, kêu nhỏ:

- Cô Trâm gài cửa hộ, tôi đi có chút việc.

Nghĩ là Bình về thăm nhà chồng, Trâm hỏi:

- Chị có về ăn cơm không, em để phần.

- Thôi khỏi, tôi đi công việc tiện thể ghé thăm mấy con bạn cũ. Cô và Mẹ ăn trước, tôi về có lẽ muộn.

Tiếng máy đan ngừng lại. Bình đi ra, khép hờ cửa. Không hiểu nghĩ sao nàng dừng lâi dưới hàng cây vú sữa một lát. Buổi trưa nắng thật gắt, và chưa ra khỏi nhà mồ hôi Bình đã nhỏ giọt. Bình thong thả đi ra đường, tà áo xanh của nàng quyện vào nắng tung tăng theo mỗi nhịp bước của Bình. Tâm hồn Bình bổng cảm thấy hết sức êm ả, và sức nóng của mặt trời cũng bớt hung hăng khi chạm vào vạt áonắng của nàng.

Bình gọi một chiếc xích lô. lâu lâu cũng phải xài sang một bữa. Biết đâu Định đã ngũ dậy, chàng đang mở cửa sổ trên căn gác, ngóng xuống đường trông nàng. Giờ này đáng lẽ ra Định còn ngũ, nhưng chàng thức đợi nàng tjhì thực thú vị biết bao. Căn gác nhỏ với những màu cửa màu xanh, chiếc bàn viết gọn gàng, hai chiếc ghế. Lúc nào cũng phải có hai chiếc ghế cho hai người. Và bốn đôi mắt nhìn, lúc nào cũng thế, khi Bình và Địng đdã ngồi yên, sau khi đã mừng gọi nhau, hai người ngồi nhìn nhau như thế. Bốn con mắt đều dịu dàng, đều chìm đắm thật dể yêu, và đôi mắt của người này đều trôi êm ái trong mắt của người kia. Chỉ nghĩ tới đó, Bình đã náo nức và cảm thấy chiếc xe thật chậm chạp. Bình dựa người vào nệm xe, nhìn xuống đôi mũi giầy của mình, và thêm một nhận xét mới là đôi chân của nàng đã được biến thành một đôi hia bảy dặm.

Bình không ngờ nàng lại yêu được dễ dàng như thế. Thật ra trong những ngày đầu tiên khi chồng nằm xuống, nàng chẳng có bao giờ nghĩ rằng mình có thể chung thủy sẽ làm một người đàn bà góa trọn đời. Dù trước kia nàng lấy Đan chẳng vì tình yêu, nhưng khi Đan chết, Bình cũng cảm thấy cuộc đời mình như đã chấm hết và dừng lại ở đó. Lấy Đan không vì yêu, nhưng trước ngày cưới. Bình đã đi với mẹ chống lên quảng Yên thăm Đan, và qua một vài lần gặp gỡ, Bình thấy Đan, và qua một vài lần gặp gỡ, Bình thấy Đan chững chạc, nghiêm nghị, có thể trở thành một ngươì chồng tốt được. Với lại mẹ nàng thường bảo:

-Không yêu ở với nhau rồi cũng yêu nhau, ngày xưa thầy mẹ có biết gì nhau, mà ở với nhau vẫn êm đẹp.

Nhưng buồn thay, nàng chưa biết mùa Xuân thời con gái như thế nào đã trở thành đàn bà góa bụa. Những giờ phút gần nhau thật ngắn ngủi, giấy phép chỉ được ba hôm, hai ngày chuẩn bị cưới xin, một đêm động phòng, rồi Đan phải ra trận, một tháng sau, Bình chưa kịp đi thăm chồng, đã nhận được xác chồng. Bình đã khóc rất nhiều, nàng hiểu rằng, tình thương yêu chồng không đậm đà lắm, nhưng Bình đau đớn khổ sở muốn lịm người di, nàng thương người chết thì ít mà thương cho thân phận mình thì nhiều. Nghĩ tới một cuộc đời cơ cực làm dâu, những ngày cô đơn dài lê thê chỉ chấm dứt được khi chết, Bình đã thấy mất hết can đảm và cũng muốn chết đi. nhưng không ai để cho bình chết, cuối cùng nàng vẫn sống nhăn ra với niềm đau đớn riêng tư, mà ai cũng cho là vì xót xa người chồng bạc mệnh . Nhiều lúc Bình soi gương coi khuôn mặt mình có dấu hiệu gì là sát phu không. Không, khuôn mặt Bình đầy đặn, phúc hậu như mẹ. tại sao như mẹ mà cũng góa bụa, không có gò má cao, không có nốt ruồi thương phu trích lệ. Chỉ tại định mệnh bắt buộc như thế. Bình chì còn lấy cớ đó mà tự an ủi thân phận mình. Mười mấy năm sống âm thầm cuộc đời làm dâu, chỉ đánh đổi được một đêm vui ân ái, Bình đã thấy chán nản tột độ. Bà mẹ chồng tới bây giờ vẩn còn canh giữ nàng, như sợ nàng một ngày nào đósẽ vuột khỏi vòng kiềm tỏa của gia đình bà. Bà ta coi nàng như đã bị cột chặt với bà. Bình đã chịu đựng trong bao năm, đôi lúc nàng cũng nghỉ rằng, thôi cho qua, tuổi thanh xuân của mình cũng không còn gì nữa.

Nhưng khi gặp Định nàng mới biết là ý nghĩ đó thật điên cuồng.Nàng không còn trẻ nhưng cũng chưa già, đủ thì giờ để lập một cuộc cđời khác. Nàng yêu thật tình cờ, thật bất chợt, ngay từ phút đầu gặp Định.

Từ phút đầu. Ôi, thật quý giá biết bao, phút đầu tiên, người đàn ông đó như một xoáy nước cuốn chụp mất tích cả con thuyền đang trôi chậm rề với giòng nước lặng.

Còn một ngã rẻ nữa, chiếc xe chậm chạp đến mấy rồi cùng tới đích. Một căn nhà. Thôi đầu ngõ đây rồi, làm ơn cho tôi xuống. Bình bảo người phu đạp xích lô dừng lại. Nàng trả tiền xe rồi đi vào con ngã cũng đầy nắng. Nàng bước những bước thật nhẹ nhọm, thật thư thái nâng niu bằng những bồn chồn ấp ủ trong lòng nàng từ lúc ngồi trên xe. Suốt đời tôi, cầu còn mãi những phút bồn chồn thần tiên này. Anh Định, cánh cửa mở đó chứ , và đôi mắt anh nhìn xuống, nhìn bước em đi đấy chứ? Phải rồi, cánh cửa mở đó. Gắng môi bước nữa, khi lên, khuôn mặt mình sẽ đối diện vớ khung cửa sổ, và đôi mắt chàng sẽ trong như hai hòn bi vừa vớt ra khỏi một ly nước . Mình đừng nhìn cứ đi thẳng và đôi mắt chàng sẽ dán lên người mình. Phải bước uyển chuyển thêm một chút nữa. Bình ơi, cớ chi mà mày nhảy nhót thế? Cớ chi tim mày đập mạnh thế? Đâu phải là lần đâu mày bước chân lên căn gác này. Ôi mày ngây thơ như một đứa con gái trinh nguyên mới yêu lần đầu. Tôi là một gái góa còn tội nghiệp hơn cả gái già nữa. Không, tôi lại vừa gái góa, vừa gái già, vừa mới biết yêu lần đầu tiên. Tội nghiệp cho tôi biết mấy. Đẩy nhẹ cánh cửa rào rồi bước lên cầu thang gỗ. Căn gác này đã ọp ẹp quá, thuê mỗi tháng bốn ngàn bạc, thời giá bây giờ như thế này là rẻ rồi. Bình tự cám ơn những may mắn đã cho mẹ con Bình có một căn nhà ở ngọai ô, dù căn nhà cũng cũ kỹ, cổ xưa như nếp sống hoài không thay đổi của mẹ con nàng.

Cánh cửa thần thọai đã được nàng đẩy ra, và nàng công chúa gặp được khuôn mặt của vị hoàng tử. Anh. Em, những tiếng gọi, cái cảnh đó cũng đã cũ rích, nhưng không một mối tình nào thiếu vắng nó. Em sắp sữa ngã vào lòng anh đây, anh Định. Nhưng bước chân Bình vội vã khựng lại, những điều Bình tưởng tượng đều đã sai hết. Không có con mắt nào nhìn xuống cửa sổ, không có nụ cười nào nhìn xuống cửa sổ, không có nụ cười nào chuẩn bị đón tiếp nàng. Định đang nằm quay tên chiếc giường nhỏ xinh xắn và ngon lành ngủ. Sự hiểu lầm làm cho Bình ngỡ ngàng một chút, đôi thaóng buồn cũng biến đi rất nhanh, nàng mỉm cười. Người tình đang ngủ với đôi mắt khép kín bình yên, với hơi thở đều hòa và một ít mồ hôi rịn trên trán. Khi Định ngủ, khuôn mặt già hơn. Tại sao tôi lại so sánh tuổi già tuổi trẻ lúc này. Dể gì Định cũng gần bốn mươi, người đàn ông tới tuổi này đã chín mùi làm tôi yêu đến cuống quít. Tôi yêu đến cuống quít mất rồi. Thật là bậy, nhưng tâm hoàn tòan yên tâm, đôi mắt của người đàn ông đầu tiên trong cuộc đời chồng vợ đã khép kín, không còn một kỷ niệm nào để ám ảnh tôi nữa. Cuộc chiến cũng đã kéo dài từng ấy năm, bao nhiêu người ra đi rồi cho hai cuộc chiến tranh trong một đời người của tôi, trong một đời người của Định, cũng như của bao nhiêu người khác. Phải, tôi có quyền sống vội vã cho tôi đôi chút, tôi có quyền được hưởng bởi tôi đã già khằn bởi nhiều định mệnh. Bình đi tới gần người tình, nàng ngồi xuống mé giừơng, và chiếc khăn mùi xoa trong tay nàng đang được đứa lên lau những giọt mồ hôi trên trán Định.

Mười mấy năm tôi mới có được giây phút quí hóa này. Trước kia khi lấy đan, làm vợ Đan, tôi cũng đã mơ ước được những giây phút thến này, nhưng Đan đã ra đi quá vội vàng. Anh Định, đổi lấy cả cuộc đời buồn tẻ, cô đơn để lấy một phút này thôi, em chấp nhận hết. Em bất cần hết. Chiến tranh đã đến tận nơi, đã vào tận thành phố. Cho em xin những phút vội vàng, những đam mê chất ngất. Chiến tranh đã đuổi em theo từ Hà Nội, vào tới đây, nhưng cuộc chiến tranh nào cũng không vượt qua quá cuộc chiến trong em, sự chiến đấu với cô đơn, và bây giờ chiến đấu với cả hạnh phúc. Hạnh phúc đã gọn trong lòng tay, nhưng được

để nắm chặt như thế, em còn qua bao nhiêu đèo ải đọa đày như thế. Phải mở cánh cửa sổ lớn hơn cho gió lùa vào, phải để khuôn mặt của chàng chan hòa với ánh sáng. Phải để giấc ngủ chàng bình yên, nhưng khốn nạn quá, xung quanh tôi như một hàng rào

kiểm soát bằng những đôi mắt hung dữ. Giọng bà mẹ chồng kém thân ái: Dạo này trông mợ trẻ ra, vui hơn, tôi mừng cho mợ.

Tiếng mừng thoát ra ra khỏi cửa miệng mỏng như một lời đay nghiến. Bình cũng đã nhìn ra điều đó, nàng soi gương và ngạc nhiên cho sự nẩy nở của thân thể của nàng. Trước đây Bình đã tưởng da thịt nàng đã khô héo cùng với tháng năm tuyệt vọng. Anh định, tất cả là nhờ anh, nhờ ái tình mầu nhiệm như chén thuốc ngọt. Tôi mừng cho mợ, Bình rùng mình khi nhớ lại tiếng nói đó của bà mẹ chống. Đôi mắt nghi ngờ, luôn luôn kéo một làn mây mỏng, nhìn suốt thân thể cùng đọc hết ý nghĩ của nàng. Đôi mắt của ngưòi sống theo dõi còn rùng rợn hơn đôi mắt ngươì chết. Không, tôi phải vất hết những ý nghĩ buồn chán đó. Trước

mắt tôi giờ chỉ có Định. Tôi đưa tay lên đặt nhẹ trên vừng trán hồn nhiên của chàng, dù một người đàn ông đã từng trải lúc ngủ cũng trở nên vô tư, tôi muốn uống hết vẻ vô tư của người tình lúc đó.

- Em đến lúc nào vậy?

Định trở mình và mở mắt. Chàng vẫn nằm yên nhìn bình đang cúi xuống. Đôi mắt chìm đắm của Định làm Bình thẹn thùng và bật ngồi thẳng dậy. Anh Định. Định mỉm cười, nhìn dáng ngúng nguẩy của Bình bỏ đi đến chiếc ghế kê sát bàn viết. Còn một chiếc bỏ trống đó dành cho anh đó anh Định. Bình quay lại. Định vẩn nằm, nhìn theo từng cử chỉ của Bình. Lúc em đến anh đã ngũ. Thế à? Anh có muốn lúc em đi anh còn ngủ không? Anh muốn lắm, anh muốn ngủ luôn trọn phần đời còn lại. Anh lại nói nhảm. Bình muốn kêu lên câu đó để trấn an sự sợ hải đang dấy động trong lòng nàng, nhưng Bình chỉ đứng im hờn dổi.

Định ngồi hẳn dậy, người đàn bà quá ba mưoi, lúc làm nũng cũng còn thừa sức duyên dáng, nhưng anh thích em trang trọng hơn, người đàn bà góa phụ thân yêu của anh, Định đi đến vổ nhẹ vào vai Bình:

- Góa phụ của anh ngồi đợi anh đi rửa mặt nhé.

Định bỏ đi xuống thang gác. Còn Bình ngồi một mình ở chiếc ghế trống và vui thích một cách trẻ thơ. Lần dầu tiên tôi biết đến những kỳ diệu của những phút hẹn hò. Đố an làm gì được, nghĩ gì được trước những giờ khách chờ đợi giờ hẹn. Bữa cơm trưa, Bình đã ăn rất ít mẹ nàng không tìm ra dấu khả nghi nào, bởi Bình nói dối là buổi ăn sáng quá trể nhưng thật ra, những nao nức, những lời dự trữ ân tình đã chất ngất trong lòng nàng làm sao nàng ăn ngon được. Bình vui tay xếp gọn mấy cuốn sách bừa bãi. Mười phút sau thì Định lên tới, đầu tóc chàng còn ướt sũng nước.

- Anh không định ngủ tiếp sao?

Bình hỏi với giọng cố giả vờ hờn dỗi.

- Định nói chuyện đứng đắn với em đây.

- Thế ra chuyện từ trưóc tới nay không đứng đắn.

- Sức mấy mà đứng đắn hả em. Anh tưỏng tới tuổi em không thể lầm lẩn ngu si như thế.

Định ngồi chiếc ghế đối diện với Bình. Bình mở to mắt nhìn người yêu. Tôi mà ngu, tôi mà lầm lẩn. Còn chuyện gì gọi là không đứng đắn. Cái dáng điệu của Định có thể là một tên sở khanh không? Không, Bình ơi mày đã nghĩ gì ngu xuẩn vậy, mày không tin tưởng gì hết sao? Còn gì nơi một cô gái già như mày để người ta quyến rũ, lợi dụng. Bình lắc đầu, giọng thực thà:

- Chẳng thà em ngu si.

Định đưa tay cầm lấy bàn tay của Bình, chàng đặt trên mu bàn tay nàng một chiếc hôn. Dáng điệu trịnh trọng của Định làm Bình bật cười:

- Anh lại không đứng đắn.

- Em cho như vậy là không đứng dắn. Thôi vậy.

Định ngồi yên lặng, hai mắt chàng mơ màng nhìn ra cửa sổ. Người đàn ông có một cặp mắt đen với hàng mi dài như một thiếu nữ như thế không thể là một người đàn ông cứng rắn. Nhưng Định khác với tứơng mạo của chàng, bù lại đôi mắt, định có chiếc mũi nở, cao, và chiếc miệng khi cười rất tươi, mà khi nghe nghiêm cũng rất cương nghị.

Tôi phải thua Định trước sự nghiêm nghị đó rồi. Thôi em muốn lăn vào anh đây, em lăn như một hòn bi bị búng mạnh. Bình bị ý nghĩ của nàng xô bật dậy, tiến đến. Nhưng không được đâu, ngồi xuống đi Bình. Ngồi xuống và nhắm mắt lại, mình phải là một vật mà người ta đi kiếm tìm. Bình ngỡ ngàng ngồi xuống ghế. Nhưng Định đã tiến tới kéo bình dậy và đặt nàng ngồi lên lòng chàng:

- Phải em ao ước phút này không?

Bình không không nói gì nửa, miệng nàng đã bị gắn bởi một chiếc hôn dài, đắm đuối sôi nổi, con góa bụa đã trở nên hư đốn như thế này trong bao nhiêu lần rồi, đừng để hư thêm nữa. Bình đẩy Định ra, và cố gắng thuyết phục Định trở lại ghế ngồi. Tôi không thể dấu lòng là tôi đang muốn. Phải làm sao tôi có thể tự chống trả, mười mấy năm, tôi mới tìm lại giây phút quí giá đến vậy. Anh Định, anh ngồi im cho em nói. Anh ngồi xuống đi, ngồi xuống. Tôi tự mắngmỏ mình , tự kếm chế lần nữa.

Nhưng rồi Bình vẫn thua Định. Nàng van vỉ:

- Anh Định.

- Em lại không đứng đắn rồi.

Bình thoát khỏi vòng tay Định, nàng ngồi xuống chiếc ghế mà Định vừa đối diện với nàng:

- Anh Định.

- Anh đây.

- Hôm nay chúng ta nói chuyện gì đây? Sao anh chả nói gì với em hết cả vậy?

- Nói gì bây giờ.

- Anh không yêu em?

- Ai bảo với em điều đó?

Bình cứng họng, nàng ngồi im rơm rớm nước mắt.

- Em muốn anh nói chuyện gì bây giờ ngoài chuyện anh yêu em. Bình nghĩ tới lời nói của mẹ chồng, của em chồng, nàng muốn Định cùng chịu chung sự lo lắng với nàng:

- Anh Định, mẹ chồng em đã bắt đầu nghi ngờ. Chúng ta có thể đàng hoàng làm lễ cưới được không? Em không muốn mang tiếng đi hoang mà không được gì.

- Anh yêu em, không ai bảo em đi hoang được.

Định tâm sự:

- Anh tưởng đây là một cuộc đùa như mọi cuộc đùa khác, nhưng anh đã bị rơi vào chính cái bẩy của mình giăng ra. Đầu tiên anh không nghĩ gì hết, yêu em như đã yêu bao nhiêu người khác vậy thôi. Nhưng bây giờ em khác họ rồi.

Bình hiểu ra những tiếng không đứng đắn mà Định đã nói lúc này. Bình không buồn gì hết về những đi-éu đó. Nhưng nàng cũng không thể tham dự trò đùa nguy hiểm này được nữa. Bình hỏi:

- Không đùa nghĩa là mình sắp sống chung.

- Anh đang ao ước điều đó.

- Em sẽ thưa với bà mẹ em, mẹ em sẽ nói với bà mẹ chồng . Em làm dâu mười mấy năm, em

đổi hết cả tuổi thanh xuân cho bà ấy.

- Em thù hận bà mẹ chồng?

- Không, em vẫn thương bà ấy. Bà ấy ở cái tuổi trước chúng ta.

- Còn anh, anh ở cái tuổi của Đan. Hồi trước anh cũng cùng một lò Quảng yên. Chúng ta chống đối bà ấy được rồi.

- Em nghĩ chuyện em đi lấy chồng là một sự hợp lý. Em chưa có con.

- Anh có con.

- Con anh cũng là con em vậy.

Định mỉm cười, nụ cười không tin tưởng mấy. Phải làm sao có thể tin tưởng được ở lời nói trong lúc cuồng nhiệt của một người đàn bà. Anh không tin như vậy cũng phải. Tôi cũng thế, mặc dù lúc này đây lòng tôi đang ao ước được thương yêu đứa bé, nhưng sự ao ước đó là vì tại tôi thương yêu tôi quá. Hình như đọc được ý nghĩ của Bình, Định vẫn thong dong mỉm cười, dôi mắt vẩn tinh quái dò xét. Nhưng Bình không chịu nụ cười đó, mặc dù nhận rằng sự diểu cợt của Định có lẽ phải, nhưng Bình vẩn chạm tự ái.

- Có phải đó là ký do anh không tiến tới hôn nhân?

- Không phải vậy.

-Hay anh sợ gia đình bên chồng em?

- Còn khuya.

- Vậy anh sợ gì?

Định thôi cười, chàng nhìn Bình và bỗng vui lòng về đôi mắt đang nhìn mình đầy vẻ thực thà.

Bình không thể là người xấu, nhưng trong vấn đề con chung con riêng, Bình cũng không thể là một ngưòi tốt được. Định cảm thấy thương bình hơn bao giờ hết, chàng còn xót xa hơn nữa khi nhận thấy trong tình yêu còn lẩn chút tình thương hại. Nàng dáng thương hại lắm, nàng chì là một người đàn bà góa, yếu đuối, cố hết sức mình để chịu đựng. Có thể Bình đang hết dần mức chịu đựng đó rồi. Nhưng Bình, Bình nghĩ khác. Bình ngỡ rằng chàng không thực sự tin nàng, vì nàng không còn đũ nhan sắc để quyến rủ chàng nữa. Bình chìm xuống và muốn rơi lệ. Đôi mắt của Bình làm Định cảm động trong một lúc, Định không muốn dấu diếm người yêu một điều gì nữa. Chàng đắn đo:

- Bình ạ, anh muốn chúng ta còn phút nào vui được bên nhau thì cứ vui, còn yêu được nhau bao nhiêu cứ việc yêu.

