Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

2 Pages<12
những vấn đề cần biết về Văn Hóa -Xã Hội Việt Nam
viethoaiphuong
#22 Posted : Monday, December 28, 2020 3:02:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Nhà Thờ Lớn Hà Nội - Công trình kiến trúc lớn nhất Hà Nội cuối thế kỷ 19

Thu Hằng - RFI = 28/12/2020
Thời gian phủ lớp rêu phong lên Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, nổi tiếng với tên gọi Nhà Thờ Lớn, nơi người Hà Nội vẫn ghé qua chụp một kiểu ảnh kỉ niệm vào mỗi Giáng Sinh, dịp lễ tết quan trọng.

Dù đã nhiều lần được bảo trì, công trình theo kiến trúc gothic, được thánh hiến năm 1887, vẫn hằn vết thời gian với lớp vỏ tường bên ngoài bị bào mòn, nhiều chỗ dột nát trên mái khiến trần nhà thờ bị bong tróc do nước thấm. Kế hoạch trùng tu mới đây nhất được bắt đầu từ tháng 07/2020.

Vào cuối thế kỷ XIX, khi cả Hà Nội chỉ có những ngôi nhà gỗ thấp, những túp lều tranh đơn sơ và hồ ao rải rác, Nhà Thờ Lớn trở thành công trình kiến trúc ấn tượng, đồ sộ gần hồ Hoàn Kiếm, đánh dấu cho sự phát triển của khu Hội Thừa Sai, một trong những khu vực thay đổi nhanh chóng nhất, theo hồi tưởng của Raymond Bonnal, công sứ Pháp ở Hà Nội (1883-1884), trong cuốn Ở Bắc Kỳ (Au Tonkin, Hà Nội, 1925) :

« Vào năm 1873, chỉ có vài gia đình Công Giáo tập trung quanh một nhà nguyện nhỏ bằng gỗ, được dựng trên vị trí nhà nguyện Những Người tử vì đạo ở phố Hội Thừa Sai (rue de la Mission, phố Nhà Chung ngày nay). Đến năm 1883, giáo dân Hà Nội đã hình thành một khu vực lớn ngay đối diện Trường thi, cách không xa cửa ô Đông Nam thành Hà Nội. Một hàng rào tre dầy bao quanh khu vực Hội Thừa Sai. Đây như một ngôi làng thực sự, với vẻ rất đặc biệt, sống động nhờ có rất nhiều gia đình giáo dân địa phương, linh mục, thầy giảng, chủng sinh, trẻ em ở cô nhi viện ».

Xây Nhà Thờ Lớn từ đống tro tàn của nhà thờ cũ

Vào khoảng năm 1876, cha Landais cho xây một nhà nguyện nhỏ - khi đó giám mục Puginier đang ở Sài Gòn cầu viện đô đốc Dupré can thiệp giúp giáo dân Bắc Kỳ (1). Nhà nguyện được xây bằng gạch xen những ô cửa sổ có chóp cong hình chữ V, theo tư vấn của kĩ sư Dupommier lúc đó đang giám sát thi công trong Khu Nhượng Địa.

Nhưng cũng chính vào năm 1883, ngôi nhà nguyện đó bị khoảng 400 quân Cờ Đen phóng hỏa đốt vào đêm 15-16/05 sau khi tràn vào khu Hội Thừa Sai nhưng bị giáo dân chống trả quyết liệt. Không một vết tích nào còn sót lại. Kể cả bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh cũng bị quân Cờ Đen mang đi làm chiến lợi phẩm, theo André Masson, trong cuốn Hà Nội trong giai đoạn anh hùng 1873-1888 (Hanoi pendant la période héroique 1873-1888, Paris, 1929).

Tuy nhiên, theo những lời kể được cha Dronet thu thập và được trích trong cuốn Từ Paris đến Bắc Kỳ (De Paris au Tonkin, 1885) của Paul Bourde, « nhà nguyện cũ (bị cháy) được xây theo phong cách thường thấy ở những ngôi đền An Nam, có một gian lớn được gia cố nhờ xà gỗ lim. Có lẽ nhà nguyện còn có một tháp chuông theo phong cách gothic ».

Ngay sau khi nhà nguyện bị quân Cờ Đen thiêu rụi, giám mục Puginier quyết định xây nhà thờ lớn. Vị trí được chọn chính là chùa Báo Thiên. Công sứ Pháp tại Hà Nội lúc đó là Raymond Bonnal cho biết là dùng thủ thuật để tránh mang tiếng « lạm quyền » mà vẫn thỏa mãn ý nguyện của giám mục.

« Phá ngôi chùa và chiếm mảnh đất, nhìn bề ngoài thì chẳng có gì dễ hơn vào thời kỳ “chinh phục” lúc đó, nhưng tôi lại ghê sợ phạm lỗi lạm quyền theo kiểu đó nên tôi hỏi ý kiến tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Tổng đốc có quan hệ tốt với giám mục và giống như tôi, tổng đốc cũng muốn giám mục thoải mái. Và đây là cách ông ấy đã xoay chuyển khó khăn.

Trước tiên, tổng đốc tìm xem còn hậu duệ nào của người lập chùa hay không và dĩ nhiên là không tìm thấy. Sau đó, tổng đốc ra lệnh cho thân hào trong khu vực, được giáo dân chọn ngẫu nhiên, kiểm tra độ vững chắc của chùa. Và những người này không chần chừ tuyên bố rằng chùa bị hư hỏng nghiêm trọng, khi đổ, có thể gây nguy hiểm cho người qua lại.

Giờ thì mọi chuyện đều theo đúng quy định. Cho phá chùa, trưng dụng mảnh đất vô chủ để xây công trình mới, theo tập quán An Nam, là những biện pháp được làm theo đúng luật nên không thể gây ra bất kỳ phản đối nào. Đó là cách tổng đốc đã làm. Tổng đốc còn chịu trách nhiệm nhượng miễn phí cho Hội Thừa Sai mảnh đất trưng dụng. Còn tôi thì hài lòng khi trao cho giám mục giấy chứng nhận sở hữu ».

Mở xổ số quyên góp xây nhà thờ

Xây nhà thờ lớn là một quyết định táo bạo vì lúc đó, phần lớn giáo dân khánh kiệt, còn ngân sách của Hội Thừa Sai cũng gần như đã rỗng. Nhưng cuối cùng công trường cũng được khởi công vào đầu năm 1884, nhờ mở sổ xố gây quỹ. Đợt đầu có 10.000 vé, mỗi vé trị giá một đồng bạc Đông Dương (piastre), theo nghị định ngày 28/01/1884 của đô đốc Courbet (Bulletin officiel du Protectorat du Tonkin, 1884). Đợt hai quyên được 6.000 đồng bạc Đông Dương theo quyết định của ngày 14/08/1886 của thống sứ Bắc Kỳ Paul Bert (Moniteur du Protectorat, 1886). Phần còn lại do tư nhân đóng góp và từ các nguồn tài trợ khác. Sách Từ điển Đường phố Hà Nội cho rằng tổng chi phí xây Nhà Thờ Lớn lên đến 200.000 franc.

Trong bốn năm thi công (1884-1887), một ngôi nhà nhỏ được dựng tạm để cử hành thánh lễ. Lễ Giáng Sinh năm 1884 được bác sĩ Challan de Belval, thuật lại trong cuốn Ở Bắc Kỳ, 1884-1885 : Ghi chép, kỉ niệm và cảm nhận (Au Tonkin, 1884-1885 : Notes, souvenir et impressions, Paris, 1904) :

« Buổi lễ được giám mục Puginier cử hành long trọng và có nhiều tướng lĩnh, sĩ quan và quân nhân đang đóng ở Hà Nội tham dự. Ngôi nhà tranh đơn sơ, được dựng tạm trong lúc chờ xây xong nhà thờ lớn vừa mới được khởi công, cho phép cử hành thánh lễ, gợi nhớ đến túp lều giản dị nơi chúa hài đồng chào đời. Rất giản dị ! Ở đây, tiếng trống, tiếng cồng thay cho tiếng chuông truyền thống, tiếng sáo Bắc Kỳ gợi nhớ đến những người chăn cừu ở Bethlehem và những vị tướng của chúng ta tưởng nhớ đến Ba Vua ».