- Bình choáng váng như vừa đang tận hưởng những giây phút hạnh phúc nhất, bổng chớp mắt, tất cả đều tan ra mây khói, và sự thật là một phủ phàng ngoài sức chịu đựng của nàng:

- Em đâu có phải một cô gái còn nhỏ, em đâu còn những mơ mộng con nít.

- Em tưởng anh con nít sao? Khổ nỗi anh già không ra già, trẻ không ra trẻ. Em đừng khóc như thế, bình tĩnh anh nói cho nghe.

Bình đưa tay lau lệ. Nàng khóc từ lúc nào. Chiếc khăn mù xoa vừa mới đây thấm những giọt mồ hôi cho Định với tấm lòng nàng nồng nàn hạnh phúc, bây giờ đưa lên lau những giòng lệ thảm sầu. Tôi khong đủ bình tĩnh nữa. Chẳng thà tôi chịu những điều gian dối, còn hơn chứng kiến những sự thực. Anh Định, xin anh đừng nói gì, xin anh cho em hưởng nốt những giờ phút hạnh phúc còn lại. Một ngày hôm nay, một tuần lễ, một tháng, một năm. Ôi em đã tham lam , thứ tham lam rất đàn bà ....cho em là đàn bà để sống trong thương yêu và chết trong thương yêu. Anh Định, Nhưng Định không nghe những lời nàng đdang thổn thức. Định thực thà không chút lương lẹo nào:

- Bình, anh tin là em có đủ bình tĩnh để nghe anh nói. Không phải vì lời hứa với người đã khuất. Hồi đó, anh từng nói với Vi là không bao giờ anh lấy vợ nữa. Có thể anh chỉ lăng nhăng....điều đó anh còn vẵn nghĩ như thế từ khi gặp em, quen em và yêu em. Nhưng tình yêu đã thay đổi hết. Bây giờ là lúc anh ao ước xây dựng hạnh phúc với em. Người như em không thể là những hạng người để qua đừơng, để mua vui trong một ngày một tháng. Em hiểu anh nói không?

Bình gật đầu và bắt đầu hy vọng lại. Định nói tiếp:

- Nhưng bây giờ thì lại khác rồi.

- Anh...

Giọng Bình hoảng hốt.

- Em để yên nghe anh nói. Em có đọc báo không? Sắp sửa động viên rồi.

Bình tưởng sắp khóc, thì ngưng lại được

- Anh mà còn trong tuổi quân dịch sao?

- Anh mới 37 tuổi, mặc dù tuổi thực ngoài đời anh nhiều hơn.

Khuôn mặt bà mẹ chồng thoáng hiện rất nhanh trong cái chớp mắt của nàng với nụ cười đắc thắng;

- Mày tưởng có người sẽ cưới mày, cưới một con đàn bà góa trên mười năm. Chuyện đó làm gì xảy ra được? Thôi con ơi, ở vậy làm gái trung trinh cho người ta thương, tập tánh lăng loàn làm chi cho người ta chửi.

Rồi nàng sẽ nghe những lời như thế hoặc tương tự như thế. Rồi Mai, cô em chồng, rồi Phúc, chị chồng, những người này đều đã lập gia đình, có con cái, nhưng họ không thương xót gì hoàn cảnh của nàng. Phải cướp cho được Định dù bằng một giá nào. Đàn bà có bao nhiêu vũ khí, bao nhiêu chiến lược. Bình ơi, mày hãy bình tĩnh giương nanh áp vuốt ra đi. Đi lính, động viên có phải là một cái cớ không?

- Em có nghe anh nói không?

Bình không trả lời, nàng đâu còn đủ sức chịu đựng đôi mắt nhìn của Định nữa. Bình muốn bỏ đi ra khỏi căn gác, lúc này nếu được đi la,h thang một mình, chắc Bình sẽ bớt đau khổ hơn. Bình đứng lên, nhưng thay vì đi xuống thang gác, Bình ngã dụi xuống chiếc giường sắt nhỏ, nằm úp mặt xuống gối.

Bình nằm như thế rất lâu, nàng không hiểu nàng đã nghĩ gì, đang mong muốn gì nữa. Tôi đã kiệt lực, chưa bao giờ tôi tuyệt vọng đến thế. Tôi muốn chết, lúc này chết thật bình yên. Còn Định, tại sao Định có đủ lý do như thế? Đi lính, động viên, đóng chức binh nhì. Cuộc đời của tôi rồi sẽ trôi qua như Trâm? Không, như Trâm là cả một hạnh phúc. Chiến tranh từ đâu tới, chiến tra nh dai dẳng cả mấy chục năm, chịu đựng thiệt thòi như từ mấy kiếp. Lệnh động viên cho những đứa con yêu nước. Tôi nhìn ra rồi, thấy rõ rồi, chiến tranh đã đến tận thành phố.

Bình nhớ lại có lần Định nói với nàng hoàn cảnh này sự sống chết tùy rủi may, anh có thể chết bất cứ lúc nào. Anh không muốn em trở nên goá một lần nữa. Anh ơi, tại sao anh nghĩ thế, lấy đứa niên thiếu rồi lớn lên đến tuổi nó cũng phải đi lính. Đi lính, ở đâu cũng thấy lính, trong phòng trà, trong rạp ciné, ngoài đường, trong bữa cơm. Và Định nữa, chàng sẽ trở thành một ông lính già, hai cái ria được chăm bón kia sẽ cạo nhẵn, mái tóc húi ngắn sẽ làm khuôn mặt chàng trang nghiêm hơn, nồng nàn, chín chắn hơn.

Trong lúc lòng Bình tê lịm, Bình cảm thấy tiếng thở của Định nóng ran bên tai nàng.

Bình không nghĩ gì nữa hết. Tôi sống một hôm nay, ngày mai, ngày mai có còn gì hay không còn gì? Tôi bất lực. Bình đưa cả hai cánh tay lên kéo Định nằm xuống cạnh nàng. Không còn hình ảnh mẹ chồng, chị chồng. Tôi phớt hết mọi lời đay ghiến, tôi coi thường hết dư luận. Tại sao dư luận? Tại sao dư luận lại khắc khe bó buộc tôi phải trung trinh với một xác chết. Bó buộc tôi, lên án tôi mà có chia xẻ với những đêm dài quá đời người của tôi không? Chấp hết, tôi chấp đó. Anh Định, Anh Định ơi, Bình muốn kêu lên để vỡ tung niềm sung sướng, cùng sự nổi loạn đang thành hình. Phải vậy, Bình phải chiếm đoạt cho được Định. Nhan sắc của một người đàn bà phải chín mùi, phải bắt cho được, đuổi cho được tới kỳ cùng chổ người tình trú ẩn. Đừng bao giờ bỏ em, anh Định.

Bình không nhớ gì nữa hết, nàng lịm đi trong chiếc hôn dài. Quên đi, quên hết. Con góa phụ lại sẵn sàng hư hỏng.

Nhưng niềm sung sướng không bất tận. Sau chiếc hôn dài, Định buông Bình ra. Nàng nằm vật xuống giường, cảm giác vẩn còn rung động ở đầu môi. Định lại lặng lẽ ngồi bật dậy. Anh Định, em muốn biết anh đang nghĩ gì trong đầu?

Định cầm lấy tay Bình, giọng thật nhỏ:

- Em Bình.

- Dạ.

- Em dám liều cùng anh không?

- Em không hiểu.

- Chúng mình sống chung với nhau từ bây giờ nhé.

Không đợi Bình kịp phản ứng. Định say sưa:

- Từ bây giờ em ở luôn đây, mình là vợ chồng cho tới khi anh vào quân đội.

- Anh cho em đi theo đến đơn vị anh không?

- Lương lính mình không đủ sống.

- Em không cam đảm trở về nếp sống cũ.

- Đành vậy.

Bình nhỏm người lên:

- Anh nói đành vậy là thế nào.

- Thôi, em ngồi dậy, sửa soạn anh đưa về.

Bình bật khóc:

- Em không hiểu gì cả, tại sao anh vừa nói thế này đã nói thế nọ. Anh Định, em hỏi thật là anh có yêu em không?

Giọng Định đang nồng nàn, sôi nổi, bỗng tẻ ngắt:

- Bình, anh xin lỗi, em nên hiểu hoàn cảnh của chúng ta.

Bình lau nước mắt. Tất cả không còn gì khó hiểu nữa hết, nhưng sự bất hạnh có thể chờ chực nàng từ bây giờ. Bình đứng lên:

- Đúng, em nên về

- Bình, anh xin lổi...

- Chúng ta đâu có lỗi gì, anh.

- Anh đưa em về nhé.

- Dạ

Giọng Bình cố gắng để khỏi bật tiếng khóc. Đĩnh đi thay áo. Chàng đưa nàng xuống đường, gọi một chiếc tắc xi. Khi Bình vừa Định đóng cửa lại thì Định đã lên theo.

Chiếc xe chạy hết con đường, sang một đường khác. Bình ngồi tựa người vào nệm xe. Tay Định vẫn nắm chặt tay Bình. Dù sao cũng còn được gần nhau phút nào cứ nuôi ảo mộng phút đó. Nhưng Bình buồn ngay sau đó, khi nghĩ đến đêm nay, nàng sẽ qua một đêm dài khó ngủ, sẽ nghe những tiếng thở dài của Trâm, và nét im lìm của mẹ, Bình gỡ tay Định:

- Tự nhiên em thấy chóng mặt quá.

Định kéo đầu Bình ngã vào vai chàng, nhưng Bình vội dang ra xa, người tài xế liếc nhìn vào tấm gương rtước mặt rồi yên lặng lái. Chiếc xe tắc xi từ từ trườn vào con đường đầy nắng bụi.

Nhưng bỗng nhiên bình chọt sợ hãi, xe gần tới nhà bao nhiêu sự liều lĩnh của Bình tan biến đi bấy nhiêu. Mẹ nàng sẽ buồn như thế nào khi biết nàng tư tình vụng trộm. Bình hốt hỏng bảo người tài xế cho xe đỗ lại. Tình cờ xe đỗ lại cách nhà Thùy, một bạn gái của Bình một khỏang ngán. Định ngạc nhiên.

- Sao không để anh đưa về tận nhà.

- Em còn chút việc bận, em phải găạp cô bạn gấp, có chuyện cần lắm.

Định bắt bí:

- Chuyện vừa nghĩ ra phải không?

Bình cười ngượng ngập:

- Ngang qua nhà nó em mới sực nhớ em có chuyện cần thật. Thôi anh về nhé.

- Bao giờ em đến anh.

Bình ngập ngừng:

- Em cũng chưa biết nữa.

- Hư

- Em quen hư hỏng rồi.

Nụ cười của Định vụt biến mất, cánh cửa xe đóng mạnh lại. Bình đứng nhìn theo chiếc xe quẹo sang ngã khác mới tới bấm chuông nhà Thùy. Không hiểu Thùy sẽ nghĩ như thế nào về cuộc viếng thăm bất đắc dĩ này. Mặc kệ, Bình bấm mạnh chuông. Cách cửa mở, Thùy hiện ra trong bộ quần áo mặc ở nhà gọn gàng. Thấy Bình, Thùy chưng hửng:

- Ủa. Mày.

Bình đưa tay vỗ vai Thùy:

- Bộ mày lạ lắm sao. Mời khác vào đi chứ?

Thùy chợt vui vẻ:

- Ai nghĩ là mày tới thăm chứ. Chắc chiều nay trời mưa.

Thùy là một bạn gái rất thân của Bình từ hồi còn ở ngoài Bắc. Thùy có chồng, có con, trước đi dạy học nhưng nay đã nghĩ ở nhà lo việc nội trợ. Căn nhà Thùy ờ là một căn phố nhỏ, có lầu. Thùy kéo Bình lên tận phòng ngủ:

- Hôm nay ông xã mày đâu?

- Ổng đi Trung cả tuần nay rồi, ổng đi hoài, ít khi ở nhà lắm.

- Mấy đứa nhỏ?

Đi học hết. lâu quá mày không đến, bây giờ chúng nó lớn hết rồi, tao lại khỏe.

Bình nhìn quanh nhà:

- Dạo này anh chị có vẻ giàu ra, căn nhà này đã mua được chưa

- Mua rồi . Con mẹ chủ nhà đuổi hoài không được phải bán cho tao. Tiên sư nó, nghèo cũng khổ.

- Có tủ lạnh, có Tivi mà nghèo cái nỗi gì. Ông xã mày vẫn làm chỗ cũ.

- Ừ, thì vẫn đại diện cho hãng Vitico. Chắc cũng sắp tái ngũ.

- Hắn mười mấy năm công vụ rồi?

- Có chín năm.

Bình thành thạo:

- Chín năm đi là cái chắc. Mày sợ không?

- Sợ thà gì, không đi lính ở nhà lạc đạn mau chết nữa. Hôm vừa rồi tưởng sự nghiệp tiêu ma luôn. Mày biết không, cháy sát đít nè.

Bình bỡ ngỡ:

- Nhà cửa san sát vậy mà mày bảo cháy. Tao thấy gì đâu?

- Xây lại mấy hồi mày. Nhà Sài Gòn vậy đó.

- Gia Định mà.

- Gia Định giàu thua gì Sài Gòn. Ở đây nghèo nhứt cũng là giàu nhứt xứ khác. Che cái bạt lên là có nhà, sướng thật. Mày xem cái nhà này cũng mấy chục vạn bạc, ở ngoài Bắc mình gió quạt khẽ cũng đổ cha nó rồi.

Bình cười:

- Sao dạo này mày ăn nói bạt mạng vậy. Chắc ở nhà hoài buồn rồi nói bậy hả.

Thùy chớp mắt, giọng tâm sự

- Tại lâu mày không tới nên không biết chuyện gì xảy ra đó thôi. Tao mấy lần đi kiếm nhà mày mà kiếm hoài không được. Mày ở cái xó tỉnh gì mà khó khăn quá.

- Tìm làm gì?

- Thì tâm sự chơi đỡ buồn.

- Mày không biết sao, thằng cha có vợ nhỏ.

- Úi trời đất.

Bình kêu khẽ. Hiền lành như Toan mà cũng có vợ lẽ sao. Bình nhớ tới lời nói của Định khi phê bình về đàn ông:

- Đàn ông giống nhau hết, em đừng thần thánh làm chi. tên nào hiền vợ lầm tưởng lành là dấu vợ giỏi đó thôi. Bình hỏi.

- Cô ta ở đâu?

- Ở sài gòn này.

- Vậy há. Mày có ghen không?

- Sao lại không. Nhưng mỗi người ghen một cách. Ấy t(ao đem chuyện buồn tới cho mày. Dẹp đi. Bây giờ hỏi chuyện mày, mày có gì lạ không?

Bình cũng muốn có một người để bầu bạn, để trút tâm sự. Mình chọn Thùy được không? Có nên không? Thùy đang đau khổ, mình không nên bày cái hơn của mình cho Thùy biết . Tuy vậy, Bình cũng nói:

- Tao lấy chồng được không mày?

- Được, moiển là mày đừng giết cái bà già chồng mắc dịch của mày mà bị tù oan.

- Bà ấy cũng hiền.

- Ở đó mà hiền. Tao có con bạn quen với bà Phúc nhà mày, bà chị dâu mày đó. Ôi thôi, nghe bà đó kể tội mày đủ thứ, tao tưởng mày hư thân mất nết rồi.

- Thì hư thân mất nết lâu rồi.

-Tội gì không hư.

Thùy kéo lăn Bình nằm xuống giường, lâu lắm Bình mới tìm thấy không khí thương yêu thân ái giữa bè bạn. Bình hỏi thăm Thùy về chuyện chồng con, Thùy thật tình kể hết cho bạn nghe. Bình nhiều lần muốn tâm sự chuyện mình với bạn nhưng cứ ngại ngùng. Em không muốn cho ai biết chuyện chúng mình hết. Nhưng rồi mọi người sẽ biết. Đâu có dấu hoài được. Bình gạ ý bạn:

- mầy coi tao có nên lấy chồng nữa không?

- Sao không? Miễn là người đàng hoàng. Tao ngán gặp đứa không ra gì lắm. Nhưng mầy cũng nên coi chừng đừng kén cá chọn canh lắm. mày có dè được người như Toa mà cũng ngọai tình không?

- Thấy hoàn cảnh mầy tao cũng hơi ngán, mình lớn tuổi rồi.

- Cái đó tao không có ý kiến.

Thùy chợt hỏi tiếp:

- Thằng cha đó làm gì?

- Sắp tái ngũ.

- Vậy là lớn tuổi hơn mầy hả. Được lắm rồi. mai mốt giới thiệu đi, tao đãi cơm.

Bình thấy vui lây với tính hồn nhiên của Thùy:

- tao thấy mầy càng già càng ngây thơ, lúc nào cũng vui.

- sao mầy không nói là tao càng già càng trẻ. Buồn làm khỉ gì cho nó mệt. Ban đầu tao cũng ghen nhưng riết rồi cũng làm lơ, kệ đâu có mất mát gì, cho cu cậu chơi chán cu cậu bò về. Tao chỉ sợ con nhỏ nó cuỗm tiền bạc thiệt hại cho con tao thôi.

Bình băng khoăn:

- Mày nghĩ tao có thể thương một đứa con không phải do mình đẻ ra được không?

- Sao không được. Thằng cha có con hả? Như thế càng chắc ăn. Vô tình, Bình đã thố lộ gần hết tâm trạng mình cho Thùy nghe. hai đứa nằm gác nhân nhau kể chuyện mình, chuyện đời, gợi lại những kỷ niệm ở miền Bắc. Cho tới khi lũ nhỏ con Thùy đi học về. Thùy xách cả lũ con cùng Bình ra tiệm ăn cơm. Thằng con lớn của Thùy mách rằng nó gặp cô vợ nhỏ của Toan đi chơi dung dăng với một thanh niên trong sở thú. Nghe xong, Thùy không giận mà cười:

- Mầy thấy không, của Tây lại giả cho tàu, mấy đời con điếm....

- Thôi mầy. Mầy phải giữ cho tụi nhỏ đừng có nghe chuyện đó chứ.

Thùy nói:

- Hôm nay vui quá tao phá lệ, tưởng mầy đi lấy chồng xứ nào rồi chớ.

Bình nghĩ lại hơn một năm nàng không tới thăm Thùy. Chỉ một năm thôi, Thùy và Bình đã biết bao thay đổi. Cho tới lúc đèn đường bật sáng. Bình mới từ giả Thùy ra về. Thùy dặn dò mãi là

rỗi nhớ tới chơi . Mấy đứa con của Thùy lao nhao dặn theo. Nhìn những khuôn mặt trẻ thơ. Bình nghĩ rằng nàng cũng sẽ thương yêu được con của Định. Định cũng có một đứa con ngộ nghĩnh như thế, nhưng ngộ nghĩnh như thế nào thì Bình không biết vì Bình chưa được gặp bao giờ. Trong một ngày gần đây. Bình nhất định bắt Định Phải cho nàng gặp mặt đứa bé.

Mỗi tuần lễ Định dành hai ngày cho con chàng. Bình không ganh bì vào đâu được nữa.

Bình dừng xe ở đầu đường, mua một trăm giò về cho Trâm. Tội nghiệp Trâm, lúc này là lúc mệt mỏi nhất trong thời kỳ thai nghén. Bình chợt nhớ tới khuôn mặt của Vũ và nụ cười nó. Nụ cười của Vũ y hệt như ngày còn bé, khó làm ai giận lâu cậu bé

đưọc. Bất giác Bình cũng có niềm ước ao được như Trâm mang giòng máu người yêu trong người. Hình ảnh một đứa nhỏ kháu khỉnh cứ quyấn quít trong ý nghĩ của Bình. Nhưng tiếng kinh đều đều của mẹ vọng từ xa làm Bình hổ thẹn, nàng nhớ tới

những lần hư hỏng của mình và rùng mình. Mẹ làm sao hiểu được cho con. Liệu anh có hiểu được em và tha thứ? Bình nói thầm mà nàng không hiểu được là đang nói với người sống hay người chết.

Nàng bước vào sân,và hình ảnh đầu tiên mà nàng thấy là Trâm đang ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ kê trước hiên. Bên cạnh lồng chim hoàng anh. Thấy Bình, Trâm đứng dậy mìm cười:

- Chị đã về, chị ăn cơm chứ?

- Rồi . Em ngồi đó đi. Để chị thay áo.

Bình nghe Trâm dạ nhỏ. Nàng đi vào cánh cửa và nhìn bà mẹ chồng đang ngồi trước bàn Phật. Bất giác nàng đa tay ôm ngực kêu lên một tiếng nhỏ:

- Phật ơi! Nàng cũng không hiểu tiếng kêu vui hay là tiếng kêu sam hối nữa.

Và Bình lẩn vào trong căn buồng tối với giọt lệ long lanh nơi khóe mắt, khóc cho một mùa Xuân muộn.
Phượng Các
#7 Posted : Wednesday, January 12, 2005 12:25:50 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Phụ Lục

Nhã Ca, Nhà Văn Nữ Có Số Tác Quyền Lớn Nhất

" ....Từ lâu nay, chúng ta đã nói nhiều tới việc trao đổi văn hóa, giới thiệu văn hóa Việt Nam với ngoại quốc. Nhưng mãi tới nay, mới có một tác phẩm văn chuơng Việt Nam hiện đại đuợc chọn dịch và xuất bản bên Mỹ. Cũng mãi tới nay, mới có một dịch giã nguời Mỹ thông thạo tiếng Việt, để dịch một tác phẩm Việt Nam trực tiếp từ tiếng Việt sang tiếng Anh ngữ. Hợp đồng xuất bản giữa Nhã Ca và ông Barry Hilton hôm nay, vì vậy, phải đuợc coi là bước khởi đầu quan trọng cho việc giới thiệu văn chương Việt Nam với thế giới ".

Trên đây là lời Linh Mục Thanh Lãng, chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam; tuyên bố trong buổi lễ ký hợp đồng phiên dịch và xuất bản tác phẩm Nhã Ca tại Hoa Kỳ, do Trung Tâm Văn Bút bảo trợ tổ chức hôm chủ nhật 13/09 vừa qua.

Cũng cùng một quan dđiểm như linh mục Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Ông Đỗ văn Rở, Phụ tá Tổng trưởng Giáo Dục và Thanh Niên đặc trách Văn hóa, khi đến chủ tạo buổi lễ ký kết và tâm sự là ông đã phải hy sinh việc chủ tạo một buổi lễ quan trọng khác được tổ chức cùng ngày, để tới đây chia vui với văn giới " .