Công trình lớn nhất Hà Nội đương thời

Năm 1888, nhà thờ được hoàn thiện với hai ngọn tháp sừng sững cao 31 mét và trở thành công trình lớn nhất Hà Nội. Nhưng buổi thánh lễ đầu tiên đã được tổ chức vào ngày 23/12/1887. Công trình nổi tiếng đến tận Paris, theo thông tin của báo Le Temps được Le Dimanche illustré : Semaine religieuse de Toulouse (Chúa nhật có hình minh họa : Tuần lễ tôn giáo Toulouse) trích dẫn :

« Ngôi nhà thờ đẹp được xây ở Hà Nội theo thiết kế và dưới sự giám sát thi công của giám mục Puginier, đã khánh thành ngày 23/12 (1887). Vì muốn khẳng định tình cảm gắn bó với nước Pháp, giám mục Puginier báo với chính quyền là ngài muốn buổi lễ đầu tiên dành tưởng niệm những người đã mất và bị thương cả phía Pháp lẫn người bản xứ trong cuộc chiến vì sự nghiệp của chúng ta (Pháp). Tướng Munier vắng mặt vì đi Hải Ninh. Bộ chỉ huy cùng với các sĩ quan có mặt ở Hà Nội và rất nhiều kiều dân Pháp đã tham dự buổi lễ.

Buổi lễ lúc nửa đêm đã thu hút rất đông người Pháp và Việt. Sau bài giảng bằng tiếng Việt của phó giám mục - cha Gendron - một nhà Hán học uyên bác và biết rõ tiếng Việt và tiếng Hoa, buổi lễ được tổ chức trong tiếng ca, tiếng đàn organ, violoncelle và tiếng vĩ cầm ».

Được thiết kế theo phong cách gothic của Nhà Thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris), Nhà Thờ Lớn Hà Nội gây ấn tượng về vẻ đồ sộ, trầm mặc ở bên ngoài và nét nguy nga ở bên trong dù những họa tiết đặc trưng của kiến trúc gothic đã bị tối giản và kết hợp với phong cách địa phương.

Cựu công sứ Pháp ở Hà Nội (1883-1884) Raymond Bonnal đánh giá : « Nhà thờ không phải là một kiệt tác về kiến trúc nhưng về mặt chính trị, đó là một trong những công trình đáng chú ý của thành phố và gợi lại cho chúng ta thời Trung Cổ, thời kỳ mà nhiều nhà thờ được xây từ những nguồn kinh phí nhỏ, từ đống tro tàn vì chiến tranh và hỏa hoạn ».

Những quả chuông trăm tuổi

Vào năm 1895, Nhà Thờ Lớn đặt mua 5 quả chuông và 1 đồng hồ lớn từ Pháp. Phủ thống sứ Bắc Kỳ ủng hộ 500 đồng bạc Đông Dương, thông qua bà Custine, theo nghị định ngày 30/09/1895 của toàn quyền Đông Dương (Bulletin officiel de l’Annam et du Tonkin, 1895). Gần một năm sau, báo Extrême-Orient (Viễn Đông) viết trong số ra ngày 05/04/1896 :

« Sáng hôm qua (04/04/1896), lần đầu tiên, những quả chuông ở nhà thờ lớn đã ngân vang những tiếng đầu tiên. Chúng ta đã nghe thấy những tiếng chuông này vào ngày lễ “rửa tội” cho những quả chuông đó, sau đó, chúng được đưa qua 5 tầng tháp để đặt trên tháp.

Tối hôm qua, những tiếng chuông đã ngân vang. Tai của chúng ta vừa thấy vui vừa ngạc nhiên nhận ra tiếng vang thân quen, vì những quả chuông đó y chang với những quả chuông mà chúng ta vẫn nghe thấy ở Pháp. Vì thế hãy cùng nhân đôi niềm vui vì những của chuông này là một phần trong chúng ta. Và mỗi lần vang lên, tiếng chuông nhắc lại những việc mà chúng ta đã làm, trong khả năng của mỗi người, để có được những quả chuông này ».

Những quả chuông vẫn ngân vang ở Nhà Thờ Lớn nhưng được dùng động cơ để kéo. Linh mục Giuse Trần Mạnh Phong, khi trả lời đài truyền hình Hà Nội (07/2020), cho biết để kéo được quả chuông lớn nhất (thường chỉ dùng khi có đại lễ), cần có sức của 12 đến 16 người cùng một lúc. Những bộ khung gỗ vẫn còn đó, vững chắc để bảo vệ tháp khi chuông ngân lên và để tiếng chuông vẫn nguyên vẹn như ngày đầu.

(1) Hanoi chrétien 5 (Suite), Hanoi de 1868 à nos jours. I 1863-1892 Mgr Puginier, évêque de Mauricastre.


viethoaiphuong
#23 Posted : Monday, December 20, 2021 2:13:06 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Xoè Thái trở thành văn hoá phi vật thể của nhân loại trước nguy cơ bị mai một

18/12/2021 - VOA Tiếng Việt
Xoè Thái vừa được UNESCO đưa vào danh sách Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, một điều mà cộng đồng người Thái của Việt Nam vui mừng đón nhận vì sẽ giúp bảo tồn môn nghệ thuật đang đứng trước nguy cơ bị mai một

Môn nghệ thuật múa được xem là độc đáo của Việt Nam được Uỷ ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể công nhận là một hình thức văn hoá cần được bảo tồn tại một phiên họp ở Paris, Pháp, hôm 15/12.

Đây là văn hoá phi vật thể thứ 14 của Việt Nam được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản của thế giới. Ca Trù, Nhã nhạc cung đình Huế và Đờn ca tài tử Nam Bộ nằm trong số những môn nghệ thuật của Việt Nam được công nhận trước đây.

Mô tả về điệu múa đặc trưng của người Thái, một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngoài dân tộc Kinh, UNESCO nói rằng Xoè là một điệu múa với các động tác tượng trưng cho các hoạt động của con người trong nghi lễ, sinh hoạt văn hoá, đời sống và lao động của người Thái, từ đám cưới cho đến lễ hội làng.

“Được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong các gia đình, nhóm múa, trường học, điệu Xoè đã trở thành biểu tượng của lòng hiếu khách và dấu ấn bản sắc quan trọng của người Thái ở Tây Bắc của Việt Nam,” theo UNESCO.

Từ Điện Biên, một trong 4 tỉnh ở Tây Bắc có cộng đồng người Thái sinh sống, Phó Chủ tịch tỉnh Vừ A Bằng cho VOA biết lãnh đạo đại diện các tỉnh – gồm cả Lai Châu, Sơn La và Yên Bái – hôm 15/12 đã dự buổi công bố trực tuyến tại trụ sở Bộ Văn hoá Thể Thao và Du lịch ở Hà Nội với Uỷ ban liên chính phủ của UNESCO ở Paris về việc thông qua điệu Xoè Thái vào danh sách di sản phi vật thể thế giới. Theo ông Bằng, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, các đại diện của Việt Nam đã không thể đến thủ đô của Pháp để dự sự kiện này.

Ông Bằng cho biết cộng đồng người Thái vui mừng vì sự vinh danh của UNESCO đối với môn nghệ thuật truyền thống của họ nhưng cũng cho rằng điều quan trọng nhất lúc này là “phải có kế hoạch gìn giữ bảo tồn vì nó là di sản chung của một cộng đồng dân tộc.”