Tác phẩm được phiên dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ là một chuyện dài vừa hoàn thành của Nhã ca, có tựa đề là " The Short Timers " và dịch giả người Mỹ ông Barry Hilton, khi tuyên bố thành thạo bằng tiếng Việt với quan khách trong buổi lễ, đã ca ngợi tác phẩm này là " là một bi kỳ cổ điển, có giá trị tiêu biểu cho một giai đoạn đặc biệt của hai dân tộc Hoa Kỳ và Việt Nam ".

Hợp đồng xuất cảng văn chương sang Hoa Kỳ kể trên, đã khiến Nhã Ca trở thành tác giả được chú ý nhất trong thời gian vừa qua . Tin tức về buổi lễ ký kết hợp đồng xuất bản đã được loan báo đầy đủ cả trong và ngoài nước. Nhật báo The New York Times, tờ báo lớn nhất tại Hoa Kỳ, đã cho các phái viên ở Sài Gòn tiếp xúc với Nhã Ca để thực hiện một cuộc phỏng vấn đặc biệt. Tại các nhà sách, những tác phẩm mới của Nhã Ca như " Hiền như mực tím, Yêu một người viết văn...." số báo tăng vọt hẳn lên.

Sau đây, là phần đặc ký của chúng tôi về nhà văn nữ đang làm sôi nổi dư luận này, do Đặng Tường Vi phỏng vấn và trình bầy.

Nhã Ca, Nhà Thơ Nữ
Tác giã hơn 30 cuốn sách đã xuất bản, hai lần được trao tặng giải thưởng văn chương tòan quốc, một về thi ca năm 1965, một về văn xuôi năm 1966. Nhã Ca là một trong vài ba tác giả được đọc và biết đến nhiều nhất suốt mười năm qua tại Việt Nam.

Sinh năm 1936. tại Huế, khởi viết ngay từ thuở còn là nữ sinh Trung Học trường Đồng Khánh, những bài thơ, truyện ngắn đầu tay của Nhã Ca đã xuất hiện trên các tuần báo ở Saigon từ năm 1957, với tên thật Trần thị Thu Vân. Tuy nhiên, phải ba năm sau đó, bút hiệu Nhã Ca mới chính thức có cơ hội xuất hiện.

Vào giữa năm 1960, nhà thơ Nguyên sa cùng một số bạn hữu cho xuất bản tạp chí văn nghệ Hiện Đại. Ngay trong số ta mắt, tạp chí này đã dành hẳn mấy trang để giới thiệu một loạt thơ của một cô gái Huế mang bút hiệu Nhã ca. Cũng ngay trong lời giới thiệu, người chủ trương Hiện Đại đã xác nhận không một chút ngần ngại: Dàây là một thi tài đặc biệt.

Sự xác nhận của nhà thơ Nguyên Sa đã được chứng minh ngay những năm sau đó . Tập thơ đầu tay của Nhã ca đọat giải thi ca toàn quốc. Nhà. Nhà phê bình Đặng Tiến viết trên báo Văn:

" Vẻ đẹp Nhã ca thật như một giấc chiêm bao, và giả như con sông Hoàng Hà từ trời cao đổ về biển cả. Thơ Nhã Ca sẽ dựng lên một thần thoại về người con gái Huế...."

Nhà thơ Bùi Giáng, trong cuốn Đi vào cõi thơ, khi đề cập tới thơ Nhã ca cũng đã viết: " Thơ nghe như giọng tiên nữ xuống khép nép xin vào hội hè trần gian. Lời thơ xô ùa tới trùng trùng điệp điệp như ngọn triều đại hải.

Nhà báo Phan Lạc Phúc, nguyên chủ bút nhật báo Tiền Tuyến, người đựơc các nhà văn, nhà thơ coi là " mắt xanh của văn giới "; vì sự thưỡng ngoạn văn chương tinh tế của ông, khi đề cập tới Nhã Ca, đã dùng tiếng " đệ nhất nữ thi sĩ ", thay vì gọi bà là" nhà văn nữ hàng đầu ", như ngôn ngữ của ấy tạp chí và mấy nhà xuất bản.

Cho tới nay, cuốn " Thơ Nhã Ca " vẫn là một trong những thi tập đựoctái bản và có số in rất nhiều.

Nhã Ca, Nhà Văn Nữ
Có Số Tác Quyền Lớn Nhất

Thơ Nhã Ca đã mang được cho tác giả của nó những lời khen tặng. Nhưng phải chờ đến văn Nhã Ca, những lời khen tặng mới được cụ thể hóa, thành những khoản tiền tác quyền lớn lao: cả chục triệu bạc, cho hơn 30 cuốn sách đã xuất bản và tái bản.

Cùng lúc với những bài thơ đầu tiên, các truyện ngắn, truyện dài mang bút hiệu Nhã Ca đã xuất hiện trên các tuần báo, tạp chí. Nhưng mãi đến năm 1963, tiểu thuyết Nhã Ca mới được in thành sách. Cuốn đầu tiên: Đêm nghe tiếng Đại bác, do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn đề tựa giới thiệu.

Nhã Ca, Tên Một Giải Thưởng Luận Án Tiến Sỹ

Trên những đặc san cuối năm do Đại Học Y Khoa Huế xuất bản, trong phần tin tức, thường có loan báo " luận án tiến sỹ y khoa đoạt giải thưởng Nhã Ca " hàng năm. Đây là một giải thưởng được thiết lập từ năm 1969 và do chính nữ văn sỹ Nhã Ca bỏa trợ. Khoản tiền dùng cho giải thưởng này chính là tác quyền cuốn " Giải khăn sô cho Huế "một bút kỳ nổi tiếng của nhà văn nữ này, viết về biến cố Mật Thân tại Huế.

Ngày 23 tháng chạp năm Mùi ( 1967) đang sống ở Sàigòn, Nhã Ca nhận được điện tín của gia đình từ Huế gọi về chịu tang thân phụ của bà vừa từ trần. Bảy ngày sao, cuộc tổng công kích tết Mật Thân bùng nổ, và nhà văn nữ này, ngoài cái tang gia đình, đã phải chịu cái tang chung cho cả thành phố bị tàn phá.

Những điều tai nghe mắt thấy trong hơn hai tháng lưu lạc trong biến cố tết Mậu Thân tại Huế được Nhã Ca viết lại thành tác phẩm " Giải khăn sô cho Huế "và toàn bộ tác quyền đầu ntiên của cuốn sách nổi tiếng nàyđược dành tặng cho Huế. Một phần góp vào việc cho trường nữ trung học Đồng Khánh. Một phần được trao tặng cho Đại Học Y Khoa Huế, và vị khoa trưởng y khoa Hu-&u thời đó là bác sỹ Bùi Duy Tâm đã dùng khoảng tiền này để thiết lập một giải thưởng mệnh danh là" giải thưởng Nhã Ca " dành cho luận án tiến sỹ y khoa xuất sắc nhất hàng năm.

Độc Giả Nhã Ca

Trên nhật báo Chính Luận, trong một bài liệt kê các khoản chi tiêu cần thiết để đối chiếu với số lương tháng ít ỏi, một nữ giáo chức đã ghi: sách Nhã Ca. Như vậy trong những món ăn tinh thần của một lớp người, sách Nhã Ca đã được kể vào loại nhu cầu cần thiết và bền bỉ.

Tại các trường Trung Học, nhất là những trường nữ, một số lớn tác phẩm Nhã Ca đã trở thành một đề tài thuyết trình thường xuyên của học sinh

Một số văn phẩm của Nhã Ca cũng được chọn làm đề tài cho một số luận án ra trường của các sinh viên văn khoa Saigon, Huế, Đà Lạt.

Ngoài số độc giả đông đảo là giáo chức, sinh viên học sinh, Nhã Ca cũng được đọc nhiều trong giới binh sĩ. Trên mục tìm bạn bốn phương của tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, có lần đã đăng một lời rao tìm bạn bốn phương của tuần báo Tiền Phong đăng một lời rao tìm bạn nguyên văn như sau: " Lính tiền tuyến muốn tìm những cô bạn gái trong trắng, tươi vui như hình ảnh cô bé Vành Khuyên trong truyện Trưa Áo Trắng..." Trưa Áo Trắng là tên một cuốn tiểu thuyết của Nhã Ca mới xuất bản năm ngoái, viết về một đám nữ sinh chơi vũ cầu buổi trưa bên hông trường nữ trung học Gia Long.

Trả lời một câu hỏi của người phỏng vấn, Nhã Ca xác nhận: " Nếu không nghĩ tới độc giả, chắc chắn tôi đã không viết văn làm gì. Tôi vẫn thường tự nhủ, bạn đọc của tôi đã phải bỏ những đồng tiền xương máu của họ ra đổi lấy từng cuốn sách. Vậy bổn phận của mình là phải viết cho xứng đáng với sự hy sinh ấy. Vậy chắc chắn sẽ chả bao giờ tôi có thể trở thành loại nhà văn tự cho mình là lớn đến độ tuyên bố là viết mà không thèm đếm xỉa đến độc giả.

Tác Phẩm Nhã Ca Và Điện Ảnh

Một số tiểu thuyết Nhã Ca đã được đưa lên màn ảnh. Hãng phim Việt của Đạo diễn Hà Thúc Cần đã dựng một phần" Giải Khăn Sô cho Huế " thành phim Đất Khổ. Hãng Lidac, với đạo diễn Lê Dân, đã đưa cuoốn tiểu thuyết Cô Híp Py lạc loài lên thành phim Hoa mới nở. Hai cuốn tiểu thuyết khác của Nhã Ca, Đoàn nữ binh mùa thu và Tình ca trong khói lửa đỏ, cũng đã được hãng Phim Việt mua bản quyền.

Tài tử kiêm đạo diễn Lê Quỳnh, trong một cuộc phỏng vấn trên báo Kịch Ảnh, tuyên bố cuốn " Tình ca trong lửa đo cuả Nhã Ca là tác phẩm đã làm ông xúc động nhất trong đời, và việc bị hãng Phim Việt dành trước mất truyện này là điều làm ông ân hận nhất.

Tình Ca Trong Lửa Đỏ là câu chuyện một cán binh Bắc Việt tham dự cuộc tổng công kích Mậu Thân, lưu lạc vào cố đô Huế. Rồi giữa cảnh khói lửa của Cố Đô, chàng trẻ thuộc lớp nguời " sinh Bắc tử Nam " mê say một cô gái Huế, cho đến khi chết trên miệng hố cá nhân.

" Trong lúc giới kinh doanh đang chạy ngược chạy xuôi với những giao kèo, xuất cảng sản phẩm Việt Nam ra ngoại quốc, một hợp đồng phiên dịch và xuất bản tác phẩm Việt Nam tại Hoa Kỳ đã được chính thức ký kết, giữa nũ văn sỹ Nhã Ca và một dịch giả người Mỹ, ông Barry Hilton.

Một bản tin loan báo về buổi lễ hợp đồng xuất bản sách tại Hoa Kỳ của Nhã Ca trên một nhật báo, đã được mỡ đầu như vậy. Theo sự tiếp xúc giữa chúng tôi với nhà văn nữ này, hợp đồng xuất bản kể tên đã diễn tiến như sau:

Vào đầu năm 1973, dịch giả Hoa Kỳ, ông Barry Hilton tiếp xúc với Nhã Ca, và tác phẩm được dự định dịch sang Anh ngữ là cuốn " Đoàn nữ binh mùa thu " viết về sự đổi thay của một xóm nhỏ Việt Nam vào thời người Mỹ đổ quân vào xứ này.

Tuy nhiên, theo Nhã Ca, vì nhận thấy chưa hài lòng với cuốn chuyện cũ này, bà đã thỏa thuận viết hẳn lại một tác phẩm mới cuốn " Vi ơi, Bước tới " để ông Barry Hilton dịch sang Anh ngữ.

Vi, là tên một thiếu nữ Việt Nam, lén lên vào những năm cuối cùng của thập niên sáu mươi, khi chiến tranh khốc liệc, kéo theo việc người Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Sự xuất hiện của người Mỹ, cùng với những ảnh hưởng vật chất do họ mang lại, đã làm đảo lộn mọi nếp sống, gây thảm kịch trong nhiều gia đình Việt Nam. Cô gái Việt Nam tên Vi, gánh chịu nhuững thảm kịch này, nhưng cuối cùng, nhờ lòng tin và tình yêu, đã đủ sức hướng về tương lai để bước tới.

Tên Anh ngữ của tác phẩm này là The Short Times, có nghĩa là những kẻ sống trong một giai đoạn tạm bợ, chờ thay đổi. Bản Anh ngữ này hiện đã hoàn tất và đã được dịch giả, ông Barry Hilton mang theo về Hoa Kỳ để sửa soạn ấn hành. Theo dự định , The Short Times, sẽ là một cuốn sách dầy khoảng 400 trang, in giấy trắng, bìa cứng, phát hành tại Hoa Kỳ vào khoảng cuối năm nay.

Theo hợp đồng được ký hôm 23/09 tiền tác quyền bản Anh ngữ sẽ là mười phần trăm, tính trên giá bán và tổng số in đúng theo tiêu chuẩn quốc tế. Phần tác quyền này được chia đôi giữa tác giả và dịch giả, Nhã Ca cho biết: " Vì bản in lần đầu số in giới hạn, số nhuận bút chúng tôi dự trù nhận được sẽ vào khoảng 2000 mỹ kim ( một triệu bạc Việt Nam ) Nếu ấn bản này thành công, sách được in vào loại phổ thông, in nhiều, bìa mỏng, giá rẻ , khoản tác quyền mới có hy vọng lớn hơn ".

-Được biết, ông Barry Hilton là một người chủ trương một tủ sách chuyên về Việt Nam tại Hoa Kỳ. Sau cuốn The Short Times, tủ sách này sẽ còn tiếp tục phiên dịch và xuất bản thêm nhiều tác phẩm văn chương VN khác. Trong hợp đồng ký kết hôm 23/9, Nhã Ca và các bạn hữu của bà trong tổ hợp xuất bản Hải Âu cũng được ủy nhiệm việc giới thiệu những tác phẩm của các nhà văn Việt Nam khác, để tủ sách Glade Publication tiếp tục việc phiên dịch và xuất bản tại Hoa Kỳ.

Đời Sống Hiện Tại

Kết hôn với nhà thơ Trần dạ Từ. Năm con. Không hưởng ứng vụ " kế hoach hóa gia đình" vì ông xã còn muốn tiếp tục đẻ thêm sáu bảy đứa nữa.

Viết văn đối với nhà văn nữ này, không còn là một công việc tùy hứng mà là một việc làm đều đặn hàng ngày. Với một máy đánh chữ, hai cây bút chì để gõ thay ngón tay. Nhã Ca cho biết bà viết đều đặn mỗi ngày khoảng chừng bốn giờ đồng hồ. Những giờ khác dành cho việc đọc sách, săn sóc con cái. Nghe người phỏng vấn ngạc nhiên về số lượng sách đến ba bốn chục cuốn đã xuất bản của bà. Nhã Ca giải thích: " Chỉ là sự đều đặn . Mỗi ngày vài ba trang đánh máy, cô thử nhân lên coi, mỗi năm gần một ngàn trang. Mười năm rồi , chưa tới mười ngàn trang sách , đâu phải là một số lượng ghê gớm gì "

Được hỏi về ngừơi bạn đường cùng nghề ảnh hửơng tới văn chương cuả bà ra sao? Nhã Ca cười: " Ngoài việc làm tjhơ, có thời ổng sống nhờ nghề cắt sửa tin tức cho các nhật báo. Lời khuyên tôi thường phải nghe và áp dụng hàng ngày của ổng là xóa bỏ những chữ thừa, đoạn thừa. Đó có lẽ là sự giúp đỡ lớn nhất".

Một Số Câu Hỏi và Đáp

- Tiền bản quyền cao nhất cho cuốn nào?

- Giải Khăn Sô Cho Huế . Khoảng trên một triệu bạc, vừa do việc xuất bản , vừa do việc làm phim.

- Tác phẩm ưng ý nhất.

- Tập thơ Nhã Ca, bộ truyện dài Đám Tang Cá Voi. Gần đây nhất : một loạt truyện dài viết cho tuổi mới lớn: " Bầy Phượng Vĩ Khác Thường, Ngày Đôi Ta Mới Lớn, Bé Yêu,Bước Khẽ Tới Người Thương, Ngày Thơ Tình Thơ..."

- Dự tính hiện nay của bà?

- Đang sưu tập những chi tiết cần thiết để hoàn tất một bộ tiểu thuyết dài: Thương Nhớ Chiến Tranh, viết với khung cảnh từ 1954 đến một năm nào đó sắp tới.

- Kỷ niệm đắng cay trong đời cầm bút?

- Chỉ còn nhớ những kỷ niệm cảm động: trở lại trường cũ, cúi đầu với cô giáo cũ, ngồi quây quần với các em lớp sau.

TƯỜNG VI
(Việt Nam Thông Tấn Xã)
Phượng Các
#8 Posted : Tuesday, February 21, 2006 4:21:13 AM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
27 August 2005 - 05:00
Từ Nhã Ca Mới đến Nhã Ca bây giờ

Phạm Quang Ngọc

Một đêm Sài Gòn gầm gừ qua cơn mưa trong một quán cà phê nổi dóa những đám mây đen khịt đầy trời.

Tôi ngồi hiền lành bên ly cà phê nhỏ giọt buồn bã. Thằng bạn ngồi kế rít điếu thuốc liên hồi. Hai chúng tôi đều là con nhà lính, cuối tuần vù về thành phố thay bộ đồ dân sự, rủ nhau vào quán ngắm cô gái thâu ngân có đôi mắt nai dại khờ, có mái tóc bom-bê tinh quái để lộ cần cổ trắng ngấn. Lính nhìn, lính say hương tình chết bỏ. Cả hai chúng tôi lặng lờ ngắm nhìn một hình tượng lộn đầu như một ước mơ chỉ còn đôi mắt nhìn mình một cách hờ hững chia bờ ranh giới của si và dại.

Cô gái loay hoay, cúi lên, cúi xuống bên giàn máy cũ mèm. Bỗng tôi nghe giọng Khánh Ly nhừa nhựa qua cuốn cassette nhão nhẹt đưa thoi với nhiều vòng tua bài hát của Trịnh Công Sơn như tiên tri số phận của miền Nam sẽ “đón giặc miền Bắc vô đây bàn tay vấy máu anh em”:

Đại bác ru đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đúng nghe...

Quả như sau đó là cái Tết Mậu Thân máu đổ, thịt rơi... đường đường, phố phố các đô thị miền Nam. Hoa máu lợm tanh khắp làng quê. Mồ chôn tập thể thôi thì đủ cỡ lớn nhỏ. Lớn cỡ trên hai ngàn người ở Bãi Dâu (Huế). Nhỏ cũng phải dăm căn hộ chết chùm cùng chung một hố. Giặc từ Bắc vô Nam rồi đấy!

Lôi trong trí nhớ nhỏ thoi thóp qua lằn đạn giặc, tôi bầm dập những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn. Thằng bạn chửi thề luôn miệng:

-Mẹ! mày đòi về thành phố vào quán cà phê nghe nhạc Trịnh Công Sơn, giờ cám cảnh chưa con?

Thời gian sau - tùy theo thủ thuật của anh bạn đồng minh gian manh - Miền Nam hồi sinh trong màn đêm điêu đứng của cảnh hợp tan. Kẻ sống sót, người chết lấp vội trong bối cảnh một lịch sử đã dâng trọn cả non sông gấm vóc cho hai chủ nghĩa phi-dân-tộc quyết định màn tùng xẻo sống còn...

Tôi đâm đố kỵ lịch sử. Đố kỵ cả cấp lãnh đạo đất nước chỉ thích kẹp cổ người dân lặc lè, hoặc làm ngựa để các đấng này phi nhong nhong...

Tôi vùi đầu trong những trang tiểu thuyết để tạo cho mình một ảo tưởng thoát ra kiếp bềnh bồng của một đời mây trôi nổi trên bầu trời quê hương mất đi ánh nắng vàng trong những buổi chiều âm vang tiếng nghé ọ.

Tôi lêu lổng với thứ âm nhạc vàng khè, bạc nhược ở những quán cà phê mịt mờ khói thuốc. Tôi đọc ngấu nghiến Địa Ngục có thật của Dương Nghiễm Mậu. Tôi sụt sùi theo Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca.

À, người con gái tên Vân (Trần thị Thu Vân) tôi đã từng làm quen qua bút hiệu Nhã Ca với những bài thơ xuất hiện khai phá trên tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương từ năm 1960. Những bài thơ dưới cái tên Nhã Ca đã cuốn hút hồn tôi trôi nổi như mảng bè lập lờ giữa con sông lạnh. Giữa vầng trăng thao thức tàn canh. Giữa cái sôi nổi, đam mê muốn bật khỏi đôi nịt vú mềm mại, mảnh sì-líp hồng đuôi nheo chảy dài nhung nhớ. Tôi cắm đầu chui rúc vào đó và quên đời...

Những vần thơ nhãn hiệu Nhã Ca rất bạo so với thời điểm con người còn đóng khung trong cái vỏ đạo đức giả tạo. Chùa chiền còn âm âm, u u tiếng mõ rời rạc trong những buổi chiều hoang vắng. Cửa giáo đường tha thướt những tà áo trắng trinh nguyên chỉ để làm kiểng cho những trái tim sôi nổi chưa thoát khỏi hệ lụy của những cuộc tình trăn trối.
Thời điểm đó thơ Nhã Ca đã:

Tôi bỏ nhà đi năm mười chín tuổi
Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông
Cuối cơn điên, dầu giấc ngủ đau buồn
Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy....