‘Có người Thái là có Xoè’

Trong tiếng Thái, “xoè” có nghĩa là múa và chủ thể của nghệ thuật Xoè là cộng đồng người Thái, cư trú chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc của Việt Nam, với nghề canh tác chủ yếu là trồng lúa nước.

“Xoè Thái rất quan trọng đối với dân tộc Thái,” bà Lường Thị Đại, một người nghiên cứu Xoè Thái ở Điện Biên nói với VOA và cho biết rằng có dân tộc Thái ở đâu là có điệu Xoè ở đó vì họ dùng điệu Xoè trong mọi hoạt động của cuộc sống. “Lên nhà mới cũng tổ chức Xoè, đám cưới đám xin cũng tổ chức Xoè, và tất cả những giao lưu khác đều dính đến Xoè hết. Cho nên người Thái từ bé tí đã biết và tham gia Xoè từ cộng đồng.”

Giải thích vì sao điệu múa Xoè lại phổ biến đến như vậy trong cộng đồng người Thái, bà Đại, 77 tuổi, cho biết rằng người Thái của mọi lứa tuổi, mọi giới tính và mọi địa vị xã hội đều có thể tham gia môn nghệ thuật đại chúng mang tính gắn kết cộng đồng này.

Ngoài các lễ hội, điệu Xoè còn được người Thái múa trong các buổi lễ tâm linh như cầu mùa màng tươi tốt hay thậm chí cả trong các đám tang cho người đã khuất núi.

Theo nhận định của UNESCO, múa Xoè “phản ánh thế giới quan và vũ trụ quan của người Thái, được trình diễn vào dịp Tết, trong lễ hội, các cuộc vui, liên hoan” và đây là môn nghệ thuật dành cho mọi người.

Xoè Thái đáp ứng đủ 5 tiêu chí mà UNESCO đề ra để công nhận một di sản văn hoá phi vật thể, trong đó gồm việc Xoè Thái đi kèm âm nhạc của các nhạc cụ dân tộc; nâng cao nhận thức về giá trị và tầm quan trọng của những vũ đạo truyền thống; có các biện pháp bảo vệ Xoè trong cộng đồng người Thái; sự tham gia đông đảo của cộng đồng; và Xoè được đưa vào danh mục kiểm kê quốc gia.

Trước nguy cơ mai một

Có khoảng 30 điệu múa Xoè được chia thành 3 loại chính, gồm Xoè vòng, Xoè trình diễn và Xoè nghi lễ. Theo mô tả về môn nghệ thuật này trên trang di sản phi vật thể của UNESCO, Xoè vòng là phổ biến nhất, trong đó mọi người nối nhau thành vòng tròn, thực hiện các động tác múa cơ bản biểu trưng cho khát vọng về sức khoẻ và hoà hợp cộng đồng.

Các điệu Xoè trình diễn và nghi thức được đặt tên theo các đạo cụ được sử dụng đi kèm trong các buổi biểu diễn, như khăn, nón, quạt, tính tẩu, sáo hay kèn.

Môn nghệ thuật này được sinh ra trong quá trình lao động của người Thái và dần trở thành chất liệu gắn kết các dân tộc trên vùng cao Tây Bắc, theo truyền thông trong nước.

Tuy nhiên điệu múa, mà theo nhà nghiên cứu Lường Thị Đại nói là có từ lâu đời nhưng không biết chính xác từ bao giờ, đang đối diện với nguy cơ bị mai một vì không được lớp trẻ yêu thích nhiều hay muốn học hỏi.

“Người trẻ Thái bây giờ rất ít học điệu múa (Xoè),” anh Vũ Văn Phú, một phóng viên tại Điện Biên cho biết và giải thích rằng Xoè Thái hiện nay ít được tổ chức diễn trong cộng đồng hơn trước đây nên những người trẻ không có động lực để học môn nghệ thuật này như những người thuộc thế hệ trước.

Việc các dân tộc thiểu số hội nhập với nhiều nền văn hoá hiện đại do sự phát triển của nền kinh tế cũng làm ảnh hưởng tới việc giới trẻ ít quan tâm tới điệu múa truyền thống này.

Theo bà Đại, những điệu múa Xoè trong cộng đồng giờ đây bị lai căng bởi làn sóng hội nhập với văn hoá hiện đại.

“Những cuộc vui chơi, những đám cưới đám xin hiện nay bây giờ họ toàn dùng nhạc ‘xập xình’ nên nó không đúng bản chất,” bà Đại, người từng làm nghiệp vụ cho Sở Văn hoá Điện Biên và hiện nay tham gia giảng dạy ngôn ngữ, lịch sử và văn hoá cho những người học múa Xoè, nói.

Còn theo phó chủ tịch tỉnh Điện Biên, đây là mối quan ngại chung của cả cộng đồng Thái hiện nay.

“Trong xu thế hội nhập hiện nay và những tác động của yếu tố nền kinh tế thị trường rồi nhiều vấn đề tác động khác về mặt xã hội nên mình mà không lưu giữ thì nó bây giờ đang từng bước bị mai một,” ông Bằng nói và cho biết cộng đồng người Tây Bắc đang phải cố gắng làm sao để lưu giữ môn nghệ truyền thống này.

Cả ông Bằng và bà Đại đều cho biết cộng đồng người Thái vui mừng vì điệu Xoè được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại bởi điều này sẽ giúp cho môn nghệ thuật truyền thống của người Thái được gìn giữ và lưu truyền đến muôn đời sau.


viethoaiphuong
#24 Posted : Wednesday, January 12, 2022 12:17:20 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Văn hoá làng xã của tội phạm có tổ chức người Việt ở Cộng Hoà Séc

05/01/2022 - Chi Phương / RFI
Cộng Hoà Séc là một trong những “miền đất hứa” của người Việt Nam đi tìm cơ hội phát triển ở nước ngoài. Nhờ mối quan hệ mật thiết giữa hai quốc gia, cộng đồng người Việt hình thành và lớn mạnh theo thời gian, kéo theo các hình thức phạm tội gia tăng. Đặc điểm gây khó dễ cho chính quyền đó là tính làng xã và tính cộng đồng trong các hoạt động tội phạm có tổ chức. Đó là các hội đồng hương được thành lập để tương trợ, nhưng cũng bao che nhau phạm tội.

Từ lâu, tính cộng đồng và tính làng xã đã ăn sâu bám rễ vào tâm thức của người dân Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Những thành ngữ quen thuộc như “sớm lửa, tối đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần”, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau những khi cần thiết. Làng xã của người Việt xưa thường có kết cấu chặt chẽ, nghiêm ngặt thông qua các Hương ước, Hội đồng kỳ mục hay còn gọi là Hội đồng hương chính. Người dân trong cùng một làng chia sẻ những giá trị chung, gắn kết với nhau qua khu vực như ngõ, xóm; qua các hoạt động văn hoá tín ngưỡng tôn giáo, hay các mục đích kinh tế như hội cấy, hội cày, hội buôn hay phường thủ công…vv. Các hội này hoà quyện vào nhau, chồng xếp lên nhau, tạo thành những sợi dây chằng chịt, ràng buộc những người dân trong làng với nhau. “Phép vua thua lệ làng” hay “chiêng làng nào, làng đấy đánh”, đời sống làng xã Bắc Bộ cũng thể hiện tính tự trị cao và sự tự cung tự cấp, tự túc, khép kín, ít khi tiếp xúc với bên ngoài, hoạt động như một “nước riêng biệt”.