Thơ đã trả lời thay cho cái liều lĩnh ngàn vàng của người con ái nhìn 'cửa thiêng đàng dựng một quả chuông” này:

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời
Đổi họ thay tên viết văn làm báo
Cơm áo dạy mồm ăn lơ, nói láo
Cửa từ bi mất dấu đứa con hư

Nàng thơ của chúng ta cũng cúi đầu tự thú vì cái hơi hướm trần tục bám quanh thân xác mình:

Hai mươi tuổi thôi hết thời con gái
Cành xanh xao với trái mùa thu
Tuổi trẻ bị bỏ quên không bao giờ ngó lại
Tôi với ngày qua biển xám mây mù

Nàng thơ tự thú chưa đủ. Em đâu có muốn vậy? Tại anh mà!

Tại anh sao? Chẳng tại anh còn ai trồng khoai đất này? Khoai lang hay khoai củ ? Khoai gì tự anh biết lấy. Em bắt đền cho xem:

Người cũng vậy lòng muôn nghìn dối trá
Vờ thương yêu, vờ đắm đuối ân tình
Tôi chót dại tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh

Bởi người đàn bà là một sinh vật từng làm cho người đàn ông xốn vó, lộn đầu, lộn đuôi, mò mẫm, hùng hục... chẳng nhọc lòng...

Sao lại đi đứng khum khum vậy? Nhã Ca đã nói hộ dùm ta:

Rên la trong hân hoan
Hoang chí trong tàn phá
Chưa đủ sao? nữa này:
Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú
Cho tôi da mịn tóc dài
Cho tôi rực rỡ như mặt trời
Để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt
Tràn trên trái đất....

Thơ Nhã Ca trụ một cột trên “tòa nhà” Hiện Đại rung rinh từng mảng tình cảm vũ bão kỳ lạ từ chủ nhân Nguyên Sa ướt át, vuốt ve trong ngôn từ thi ca, đến Nhã Ca lạ lẫm cầm bút viết báo, làm thơ, hút thuốc lá để lao đầu vào tình trường, cho dù tả tơi hoa lá, nàng thơ của chúng ta đã kết thành trăm năm với người bạn đời khác nàng, rất nhút nhát, dại khờ, thật đáng yêu:

Biết yêu người thuở mười lăm
Trong vườn ngây dại, ta nằm xót xa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời với em
(Buổi Hẹn Đầu của Trần Dạ Từ)

Nhã Ca là một ngòi bút tủa hai nhánh: Nhánh của những vần thơ hừng hực bốc lửa. Lửa diệm sơn của đôi-vú-đồi. Của những hồi chuông “lay tôi thức dậy” mon men đến chốn địa đàng. Rậm rạp của những khu rừng mờ mịt thức mây. Đốt cháy từng nụ hôn bằng tuổi dậy thì. Liều lĩnh. Đam mê. Nhánh báo động bằng giọng văn thức tỉnh lương tâm con người đang chơi trò xây mồ tử sĩ, chít khăn tang quả phụ của hai chế độ đều gầm gừ vì miếng đỉnh chung. Vì thứ quyền lực (dĩ nhiên cả bổng lộc) xây bằng núi xương, biển máu của đồng loại. Chế độ phương Bắc xây mồ tử sĩ bằng những con đường xẻ dọc Trường sơn. Chế độ miền Nam nhảy đầm, ăn chơi phù phiếm. Lính ngoài sa trường chiến đấu trong cảnh khốn cùng của vợ con. Nhã Ca là một tâm hồn thánh thiện, chan chứa tình người. Bà đã viết Giải Khăn Sô Cho Huế sau cảnh chôn người tập thể, rùng rợn hơn thời Trung Cổ của Bắc Quân qua cái Tết Mậu Thân đẫm máu. Bà đã nghe tiếng đại bác xa xa vọng về thành phố. Từ đó là sự rình mò, đòi nuốt chửng của loài quỷ đỏ nhe hàm răng chó sói tru về phương Nam. Phải chăng bà đã linh cảm số phận hẩm hiu của đồng loại đã được đặt sẵn trên các bàn hội nghị khi chưa được ngã giá hẳn hoi?

Thơ Nha Ca, theo nhận định của thi sĩ Nguyên Sa (người hiểu bà năm với năm là mười. Có khi còn hơn thế nữa...) khi viết tựa cho tập Nhã Ca Mới được ấn hành tại Sài Gòn năm 1964, thì:

“Thực chất thi ca của Nhã Ca chính là sự xác nhận một chủ thể tự do, chọn lựa một cá tính đàn bà vượt trên thụ động tính, thiết lập với đối phương một tương quan đi lại, chối từ tương quan chịu đựng, vị trí đồ vật với những huyền thoại đúc kết bởi phong tục, tập quán, luân lý cổ truyền, thái độ của đàn ông, thành một vòng đai trùng trùng vây hãm...”
Cùng thời bà, nhhững cây viết nữ như: Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ... chỉ thích cảnh ái-ân-tìm-của-lạ trong “vòng tay học trò”, của thứ “Khung Rêu” hắc ám bao quanh cuộc đời, của thứ “Tôi nhìn Tôi trên vách” đến chóng mặt...

Nhã Ca đã nhìn cuộc chiến như thứ “tai trời, ách nước” lương dân hai miền đều sặc sụa chìm vào hố thẳm. Cái độc đáo, mâu thuẫn trong thơ văn bà là ở chỗ đó.

Tuy ngậm ngùi lẫn sảng khoái qua thơ văn của Nhã Ca, bà với tôi như hai đốm lân tinh đối nghịch: Bà chói sáng ở lầu hoa. Tôi lập lòe ở góc hụi bờ.

Nhờ cơn đổi đời héo dạ, lòi dom 30/4/1975, tôi gặp bà làm mặt “nghiêm và buồn” ở quán cà phê (số 100 đường Nguyễn Du, Quận I) khi nghe tôi rên rỉ giọng vịt đực, giật đàn phừng phừng làm cần câu cơm qua ngày. Dần dần chúng tôi thân nhau mới lạ. Thời đó tôi không hề bàn chuyện thơ văn với bà. Tôi bóp bụng, chỉ thích nhìn trời xanh, mây trắng, mong một ngày có cơm ăn đủ no là đã thấy ngày mai trước mặt.

Chín năm trước (1995) tôi gặp lại bà và phu quân là nhà thơ Trần Dạ Từ cùng đứng mũi chịu sào tờ Viễn Đông nhật báo nghe đâu đã đủ móng vuốt để nghênh đón tờ Người Việt đang vi vút những ám ảnh chữ nghĩa bằng thứ chiêu thức văn chương vô hình. Rồi mọi chuyện đều vui vẻ cả làng.

Tôi mừng lắm thay! Tôi lại mừng lần nữa khi nghe tin bà cho trình làng Nhã Ca Thơ lần đầu tiên tại Hoa Kỳ do Vietbook ấn hành vào năm 1999.

Đọc Nhã Ca Thơ, tôi không còn những xúc cảm thuở ban đầu khi lãng đãng để rung theo những vần thơ ở Nhã Ca Mới vào năm 1964. Có lẽ, tại tôi cũng làm thơ lúc này. Thơ tôi như đôi mắt mọc mụt lẹo, nhướng về dĩ vãng, đâm ngang hiện tại... chỉ thấy những hạt mưa huyền sử giăng giăng đầy trời. Rồi tan thành nước. Thứ nước sình mương lạch quanh co tìm về cội nguồn. Chỉ thấy bầu trời đen khịt những mây và mây. Trong Nhã Ca Mới, duy nhất bài thơ bà viết đưa tiễn nhà thơ Nguyên Sa làm tôi đọc co rúm châu thân, hụt hẫng từng hơi thở:

Nhớ anh xưa mũ đội đầu
Mũ Tây, mũ Mỹ, mũ Tầu, mũ Ta
Mũ Tây độc, mũ Đông tà
Mũ ông Thầy, mũ Chú Ba cười cười
Một mình một ngựa. Ôi thôi
Bao nhiêu là mũ rụng rời. Anh đi
Mũ nan mũ dạ mũ ni
Hôm nay anh đội mũ gì quá quan

Chị Nhã Ca! Chị có đồng ý với tôi, chỉ một điều này thôi nhé:

-Khi buồn đọc thơ mình rặn, ôi sướng dường bao! Nếu thơ bỏ ta ta đi nữa, thà chết phứt cho rồi! Phải vậy không chị?


Phạm Quang Ngọc
PC
#9 Posted : Friday, May 26, 2006 2:13:41 PM(UTC)
PC

Rank: Advanced Member

Groups: Moderator, Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 5,668
Points: 25
Woman

Was thanked: 4 time(s) in 4 post(s)
Nhã Ca Ký Sách Tại Paris, Nói Chuyện “Đường Tự Do Saigon”

Thứ Bẩy 20-5, đông đảo đồng bào đã tham dự buổi phát động phong trào “Trả Lại Ta Saigon” tổ chức tại Paris. Khán giả chào đón nhà văn Nhã Ca vừa từ Little Saigon tới nói chuyện về “Saigon của chúng ta, Saigon của tôi” và ra mắt ký sách “Đường Tự Do Saigon”. Đây là bộ truyện Nhã Ca viết về Saigon đổi đời sau tháng Tư 1975 vừa được Việt Báo ấn hành tại Hoa Kỳ.

vietbao.com
linhvang
#10 Posted : Monday, March 5, 2007 3:16:54 PM(UTC)
linhvang

Rank: Advanced Member

Groups: Moderator, Editors
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 4,933
Points: 1,248
Woman
Location: University Place, Washington State, USA

Thanks: 23 times
Was thanked: 45 time(s) in 43 post(s)

Nhã Ca
Saturday, May 5, 2:00-3:30 PM
Tully Branch
http://sjlibrary.org/about/locations/tully/
Popular and prolific author Nhã Ca introduces her latest book "Đường Tự Do Saigon".
Click here for list of her novels:

Nhã Ca

bienchet
#11 Posted : Wednesday, February 6, 2008 9:32:30 AM(UTC)
bienchet

Rank: Newbie

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 1,452
Points: 0

“Giải Khăn Sô Cho Huế”, RFA phỏng vấn Nhã Ca

mời click vào đây nghe cuộc phỏng vấn

2008.02.03
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA

Tết Mậu Tý năm nay vừa tròn 40 năm biến cố Mậu Thân. Trong nỗi buồn chung của dân tộc, từ những gia đình có người thân bị thảm sát cho đến những ai may mắn sống sót trong cơn địa chấn đó đều không nhiều thì ít cùng mang tâm trạng bâng khuâng ngậm ngùi mặc dù thời gian đã trôi qua gần phân nửa thế kỷ.



Tác giả Nhã Ca. Photo courtesy of viettribune.

Nhắc đến Tết Mậu Thân hầu như người Việt nào sống trong khoảng thời gian đó đều biết một cuốn sách của tác giả Nhã Ca mang tên Giải Khăn Sô Cho Huế, quyển sách là hình ảnh sống động miêu tả lại hầu như toàn cảnh của biến cố này vì tác giả của nó trực tiếp sống và bị cuốn theo dòng chảy của một cuộc thanh trừng đẫm máu nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Tác phẩm Giài Khăn Sô Cho Huế sẽ được nhà xuất bản Việt Báo tái bản trở lại trong dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Mậu Thân, Mặc Lâm mời quý vị theo dõi buổi phỏng vấn đặc biệt với tác giả Nhã Ca trong chương trình văn học nghệ thuật tuần này để biết thêm những chi tiết liên quan đến vấn đề này.

Mặc Lâm: Thưa chị Nhã Ca, Tết Mậu Tý 2008 là đúng 40 năm biến cố Huế Tết Mậu Thân. Ðược biết nhân dịp này, lần đầu tiên tại hải ngoại, cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế đã được tác giả cho tái bản. Xin chị cho biết về lần tái bản này, cuốn sách mới có gì khác biệt với sách cũ.

Nhã Ca: Cám ơn anh Mặc Lâm và đài RFA đã có lòng nhớ Huế Tết Mậu Thân và hỏi thăm. Sách mới “Giải Khăn Sô Cho Huế” ấn bản đầu tiên tại hải ngoại do Việt Báo ấn hành, sách dầy 640 trang, khổ lớn, bìa cứng, sẽ được phát hành trong tháng 2-2008.

Như anh biết, sách cũ “Giải Khăn Sô Cho Huế” in lần đầu tại Việt Nam cuối năm 1969, là một... bút ký chạy loạn. Sách mới, ngoài bút ký cũ, còn in thêm đầy đủ tất cả chữ nghĩa Nhã Ca đã viết về biến cố Tết Mậu Thân tại Huế, gồm một truyện dài, thêm nhiều bút ký và truyện ngắn.

Mặc Lâm: Xin chị cho biết thêm chi tiết. Trong lần tái bản này, có thay đổi gì đáng phải bàn tới trong tác phẩm, hoặc có điều gì tác giả muốn gửi gấm?

Nhã Ca: Thưa anh, trong lời tựa nhỏ cho bản in lần đầu của “Giải Khăn Sô Cho Huế” tôi có viết là “Nhân ngày giỗ thứ hai của Huế Tết Mậu Thân sắp tới, xin coi cuốn sách này như một bó nhang đèn góp giỗ.” Tinh thần ấy không thay đổi.

Về chi tiết cuốn sách mới vừa được in lại, tôi có kể thêm chút chút trong ‘tựa nhỏ’ là:

“Tôi tin vào tương lai của Huế và tương lai Việt Nam, như tin vào những tình ca về lòng yêu thương và sự ăn ở tử tế giữa con người với nhau. Với lòng tin ấy, sau “Giải Khăn Sô Cho Huế” còn có thêm hai cuốn sách nhỏ viết về Tết Mậu Thân: “Tình Ca Cho Huế Ðổ Nát” là tập truyện viết về tình yêu và lòng thành của Huế trong đau thương, tang tóc. Tiếp đó là “Tình Ca Trong Lửa Ðỏ,” một truyện dài về tình yêu của cô gái Huế dành cho một chàng lính Bắc tử tế.

“Từ sau 1975, sách vở miền Nam bị đốt, và nhà văn đi tù. Cho tới nay, Huế không còn được phép chính thức có một ngày giỗ chung cùng hướng về những người chết tức tưởi hồi Tết Mậu Thân.

Vẫn với lòng tin xưa, đây là lần đầu cả ba cuốn sách về Huế Mậu Thân được gom lại làm một. Và sách “Giải Khăn Sô Cho Huế” thêm một lần in lại, như một bó nhang đèn góp giỗ. Góp cho ngày giỗ thứ 40 thầm lặng trong lòng Huế. Và góp cho một ngày giỗ tương lai tại quê hương, nơi từng biết thế nào là tình yêu thương, sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hoá, lịch sử.”

Thưa anh, đó là lời gửi gấm của người ‘góp giỗ’ khi ‘Giải Khăn Sô Cho Huế’ được in lại.

Mặc Lâm: Thưa chị, khoảng cách thời gian của ‘chữ nghĩa Nhã Ca’ viết về biến cố Tết Mậu Thân tại Huế đến nay đã là 40 năm. Xin chị nhìn lại vài thời điểm chính. Báo New York Times năm 1973 trong một bài về Nhã Ca có kể là ‘khi Giải Khăn Sô Cho Huế khởi sự đăng tải trên một nhật báo tại Saigon, đặc công Việt Cộng đã gửi thư đe dọa, buộc bà ta ngưng viết. Bà đã không nhượng bộ.’ Sự việc đã diễn tiến ra sao từ đó về sau?

Nhã Ca: Thưa anh, đúng như báo New York Times đã viết. Chắc anh còn nhớ thành tích của cái gọi là ‘biệt động thành’ của cộng sản tại Saigon. Họ đã bắn chết nhà báo Từ Chung khi anh là tổng thư ký nhật báo Chính Luận. Họ đã bắn bể mặt của nhà văn Chu Tử khi anh là chủ nhiệm nhật báo Sống. Và sau đó thì đến phiên tôi nhận thư đe doạ.

Chắc anh cũng nhớ, ngay sau ngày Saigon bị đổi tên đổi đời, có cuốn sách mang tên là ‘Biệt Kích Văn Hoá’ do các học giả, nhà văn cộng sản như Trần Văn Giàu, Lữ Phương, Vũ Hạnh... viết về 10 tác giả miền Nam. Trong sách này Nhã Ca là nữ biệt kích duy nhất, được xếp hạng thứ sáu. Những tác giả miền Nam khác là Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nhất Hạnh, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến... Và sau đó, dĩ nhiên là ‘nữ biệt kích’ được vinh dự cùng các bạn văn đi tù...

Mặc Lâm: Vẫn báo New York Times, tháng 2 năm 1988, có đăng bài của nữ phái viên Barbara Crossette thăm Saigon viết là “Tết Mậu Thìn, 20 năm sau biến cố Tết Mậu Thân, Saigon cũ vẫn nhắc nhở đến Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca.. Tác giả sách này đã bị bắt sau khi cộng sản chiếm miền Nam cùng với chồng là thi sĩ Trần DạTừ. Cả hai đã bị nhốt nhiều năm như những tù nhân chính trị. Người chồng thì cho mãi đến nay hình như vẫn chưa được thả ra.” Chị có gặp bà Barbara?

Nhã Ca: Thưa anh, tôi chưa từng gặp bà Barbara. Thực sự thì vào thời điểm Barbara muốn thăm tôi tại Saigon vào Tết Mậu Thìn, tôi còn đang bận xách đồ đi thăm nuôi ông chồng vẫn còn đang ở tù.

Mặc Lâm: Bên cạnh những lời khen thường gặp chị có nhận được những băn khoăn hay nghi ngờ gì về mức khả tín mà độc giả đặt ra đối với tác phẩm? Có nhân vật “thật” nào trong “Giải khăn sô cho Huế” công khai chống đối hay đồng tình với những gì chị trình bày trong tác phẩm hay không? Nếu có chị có thể cho biết phản hồi của chị?

Nhã Ca: Cám ơn câu hỏi đặc biệt của anh. Như đã thưa với anh, “Giải Khăn Sô Cho Huế” chỉ là bút ký hoặc truyện ký của một người chạy loạn Tết Mậu Thân tại Huế, kể lại những điều mắt thấy tại nghe. Trong cảnh bom đạn, chết chóc, dù mắt chính mình có thấy vẫn không thể thấy hết mọi phía. Tai nghe là nghe người khác kể lại. Dù tai nghe mắt thấy, có sao viết vậy, hẳn nhiên cũng không khỏi thiếu sót hoặc sai sót. Ðiều quan trọng là tấm lòng. Chữ nghĩa đã viết là chuyện đã rồi, có sao để vậy. Tôi thật tình mong những thiếu sót sẽ dần được bổ túc, những sai sót sẽ dần được chỉ rõ.

Về “những nhân vật thật”, nêu đích danh chỉ có anh Lê Văn Hảo, thị trưởng Huế Mậu Thân do phía quân giải phóng cử ra. Anh Hảo nay đã tị nạn cộng sản tại Pháp, đã chính thức lên án việc quân giải phóng tàn sát dân Huế hồi Tết Mậu Thân. Nhân vật thứ hai trong sách mang tên Phủ là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nguyên Tổng Thư Ký Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế thời Tết Mậu Thân. Ðây là chức vụ “phụ trách công việc chính trị” có nghĩa là “xếp” của cả chức thị trưởng. Năm 1997, anh Tường đã đến Paris, lên tiếng trên đài RFI, nói về
-xin trích nguyên văn: “nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Ðó là một sai lầm không thể nào biện bác được...” Anh cũng đã công khai “gửi lời cám ơn sự khách quan của chị Nhã Ca dành cho tôi” và nói nguyên văn rằng “Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng.” Văn bản lời anh Tường trả lời cuộc phỏng vấn của chị Thụy Khuê đài RFI hiện còn lưu trên internet, ai cũng có thể đọc được. Nhân vật thứ ba trong sách có tên là Ðắc, theo lời kể mà tai tôi nghe, liên quan tới cái chết đau thương của người bạn tên là Mậu Tý. Nhà báo Nguyễn Ðắc Xuân, một phụ tá của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, có viết bài phản bác, nói là anh không hề liên quan.

Cả ba nhân vật kể trên, đều đã có lòng đích thân đến gặp tôi trước ngày chúng tôi rời Saigon sang Thụy Ðiển. Ðoạn kể lại những gặp gỡ này trong Hồi Ký Nhã Ca có được trích in trong sách mới Giải Khăn Sô Cho Huế.

Mặc Lâm: Cho tới nay, điều gì còn đậm lại rõ nét nhất nơi chị khi nhìn lại tác phẩm “Giải khăn sô cho Huế”. Xin nhắc câu đã hỏi, là chị có thể nói về sự “phản hồi” của chị, nếu có.

Nhã Ca: Về điều mà anh gọi là “còn đậm nét nhất” khi nhìn lại “Giải Khăn Sô Cho Huế”, tôi thấy đó là sự oan khiên nối dài chưa biết đến bao giờ. Hàng ngàn người chết oan cho tới nay không có được một lời xin lỗi, một ngày tưởng niệm. Cuộc đại tàn sát Tết Mậu Thân, ngày giỗ lớn nhất của Huế, thì được đánh trống thổi kèn như ngày hội chiến thắng. Phần oan khiên riêng của cuốn sách và tác giả thì đủ cảnh tức cười, sách bị những người cộng sản treo để “triển lãm tội ác”, tác giả đi tù.

Từ cảnh Huế Mậu Thân trong sách được viết lại thành chuyện phim Ðất Khổ, phim quay xong năm 1972 bị cấm chiếu ở Saigon vì tội phản chiến. Bốn mươi năm sau, mới đây thôi, tháng 5 năm 2007, cuốn phim được một hãng Mỹ khai thác làm DVD bán ngay tại Mỹ và dán cho nó cái bìa là... cờ đỏ sao vàng. Chi tiết chuyện oan khiên tức cười này báo Tết Việt Báo năm nay có đề cập.

Về điều anh gọi là “phản hồi”, tôi thấy chỉ có thể nói thế này: Bi hài kịch của thời đại chúng ta là sự ngộ nhận. Nó ở khắp nơi, phe này, phe kia, chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ, ông này, bà kia, tác giả, nhân vật... đâu đâu cũng có nó. Như dân tộc của mình, tất cả chúng ta, dù người bị giết hay kẻ giết người, đều chỉ là nạn nhân. Thuốc chữa sự ngộ nhận cho người hay cho chính mình, theo tôi, nên là sự hiểu biết và ăn ở tử tế, với cả người sống lẫn người chết.

Mặc Lâm: Cám ơn chị Nhã Ca.


viethoaiphuong
#12 Posted : Wednesday, January 26, 2011 7:43:08 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 8,674
Points: 9,174

Thanks: 730 times
Was thanked: 76 time(s) in 75 post(s)

TỰA NHỎ : VIẾT ĐỂ CHỊU TỘI

Nhã Ca

(Hồi Ký Giải Khăn Sô Cho Huế)


Tôi được sinh ra ở Huế, lớn lên với Huế, nhưng khi trưởng thành, đã rời gia đình, bỏ thành phố và ra đi biền biệt.

Hồi trước Tết Mậu thân, hôm 23 tháng chạp năm mùi, đang cùng chồng con cúng ông táo, tôi bỗng nhận được điện tín từ Huế : về ngay, ba hấp hối.

Với một gói hành lý vội vàng, đứa con hư hỏng của gia đình và thành phố là tôi, đã trở lại Huế để chụi tang người cha thân yêu. Và rồi như bao người khác, đã phải chịu luôn cái tang lớn cho cả thành phố, khi biến cố tết Mậu Thân bùng nổ.

Sau cả tháng dài lăn lộn trong địa ngục Huế, khi sống sót trở về Sàigòn, tôi đã thao thức mãi về việc phải thắt một giải khăn sô cho Huế, phải viết một hồi ký về những ngày giờ hấp hối của Huế. Nhưng thời sự những ngày sau biến cố Tết Mậu Thân ồn ào quá, bên cạnh cơn khóc than vật vã của Huế, người ta còn bận bịu với việc khai thác những chi tiết ly kỳ của chiến cuộc, những thành tích chiến thắng trên tro tàn, thật chưa phải là lúc viết ra những xót xa, tủi nhục, tuy tầm thường nhất, nhưng cũng lại là sâu sắc nhất của một thành phố hấp hối.

Chính vì vậy mà sau khi phác họa một vài nét đại cương trên nhật báo Sống hồi ấy, mặc dù được tòa soạn yêu cầu tiếp tục và sau đó được nhiều nhà xuất bản thúc dục, tôi cũng đã cố gắng ngưng lại. Phải ngưng lại, để nếu không nghiền ngẫm được kỹ hơn, thì ít ra cũng tách rời được khỏi những hậu ý xô bồ của thời cuộc, để chờ đợi một giây phút yên lặng hơn, trầm tĩnh hơn, khi viết về Huế.

Cái thời gian chờ đợi ấy, đến nay, đã gần hai năm qua, Hai năm, hài cốt cả chục ngàn dân Huế bị tàn sát, vùi nông ở bờ bụi, vứt bỏ xuống đáy sông đáy suối, đã được thu nhặt dần. Những nấm mồ tập thể đã tạm thời xanh cỏ. Những nền nhà đổ nát đã tạm thời dựng lại. Cơn khóc than vật vã của Huế, những tiếng nói xô bồ về Huế, như vậy, cũng đã bớt ồn ào.

Đây, chính là lúc chúng ta có thể cùng nhau chít lại giải khăn sô, đốt lại nén hương nhỏ trong đêm tối mênh mông của chiến tranh và tang tóc, để hồi tưởng về Huế.

Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế. Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại chúng ta, phải chụi trách nhiệm.

Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đoan*, một cô bạn học cùng lớp với tôi ngày nào, đang ngồi trên ghế đại học ở Sàigòn, bỗng về Huế, đeo băng đỏ nơi tay, dắt súng lục bên hông, hăng hái đi lùng người này, bắt người khác, để trở thành một nữ hung thần trên cơn hấp hối của Huế.

Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có Đắc** một sinh viên trẻ trung, hăng hái. Thời trước Đắc làm thơ, Đắc tranh đấu, rồi bỏ ra khu. Để rồi trở lại Huế lập những phiên tòa nhân dân, kêu án tử hình hàng loạt người, rồi đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố, để xử tử. Cậu bạn của Đắc, tên Mậu tý, dơ cái băng đỏ dấu hiệu giải phóng quân lên cao, lạy van Đắc :

- Em lạy anh. Bây giờ em theo các anh rồi mà. Em có mang băng đỏ rồi mà. Cách mạng muôn năm... Hồ chủ tịch muôn năm.

Nhưng mặc Mậu Tý năn nỉ, hoan hô, Đắc vẫn nhất định nổ súng vào người bạn nhỏ.

Chính trong thế hệ chúng ta đây, đã có từng đoàn người, hàng trăm người, cha có, sư có, già có, con trẻ có, mỗi người cầm một lá cờ trắng để ra dấu đầu hàng bất cứ phe nào, đi thất thểu trong một thành phố đầy lửa cháy. Cứ như thế chạy ngược chạy xuôi, cho đến khi gục ngã gần hết.

Cũng chính trong thời đại chúng ta, ngày thứ hai mươi mấy trong cơn hấp hối của Huế, đã có một con chó nhỏ kẹt giữa hai lằn đạn, chạy ra sủa bâng quơ ở bên bờ sông Bến Ngự. Con chó thành mục tiêu đùa giỡn cho những mũi súng hờm sẵn từ bên kia sông. Họ bắn cho con vật khốn khổ sợ hãi rơi xuống sông. Rồi lại bắn vào những bờ sông mà con chó nhỏ đang lóp ngóp bơi vào. Những phát súng đùa cợt không cố tình bắn chết con chó nhỏ, mà chỉ có trêu chọc cho con chó chới với giữa giòng nước, để có chuyện đùa chơi với máu lửa. Thành phố Huế, và có lẽ cả quê hương khốn khổ của chúng ta nữa, có khác gì thân phận của con chó nhỏ đã chới với giữa giòng nước ấy. Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương nữa.

Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập giải khăn sô cho Huế này như một bó nhang đèn góp giỗ.

Xin mời bạn, chúng ta cùng thắp đèn, châm nhang, chịu tội với quê hương, với Huế.

Đoan*:
Đắc**: Nguyễn Đắc Xuân


Phượng Các
#13 Posted : Tuesday, March 3, 2015 7:01:54 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Ra mắt Giải khăn sô cho Huế tiếng Anh tại ĐH Berkeley

Bùi Văn Phú

Chiều thứ Tư 25/2/15, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á của Đại học Berkeley đã có buổi giới thiệu bản dịch tiếng Anh tác phẩm Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca, nguyên bản tiếng Việt được xuất bản lần đầu tại Sài Gòn năm 1969.

Tham dự có mặt nhà văn Nhã Ca đến từ miền Nam California và đến từ Đại học Texas A&M là giáo sư Olga Dror, người đã dịch tác phẩm ra tiếng Anh, với tựa Mourning Headband for Hue (Nxb Indiana University Press, 2014. 378 trang).

Ngoài phần dịch toàn bộ tác phẩm, bản tiếng Anh còn có trên 50 trang là nghiên cứu của giáo sư Dror về những quan điểm, hệ lụy và nhân vật liên quan đến vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế.


Giáo sư sử học Peter Zinoman của Đại học Berkeley mở đầu chương trình với phần giới thiệu tác phẩm. Theo ông, Giải khăn sô cho Huế là: “Cái nhìn của một người dân miền Nam bị kẹt giữa làn đạn của quân cộng sản chiếm thành phố này ba tuần lễ và sự phản công giành lại kiểm soát của quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Hồi ký của Nhã Ca còn là chứng liệu về lực lượng võ trang Việt Cộng đã giết thường dân trong những khu vực họ chiếm đóng.”

Về số người bị giết ở Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, giáo sư Zinoman nói cho đến nay không có con số chính xác, nhưng đa số học giả cho rằng đã có từ 1500 đến 3000 người bị giết.

Tuy nhiên, không như những vụ thảm sát khác trong chiến tranh Việt Nam, vụ giết người ở Huế chưa bao giờ được giới học thuật phương Tây nghiên cứu đầy đủ nên khó tìm được những tài liệu hay bài viết nghiêm túc về chủ đề này. Giáo sư Zinoman nhận xét.

Về tác giả, giáo sư Zinoman giới thiệu Nhã Ca là một nhà văn, nhà thơ đã có nhiều tác phẩm xuất bản tại Việt Nam trước năm 75 như Giải khăn sô cho Huế, Đêm nghe tiếng đại bác. Tác phẩm bà viết tại hải ngoại phải kể đến cuốn Hồi ký của một người mất ngày tháng.

Sau năm 1975, trong đợt trấn áp văn nghệ sĩ Nhã Ca bị giam tù 14 tháng. Chồng bà là thi sĩ Trần Dạ Từ, một nhà thơ có tiếng, đã bị giam 12 năm.

Nhờ vận động của quốc tế, Nhã Ca và Trần Dạ Từ được rời Việt Nam qua Norway. Năm 1992 ông bà di dân qua Mỹ và sáng lập tờ Việt Báo có trụ sở ở nam California là một nhật báo có đông độc giả.

Qua phần nói chuyện, mở đầu là trình bày của giáo sư sử và văn hoá Việt Olga Dror. Bà nói về lịch sử cố đô Huế từ thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, là nơi có truyền thống sinh hoạt trong tinh thần Phật giáo qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Bà nhắc đến những phong trào đấu tranh ở đó, đặc biệt vào những năm 1966-67 là thời gian nhiều trí thức bỏ Huế lên rừng, tức đi theo cộng sản, và họ đã trở về Huế khi tổng tấn công Mậu Thân xảy ra.

Giáo sư Dror nói về trận chiến tại Huế, chỉ sau hai ngày tấn công bộ đội cộng sản đã chiếm được Phú Vân Lâu và kéo cờ lên kỳ đài. Sau ba tuần chiếm giữ, quân cộng sản bị đẩy lui.

Những tháng sau đó nhiều hố chôn người tập thể được tìm thấy và khai quật. Bà đưa lên nhiều hình ảnh dẫn chứng.

Tuy nhiên khi đó vụ tàn sát đã không được dư luận chú ý vì năm 1968 nội tình nước Mỹ có nhiều sự kiện quan trọng: ngày 31/3 Tổng thống Lyndon B. Johnson tuyên bố không tái tranh cử, ngày 4/4 Mục sư Martin Luther King Jr. bị ám sát, ngày 6/6 ứng viên tổng thống Robert Kennedy bị giết chết, tháng 8 Đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago diễn ra trong bạo động và tháng 11 Richard Nixon được bầu làm tổng thống.

Năm 1968 tại Việt Nam, ngoài vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế còn có vụ lính Mỹ giết mấy trăm dân làng Mỹ Lai và vụ này cũng không được hoàn toàn đưa ra ánh sáng cho đến cuối năm 1969.

Ngày nay, so sánh hai vụ tàn sát, theo giáo sư Dror thì Mỹ Lai đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu được phổ biến.

Riêng với vụ thảm sát Mậu Thân, năm 1970 có một số người quan tâm, đưa ra những nhận định trái nghịch và được chính giới dùng để biện minh cho chính sách của Mỹ tại Việt Nam trong giai đoạn đó.


Giáo sư Dror dẫn hai nhà nghiên cứu với hai quan điểm khác nhau về thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế. Quan điểm của Douglas Pike cho rằng lãnh đạo cộng sản có trách nhiệm về vụ tàn sát hàng nghìn thường dân. Trong khi đó Gareth Porter cho rằng đã không có thảm sát.

Các nhà làm chính sách Mỹ, trong đó có Thượng nghị sĩ George Murphy dùng tài liệu và lập luận của Pike, hay Thượng nghị sĩ George McGovern dùng những nghiên cứu của Porter để tìm cách biện minh rằng nếu cộng sản chiếm miền Nam thì sẽ có trả thù đẫm máu, theo Murphy; hay sẽ không có tắm máu, theo McGovern.

Về một số nhân vật bỏ cố đô lên rừng trước năm 1968 và được cho là đã trở về Huế khi cuộc tấn công xảy và thi hành một số vụ giết người, giáo sư Dror nhắc đến Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân. Bà đưa chứng liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không xác minh chắc chắn họ đã là những đao phủ thủ trong những ngày Huế bị lực lượng cộng sản chiếm giữ.

Giáo sư Dror kể rằng trong một hội thảo năm 2012 ở Nga, quê hương nguyên quán của bà, khi bà nói về Mậu Thân ở Huế thì được đề nghị nên nghiên cứu về những vụ thảm sát do Mỹ gây ra. Điều đó thúc đẩy bà muốn tìm hiểu nhiều hơn về những gì đã xảy ra ở Huế trong Tết Mậu Thân và bà đã tìm đọc và dịch ra tiếng Anh tác phẩm Giải khăn sô cho Huế.

Giáo sư Dror nói vụ tàn sát Mậu Thân ở Huế còn là một cuốn sách sử đang chờ đợi nhiều người viết lên.

Sang phần trình bày của Nhã Ca, bà nói tiếng Việt, giáo sư Việt ngữ Trần Hạnh của Đại học Berkeley giúp chuyển ngữ.

“Mỗi người Việt đều có một cuốn lịch trong nhà, hay trong đầu và trên mỗi tờ lịch là những ghi nhớ mà khi câu chuyện của từng người được góp lại thì đó là lịch sử.”

“Là người sống sót từ trận chiến Mậu Thân Huế, tôi viết Giải khăn sô cho Huế. Đây không phải là tiểu thuyết hư cấu, cũng chẳng văn chương thơ phú gì, chỉ là sự thật, chuyện trẻ con chạy nạn. Chuyện mình, chuyện người, mắt thấy tai nghe, thấy sao viết vậy. Chỉ là những mảnh vỡ của một thành phố tan tác trong cảnh hỗn mang giữa máu lửa, chết chóc.”

Nhã Ca nói về tác phẩm của mình như thế. Rồi bà kể lại biết bao chuyện tang thương khác của Việt Nam. Bom đạn. Nhà cháy. Chèo ghe trối chết chạy loạn.

Từ tuổi lên năm bà đã thấy cảnh xác người bị chặt làm ba khúc, đầu đặt trong một rổ tre, nạn nhân là ông thợ rèn bị Việt Minh xử tử vì cho là Việt gian. Bà chứng kiến cảnh một bạn cùng trường tiểu học Nam Giao đứng như trời trồng, khi thấy đầu của bố mẹ đặt trong nón lá, bốn con mắt vẫn trừng trừng mở.

Về Mậu Thân ở Huế, Nhã Ca kể lại câu chuyện của Võ Trang, nay 56 tuổi và là kỹ sư hiện sống ở San Diego, có bố được cán binh cộng sản đến gõ cửa mời đi họp rồi bị giết chết. Cô hàng xóm 19 tuổi gần nhà Trang đi họp thay cho anh vắng nhà cũng bị giết. Khi xác của các nạn nhân được tìm thấy trong một hố chôn tập thể đã phồng lên, bốc mùi. Hai cái chết trong hàng trăm người bị chôn sống ở khu Gia Hội.

Theo niềm tin dân gian, người dân những năm sau Mậu Thân hay đốt đuốc sáng trong đêm để những oan hồn biết đường tìm về nhà.

Nhã Ca nhìn lại sử thời Pháp thuộc, năm Ất Dậu 1885 ba vạn dân quân Huế tấn công vào đồn Mang Cá, 1500 người hy sinh. Năm sau người dân đã lập đàn tưởng niệm, xây miếu âm hồn trong Thành Nội. Hàng năm chế độ thực dân vẫn cho phép cử hành lễ giỗ.

Số nạn nhân của vụ tàn sát Mậu Thân nhiều gấp năm lần, nhưng sau năm 1975 chế độ cộng sản đã phá huỷ đài tưởng niệm và công an cấm tụ họp làm đám giỗ.

Nhã Ca nhắc đến nội chiến ở Hoa Kỳ. Sau khi chấm dứt, không diễn binh, không ăn mừng chiến thắng mà chỉ có một “ngày tủi nhục quốc gia” để cùng nhau xưng tội, cầu nguyện xin tha thứ. Nhờ đó mà có được nước Mỹ như ngày nay.

“Trong khi đó, ngày nay ở Việt Nam cũng như tại nhiều nơi, trong nhiều cái đầu vẫn chưa biết nghĩ lại.” Nhà văn than thở và mong ước một ngày sẽ “có một bàn thờ chung, ngày giỗ chung tại quê hương, nơi từng biết thế nào là sự ăn ở tử tế, như từng biết thế nào là văn hóa, lịch sử.”

Hai diễn giả sau đó đã trả lời một số câu hỏi.

Về phim Đất khổ, là câu chuyện gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng kẹt ở Huế dịp Tết Mậu Thân, dựa trên Giải khăn sô cho Huế, được quay thành phim khoảng đôi ba năm sau khi tác phẩm ra đời. Tại sao phim này bị cấm chiếu, còn sách của bà được xuất bản? Nhã Ca cho biết bà là người viết kịch bản và phim mới làm xong, chưa kịp chiếu thì biến cố 30/4/1975 xảy đến.

Bà nói thêm sau khi phim được cho sản xuất bên Mỹ cách đây mấy năm, trong nước cũng cho phổ biến, nhưng sau khi người Việt hải ngoại yêu cầu nhà sản xuất bỏ hình cờ đỏ sao vàng ngoài bìa đi thì trong nước lại cấm.

Cuộc tấn công Mậu Thân và ảnh hưởng của truyền thông Mỹ đối với quấn chúng Mỹ, đăc biệt là nhận định của Walter Cronkite. Giáo sư Dror có ý kiến gì không? Bà nói cuộc tổng tấn công là chiến thắng quân sự cho phía Hoa Kỳ nhưng là thất bại về phương diện chính trị đối với dư luận quần chúng Mỹ.

Nhà văn có thể nói về nhân vật Võ Thành Minh trong tác phẩm đã giúp đỡ nhiều người bị thương. Nhã Ca nói đó là một huynh trưởng hướng đạo, từng có mặt tại hội nghị Genève 1954 và đã đem sáo ra thổi để phản đối. Mậu Thân ông đạp xe đạp đem gạo cho người này, đi cứu giúp người kia. Phía cộng sản cho ông một giấy đi đường, sau rút lại rồi bắt ông lên núi và giết chết ông.

Khó khăn nào trong việc dịch? Giáo sư Dror trả lời bà học tiếng Việt với giọng bắc nên khi dịch có nhiều câu nói tiếng trung nên bà thường xuyên trao đổi với Nhã Ca để hiểu rõ ý nghĩa.

Nhà văn có biết được bất cứ điều gì của độc giả miền bắc khi họ đọc được Giải khăn sô cho Huế cũng như Tình ca trong lửa đỏ. Nhã Ca nói sau 75 bà đi tù, chồng cũng đi tù. Ra khỏi tù không biết gì về miền bắc, cũng không còn thấy sách của mình vì đã bị đốt sạch. Ra hải ngoại mới biết có Nguyễn Tuân đọc và nhận xét tác phẩm không có giá trị gì đặc biệt, chỉ nhớ cảnh Nhã Ca lên máy bay trực thăng thì chiếc nón lá bay đi là một hình ảnh rất thơ mộng. Không nhẽ tác phẩm của tôi chỉ là chiếc nón lá không thôi sao.

Tác phẩm được xuất bản đã 46 năm, nay có bản tiếng Anh. Phản ứng của người Việt hải ngoại từ khi tác phẩm ra đời ra sao? Nhà văn kể rằng năm 2008 khi tái bản và ra mắt sách thì có người biểu tình. Đúng nước Mỹ là một nước tự do, chứ như ở Việt Nam mà như thế là đi tù hết rồi.

Còn nhiều câu hỏi nữa, nhưng đã hết giờ. Nếu bài nói chuyện của Nhã Ca ngắn gọn, chú trọng hơn vào hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì buổi nói chuyện đã có phần trích đọc và nhiều câu hỏi nữa để người tham dự, nhất là những sinh viên, có thể đào sâu thêm một số vấn đề liên quan đến tác phẩm.

Vì như giáo sư Peter Zinoman đã nhận định: “Giải khăn sô cho Huế là tài liệu lịch sử quan trọng nhất về biến cố Tết Mậu Thân ở Huế và khi tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam cần đọc nó bên cạnh All Quiet in the Western Front và những tác phẩm khác.”
1 user thanked Phượng Các for this useful post.
xv05 on 3/4/2015(UTC)
Phượng Các
#14 Posted : Tuesday, May 30, 2017 4:02:20 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Của Nợ


Xe chạy quá nửa ngày mới qua khỏi ranh giới Bình Tuy - Phan Thiết. Lại có câu chuyện vui của hai ông già ngồi cạnh nhau ở hàng ghế giữa xe. Giọng ông cụ râu ba chòm sang sảng:

“Xe đang chạy ngon trớn, mà thằng chả gọi giựt giọng la như cháy nhà. Cho xuống. Cho xuống. Tài xế chửi ầm lên, nói cái gì, mua vé tới Phan Thiết, sao mới qua ngã ba ông Đồn đã đòi xuống. Thằng cha mang kiếng râm, có cái gậy dò đường gác lên đùi, chưng hửng. Ủa tưởng tới Phan Thiết rồi. Rõ ràng ngửi thấy mùi…nước mắm. Chị đàn bà ghế bên cạnh đang ngủ há hốc miệng, dạng hai chân ra, tỉnh cả ngủ, giật thót người, khép đùi lại. Tài xế càu nhàu mà thằng cha kiếng đen thì cười tủm tỉm…”

Ông cụ râu ngắn tua tủa, ngồi cạnh cửa sổ có treo tòn ten cái lồng chim, cười sặc sụa. Cười mà nghe như tiếng la của người bị chẹt cổ. Không chỉ riêng ông cụ, hình như mọi tiếng cười trên xe đều khác thường. Có lẽ vì xe dồi dập quá.

Ông cụ râu ngắn xuề xoà dễ thương. Con vẹt trong lồng, trái lại, có bộ lông xanh mịn đẹp đẽ, mà sao coi cái mỏ khoằm khoằm thiệt khó cảm tình. In hệt mụ phù thủy trong các chuyện cổ tích, có vẻ dị ứng với tiếng cười, nó giận dữ nhảy nhảy, phẹt trong mỏ ra đủ thứ dơ dáy, rơi vãi cả vào khung cửa. Xe càng xóc, nó càng nhảy loi choi, càng phẹt dữ tợn.