Đến nay, một số giá trị trên vẫn được lưu giữ, thậm chí ngay cả đối với những người Việt tại hải ngoại. Hương ước đã không còn tồn tại, nhưng “Hội đồng hương” vẫn được duy trì ở nhiều nơi, và ngày nay, được hiểu là nơi hội tụ những người đến từ cùng một vùng miền, chia sẻ tương trợ lẫn nhau ở nơi “đất khách quê người”. Cộng Hoà Séc được xem là một trong những “miền đất hứa” trong mắt của nhiều người Việt. Khoảng 65000 người Việt hiện đang sinh sống và làm việc hợp pháp, là cộng đồng người Việt lớn thứ ba châu Âu, sau Pháp và Đức. Vào năm 2013, người Việt được công nhận là một dân tộc thiểu số ở quốc gia 10 triệu dân này.

Các giá trị về tính cộng đồng được thể hiện rõ rệt trong việc hỗ trợ cùng nhau buôn bán, lập nghiệp. Tuy nhiên, như nhận định Lương Thanh Hải, nhà nghiên cứu về tội phạm học xuyên quốc gia, tại đại học RMIT ở Úc và Viện nghiên cứu về Tội phạm và An ninh Châu Á, “nếu như tính cộng đồng và các hội nhóm đồng hương mang lại nhiều lợi ích cho sự phát triển chung, thì chính đằng sau những hội nhóm này lại ẩn giấu một mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia”. Trong những năm gần đây, các hoạt động tội phạm liên quan đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài thường xuyên được ghi nhận, thu hút sự quan tâm của giới chuyên gia và cảnh sát quốc tế. Ông Hải cho biết thêm, dưới góc độ tội phạm học, cộng đồng hội đồng hương “là những mối liên kết lỏng lẻo, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng” trong mạng lưới tội phạm người Việt xuyên quốc gia, như buôn người, vận chuyển các chất cấm, rửa tiền, buôn bán vũ khí, thuốc phiện, làm giả giấy tờ khai báo hải quan.

Tại Cộng Hoà Séc, cộng đồng di dân người Việt đã xuất hiện ở đây từ những năm 1940 và vẫn tiếp tục gia tăng, theo cách hợp pháp hay bất hợp pháp, kéo theo là hình thức phạm tội mới khác nhau. Đây là một trong những lý do mà Miroslav Minoza, và Filip Kraus đã đồng nghiên cứu về nhóm tội phạm người Việt tại Cộng Hoà Séc từ năm 2016-2019. Họ đã cho xuất bản cuốn sách “Vietnamese organized crimes in Czech Republic”, tạm dịch là “Tội phạm có tổ chức người Việt ở Cộng Hoà Séc”.

RFI Tiếng Việt đã có dịp trao đổi với hai tác giả của nghiên cứu này. Ông Miroslav Minoza hiện đang là nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế ở Praha. Ông đã làm việc trong vòng 25 năm về loại tội phạm có tổ chức từ châu Á, và bắt đầu nghiên cứu sâu về tình hình tội phạm người Việt từ năm 2007. Còn đồng tác giả, ông Filip Kraus, cựu cảnh sát chuyên điều tra về tội phạm có tổ chức người Việt và cộng đồng Việt kiều tại CH Séc và châu Âu, hiện là giảng viên khoa Nghiên cứu châu Á tại học Palacky.

Cuốn sách của hai nhà nghiên cứu được xem là bản tổng hợp chi tiết nhất về nguồn gốc, sự phát triển và cách thức hoạt động của nhóm tội phạm có tổ chức người Việt Nam tại quốc gia châu Âu này. Và điều đáng chú ý đó là tính cộng đồng làng xã thể hiện trong các nhóm tội phạm có tổ chức. Khi nói đến tính cộng đồng, cuốn sách đề cập đề cập đến “sự đồng nhất trong các kỳ vọng xã hội”, đặc trưng hoá bởi động lực mạnh mẽ để đạt được lợi ích kinh tế, “ý thức tự giác mạnh mẽ”, tâm lý coi thường, nếu không muốn nói là bị coi thường, bởi thế giới bên ngoài, và nhấn mạnh mối quan hệ gia đình và xã hội. Người Việt Nam truyền thống coi mình không phải là một cá thể độc lập, mà là một thành phần không thể tách rời trong một hệ thống các mối quan hệ : như một thành viên của gia đình, làng xóm. Trong các tổ chức tội phạm, thì họ là một thành viên không thể tách rời của băng nhóm.

RFI Tiếng Việt xin cảm ơn ông Mirólav Nozina và ông Filip Kraus đã cùng dành thời gian trao đổi về nghiên cứu của các ông liên quan đến tội phạm có tổ chức người Việt Nam tại CH Séc. Trước tiên, tại sao lại chọn chủ đề nghiên cứu này, nhất là nhóm tội phạm người Việt Nam, thưa ông Miroslav Nozina ?

Kể từ sau năm 1990, sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, trong vòng 2 năm, nhóm tội phạm có tổ chức từ khắp nơi trên thế giới xuất hiện tại Cộng Hòa Séc. Nó phát triển rất nhanh, và tội phạm có tổ chức người Việt cũng nằm trong số đó, bởi vì một cộng đồng người Việt rất mạnh đã hình thành tại CH Séc vào thời điểm đó. Cho đến nay, cộng đồng người Việt Nam là cộng đồng lớn thứ 3 sinh sống trên lãnh thổ CH Séc, sau người Ukraina và người Slovakia. Chúng tôi thấy cần thiết để khám phá ra những gì đang diễn ra trong cộng đồng này và phát hiện ra những loại tội phạm tồn tại trong cộng đồng này. Nó hoạt động như thế nào, và cơ chế của các tội phạm chính trong cộng đồng người Việt. Vì vậy, đó là lý do chính. Tất nhiên phải mất một thời gian để đi vào cộng đồng, kết nối với lực lượng an ninh. Nguồn gốc của dự án (viết sách) bắt đầu khá muộn vào đầu thiên niên kỷ. Ban đầu, chúng tôi tập trung vào góc độ nhân loại học của vấn đề. Không chỉ với tư cách là nhà tội phạm học, mà còn là nhà nhân loại học. Để hiểu sự tương tác giữa các thành viên trong cộng đồng và các nhóm tội phạm hoạt động bên trong cộng đồng.

RFI Tiếng Việt : Vậy điều gì riêng biệt ở nhóm tội phạm gốc Việt Nam, có điểm gì khác biệt với các nhóm tội phạm có tổ chức đến từ các quốc gia khác ? Thưa ông Miroslav Nozina.

Miroslav Nozina :


Tại Cộng Hòa Séc, nhóm tội phạm đến từ những môi trường văn hóa khác nhau. Với những người đến từ châu Á, tất nhiên là khác với những người đến từ Slovakia hoặc Nam Mỹ. Và bạn phải hiểu rằng văn hóa và tội phạm có liên hệ với nhau. Hành vi trong tội phạm chịu ảnh hưởng của môi trường văn hóa. Vì vậy, điều quan trọng là phải nghiên cứu những điểm đó.

RFI Tiếng Việt : Thưa ông Filip Kraus có muốn bổ sung thêm gì hay không ?

Filip Kraus :


Tôi muốn nói rằng tội phạm Việt Nam ít bạo lực hơn so với các nước khác.Tuy nhiên, họ còn chuyên nghiệp hơn nhiều, theo cách mà họ thay đổi và biến đổi nhanh chóng. Điều này thể hiện rõ trong hành vi và hình thức phạm tội.

RFI Tiếng Việt : Trong cuốn sách của mình, hai ông đã dành một chương để nói về tính làng xã của các nhóm tội phạm. Vậy đặc tính này được thể hiện như thế nào trong các nhóm tội phạm có tổ chức người Việt Nam ? Và tại sao đặc điểm này lại được quan tâm nhiều như vậy ?

Miroslav Nozina :

Tính làng xã không phải là đặc điểm duy nhất của người Việt, mà nó có mặt ở nhiều cộng đồng văn hoá trên thế giới. Nhưng chúng tôi muốn mô tả một hiện tượng mà những người muốn kết nối với nhau trong một môi trường xa lạ, như ở một nơi “đất khách”. Đối với họ, các mối quan hệ xã hội quan trọng hơn các mối quan hệ với chính quyền chẳng hạn. Điều này có nghĩa là những người này tin tưởng những người đến từ cùng một đất nước hơn bất cứ ai.

Filip Kraus:

Trong trường hợp về tội phạm buôn người, di dân bất hợp pháp, theo tôi tâm lý làng xã thường sao chép rất nhiều mô hình Trung Quốc. Họ có một người đứng đầu đường dây, lãnh đạo tổ chức, ở những nước phương Tây và trong Liên Âu, điều hành toàn bộ đường dây. Những người ở Việt Nam, "lôi kéo" những người muốn di cư từ chính vùng miền của họ, rồi sau đó tổ chức di cư theo con đường rất phức tạp qua Nga và châu Âu. Quá trình này được thực hiện một phần bởi người địa phương tại những nước trung chuyển, một phần khác bởi những người trong băng đảng của chính họ.

Miroslav Nozina :

Tôi cũng muốn nói thêm rằng đường dây tội phạm này giống như đường dây bán hàng. Nội bộ đường dây này được phân khúc và chia ra theo những người đến từ cùng một đất nước. Tâm lý cộng đồng, làng xã đóng vai vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin và giao việc trong đường dây này. Và những đường dây buôn người này thì kết nối chặt chẽ với nhau.

RFI Tiếng Việt : Tại Cộng Hòa Séc, ngoài tính "làng xã" thì còn có đặc điểm gì đáng chú ý trong các hoạt động tội phạm có tổ chức của người Việt Nam ?

Miroslav Nozina :


Có rất nhiều mối liên hệ giữa các các tổ chức tội phạm và cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Theo tôi điều đặc biệt ở cộng đồng người Việt đó là các hoạt động phạm pháp thường xen lẫn hoặc ẩn giấu đằng sau các hoạt động hợp pháp. Có lúc hoạt động của họ hoàn toàn hợp pháp, có lúc lại chuyển sang bất hợp pháp. Đó là trường hợp của các nhà đầu tư hợp pháp của cộng đồng này, nhưng đôi khi, những người này lại cũng chính là người tham gia vào buôn bán ma tuý, trồng cần sa, và đầu tư vào dịch vụ kinh doanh bất hợp pháp. Nếu như trước kia những hoạt động tội phạm có tổ chức của người Việt ở Cộng Hoà Séc là tổ chức di cư bất hợp pháp, thì ngày nay, những gì chúng ta đang phải đối mặt là tội phạm trong cộng đồng, giống như các hình thức tội phạm mới : tội phạm ma túy, tội phạm kinh tế, v.v. Đây là vấn đề chính của chúng tôi.

RFI Tiếng Việt : Như nói ở trên, cộng đồng người Việt không ngừng gia tăng qua các đợt di cư hợp pháp (xuất khẩu lao động) và bất hợp pháp, kéo theo sự xuất hiện của các hình thức tội phạm mới, vậy theo ông, ngày nay, liệu tính cộng đồng làng xã, đặc trưng hóa bởi các hội đồng hương có còn duy trì ?

Miroslav Nozina :


Trong cộng đồng người Việt, hiện nay chúng tôi đang phải đối mặt với thế hệ thứ hai và thế hệ thứ ba của người Việt di cư. Thế hệ thứ hai hay thứ ba này, gồm những người sinh ra tại CH Séc hoặc đến đây từ nhỏ. Trong lĩnh vực tội phạm, tính cộng đồng không có nhiều thay đổi. Họ xây dựng các mối quan hệ mới, niềm tin mới, thông qua những mối quan hệ mà họ đã tạo ra ở CH Séc. Xu hướng này có thể nhìn thấy rõ ràng. Tính cộng đồng và tính làng xã xuất phát từ một khu vực ở Việt Nam, khi du nhập đến CH Séc, tạo thành một mối liên hệ mới.

Filip Kraus:

Tôi thì lại cho rằng hiện nay, mối quan hệ “đồng hương” trong cộng đồng người Việt đang dần mất đi tầm quan trọng của nó. Ở CH Séc, điều này là do các sự gia tăng và tiếp nối của các gia đình di dân. Tại đây, môi trường của cộng đồng người Việt rất đặc biệt. Các gia đình những người di cư từ một vùng quen biết lẫn nhau, thông qua các hiệp hội đồng hương từ một vùng của Việt Nam. Khi gia đình được mở rộng ra, mạng lưới gia đình dần lớn hơn mạng lưới người đồng hương. Vì vậy ảnh hưởng của tội phạm có tổ chức theo hội đồng hương giảm dần.

RFI Tiếng Việt : Để kết thúc buổi trò chuyện hôm nay, theo ông, liệu hiện tượng tội phạm người Việt có tổ chức có ảnh hưởng gì đối với việc di cư hợp pháp của người Việt hiện nay không ?

Filip Kraus:


Chắc chắn là có ảnh hưởng. Tại CH Séc, vào năm 2016, chúng tôi mở lại đối thoại với Việt Nam về tuyển dụng lao động Việt Nam. Nhưng đột nhiên, cựu bộ trưởng Ngoại Giao đề cập đến việc tội phạm có tổ chức người Việt và vì thế CH Séc có thể sẽ không mở lại cánh cửa cho lao động người Việt. Dĩ nhiên, điều này là vô lý và giống như một hình thức phân biệt chủng tộc. nhưng qua ví dụ này, ta thấy sự hiện diện của tội phạm người Việt, dù cho họ có ít bạo lực hơn tội phạm người Nga hay vùng đông nam châu Âu, các chính trị gia sử dụng nó để hạn chế việc di cư của người Việt.

Miroslav Nozina :

Thêm vào đó, CH Séc có nhu cầu cao trong việc tuyển dụng lao động. Mặt khác, chính phủ Việt Nam cũng mong muốn điều này, vì đó là một phần của các kế hoạch phát triển 5 năm của chính phủ. Thế nên, nhìn chung thì cả hai đều có lợi. Nhưng 2 năm trước, kế hoạch này đã bị hoãn lại, do tỷ lệ tội phạm liên quan đến việc di dân bất hợp pháp. Điều này đã hạn chế khả năng xuất khẩu lao động của Việt Nam, cũng như nhu cầu du học của học sinh Việt Nam đến CH Séc.

RFI Tiếng Việt xin cảm ơn ông Miroslav Nozina, chuyên gia nghiên cứu về tội phạm châu Á tại Viện Quan Hệ Quốc Tế Praha và ông Filip Kraus, giảng viên tại đại học.

Phượng Các
#25 Posted : Wednesday, January 12, 2022 12:50:10 PM(UTC)
Phượng Các

Rank: Advanced Member

Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 18,945
Points: 20,767
Woman
Location: Golden State, USA

Was thanked: 696 time(s) in 655 post(s)
Merci, Hoài Phương
viethoaiphuong
#26 Posted : Thursday, January 27, 2022 12:26:40 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Pháp-Việt: Những người « Chân Đăng » và việc giữ gìn phong tục tập quán

27/01/2022 - Minh Anh / RFI
Cách nay hơn 130 năm, những người Đông Dương đầu tiên đã đặt chân đến Nouvelle-Calédonie để làm phu mỏ theo hợp đồng ký kết. Xa quê hương, xa người thân, dù sống và làm việc trong những điều kiện khắc nghiệt, những người « Chân Đăng » - những người « phu mỏ » Bắc Kỳ năm xưa - vẫn gìn giữ và lưu truyền các tập tục cổ truyền cho các thế hệ con cháu.