Bác tài, làm như chưa tiêu hết bực bội gặp phải dọc đường, dọt thắng bạt mạng. Bên cạnh, bà vợ mặt mày chầm vầm, cà khịa:

“Biết nó đột xuất, không vọt thẳng cho lẹ, còn dừng lại để sanh chuyện.”

Vẫn bà vợ tài xế, cũng là chủ xe nữa, độc thoại:

“Thiệt tức chết được. Tui đã cúng cả tút thuốc lá Sài gòn Giải Phóng, khi không còn vái lia lịa thêm mấy gói ba số nữa chi. Bảnh dữ. Ha.”

Lại độc thoại nữa:

“Làm như của chùa. Thiệt ngu quá mà. Khi không cúng khan. Làm như ông hạp mấy cái mặt… đó hay sao mà hễ giấc ông chạy là nó xuất hiện.”

Miệng nói, hai tay bà vẫn đếm tiền lia lịa. Bác tài nhấn ga lao tới. Cả xe tối sầm, tưởng trời sập tới nơi. Lạng nghiêng. Vèo một cái như bay. Lại vượt mặt. Hú vía.

“Chạy ẩu nữa đi. Rút bằng lái lần thứ ba coi như treo mõm. Cả chục cái mõm chực ở nhà đó tía. Hứ, bộ điếc đặc rồi chắc. Người gì đâu mà mặt sưng mày sỉa như cái thớt bị vằm. Thấy mà ghê.”

“ĐM. Đủ rồi. Im cái mõm giùm, má.”

“ĐM. Tức sao im được mà im. Nói không đúng sao? Banh ta lông hai cái vỏ rồi. Coi như sở hụi đi đứt bòng bong…Cái mặt ông mới…ha…Ông ơi. Dừng lại. Dừng lại. Có khách lên. Lẹ. Lẹ lên.”

“Dừng gì nữa mà dừng. Nhét lên lòng chị à? Tham vừa vừa, chị kia.”

Một cái đầu ở hàng ghế số hai chồm tới. Anh ta mặc áo sơ mi xanh, quần ka ki. Coi mặt, đúng là cán bộ thứ thiệt.

“Làm phước cho người ta quá giang. Thời buổi này xe cộ hiếm lắm cán bộ ơi. Mỗi người chật một tí cho người ta khỏi lỡ đường lỡ xá. Dừng đi ông.”

Một trong hai chú lơ xe đập đập vào thành cửa. Hỏi vọng xuống đường. Gió vẫn ào ào. Tài xế làm thinh. Xe vẫn chạy bon bon. Chị đàn bà ngồi bên cạnh anh cán bộ thở ra.

“Nực quá. Thở hết nổi. Mở cửa sổ đi.”

Chú lơ xe đưa tay lên định kéo cánh cửa. Giọng bà chủ xe the thé:

“Ê Rạng. Qua trạm, mày đui sao hông thấy mày. Mở ra là dính ngay chóc nữa. Đóng lại.”

Cả hai lơ xe đều là cháu của vợ chồng tài xế. Láu cá, lanh lẹ, chú này tức thì đỡ cho chú kia:

“Chịu khó chút bà con cô bác ơi. Thông cảm dùm, qua trạm là mở cửa liền. Phạt lia chia…chị. Đã phạt là khỏi năn nỉ luôn.”

“Hừm. Phạt còn khoan hồng.”

Chị đàn bà mím môi. Anh cán bộ nhận ra ngay đồng chí.

“Chị công tác cơ quan nào?”

Bắt đầu màn liên hệ công tác.

Khu ghế giữa xe, tập hợp mấy chị buôn hàng chuyến. Ồn ào như chợ vỡ. Cười nói, ăn quà vặt, giỡn hớt. Tay không ngừng lột quít, bóc bánh. Vậy mà lọt vô góc trong sát cửa, một chị đàn bà lạc lõng, ngồi buồn hiu. Trên tay chị thằng bé con khoảng bốn năm tuổi, gầy trơ xương, chỉ thấy cái đầu to tướng, sài lở, tóc cạo lởm chởm. Thằng bé hau háu nhìn vô mấy cái miệng nhai mà mẹ nó thì cố đưa tay đẩy nó nhìn về phía khác.

Qua trạm kiểm soát, cửa sổ được kéo lên. Ném cái vỏ quít ra cửa, qua mắt thằng bé, một chị quay nhìn ông cụ râu ngắn, cười:

“Cụ ơi.”

Tưởng gì, cụ ông ngóng mặt chờ.

“Cụ có con chim đẹp quá.”

“Chim của cụ phải không?”

Biết bị trêu, ông cụ làm thinh, ngó mông ra ngoài cửa. Cây cối vùn vụt chạy trở ngược.

Cam, quít, chôm chôm do mấy chị đi buôn ném tới phía trước. Hai lơ xe chụp, bắt. Kìa, cả anh cán bộ đang bận “tham quan” nữ đồng chí cũng được ném tới mấy trái quít. Móc ngoặc mà. Ngay ở trạm xét đầu xa lộ, một số hàng vải lọt tỉnh queo. Cán bộ đã kín đáo can thiệp.

“Má à, má ơi. Con đói bụng.”

Hai khuôn mặt mẹ con, da tái bủng như chì, hẳn cùng bị một chứng sốt rét.

“Ngủ đi. Dựa đầu đây nè. Biểu ngủ.”

Mấy chị đi buôn nhìn bà mẹ với vẻ khó chịu. Mặt mũi khó coi quá. Người gì mà từ lúc bước lên xe, ngồi ủ rũ, chẳng thèm nhìn ngó ai.

Một tiếng ha dài. Chị nào đó thở ra, rồi những trái quít chuyền nhau nữa. Mấy chị đùa bỡn quá trớn thiệt, hai lơ xe mặt mũi non chẹt, nhưng mắt cũng hỗn lắm.

“Nhìn gì cha.”

Một cái vỏ chôm chôm bay tới. Chú lơ xe tên Rạng né được, cười thiệt đĩ.

Đang vui, bỗng một giọng rụt rè, lạc điệu:

“Bác tài ơi. Dừng xe một chút. Dừng cho…bị tui…”

“Gì nữa đây? Có xuống cũng đợi tới trạm, đâu xuống ngang vậy được. Bác muốn xuống há?”

“Không. Bị tui…tui…”

“Ông cụ muốn “lái”. Cho ông cụ lái thử đi bác tài ơi.”

Giọng còn thanh niên. Mọi người cười rộ.

Chỉ có bác tài là không cười nổi. Sáng ra ngõ có gặp gái không mà xui tận mạng. Có bị rơi vào giờ lưu niên không mà chậm trễ đủ thứ. Tới ngã tư Phan Thanh Giản, Hai Bà Trưng, nghe thổi roét roét. Công an núp đằng sau trụ đèn. Rề ra, giam không ra giam, tha không ra tha. Điều đình, năn nỉ, điếu đóm. Tên công an mặt còn vắt nước lã. “Nước lã thôi, mẹ nó, sữa đâu ra mà vắt.” Vậy mà bác phải bật diêm, che gió, mồi thuốc lá. Nữa, tới xa lộ, chận xét, xuống xe, dỡ hàng…Mấy bà đi buôn cũng đâu có vừa, hàng họ đủ thức hầm bà lằng. Rán dấu cho mấy bà rồi, mấy bà còn được thể, chất thêm lên cho đã…Tội nghiệp cái xe, quá tải. Hai lần thay bánh rồi chớ ít đâu. Điệu này, tới Phú Tài, dính nữa.

“Dừng lại cho người ta…”

Giọng người vợ như thọc dao vào cổ bác tài. Rầm. Một ổ gà. Cả xe nhẩy nhổm. Rầm nữa. Còn gì là xe, là người. May quá, qua đoạn đường xấu, xe lại bon bon.

“Bác tài ơi, làm ơn…”

Ông cụ râu ba chòm đấy thôi. Mới đó, mặt mày rạng rỡ, kể chuyện nước mắm Phan Thiết, giờ dúm dó trông tội nghiệp. Một người đàn bà mập ú, nãy giờ ngồi dãy ghế chót, ngủ hết biết, cũng mở bừng mắt:

“Cái gì? Mấy con lợn của tui ở trên mui xe kêu dữ quá. Có dừng xe chưa? Ế, Rạng, Rạng, cho nó uống tí nước.”

Chẳng ai nghe tiếng lợn kêu. Lơ xe cười cười:

“Có bà khát nước thì uống đi. Tội quá, má. Tự nhiên kêu rầm lên.”

“Không phải há?”

Bà ta nghẹo đầu ngủ tiếp, thiệt dễ. Bà chủ xe vội cuộn tròn mớ tiền, nhét vô bụng, đi xuống cuối xe. Có tiếng gà sống kêu. Bà chủ xe vừa đạp phải nó. Phải vất vả lắm, bà ta mới leo qua được đống hàng, lách qua đám người ngồi ghế xúp.

“Có dầu đây. Bác cần hông?”

Ông cụ râu ngắn chủ lồng chim, đỡ chai dầu, nói:

“Dầu mà ăn nhằm gì. Bác đây đau bụng đi cầu…Đau dữ lắm.”

“Khổ, mới đây dừng thay bánh xe, sao cụ không đi cho cụ ơi…”

Ông cụ lúng túng. Bạn già đỡ lời:

“Mới đau đây thôi, bà chị. Đau bụng thì ai biết khi nào nó đau.”

Anh cán bộ lớn giọng:

“Này, lái xe. Dừng cho người ta nàm vệ sinh.”

Xe đang qua mấy trụ sở hành chánh, rồi đồn công an nữa. Mọi người nhìn ra, thấy cờ đỏ sao vàng phất phới.

Giọng bà chủ xe ngọt xớt:

“Bác ơi, chịu khó chút đi. Ráng qua khỏi đây, chạy tới nữa mới dừng được.”

“Chị nói bác tài dừng đại đi. Người ta tới nơi rồi…”

Bà chủ xe nhìn lui, lắc đầu:

“Hổng được đâu. Ý cha, tui mà biểu một tiếng là thằng cha càng sùng máu, dọt lẹ hơn thì có. Bị…bà con cô bác đi xe đò cũng hiểu. Làm dâu trăm họ bà con ơi. Xe của mình, mình làm chủ. Hư hao, sửa chữa, mua sắm vỏ ruột gì, gì cũng chủ xe chịu. Nhưng nhà nước quản lý, bán vé, thâu tiền.

30Tuyến đường chủ xe có mấy ghế à. Vậy mới phải xin bà con cô bác thông cảm vụ rước khách dọc đường. Không rước thêm, lấy đâu ra vỏ ruột mà chạy. Ha, khổ lắm, bà con không biết đâu. Riết rồi chịu không thấu…”

Ông cụ râu ba chòm mặt đã tái ngắt. Mồ hôi rịn giọt trên trán. Ông thu cả hai chân lên ghế theo thế ngồi sẵn sàng. Tay giữ chặt bụng.

“Này chị ơi, người ta chịu hổng thấu kìa…chị nói những gì đâu.”

Lơ xe đứng chắn ở cửa:

“Coi. Lại trụ sở hành chánh. Cái gì nữa đây…Mặt trận…trụ sở phường. Ý cha, thứ dữ hông…Nín. Nín chút cụ ơi.”

Bà chủ xe:

“Ừa, rán đi bác. Chút xíu. Chút xíu. Tới liền.”

“Cái bà này mới vô duyên. Ỉa cục cứt cũng như đàn bà đẻ. Bà đẻ, bà nín được hông mà biểu người ta.”

Một giọng nặng vẻ càu nhàu. Ông cụ rùng mình mấy cái, rên:

“Ui cha. Ui cha…Tui, tui…Ui…”

“Khổ chưa. Xì mẹ nó ra rồi.”

Ông cụ râu ngắn ngồi bên giật thót người. Con vẹt trong lồng bỗng nhảy dựng, kêu lên một tiếng: Cục. Tưởng nó lại nổi giận. Không, con vẹt có vẻ khoái trá. Nó đổi giọng êm ái: cục cù rù, cục cù rù…

“Không xong rồi bác ơi. Chao ơi…”

Ông cụ râu ba chòm buông tay ôm bụng, đưa về phía bạn già muốn níu. Ông cụ râu ngắn một tay giữ bạn, một tay đưa lên.

“Đã tới nước này thì…cũng phải liều thôi. Bác cứ làm đại đi. Ai có bao ny lông không? Lẹ lên. Nín không xong đâu…Đấy. Rán, rán tí.”

Mấy túi bọc trái cây vất dưới chân, được lượm lên. Cái nào cũng teng beng hết. Mấy bà thăm nuôi cúi lôi từ trong giỏ xách ra những bọc nhỏ, gỡ bớt lớp ni lông bao ngoài. Được bốn năm cái. Mấy người đàn ông với ông cụ có lồng chim vây lấy ông già râu ba chòm. Đàn bà cũng dồn cục, đạp cả lên nhau.

“Ngồi đại lên ghế.”

“Bỏ quần ra. Già rồi mà còn nai nịt chi chắc chắn vậy nè.”

“Lôàng ba bốn cái bao nữa coi. Lẹ lẹ cho chút. Mấy chị đi thăm nuôi, hy sinh thêm…”

“Còn ngượng nữa, cha. Ngồi chồm hổm đại đi. Vậy đó.”

“Bỏ tay ra. Túm chi nữa vậy. Bỏ ra, nó dính đầy hết giờ.”

“Khổ qua, cụ còn muốn che con nhím. Mấy chị ngó gì dữ vậy, nó sợ thun cha nó hết rồi.”

“Đồ mắc dịch.”

“Ý cha già ơi…Đừng nhúc nhích. Từ từ…ý…ặc…ặc…”

“Dữ dội quá vầy nè.”

“Súng xưa, cổ quá, bắn gì kêu phành phạch, rồi phành phạch…”

Người đàn ông phụ với ông cụ râu ngắn giữ bọc bao ni lông quay mặt ra sau thiếu điều gãy cổ:

“Khiếp. Khiếp quá cụ ơi. Ắc…ắc…xì…”

Một ông phía sau nhón lên:

“Sướng chưa bác ơi.”

“Phướng”

“Phẻ”

Cả xe cười ầm, mặc cho mồm miệng lãnh đầy mùi phẩn.

“Ông nội ơi, thúi gì mà thúi dữ thần.”

“Giấy nè. Lau đỡ bác ơi.”

“Phướng. Phẻ. Quá xá đã, phải hôn?”

“Túm lại đi. Trời đất, còn chưa cột lại nữa.”

Người đàn ông túm chặt miệng túi lại. Xin thêm tờ nhật trình Sài Gòn giải Phóng bao thêm một lớp ngoài nữa. Mặt ông già sướng rân. Ba chòm râu cứ nhúc nhích, nhúc nhích.

“Cám ơn bà con cô bác. Thiệt muốn chết luôn. Cám ơn. Cám ơn. Cám ơn bác. Cám ơn mấy cậu, mấy chị. Mấy chị đi thăm nuôi học tập phải hôn? Tui cũng đi thăm thằng con đang cải tạo ở trển.”

“Vượt biên hay phản động, bác?”

“Không, nó đi tù hình sự.”

“Dữ hôn. Hình sự, bộ…”

“Ăn cắp, trộm cướp?”

“Hổng phải đâu. Thằng con tui thiệt thà lắm…Bị nó chém người ta.”

“Hơ, thiệt thà mà giết người, ông cụ có lẩm cẩm không?”

“Thiệt mà. Nó chỉ nổi sùng xách dao làm cái rụp. May còn ngắc ngoải đưa vô bệnh viện cứu sống, không đã tử hình rồi.”

“Thứ dữ”

“Dữ dằn gì ba con cô bác ơi. Nó hiền khô à. Gặp hoàn cảnh nó ai cũng nổi điên như nó thôi. Nó bị thằng khu vực mần tiền quá chịu không nổi. Rồi thằng khu vực còn tính làm hỗn con vợ nó, nó lụi liền một dao.”

Mấy cái lưỡi le ra. Anh cán bộ nhăn mặt. Con vẹt trong lồng lại xù lông, nhẩy dựng lên: Cục cù ru. Cục cù ru. Lạ chưa. Vẹt mà sao nó kêu cục cù ru, nghe êm như tiếng chim câu gù nhau. Ông già râu ngắn vỗ cái đét vào đùi bạn:

“Cù ru. Cu rù. Phẻ phắn. Quá xá quà xa, há? Thôi bác ơi, bỏ cái gói xuống chân. Vàng bạc, hột xoàn gì mà ôm khư khư vậy.”

Không ai để ý tới cái xe đang chạy. Nãy giờ, bác tài xế có cho chậm xe lại. Thỉnh thoảng bác liếc qua kính chiếu hậu, miệng chửi thề búa xua.

Mọi cửa sổ lại được kéo kín mít. Trạm kiểm soát nữa. Lơ xe kêu oai oái.

“Ngồi ngay lại dùm. Bà con. Lẹ đi. Mấy cái ghế xúp chịu khó thụp dùm cái đầu xuống. Ba, còn cái cửa sổ kìa. Có đóng ngay lại không?”

Cửa sổ ngay chỗ cán bộ ngồi. Lơ xe vừa kéo lại, tức thì, chị đồng chí kêu lên:

“Mở ra. Trời ơi. Đóng cửa, thúi quá, nghẹt thở chết mất. Mở ra.”

Qua cơn xất bất của ông cụ rồi, giờ mới tới lượt cả xe lãnh đủ. Mấy bà hết cười nói nổi, rên rỉ:

“Ghê quá đi. Chết mất.”

Mùi phân càng lúc càng nồng lên, như đã chui vô cổ họng mọi người, nuốt bao nhiêu nước miếng cũng không chịu xuống bụng. Sự vui vẻ, lòng tử tế ban đầu, bây giờ biến thành tiếng cằn nhằn, chửi thề.

Vừa qua trạm, cửa sổ được lùa ra. Thôi thì, cả dãy đầu thò ra ngoài, hít lấy hít để. Lơ xe:

“Bà con đưa đầu ra, xe ngược chiều nó xin cái đầu làm banh, ráng chịu à nghen.”

Lạ. Sao cửa đã mở tung mà mùi phẩn vẫn luẩn quất trong xe, nhất định không chịu tan theo gió. Xe vừa ra đồng trống, giọng anh cán bộ như ra lệnh:

“Còn chờ gì nữa mà chưa giục nó ra ngoài. Ném đại đi.”

Có giọng phụ theo:

“Giục đại đi. Cụ ơi. Giục mẹ nó ra cửa.”

Bà chủ xe:

“Y cha. Khoan. Khoan giục. Đang qua một cái trạm cải tạo đó. Giục xuống lính gác tưởng phá hoại, nổ súng là tiêu luôn bà con cô bác...”

Tiếng ơi của bà chủ xe cũng bị đứt khúc vì sặc mùi. Ai đó rên rỉ:

“Giời ơi là giời…Càng lúc càng nồng nặc…chờ tới bao giờ.”

Con vẹt. Lại nó nữa, bắt mùi hay sao mà lại cục cù ru, cúc cù rù. Nhảy nhót loi nhoi như hứng chí.

“Im. Ông nội mày. Thúi hoắc mà ca hoài.”

Ông cụ râu ngắn, nhìn con vẹt, cố khôi hài:

“Ca sĩ. Nghỉ chút. Chờ bớt thúi hãy cất giọng oanh vàng.”

35Chẳng ai cười. Mặt ông cụ râu ba chòm, mới nhẹ nhõm đó, lúc này coi ngượng ngập, rụt rè. Cụ liếc nhìn bà con trong xe, rồi liếc xuống cái gói bọc tờ Sài gòn giải Phóng. Thiệt là của nợ. Ôi giời. Đúng là nó hành ông, chỉ mấy phút mà thấu ông trời xanh. “Giải Phóng” ra khỏi ông rồi mà sao nó còn hành đồng bào dữ vậy nè. Chỉ việc giục cha nó ra cửa sổ xe là êm re, mà sao cũng khó khăn, đủ thứ trở ngại. Ông bạn già râu ngắn, mới truyện trò, giúp đỡ, giờ cũng quay mặt đi ngả khác. Chỉ có anh cán bộ ngồi ghế trên có vẻ ít bị chi phối nhất. Anh ta đang bận “liên hệ công tác” chặt chẽ với chị đồng chí ngồi cạnh. Cả hai đang “bảo quản bí mật công tác”, cố kiềm tiếng nói, tiếng cười, không cho phì ra. Mắt anh cán bộ liếc quanh, đầu rụt thấp, co người lại. Trên miếng kiếng nhỏ chiếu hậu, bác tài đưa mắt, nói lớn:

“ĐM. Vặn cổ cái con cục cù ru đi. Cu ru cái củ…”

Không trầm trọng lắm đâu. Giọng bác tài đã bớt vẻ gay gắt. Xe vẫn giữ một tốc độ. Bà vợ:

“Thằng cha vô diên…”

Mùi phân vẫn nồng nặc. Lại bàn cãi sôi nổi:

“Ăn nhằm cái gì mà thúi dữ dzậy.”

“Thì ông già đớp lia. Ở bến xe làm một hơi mấy cái bánh ít, rồi bánh cam. Thấy hông, cái rổ bánh cam của con nhỏ ruồi bu đen kịt. Ăn tạp vậy không đau bụng cũng uổng.”

“Tui nói thiệt, cái bao tử của tui từ ngày Giải Phóng ăn bo bo mà chịu được thì khỏi phải sợ dịch tả dịch hạch nữa đi. Nó thành sắt thành thép hết trơn rồi.”

“Cha mày. Đòi ăn cái nỗi gì. Hửi chưa no sao đây. Chết tiệt.”

Chị đàn bà bế con, người xanh như tàu lá, ốm tong teo, bé loắt choắt mà hét lớn tướng. Còn phát cái đét vào đít thằng nhỏ. Thằng bé ngoác mồm, khóc hà rầm. Chị ta bịt miệng nó.

“Câm. Ngậm miệng lại không. Ui giời ôi. Ngậm”

“Tội nghiệp. Nó đói quá rồi.”

“Còn vài củ khoai, đòi bằng được rồi lát trưa lấy cứt nhét vô miệng mày há…”

“Hừm.”