Vào cuối những năm 1890, để đáp ứng nhu cầu nhân công hầm mỏ, chính quyền toàn quyền Đông Dương tổ chức tuyển dụng đưa người sang làm việc tại Nouvelle-Calédonie. Và thế là những lao động xứ Bắc Kỳ đầu tiên đã đến hòn đảo thuộc Pháp ở Thái Bình Dương ngay từ năm 1891. Phần đông trong số này là tù nhân Côn Đảo. Họ được hứa hẹn có được tự do nếu làm việc tốt một khi đến Nouvelle-Calédonie. Trốn một đất nước nghèo nàn và cuộc sống khốn khổ, họ nuôi ảo tưởng hy vọng sẽ được đổi đời với một hợp đồng lao động đầy hứa hẹn, nhưng đâu có ngờ rằng đó là một kiểu « địa ngục trần gian », thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và đôi khi nhuốm cả máu.

Phu mỏ Bắc Kỳ : Lao động cưỡng bức hay nô lệ da vàng ?

Họ, khoảng 4.000 - 5.000 di dân Việt Nam đầu tiên ở vùng Thái Bình Dương, đã tự gọi mình là những người « Chân Đăng ». Giáo sư Lê Thị Xuyến, nguyên trưởng ban Việt học, khoa Ngôn ngữ và Văn minh Đông Á, đại học Paris-Diderot, có thân phụ, thân mẫu là những người « Chân Đăng » trong một cuộc trò chuyện với RFI Tiếng Việt trước hết lưu ý, việc tìm hiểu và giải thích ý nghĩa thật sự của từ này vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.

GS. Lê Thị Xuyến : « Chỉ xin hiểu nôm na, "Chân Đăng" là những người ký hợp đồng để đi làm phu mỏ. Có những định nghĩa cho rằng một hợp đồng 5 năm nhưng vì không được tự do đi lại, dưới chế độ giấy thông hành rồi kiểm soát rất chặt chẽ, người ta gọi nhau và cho đấy như là một dạng bị trói chân. Tôi cho rằng, theo nhà văn Jean Van Mai, cũng là thế hệ con cháu "Chân Đăng" như chúng tôi và cuốn sách của anh viết về những người "Chân Đăng" được giải thưởng từ năm 1981, anh định nghĩa rất đơn giản : Đó là những người ghi tên và đi làm theo hợp đồng. Bản thân anh cũng là người rất tâm huyết và cũng đã đi làm điều tra, đi hỏi rất nhiều người mà tôi tin nguồn đó là tương đối chính xác. »

Trái với những gì được ghi trong hợp đồng, điều kiện làm việc và sinh sống của phu mỏ Bắc Kỳ cực kỳ khắc khổ : Thiếu ăn, thiếu mặc, đôi khi phải làm việc 15 giờ mỗi ngày và tuyệt đối phải đạt sản lượng 20 tấn đất quặng đào được cho một người trong một tháng dưới sự cai quản bất nhẫn của các đốc công da trắng. Đáng chú ý, trong quá trình làm việc, người ta không gọi họ bằng tên mà bằng con số. Giáo sư Xuyến cho rằng đây thật sự là một nỗi mất mát lớn.

« Ngay cả vấn đề này tôi cũng có nhiều thắc mắc. Trong tất cả các sách báo đều nói là để cho dễ gọi, tức là người ta nói là người Pháp để dễ đọc, dễ gọi tên cho đúng người ta gọi bằng con số. Bởi vì phát âm tiếng Việt khó, tất cả các báo đều nói như thế. Nhưng tôi không tin. Cho đến bây giờ khi đọc các tài liệu tôi không tin, vì họ coi những người đi làm phu cho họ như là nô lệ thì đúng hơn. Một số người cũng đã gọi đó là những nô lệ da vàng. »

Ngoài ra, trong chính sách tuyển dụng, thực dân Pháp tuyển nam nhiều hơn nữ do sợ vấn đề sinh đẻ có thể ảnh hưởng đến nguồn lợi kinh tế.

« Bởi vì trong hợp đồng, ngoài chế độ ăn uống, còn có cả chế độ thuốc men. Do vậy, một gia đình có cả vợ và con thì sẽ tổn phí cho họ. Vì chính sách của chế độ thực dân tuyển người dạo đó là cứ 9 người đàn ông và một người đàn bà, nên khi những người sang trước, người ta luôn để ý những chuyến sang sau để tìm đồng hương một phần và một phần khác là xem có người phụ nữ nào không, thì như vậy người ta đã nhắm trước rồi. »

Giữ gìn tập tục : Sự phản kháng thầm lặng chống người da trắng ?

Đôi dòng nhắc lại bối cảnh lịch sử. Nhân dịp Tết Nhâm Dần, giáo sư Lê Thị Xuyến hồi tưởng lại không khí những ngày Tết đầm ấm cùng gia đình khi bà còn nhỏ ở Nouméa, thủ phủ Nouvelle-Calédonie. Điều làm bà cảm động và trân trọng nhất mỗi lần được nghe Ba, Má kể lại vào những năm đầu mới sang là dù phải sống trong những điều kiện khắc nghiệt, những người phu mỏ năm xưa vẫn luôn tìm cách lưu giữ kỹ lưỡng những phong tục cổ truyền Việt Nam để rồi truyền đạt lại cho con cháu. Đó cũng là một hình thức phản kháng thụ động chống lại cách đối xử bất nhân của người da trắng theo như nhận định của một số sử gia.

« Người Việt Nam khi sang đến Nouvelle-Calédonie, trong giai đoạn đầu bắt buộc phải ở theo khu vực, từng khu mỏ. Các tỉnh xa nhau hàng 200, 300 thậm chí 400 cây số, thì ngoài tình bà con, là người Việt Nam, những người cùng quê họ quý trọng nhau lắm, như là ruột thịt. Không những tổ chức Tết của từng gia đình một, mà còn tổ chức theo nhóm, theo đoàn.

Bởi vì, còn có một chi tiết là từ năm 1946, khi được làm ăn tự do, gia đình tôi ở cùng một khu với trên một chục gia đình khác, dù không cùng quê nhưng rất gắn bó với nhau và vẫn sum họp nhau lại để mà cùng tham gia vào các hoạt động. Chẳng hạn như văn nghệ, các chị thì múa nón, cũng có đoàn múa lân, các bậc trên như cha ruột tôi có tham gia một đội tuồng.

Rất tiếc là khi đi tìm tài liệu, thì không có, vẫn chưa tìm được. Ngoài phòng lưu trữ (ở Nouméa) còn có phòng phim ảnh thì tôi lại không xem được do chỉ tập trung vào tư liệu. Nhưng các vở truyền thống mà các cụ hay nhắc đến như Phạm Công Cúc Hoa, Tình Nghĩa Bạn Bè của Lưu Bình – Dương Lễ, hay Thị Mầu Lên Chùa… »

Sau này, khi được tự do đi lại, chợ búa cũng đông đúc hơn. Dù sống xứ người, nhưng những nghi thức ngày Tết vẫn giữ nguyên không khí thiêng liêng. Mâm cỗ Tết của những người « Chân Đăng » ở Nouméa trong những năm 1950 cũng thịnh soạn không kém như ở quê nhà.

« Cho đến bây giờ mấy anh em ngồi nói chuyện với nhau chúng tôi phục các cụ lắm. Không hiểu sao mà tất cả các món ăn cổ truyền dân tộc ngày Tết không thiếu món gì. Cho đến bây giờ, dù đã hơn 70 tuổi, tôi vẫn nhớ từng món ăn ba má tôi hay là sau này dượng tôi làm như bánh chưng, các món miến gà, chân giò nấu măng, bánh cuốn, rau xào với bóng, hay như má tôi còn làm món chè kho, bánh mật nữa, rất là ngon. Sau này, ở trong nước, có thể tôi chưa đi hết, chưa biết hết mọi miền, nhưng bánh mật của má vẫn có một mùi thơm dịu ngọt không thể nào quên được. Về việc tổ chức Tết thì thiêng liêng lắm. Bàn thờ gia tiên là phải sạch sẽ, chuẩn bị Tết hàng tháng trước. Bàn thờ gia tiên bao giờ cũng đủ mâm ngũ quả, các câu đối, hoa, rồi dâng các món ăn mời tổ tiên ông bà về ăn cỗ. »

Tết cổ truyền : Từ Nouméa đến Paris

Giờ sống tại Paris, nhưng giáo sư Xuyến vẫn không quên được không khí háo hức chuẩn bị đón Tết như thế nào của những người « Chân Đăng » thuở xưa.