Anh cán bộ quay lại nhìn. Chị cán bộ kéo áo ngồi ngay ngắn. Người đàn ông ngồi kế chị ta đưa tay che miệng ngáp hoài. Nãy giờ, anh ta buồn ngủ mà không ngủ được. Tội nghiệp, mặt mày anh ta còn căng thẳng hơn cả những người trong xe đang chịu trận chung.

Khổ nỗi vận tốc xe sao cứ đều đều. Lơ xe cho biết, ngang đồn công an, mấy trại cải tạo mà chạy nhanh cũng dễ bị tình nghi, chặn lại làm khó dễ. Cho nên khi vừa thấy bác tài nhấn ga, dọt tới lẹ làng, bà vợ quay người lại, vui vẻ:

“Được rồi cụ ơi. Giục đại ra.”

Ông cụ râu tua tủa co hai chân lên ghế, nhường chỗ cho ông cụ râu ba chòm đứng dậy, chồm tới bên cửa sổ:

“Coi chừng, nhoài ra ngoài hãy ném. Gió thổi tạt vô lại trong xe còn khổ cả đám nữa, cụ ơi.”

“Yên chí. Tôi biết.”

Ông cụ bỗng mạnh mẽ như một thanh niên. Một tay vịn cửa, một tay sẵn sàng cái gói. Ông chồm người ra, liệng mạnh. Chừng đó con mắt hồi hộp theo tay ông. Cái gói của nợ đã rơi đâu mất hút ở ngoài rồi, mà ông cụ thì né tránh. Một vòi nước tưởng đâu từ trên trời rót xuống, nhẩy múa ngoài cửa xe. Mặt mũi, tóc tai ông cụ ướt nhẹp. Chị đàn bà mập ú, nãy giờ, thây kệ cái gói của nợ bốc mùi, vẫn ngáy o o, bỗng vùng dậy, đập tay vào đùi cái bốp.

“Mèn ơi, cái cặp heo của tui…Nó tưới…hi hi. Tưới sao mà đúng lúc vậy nè. Hi hi, ha ha, hô hô hô…”

Chị ta tiếp tục cười, răng cửa văng đâu hết trơn. Cả xe dậy tiếng cười theo. Tài xế giật mình, cằn nhằn:

“Cái gì vậy? Cái gì. Bộ điên hết rồi hả?”

Bà chủ xe, gập cả người lại, vịn tay vào ghế:

“Chết mất, hi hi…hu hu…”

“Đụ má. Chết chưa. Chết đi…”

Tài xế rủa vợ, rồi mắt dán vào kiếng chiếu hậu.

Ông cụ râu ba chòm đã lùi vô trong, mặt mũi lơ láo, đầu tóc lưa thưa thì ướt nhẹp mà ba chòm râu thì vểnh lên. Coi, mấy chị đi buôn, cười gì mà tới nỗi nước mắt nước mũi ràn rụa. Ông cụ ngỡ ngàng, rồi bất bình, nhưng khi bắt gặp cả nụ cười hả hê của ông bạn già ngồi bên, thình lình chính ông cụ cũng há miệng cười ha hả.

“Hổng sao. Bà con cô bác chịu đựng rồi. Giờ tới phiên tui. Luật nhơn quả mà. Cứt heo thúi khác cứt người một chút, cũng là cứt cả…”

“Khăn đây cụ ơi. Lau đi. Thiệt khổ với cha quá mà.”

Một ông chuồi tớt cái khăn. Ông ta đã hy sinh một bình nước mang theo uống để dấp khăn cho ướt. Sau trận cười hả giận, mọi cái nhìn đến với ông cụ đã đầy vẻ thân thiện.

“Trời còn thương bà con. Hổng phải cứt. Mới nước đái heo. Phải hông? Bà con hửi coi.”

“Lão già mắc dịch, hết bắt ngửi của nợ của lão, giờ bắt hửi nước đái heo…”

Ông cụ cười xuề xòa. Chỉ thoáng chốc, trong xe như rộng rãi hẳn ra. Chị đàn bà ghế hai tám nựng con. Anh cán bộ huýt sáo miệng. Lơ xe mồi thuốc lá cho nhau. Bà chủ xe vui vẻ:

“Bà con cô bác thở đi. Thở nhiều vô cho khoẻ.”

Ông cụ râu ngắn đưa tay lau nhẹ cái lồng chim:

“Ca lên đi. Ca lên cho bà con cô bác nghe mày.”

“Nó biết hát hả bác?”

Anh cán bộ hỏi. Ông cụ khoe:

“Của thằng rể tôi đấy. Nó hát như có Bác Hồ giỏi lắm. Hát coi, mày.”

Con vẹt nhẩy nhẩy như né tránh. Nãy giờ mọi người cười sao nó buồn hiu vậy? Cái mỏ khoằm khoằm. Mắt ứa những gân máu đỏ, làm như chỉ chực mổ người ta. “Động viên” con vẹt không xong, ông cụ đùa với bạn:

“Nó tiếc cái của nợ của cụ đấy cụ ạ.”

“Má ơi, má à. Ăn.”

Lại thằng bé. Ông cụ râu chòm lẹ làng lôi trong bị lát ra mấy cái bánh cam, chuyền qua hàng ghế sau tới tay thằng bé. Nó đút ngay vào mồm.

“Đó, lại cho thằng nhỏ ăn ba cái đồ ma vào, nó lại bĩnh ra thêm một gói nữa.”

Phượng Các
#15 Posted : Tuesday, May 30, 2017 4:05:01 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Chị đàn bà làm thinh. Ai biết chị nghĩ gì. Thằng con thì ăn lấy ăn để, mà chị thì cứ đưa mắt ra ngoài cửa sổ. Xe đi ngang qua những miếng đất khô cằn, cỏ cũng không mọc lên nổi. Rồi một khu xóm có vẻ bỏ hoang từ thời chiến tranh, những hàng dừa xanh, nối tiếp nhau. Có cây dừa, đứng trơ vơ giữa đồng trống, ngọn bứt đâu rồi, chỉ còn thân cây cụt đầu, nám cháy.

Trong xe đò, mọi người đang lúc vui vẻ quá đáng. Lại có chuyện tiếu lâm đời xưa.

…Hồi đó, trai gái hẹn hò chỉ có nước đem nhau ra đồng, chớ làm gì có khách sạn, nhà ngủ như thời bây giờ. Cô cậu tình tự sau bụi cây. Chàng kêu: Anh mà không lấy được em thì anh chết…Nàng cũng: Em mà không lấy được anh thì em cũng chết. Sau bụi cây có ông lão táo bón. Đang khổ cực vì cục nợ đời. Nghe trai gái nỉ non, ông la lên: Tao mà ỉa không ra, tụi bây cũng chết…

Câu chuyện trong đời, người nào cũng đã nghe mòn tai, vậy mà ôi thôi, cười tới nổ bóng đèn.

“Chết thiệt chứ. Ở ngoài tôi, chỉ vì cục cứt mà đánh nhau vỡ sọ nà thường.”

15Giọng miền Bắc đặc sệt. Người đàn ông, nãy giờ chưa hề mở miệng, lên tiếng. Cán bộ nữa chắc? Cũng áo bộ đội mà sao coi xác xơ, tiều tụy.

“Trong Nam, gì chứ món phân tươi, quả nà vượt chỉ tiêu. Ở ngoài Bắc chúng tôi, phân tươi quí như vàng. Các bác mà ra ngoài đồng, ngồi chưa yên chỗ đã có cả chục cặp mắt theo dõi, rình mò. Vừa đứng dậy nà đám hốt phân nập tức ùa tới, giành nhau, đôi khi đòn gánh còn phạng nhau vỡ sọ ấy chứ nị…Chả dấu gì cô bác, tôi nà dân Bắc kỳ chính hiệu bà nang trọc đây. Trước cũng nàm nghề bới cứt rồi, mà đủ sống đâu. Nhà nước phát động kế hoạch giãn dân vào Nam. Nghe nói trong Nam đất đai phì nhiêu, ruộng cò bay thẳng cánh, mà Mỹ Ngụy nó thả chất độc màu da cam, phá hoại căng lắm. Giờ, phải di dân ngoài vào tiếp quản, khai khẩn. Nhà nào hưởng ứng kế hoạch vào Nam, sẽ có tiền, cất nhà. Nghe động viên, thèm bỏ mẹ, mà vào rồi thì thấy có cứt gì đâu nào. Được miếng đất rừng, đồng bào đi kinh tế nàm sẵn trước khi bị đuổi vào sâu hơn trong rừng. Mình Bắc Kỳ, hậu phương nhớn mà. Phải có “ưu tiên đãi ngộ” chứ. Hưởng miếng đất trống, vậy nà xong phần đãi ngộ. Địt mẹ nó chứ. Nai nưng ra mà cuốc. Trồng trọt, chưa có cái ăn cũng phấn đấu ỉa ra để có phân tươi, ủ bón. Cả ngày, vợ chồng con cái cứ động viên nhau ỉa…”

Chẳng ai dám hưởng ứng lời bác ta. Có người làm như nãy giờ chưa hề nghe thấy gì hết trơn. Mấy chị thăm nuôi đang bàn luận về mấy ông chồng cải tạo.

“Mấy bà thấy hông. Ngay đường đi vô trại, bên đường cũng có đống phân ủ to như cái đồi. Có bữa đi ngang thấy mấy ông bới, gánh. Mấy ông vục cả tay vô, hốt vào thùng rồi gánh đi. Thiệt cầm lòng không đặng.”

“Ối dào. Còn đỡ. Hầm phân đào cả hố sâu, mấy ông học tập nhà mình phải nhảy xuống, đầm mình trong hố phân, múc vào thùng cho người khác kéo lên…”

Một chị đi buôn đang ăn dở miệng bánh tét, cằn nhằn:

“Thôi đi mấy bà. Nói toàn chuyện…”

Người đàn ông Bắc kỳ giãn dân lại chen vô:

“Đang nói dở, nói tuốt nuôn cho nó sướng nỗ miệng. Ngoài tôi còn khối cái nạ nắm. Ở những khu đông đúc dân cư, không thể tìm đường đi ra đồng để “giải quyết” được. Gặp Tào Tháo đuổi, cũng chạy bở hơi tai mới tới được khu nhà xí, nắm núc bĩnh ra cả quần. Ban ngày còn cái nạn xếp hàng chờ.

Ban đêm, càng hồi hộp thêm. Xong việc, đứng dậy, đi được mấy bước, đã có ánh đèn pin rọi để xử lý bãi phân rồi. Cái rì? Rọi đèn hả? Vâng, rọi đèn. Công an phải kiểm tra cả cứt nữa chứ. Thì “đề cao cảnh giác” mà. Xê I A nó nguy hiểm, nó dám nợi dụng “hố xí hai ngăn” của ta, gài tài liệu, hoặc niên nạc với nhau, chứ nại không hả? Còn nữa, cũng có thể nà dân đi đêm, rình hốt phân tươi. Ngoài chúng tôi, món này quí lắm, khối thằng sống bằng nghề bới cứt…”

Người khách ngồi cạnh anh ta, nãy giờ nghe, cứ cười cười. Chiếc áo lính cộng hòa cũ đã nhuộm đen, giặt nhiều lần bạc thếch, anh ta đưa tay sờ sờ cằm mà chẳng có sợi râu nào.

“Biết vậy. Bác không ở ngoải hốt cứt cho xong. Vô đây, cứt cũng không ai ị ngoài đồng cho bác hốt.”

“Biết. Biết chứ. Nhưng ngoài chúng tôi vừa có phát động phong trào mới, tên nà “hai nhiều một ít”, nên có hơi…khó khăn.”

“Cái gì mà hai nhiều một ít?”

“Hai nhiều là nàm nhiều, ỉa nhiều. Một ít là ăn ít.”

“Ăn ít thì lấy đâu ra mà ỉa. Thôi bác ơi, làm gì có chuyện…”

Anh cán bộ liếc xuống. Anh chàng giọng Bắc kỳ đặc đưa bàn tay lên, mọi người thấy anh ta cụt mất một bàn tay.

“Địt mẹ nó. Hy sinh ở chiến trường miền Nam đấy.”

Gặp thương phế binh rồi. Anh cán bộ quay đi. Lâu nay, xe đò thường bị thương phế binh chặn lại, xét, thu thuế. Mọi người còn nhớ, tết vừa rồi, thương phế binh đòi ăn không xong, đã mở chốt lựu đạn, cho nổ tanh banh một quán ăn ở Tân Định. Thức ăn không được nhồi nhét vô bao tử thì tanh banh cùng với máu thịt của anh ta.

Anh cán bộ quay lại thì đụng mắt nữ đồng chí.

“Cho địa chỉ lần tới có công tác, liên hệ tiếp nhé.”

Chị cán bộ cười tít, mắt có đuôi.

Tiếng cười rúc rích đâu ở mấy dãy ghế sau nghe thật nhột nhạt. Giọng ai đọc khe khẽ: Em như cục cứt trôi sông. Anh như con chó ngồi trông trên bờ. Đâu biết nói ai hay vui miệng, mà chị cán bộ cúi đầu. May quá, giọng Bắc oang oang của người đàn ông cụt bàn tay, đập mạnh vào tai mọi người:

“Này, mấy chị đi thăm nuôi học tập ơi. Hai đứa con tôi nàm việc với mấy chị đó. Đi học hả? Giời ơi, học với hành gì. Phải đi bộ ba chục cây số, tới thị trấn mới có một cái trường. Thầy giáo ngồi ngáp ruồi, bày bắp nướng bán. Nàm sao chân trẻ con đi bộ tới đó mà học được. Mấy đứa con tôi ngày nào cũng chực chờ ngoài lộ để gánh thuê cho mấy chị thăm nuôi này này… Có hôm, tụi nó bị công an rượt chạy trối chết. Tóm được, thu hết tiền còn dọa bắn bỏ. Hỏi mấy bà coi, có bao giờ mà gánh được vào tới cho các bà đâu, phúc đức lắm nà nửa chặng đường, đã phải vứt thí cho mấy bà, lo chạy thoát lấy thân…”

Đến lượt mấy bà đi thăm nuôi chồng cải tạo nhìn anh chàng thương phế binh hi sinh ở chiến trường bàn tay, với đôi mắt thương hại. Anh ta đâu được gì, mà coi, cái đầu tay cụt đỏ hỏn, thành sẹo cứ nhắc anh hoài: chiến trường, chiến trường…chiến thắng, chiến thắng. Tội nghiệp.

Ông cụ râu ba chòm, coi bộ đã nhẹ nhõm, an tâm tư tưởng, lim dim gật lên gật xuống. Lơ xe tên Ba đang tán một chị đi buôn, đá qua đá về. Lơ xe Rạng thọt gậy vô bánh xe:

“Nó con nít vậy mà đã một vợ hai con rồi đó bà ơi. Gan thì dính vô đi…”

“Nhằm nhò gì. Tao bốn năm đời chồng rồi nghe mầy. Mười một quận, cách mạng đi đứt quận nhì, còn mười. Mười quận, tao vô ra đủ rồi, mầy…”

Mấy chị đi thăm nuôi, kẻ quay lui, người xích tới, tụm lại. Không biết kể cho nhau nghe chuyện gì bi thương mà có chị nước mắt lưng tròng…

“Thì đó. Bữa đó có tui chứng kiến tận mắt. Chết chớ sống gì nổi. Ôi thôi, ỉa từ đầu hôm tới khuya. Cứ òng ọc, òng ọc. Thuốc hả? Thì có. Tụi này góp hết thuốc đem lên cho mấy ông ra, uống đủ thứ, cầm nổi đâu…”

“Ăn trúng cái gì?”

“Ăn gì mà trúng. Uống có hớp nước ở trạm xét ngoài cổng trại. Thì khát, xách cả năm sáu chục kí lô, vô tới thì khô người rồi…”

“Đi đâu cũng nghe chuyện chết. Tháng trước mới một người rồi. Nghe nói tù ngoài Bắc chuyển vô. Phạm kỷ luật, nhốt hầm đá…Mấy ông kể, trước đêm anh ta chết, cả trại nghe tiếng hú như ma quỷ kêu… Chồng hả? Xin ra gặp vợ cũng không được, nghe đâu anh ta phát điên luôn rồi…”

32Một chị đi buôn tiếp lời:

“Tui biết chuyện này. Bữa mấy người đi thăm với bà chị bị chết đem đứa con gái của chị ta về cùng chuyến xe đò này. Khóc gì mà khóc dữ. Mấy bả khóc, con bé khóc, ngồi trong xe mà rợn cả người…”

Chị ta buông tiếng thở dài, rồi liếc mắt nhìn ông cụ, vừa mới mở được mắt ra, che tay ngáp.

“Bữa đó, trên xe cũng phảng phất cái mùi như bữa nay này. Từ quần áo của mấy bà và đứa bé bốc ra. Mùi của người ta nghe mà thương đứt ruột, chớ đâu phải dô diên như cụ, cụ ơi.”

“Ừa, thiệt tui già mà vô duyên quá.”

“Không vô duyên đâu cụ ơi. Nhờ cụ mà cuộc tọa đàm về chuyên đề “cứt” càng lúc càng phong phú. Tôi cũng có chuyện muốn đóng góp đây.”

Tài xế, mặt mũi đã dịu lại nhiều rồi, vừa lái vừa nói:

“Anh này nữa. Tiền xe năn nỉ trả có nửa, kể nửa chuyện thôi nghe, cha.”

“Được, được. Tui xin giới thiệu, cán bộ làm ởø cơ quan…Xin lỗi, cán bộ chuyên ngành cục…phân bón…Đó, quí bà con cô bác lại cười rồi…Vâng cục…phân bón. Cục…phân bón của chúng tôi không chiếm công ốc cao lớn, thênh thang như các cục đường biển, cục đường bộ, cục đường sắt. Mà chỉ khiêm nhượng ké một phần địa điểm của cục đường sắt…đường sắt đây là đường rầy xe lửa.”

Buồn cười. Nhiều người đã đoán được hết câu chuyện mà cũng cứ nghệt mặt ra chờ.

“Thôi cha nội. Cục đường sắt gì lại ra đường rầy xe lửa…”

“Đúng vậy. Ở Hàm Nghi có một khoảng đường rầy xe lửa bỏ không nhiều năm nay. Bà con bụi đời khu vực Hàm Nghi, chợ Cũ, ban ngày ban mặt mà tới lúc “công an” gọi là tới ngay đó để “tọa đàm”. Tui cũng vậy, hễ là dân bụi đời, vô gia cư, thì cũng phải ghi tên vào cục…phân bón này…”

Anh cán bộ ho. Chắc anh ta muốn tằng hắng ra oai thì đúng hơn. Giọng anh Bắc kỳ di dân vô Nam ra vẻ dạy đời:

“Thôi đi anh bạn ơi. Đã nói khôn cũng chết, dại cũng chết. Biết thì sống. Anh nói hươu nói vượn gì thế? Sắp tới trại cải tạo rồi đó.”

“Cám ơn anh bạn nhắc chừng. Thì tui cũng hai năm cải tạo rồi đây. Về nhà, vợ con bị cá ăn hết trơn, mới phải lang thang bụi đời, làm việc tại cục phân bón…Tui đi cải tạo còn có chính nghĩa, vì mình là lính Ngụy, nợ máu đầy mình. Chớ cái bà cụ ở khu xóm “người tình” mới của tui mới là vô duyên. Bữa mới đây này, họp tổ dân phố, cán bộ tới phường thuyết trình tình hình chính trị và những chuyển biến mới của Liên Xô vĩ đại. Cán bộ cho biết, bên Liên Xô sướng lắm, nhà ở đêm không phải đóng cửa… Lời cán bộ chân thành mà có đứa phản động dám xuyên tạc nói là cửa đâu mà đóng, cạy gỡ làm củi sưởi mùa đông rồi…Còn bà cụ mới khổ, già, ngớ ngẩn, lại lãng tai. Cán bộ nói chủ tịch mới bên Liên Xô là cái ông ba chớp ba nháng gì đó. Bà cụ ngóng hoài, lọt vô lỗ tai cái gì mà gốp ba ra cốp lốp chốp…Bà cụ mới gật gù: À tên tuổi bên Liên Xô vĩ đại thiệt lạ há: Móc cức khô ra đớp…ra đớp, ra đớp…

Đợi cho bà con xong trận cười, anh ta thở dài, não nuột:

“Bà con cô bác biết đó. Cũng vì bà con đã cười mà bà cụ bị nhốt vô Phan Đăng Lưu. Bà cụ bị nhốt, thân tui lại càng đau khổ, bởi vì tui là “Người tình không hộ khẩu” của con gái bà cụ…Tui phải bỏ thành phố ra đi, góc biển chân trời…”

Cán bộ nữ ghé tai đồng chí. Cả hai mặt mũi có vẻ khẩn trương. Mấy chị đàn bà còn cười dai dẳng. Còn anh chàng, đang rầu rĩ, bỗng cất giọng hăng hái, hớn hở:

“Bác tài ơi. Cho xuống. Xuống.”

Trời sụp tối lúc nào không hay. Xe thắng gấp làm mọi người nhào lộn. Anh khách “cục phân bón” lẹ làng bước xuống. Bộ đồ cũ vá nhiều miếng và cái túi xách nhẹ hều, anh ta còn đưa tay chào tài xế:

“Cám ơn. Mới có nửa câu chuyện đó nghe, cha.”

“Thằng láu cá. Hắn lên xe lúc nào vậy?”

Cán bộ hỏi trổng. Không ai trả lời. Nơi kính chiếu hậu, vài người thoáng thấy nụ cười của bác tài.

Có tiếng ca lảnh lót vang lên từ cửa xe: như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng…”

“Thấy chưa bà con. Nó ca đấy.”

Ông râu ngắn cao giọng, khoái trá ra mặt. Ông cụ râu ba chòm với tay qua người bạn già, đập đập vào lồng chim.

“Ca đi. Ca tiếp mày. Vẹt.”

“Đụ má mầy.”

Bất thình lình con vẹt chửi. Cả xe lại cười nghiêng ngửa. Thì ra nó biết nói. Ông cụ râu ngắn lắc đầu:

“Tệ thiệt bà con coi. Nó biết ca chớ. Vậy mà lì lắm. Khi tới cơn thì ca hát luôn miệng, không thích là ngậm tăm, bẻ cổ cũng không nhúc nhích. Lại cứ thích làm chim cu nữa kìa, bắt chước kêu cho được cục cù rù, cục cù ru…Đừng gọi nó là vẹt. Hễ gọi Vẹt là nó chửi.”