« Khi chuẩn bị Tết, là vì các anh phải giã giò, mỗi người một tay một chân, tức là, mấy chị em thì rửa lá, má thì đãi đỗ. Khi gói bánh, thì các cụ gói. Sau này thì các cụ truyền lại cho các con, bắt các con là phải học, tập gói bánh. Không khí ngày Tết nó lạ lắm. Ngày Mồng Một, biết chắc chắn là thế nào cũng được mừng tuổi. Không những bố mẹ mừng tuổi mà hàng xóm cũng sẽ mừng tuổi, rồi được mặc quần áo mới. »

Rồi tục nhuộm răng đen, mời trầu, 30 năm ở xứ người nhưng vẫn không mai một…

« Nói về truyền thống dân tộc, cả cụ ông lẫn cụ bà và nhất là cụ bà đều nhuộm răng đen. Suốt hơn 30 năm ở Nouvelle-Calédonie, và cho đến khi về nước, các cụ vẫn để răng đen. Khi có khách đến nhà, bao giờ cũng vậy, các cụ bà mời ăn trầu và những miếng trầu mà các cụ têm, các cụ làm cẩn thận và têm rất đẹp. Cách các cụ bổ quả cau cũng thế, rất trân trọng, rồi các bình vôi ở góc nhà ra sao. Các cụ ông thì không hút thuốc lào bằng điếu cày mà bằng chiếc bát, điếu bát. Khi khách đến nhà, các cụ mời uống nước trà ướp sen hoặc là ướp hoa nhài và cũng có khi có một cái ấm mà nếu đúng như từ các cụ ngày xưa gọi là vò trà, thì là bằng nụ vối ».

Câu chuyện về những người « Chân Đăng » là một câu chuyện dài nhiều đau thương, để lại nhiều hệ quả, cả về chấn thương tâm thần lẫn những chia rẽ sâu sắc trong cộng đồng người Việt Nam ở Nouvelle-Calédonie. Trong không khí ngày Tết, điều mà giáo sư Lê Thị Xuyến muốn gởi gắm là làm thế nào duy trì những nét đẹp văn hóa dân tộc cho thế hệ mai sau, nhất là cho những người Việt Nam sống nơi đất khách quê người.

Cái không khí Tết ở Nouméa khó quên đó nay đã được giáo sư Xuyến, khi còn giảng dạy truyền đạt lại cho nhiều lớp thế hệ sinh viên. Hàng năm, cũng vào dịp Tết, sinh viên Việt Học tại trường đại học Paris 7 vẫn háo hức chuẩn bị đón Tết Nguyên đán. Cũng bàn thờ tổ gia tiên, bánh chưng xanh, dưa hành tím, câu đối đỏ. Cũng những cảnh múa lân và trình diễn văn nghệ như ngâm Kiều… chỉ thiếu mỗi tiếng pháo vang rộn rã mà thôi !


viethoaiphuong
#27 Posted : Saturday, January 29, 2022 1:45:37 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Tết Nguyên Đán : Chuyện người Việt tại Pháp sắm Tết ở chợ Việt online

28/01/2022 - Thùy Dương / RFI
Tết Nguyên Đán lại về … Sau mùa Giáng Sinh, lễ tết cuối năm theo lịch Tây, người Việt tại Pháp những ngày này lại chuẩn bị sắm sửa cho Tết Việt. Sắm đủ đầy cho một cái Tết xa quê không phải lúc nào cũng dễ, nhất là trong hoàn cảnh dịch bệnh Covid-19, với biến thể Omicron vẫn đang diễn biến phức tạp tại Pháp.

Covid-19 và cơ hội đưa hàng Việt đến với người Việt tại Pháp

Thế nhưng, cũng trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, tại Pháp, nhất là ở Paris và vùng ngoại ô khoảng gần 2 năm qua xuất hiện nhiều chợ Việt, quy mô thì nhỏ hơn nhiều so với các chợ châu Á như Tang Frère, Paris Store, ngày càng được nhiều bà con người Việt biết đến trên các mạng cộng đồng hoặc Facebook nhờ các sản phẩm thuần Việt, không thể thấy ở các chợ châu Á khác, đặc biệt với hình thức «chợ online » rất thuận tiện cho những ai quá bận bịu với nhịp sống « métro-boulot-dodo » tại Paris (đi tàu đến công sở, làm việc rồi về ngủ) hoặc những người ở xa những nơi có chợ châu Á.

Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại, chị Quỳnh Phương, chủ một chợ Việt online có tên gọi « Chợ Việt-Pháp » cho biết :

« Tôi kinh doanh các sản phẩm Việt một vài tháng sau khi có dịch Covid-19, khi nhu cầu của người dân về các sản phẩm châu Á rất nhiều, nhưng họ lại không thể di chuyển để có thể đến tận nơi để chọn, để mua. Chính vì thế, Chợ Việt Pháp đã phát triển trang web bán hàng điện tử để khach hàng có thể lựa chọn sản phẩm qua mạng và được giao đến tận nhà.

Mặc dù Covid vẫn diễn ra nhưng nhu cầu mua sắm của người dân Paris và Pháp nói chung vẫn sôi động, khách rất hào hứng và muốn chọn những sản phẩm Tết tốt nhất để mang về cho gia đình. Tết thì đương nhiên là không thể thiếu các sản phẩm truyền thống như bánh chưng, giò chả, bánh tét hay các loại mứt Tết. Đây là những sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất trong những ngày Tết. Chợ Việt Pháp có rất nhiều sự lựa chọn, khách hàng có thể mua những sản phẩm đã chế biến, những sản phẩm tươi hay đã nấu chín rồi về sơ chế lại là có thể sử dụng hoặc cũng có thể mua các nguyên liệu để tự chế biến để có hương vị riêng cho gia đình mình.

Để chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán lần này, chợ Việt-Pháp đã phải chuẩn bị từ 2-3 tháng trước, để đảm bảo các sản phẩm luôn đầy đủ, như bún, miến, phở, nấm hương, mộc nhĩ. Các sản phẩm đều được nhập khẩu từ các công ty lớn từ châu Âu hoặc được Chợ Việt Pháp nhập khẩu trực tiếp từ Việt Nam. Về mặt kiểm dịch, do đều được nhập khẩu vào châu Âu nên đã được kiểm soát và đạt được thông số kiểm dịch nhất định nên các các phẩm là an toàn đối với khách ».

Hương vị Tết từ Paris đến với bà con ở tỉnh

Ban đầu, hồi năm 2020, khi mới kinh doanh hàng Việt sau khi đợt dịch Covid-19 thứ nhất bùng nổ, Chợ Việt Pháp của chị Quỳnh Phương chủ yếu kinh doanh qua mạng Facebook, phục vụ chủ yếu khách Việt sinh sống tại Paris và một số vùng ngoại ô lân cận, sau này khách hàng đông dần lên, cũng như nhiều chợ khác, chợ Việt Pháp mở rộng dần hình thức kinh doanh điện tử và dịch vụ vận chuyển để phục vụ khách ở các tỉnh xa không có điều kiện đến tận Paris mua hàng Việt. Chị Quỳnh Phương giải thích thêm:

« Năm nay là năm thứ hai Chợ Việt-Pháp bán hàng qua mạng. Các trang bán hàng trên mạng gồm có, chẳng hạn Facebook, trang web hoặc trên các trang mạng diễn đàn cộng đồng. Về hình thức, năm nay Chợ Việt Pháp phát triển mạnh hơn, mở rộng hình thức kinh doanh hơn, giao hàng cả trong Ile-de-France (Paris và vùng phụ cận) và đến các tỉnh.