“Ê, Vẹt. Vẹt.”

Trong xe rộ nhiều tiếng la.

“Đụ má mầy. Đụ má mầy.”

Con vẹt xù lông, nhảy vòng vòng. Chỉ chửi. Nhất định không kêu cục cù ru, cúc cu rù nữa.

Thấm của nợ. Đủ chuyện. Mệt. Đói. Hành khách bớt hăm hở. Mọi người hỏi tài xế sắp tới chỗ dừng lại nghỉ chưa. Bà chủ xe hứa hẹn sắp được nghỉ ngơi ở quán cơm tới. Chừng tiếng đồng hồ xe chạy nữa thôi.

Hai cụ già đừ rồi, nghẹo cổ, dựa đầu, nhắm mắt. Tài xế tắt ngọn đèn trần. Anh cán bộ tức thì thụt đầu xuống, rồi cả cái đầu của chị cán bộ nữa.

Cây cối bên ngoài, lờ mờ như bức tranh bị bôi dập. Thoang thoáng những đốm đom đóm lập lòe. Lâu lâu, một vài đóm lửa, nhà ai giữa đồng. Rồi từ sau bóng cây, hiện ra một bóng trăng non. Trăng cứ đuổi theo xe mãi.

Trong bóng đêm, chiếc xe cứ vậy lao tới như một con vật không ngớt gầm gừ. Bỗng một tiếng nổ lớn. Vài tiếng la. Chiếc xe lảo đảo chồm tới, vòng vèo, muốn lật. Cả xe nhốn nháo. Máy rú lên rồi tắt phụt. Đèn xe tắt theo. Chỉ có bà mập, lơ mơ nửa ngủ nửa thức, giọng nhựa nhựa:

“Tới rồi hả?”

Một ánh đèn pin soi. Giọng bà chủ kinh hoàng:

“Mèn ơi.”

Chiếc xe húc vào một mô đất, nằm chênh vênh. Phía dưới là đáy vực sâu thăm thẳm. Chỉ giọng bà chủ xe là còn đủ hơi sức.

“Lạy thánh. Lạy ba cô, bảy miểu…Đã đỡ cho…Rạng. Ba. Rạng. Chúng mày đâu? Hai thằng trời đánh. Đem nhang đèn, chuối, bánh ra lễ tạ…Thánh ơi…”

Có tiếng cười xì của anh cán bộ, ra điều khó chịu vì sự mê tín của bà chủ xe. Nhưng khi anh ta chồm tới, nhìn cái miệng vực, anh cũng co đầu rụt lưỡi. Xe lại bể bánh lần thứ ba. Lần này, nhằm ngay cái bánh trước.

“Phước đức lắm thánh mới đỡ cho đấy.”

Bà chủ xe không ngớt hít hà.

Giữa rừng. Con trăng lưỡi liềm không nỡ chạy nữa, dừng lại, ngó xuống. Một cái đèn bão được đốt lên. Trong ánh lửa bập bùng, trên từng khuôn mặt hành khách, còn nguyên vẻ hoảng hốt.

Hai ông cụ xuống xe, bê theo cái lồng chim. Chị thăm nuôi mang xuống giỏ gà sống. Bà mập cầm cái bình dấm dúi cho lơ xe.

“Thôi bà ơi. Xe còn chưa lo, lo cho heo của bà. Heo quan trọng hơn mấy cái bánh xe sao đây.”

“Mày nghe nó kêu không? Nó khát, khô cổ rồi. Lẹ lên.”

“Cái bà này…Để cho người ta…Thiệt kỳ đà cản mũi…”

Tài xế gọi mọi người xuống xe hết. Nhìn cái bánh xe xẹp lép, ông ta ngao ngán:

“Hết bánh sơ cua rồi. Phải đợi có xe xuống quá giang tìm chỗ vá vỏ ruột. Đù má, vỏ ruột gì cũng lô can không, mới chạy một tháng đã banh ta lông mẹ nó hết trơn. Cô bác, mời xuống. Xuống hết. Còn bà nội nữa. Mời bà nội xuống ngay cho, bộ phải cõng xuống sao đây.”

Tài xế nổi quạu. Chị đàn bà, vẫn ngồi trong góc, ôm đứa con nhỏ. Mệt. Đói. Đờ đẫn một lúc, chị cũng mang thằng nhỏ xuống được.

Tài xế:

“Đó, dư thời giờ cho bà con cô bác nghỉ ngơi. Ai muốn đi ỉa thì đi ỉa đi. Làm ơn ỉa cho nhiều vô. Vá xong xe, tới quán tha hồ mà ăn.”

“Thằng cha cà chớn…”

Có tiếng rủa, nhưng rồi mọi người cũng thông cảm. Coi kìa, cả sản nghiệp của bác ta, cái xe đò, nằm mọp như như một đống sắt rỉ ngay bên miệng vực thẳm. Không chỉ bánh xe xẹp lép đâu. Hình như, chỉ cần một cái rung nhẹ, một hòn đá bất ngờ, không chừng cả cái xe cũng rã ra thành nước.

Vậy mà nó vẫn ì ạch chở bao nhiêu là sinh mạng, đùa với rủi may. Còn lâu nó mới tới được bến.

Chẳng ai còn hơi sức thắc mắc tới điều này. Cục cù ru. Cúc cù rù. Cái con vẹt khỉ gió, cứ bắt chước tiếng kêu của loài chim câu. Ông già râu ngắn trao cái lồng cho ông bạn râu ba chòm:

“Bác giữ nó dùm chút. Giờ tới phiên tui vô bụi.”

Thụy Điển, 1990.
Phượng Các
#17 Posted : Tuesday, October 22, 2019 2:59:21 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,303
Points: 18,846
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 633 time(s) in 594 post(s)
Mừng Sinh Nhật 80 và Tái Bản 2 Tác Phẩm của Nhã Ca: Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng & Truyện Dài Phượng Hoàng





WESTMMISTER (VB) – Nhà văn Nhã Ca, chủ nhiệm sáng lập của nhật báo Việt Báo đã được đại gia đình Việt Báo và bạn hữu xa gần chúc mừng đại thọ 80 và tái bản phát hành Nhã Ca Hồi Ký và truyện dài Phượng Hoàng trong đêm Thơ Nhạc và Bạn Hữu rộn ràng tiếng cười và đầy ắp tình thân tại hội trường Việt Báo, trên đường Moran, thành phố Westminster, miền Nam California, Hoa Kỳ, vào chiều tối Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10 năm 2019.

Xướng ngôn viên Thụy Trinh điều hợp chương trình đã cho mọi người biết rằng nhà thơ Trần Dạ Từ hôm nay đang bệnh nên không có mặt trong đêm nay và vì vậy “tất cả chúng ta cùng thay mặt chú Trần Dạ Từ chung vui với cô Nhã Ca.”

Lời mở đầu mừng sinh nhật trong đêm Thơ Nhạc và Bạn Hữu là từ nhà văn lão thành Doãn Quốc Sĩ, năm nay đã 96 tuổi. Qua giọng đọc chậm rãi, rõ ràng và hơi hám còn mạnh mẽ trong một bài viết sẵn, nhà văn Doãn Quốc Sĩ nhắc lại những kỷ niệm thân thiết của ông với nhà văn Nhã Ca và nhà thơ Trần Dạ Từ cũng như mối thân tình giữa hai gia đình. Nhà văn Doãn Quốc Sĩ kể:

“Tôi và Từ cùng đi học tập cải tạo ở trại Gia Trung, gần thành phố Pleiku. Ở nhà, Nhã cũng như bà xã tôi phải vất vả xoay sở để vừa sinh tồn, vừa đi thăm nuôi chúng tôi trong tù”.

Hài hước nhất mà có lẽ cũng chỉ có ở đất nước cộng sản là câu chuyện nhà văn Doãn Quốc Sĩ kể rằng chỉ vì hôn người vợ hiền lặn lội đường xa từ Sài Gòn lên Pleiku thăm chồng và được chồng hôn trước mặt cán bộ cai tù mà nhà thơ Trần Dạ Từ đã bị “la là ‘đồi trụy’ và bị cắt ngắn cuộc gặp” mặt hiếm hoi đó.

Nhà văn Doãn Quốc Sĩ kể tiếp chuyện ông và nhà văn Nhã Ca đi thăm nhà báo Hiếu Chân và nghe được 2 câu thơ mà ông nhớ mãi:

“Khi tôi ra tù lần đầu vào năm 1984, tôi và Nhã hay cùng đi thăm các bạn bè văn hữu. Nhớ thỉnh thoảng hai anh em đi thăm ông bạn già Nguyễn Hoạt, hay Hiếu Chân, ở cổng xe lửa Trương Minh Giảng. Ông bạn có 2 câu thơ vui nổi tiếng:

“Người ta hiếu lợi hiếu danh

Nào ai lại có như mình hiếu chân…”

Nhà văn Doãn Quốc Sĩ kết thúc phát biểu với lời chúc mừng nhà văn Nhã Ca sinh nhật 80 và chúc bà có thêm 20 năm nữa chung sống hạnh phúc với nhà thơ Trần Dạ Từ và với các con cháu và bằng hữu.


“Em có lũ con thơ

bị quê hương ruồng bỏ

Từ bóng tối hận thù.

Em nghiến răng...

Ném con cho giông tố...”


Khi tiếng hát cao vút của nữ ca sĩ Bích Liên cất lên trong nhạc phẩm “Ném Con Cho Giông Tố” của thi nhạc sĩ Trần Dạ Từ người nghe có cảm giác như vừa được nhấc lên cao bởi những cơn sóng lớn của các biến cố đã xảy ra tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua mà nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca là những chứng nhân kể lại trong các tác phẩm của họ. Cùng chung nghiệp vận của dân tộc, nhà văn Nhã Ca đã phải đau đớn “nghiến răng” để cho những người con của mình vượt đại dương sóng to gió lớn đầy gian nguy trên đường đi tìm tự do.

Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, trong phần giới thiệu về cuốn Nhã Ca Hồi Ký, nói rằng cuốn sách này đã được viết cách nay 30 năm sau khi nhà văn Nhã Ca ra khỏi nhà tù lớn là đất nước Việt Nam để đến Thụy Điển định cư. Ông nói 2 tác phẩm ra mắt đêm nay nằm trong số hơn 40 tác phẩm của nhà văn Nhã Ca đã viết. Ông cho biết Nhã Ca Hồi Ký không chỉ viết về “cõi âm” mà “trong đó con người chỉ là chất liệu cho phương án xây dựng một xã hội đảo ngược” của cộng sản, mà còn có nhiều điều tốt đẹp và lòng tử tế của con người đối với nhau. Ông kể về tấm lòng tử tế và yêu thương đáng quý của cựu tổng giám đốc Kỹ Thương Ngân Hàng Nguyễn Chánh Lý đối với gia đình nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca. Ông kể trường hợp nhà văn Mai Thảo được nhà văn Nhã Ca chứa chấp ở căn nhà số 142 đường Tự Do, Sài Gòn, khi còn trốn tránh sự truy lùng của công an cộng sản. Nhắc đến lòng tử tế của con người đối với con người, ông Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết nhà thơ Trần Dạ Từ thường dặn dò rằng hãy “cư xử xứng đáng, bình tĩnh thì con cái mới khá.”

Nhã Ca Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng đã được nhà văn Nhã Ca viết tại Thụy Điển năm 1989 và do Nhà Xuất Bản Thương Yêu xuất bản lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1991. Lần tái bản này, năm 2019, dày hơn 650 trang, gồm 3 phần phụ lục.

Nhà thơ Trịnh Y Thư, đang phụ trách Nhà Xuất Bản Văn Học, giới thiệu cuốn truyện dài Phượng Hoàng. Ông cho biết rằng:

“Phượng Hoàng là tên một loài chim thần thoại, bay lên từ cõi hoang tàn đổ nát, đó cũng là tên của nhân vật chính trong truyện. Có lẽ chị Nhã Ca đã viết cuốn truyện này từ thời rất sớm trong sự nghiệp văn chương của chị. Cuốn sách thuật chuyện cô nữ sinh tỉnh nhỏ yêu người thầy giáo của mình, và những bi kịch cũng như thảm kịch của cô gái và gia đình cô xảy ra sau đó. Tuy nhiên, cô gái không gục ngã mà với tất cả sức mạnh và ý chí đã vượt qua bao nghịch cảnh để vươn lên tìm lại lẽ sống.

Có lẽ đó là ý nghĩa của chữ Phượng Hoàng.

Cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1969, cách đây đúng nửa thế kỷ. Gọi là sách mà không hẳn là sách. Chính nhà văn Nhã Ca đã nói như thế, bởi vì tuy nó được in như một cuốn sách nhưng thực chất mang hình thức như một tờ tạp chí khổ nhỏ, bìa mỏng, in ấn sơ sài, giá rẻ, bày bán tại các sạp báo có gần như khắp nơi tại miền Nam VN trước 75.

Như chúng ta biết, sau 1975, toàn bộ nền văn học Nam VN bị nhà nước Cộng sản tìm cách truy diệt. Cùng với những tác phẩm văn học của các nhà văn nhà thơ khác cùng thời, sách của chị Nhã Ca bị đem ra đốt và không ai được quyền lưu giữ sách trong nhà. Tuy vậy vẫn có người vì lòng yêu quý và thương tiếc một nền văn học bị tiêu hủy một cách tàn bạo như thế, nên mặc dù cực kỳ nguy hiểm cho bản thân và gia đình, họ vẫn bí mật lưu trữ những tác phẩm ấy. Nhờ thế rất nhiều tác phẩm của chị nhà văn Nhã Ca viết trước 1975 ngày nay vẫn tồn tại.

Ngoại trừ cuốn Phượng Hoàng. Cuốn truyện là đứa con tinh thần của chị bị thất lạc suốt nửa thế kỷ nay. Tưởng không bao giờ trông thấy cuốn sách nữa, nhưng do một cơ duyên nào đó, cách đây không lâu, chính xác là tháng 7 năm 2019 này, một người bạn trẻ của chị từ trong nước gửi sang Mỹ cho chị một thùng sách cũ, trong đó có cuốn Phượng Hoàng.”

Nhà thơ Đỗ Qúy Toàn đọc một đoạn trong bài trường ca “Hòn Đá Làm Ra Lửa” của nhà thơ Trần Dạ Từ làm trong tù ghi nhớ trong tâm và được viết ra thành chữ lần đầu tiên tại Thụy Điển vào tháng 11 năm 1988. Toàn văn bài thơ được đăng lần đầu vào tháng 4 năm 1989 tại Hoa Kỳ trong Tạp Chí Văn do nhà thơ Mai Thảo chủ biên, trong “Số Đặc Biệt Chào Mừng Trần Dạ Từ-Nhã Ca tới Miền Đất Tự Do.”


“Yêu tâm nhé em. Em lo lắng gì nữa

Quả thật đằng sau khúc tụng ca bi tráng của J. S. Bach

Có nỗi khiếp sợ dịch đậu mùa la hét

Nhưng, cái mặt rỗ chằng chịt của tôi em từng ôm

Nó chẳng nhắc em sao:

Rằng việc chủng ngừa đậu mùa đã công hiệu



Hãy tin sự khôn ngoan của nhân loại

Tôi chia xẻ với em khúc tụng ca bi tráng

của quê hương và thời đại chúng ta…”



Một tình tiết khá đặc biệt trong đêm Thơ Nhạc và Bạn Hữu làm cho niềm vui của mọi người thêm viên mãn là giáo sư Tenzin Dojree -- người con nuôi tinh thần gốc Tây Tạng của nhà văn Nhã Ca -- cũng là giáo sư tại Đại Học UC Santa Barbara và California State Fullerton và Chủ Tịch Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo của Quốc Hội Hoa Kỳ, đã được nhà thơ Trần Dạ Từ nhờ đọc bài thơ tiếng Anh mà nhà thơ Trần Dạ Từ vừa làm cùng ngày 19 tháng 10 tại bệnh viện để tặng nhà văn Nhã Ca. Chị Huyền (cư sĩ Diệu Đế là mẹ của Thầy Kusho [Ven. Kongchok Woser] cho biết sáng ngày 19 tháng 10 Thầy Kusho đến bệnh viện thăm Bác Từ chúc Bác Từ sớm khỏe để làm thơ cho Thầy đọc. Ngay lúc đó, nhà thơ Trần Dạ Từ lấy bút giấy làm bài thơ này và nhờ Thầy Kusho edit dùm. Bài thơ có tựa đề The Beat [Nhịp Đập]. Đoạn đầu như sau.


He was left on a roadside

His heart lift her up

The heart goes with her

A heart in the ear, it whispers

A heart in the chest, it breathes

A heart in the belly, it kicks,

kicks

ah, it pushes

Three hearts take her into beat

Beat, beat, beat as one

And she goes, goes on


Bài thơ Một Đoạn Nhã Ca của nhà thơ Nhã Ca đã được ca sĩ Bích Liên diễn tả sống động qua giọng truyền cảm.


“Bụi là xác thân nhưng tù đầy thanh tịnh

dẫu tôi quạnh hiu như loài hươu trên núi cao

như con tê giác nhẵn sừng hùng hổ

hay con chim sẻ trốn trên mái nàng

tôi cũng luôn luôn nở hoa huyên náo

trong tình nhân, trong ái tình tôi

đỏ rực…”


Nhân vật mà nhiều anh chị em nói đùa hôm đó là “birthday girl” tức nhà văn Nhã Ca trong phần phát biểu bày tỏ lòng cảm ơn đến tất cả mọi người đã vì bà mà đến chúc mừng ngày sinh nhật 80 tuổi là thời điểm mà bà gọi là giống như chiếc xe “đã ra exit.” Nhà văn Nhã Ca kể rằng khi gửi thiệp mời ngày này đến thi sĩ Du Tử Lê, ông dặn là sẽ đến dự và đọc bài thơ Thanh Xuân của bà. Nay thi sĩ Du Tử Lê đã ra đi nên bà thay ông để dọc bài thơ này. Lời 2 đoạn giữa của bài thơ như sau.


Rồi lá mùa xanh cũng đỏ dần

Còn đây niềm hối tiếc thanh xuân

Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng

Và nỗi tàn phai gõ một lần



Kỷ niệm sầu như tiếng thở dài

Khuya chìm trong tiếng khóc tương lai

Tầm xa hạnh phúc bằng đêm tối

Tôi mất thời gian lỡ nụ cười


Đang tuổi thanh xuân phơi phới mà nhà thơ đã nhìn ra cái tương lai tàn phai là điều kỳ diệu và tuyệt vời nhất là 2 câu:


Giấc mơ choàng dậy tan hình bóng

Và nỗi tàn phai gõ một lần


Nó vừa mang ý nghĩa triết lý sâu thẳm của cuộc đời vừa gợi hình sống động đến mức khi nghe qua là giật mình như người vừa tỉnh mộng sau tiếng gõ tàn phai của thực tại hiện tiền.

Nhưng khi đang yêu thì nhà nhơ Nhã Ca cũng rất mực cuồng nhiệt và lãng mạn như trong bài thơ Nhã Ca Mùa Đông mà Chủ Bút Việt Báo nhà văn Phan Tấn Hải đã đọc để tặng sinh nhật nhà thơ nhà văn Nhã Ca.


Kỳ diệu thay khi nghĩ đến anh

Lối nào đây biết lối nào gần

Mọi sự tới lui làm sao em từ chối

Không còn là con chim

Con chim gian xảo giấu mùa đông dưới cánh

Lượn những vòng nghi ngờ

Tôi hát vui tươi giã từ tuổi trẻ


Xướng ngôn viên Thụy Trinh không phải chỉ có tài làm MC, cô còn có tài về âm nhạc qua phần trình bày nhạc phẩm Chuông Và Mưa của thi nhạc sĩ Trần Dạ Từ, với phần nhạc đệm guitar của Doãn Hưng.


Chiều mưa. Mưa cho ta nhớ

Ta nhớ con đường xưa

Ngàn giấc mơ, hai đứa ta,

Con song mờ

Trú mưa chiều tháp cổ


Và anh hôn em, như mưa xóa không gian

Và anh hôn em trong tiếng chuông chiều tan


Tiếp theo là phần văn nghệ, với sự góp mặt của nữ ca sĩ Thương Linh với nhạc phẩm Em Đi Với Con Thơ, ca sĩ Bích Liên với bài Người Ở Với Người, ca sĩ Thu Vàng với bài Trăng Ban Chiều, tất cả đều là do thi nhạc sĩ Trần Dạ Từ sáng tác.

Tiết mục rộn ràng và nhiều tiếng cười nhất là phần hát mừng sinh nhật của Nhóm NTM cùng các con của Nhã Ca-Trần Dạ Từ qua ca khúc mà Sớm Mai, con gái lớn của nhà văn Nhã Ca đã thay Bố từng dạy các em hát Mừng Sinh Nhật Má khi Bố Trần Dạ Từ còn ở trong tù.


Má ơi, Má ơi, Má nghe nè. Chúng con hát như gió xa về.

Mừng sinh nhật Má, gió thơm những hoa cùng lá,

khúc ca của Ba, la la la la la la


Tuy vắng mặt Ông, nhưng lời ca của bản nhạc Sinh Nhật Ca của thi nhạc sĩ Trần Dạ Từ tiếp tục cất lên trong lúc cắt bánh mừng sinh nhật 80 tuổi của nhà văn Nhã Ca đã khiến cho thân hữu và bạn bè bùi ngùi, cảm động.


Mừng nhau lớn khôn đứng bên nhau trong hoàng hôn

Lòng ta sắt son biết bao nhiêu mặn nồng

Nụ hồng mến yêu những môi cười thương nhớ

Cầm tay thiết tha sánh vai nhau ta cùng ca…


Lời cảm ơn của nhà văn Nhã Ca đối với mọi người đã đến chúc mừng sinh nhật của bà cùng tiếng ca đầy tràn không gian:


Ca đi anh,

ca đi em,

ta chia nhau

từng miếng yêu thương…

nguồn: Vietbao online
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.