Hiện tại, các khách hàng lớn tuổi thì họ vẫn lựa chọn phương pháp mua hàng truyền thống và vẫn đến cửa hàng để lựa chọn sản phẩm. Đối với khách hàng trẻ tuổi hơn thì họ lại rất thích thú với hình thức mua hàng trực tuyến trên mạng và được giao tận nhà. Đối với khách hàng ở tỉnh, Chợ Việt Pháp sử dụng các công ty vận chuyển trung gian như UPS, Chronopost hay bưu điện, nhưng khách hàng vẫn phải chờ đợi 2-5 ngày mới nhận được các sản phẩm đã đặt ».

Chị Liêu Khả Phương, sống ở miền nam Pháp, là một trong các khách hàng « sắm Tết online » tại Chợ Việt-Pháp. Rất hài lòng vì được thưởng thức các sản phẩm Tết thuần vị Việt sau một thời gian dài không được ăn Tết tại quê nhà, chị chia sẻ với RFI Việt ngữ ngày 21/01/2022 :

« Cái Tết này là cái Tết thứ ba mình không ở Việt Nam, cũng vì Covid, nên mình cũng phải tìm chỗ để mua đồ ăn Tết. Mình ở xa, cách Paris tới 800km, ở Carcassonne. Mới đầu thì mình cũng nghĩ chỉ ăn Tết Tây thôi, nhưng tới những ngày gần đến Tết Việt Nam thì mình lại muốn ăn Tết Việt Nam, nên phải tìm chỗ mua đồ ăn Tết. Ba năm, mỗi năm mình tìm một chỗ trên cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, nhưng không có chỗ nào mình ưng ý hết.

Năm nay mình hên, mình gặp đúng ngay Chợ Việt Pháp online, mình mua thử, giờ ăn thử trước : chả lụa, giò bó (giò thủ), vị quay mắc mật, nem chua ... Mình ăn thử hết rồi giờ lại muốn mua nữa để ăn Tết. Mình có mua bánh chưng vì thấy các công đoạn gia công gói chị chủ chợ đăng lên Facebook, website rất hấp dẫn. Chợ Việt Pháp gửi hàng bằng dịch vụ UPS, khoảng 3 ngày là tới.

Mình ăn là phải ăn đúng gu mới thấy ngon. Ở đây có cửa hàng đồ châu Á của người Campuchia, họ đi lấy hàng từ Toulouse, họ bán nhiều thứ, có cả đồ Việt Nam nhưng không ngon, không đúng vị mình ăn ở Việt Nam nên mình phải cực khổ đi tìm. Mình mua ở Chợ Việt Pháp lần này là được hai lần, mình mua nhiều cho Tết nhưng chắc phải mua tiếp vì giờ ăn hết chả lụa, ăn hết giò thủ rồi nên phải mua tiếp thôi ».

Đủ đầy hương vị thuần Việt

Chị Đồng Thị Liễu, sống ở ngoại ô Paris, vì nhiều lý do cũng chọn mua hàng online ở các chợ Việt, bên cạnh việc đi mua sắm trực tiếp ở các chợ châu Á. Chị chia sẻ :

« Thường thì không phải chỉ năm nay mà mình đã có thói quen sắm Tết, nhất là từ khi có con để cho các cháu biết phong tục truyền thống của Việt Nam mình. Mình có mua hàng qua mạng, mình cũng mua thêm một số thứ khác khi trực tiếp đi chợ châu Á. Trên mạng có rất nhiều mặt hàng đa dạng, nhưng gia đình mình thường chọn các thành phần để gói bánh chưng, mua gạo nếp rất ngon là gạo nếp cái hoa vàng và đậu xanh loại đã vỡ đôi nhưng chưa tách vỏ. Và cái mình ưng ý nhất ở chợ trên mạng mà nhiều khi không tìm thấy ở chợ châu Á, chợ Tàu là lá dong. Lá dong rất, rất tươi, to bản, dễ gói và họ bán luôn cả dây lạt để buộc bánh.

Có một số mặt hàng khác mà mình hay sắm vào Tết là chả, chả quế, chả mỡ và giò rất là ngon, chất lượng mình thấy ưng ý, và một số loại rau thơm mà mình không tìm được ở những nơi khác. Tất cả những gì mình cần cho Tết Việt thì mình đều có thể thấy. Họ có rất nhiều mặt hàng phong phú.

Trước đây thì mình không biết là có, hoặc có thể là họ chưa có dịch vụ này, nhưng mình nghĩ là từ năm có dịch Covid, nhiều người có thể đi lại không thuận tiện hoặc nhiều khi hàng hóa khan hiếm thì dịch vụ này lại đáp ứng được những nhu cầu của nhiều gia đình giống mình. Mà đây cũng là do bạn bè truyền tai nhau là lên Facebook, vào trang này trang kia đặt hàng. Mình thấy họ làm rất tốt. Kể từ Tết 2020, vào dịp Tết hoặc dịp gì quan trọng cần đồ Việt chất lượng thì mình lại lên 2-3 trang mạng mình mua quen.

Về giá cả, nếu mình mua nhiều, ở gần nơi họ bán hàng thì người ta miễn phí giao hàng. Về giá các mặt hàng thì tùy loại, nhưng mình thấy là đáng đồng tiền bát gạo thôi vì nếu gạo nếp mình tìm ở các chợ châu Á có đến tận nơi thì cũng không tìm được loại ngon. Ở chợ Việt trên mạng, mình thấy ưng ý, phù hợp với túi tiền của mình thì mình mua ».

Chị Vân Giang sống ở ngoại ô Paris cũng là một khách hàng quen thuộc của các chợ Việt trên mạng. Chị cho biết : « Khoảng 2 năm trở lại đây, mình bắt đầu lựa chọn mua sắm Tết qua các chợ Việt online. Thứ nhất là tiết kiệm được rất nhiều thời gian, không cần xếp hàng, chen chúc mệt mỏi, nhất là tầm gần Tết chợ Tàu rất là đông người, thậm chí phải xếp hàng 10-15 phút để vào bãi đậu xe, chưa kể thời gian xếp hàng thanh toán. Thứ hai là phương thức thanh toán của các chợ Việt online cũng rất đơn giản : mình có thể chọn thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng.

Thứ ba là hàng hóa được giao đến tận địa chỉ mong muốn, ví dụ mình muốn mua hàng gửi tặng gia đình, bạn bè, người thân thì mình ghi địa chỉ và chỉ 1-2 ngày sau là người thân của mình nhận được. Hàng hóa được giao đến tận cửa, rất tiện cho những gia đình nào có người già hoặc các bạn nữ không đủ sức bê nặng. Lý do thứ tư, mình nghĩ quan trọng nhất, đây là giải pháp hữu ích cho mùa dịch Covid-19, giúp mình hạn chế tiếp xúc chỗ đông người, hạn chế làm lây lan dịch bệnh.

Về chất lượng hàng hóa, minh thấy rất đa dạng, phong phú, có nhiều sản phẩm mình không thể tìm thấy ở chợ Tàu quận 13 (siêu thị hàng châu Á) hoặc Thanh Bình Jeune (siêu thị hàng Việt), như giò bê, nấm hương rừng, bưởi da xanh, các loại bánh cổ truyền như bánh gai, bánh gio … Những loại bánh này vài năm trước đây mình không thể tìm mua được ở chợ Tàu, nếu muốn ăn thì phải nhờ người nhà gửi từ Việt Nam sang. Ngoài ra, bánh chưng họ bán mình thấy rất thơm ngon, ngon hơn hẳn ở chợ Tàu.

Năm nay, những sản phẩm mình mua chủ yếu là những sản phẩm thiết yếu để cúng Tết, như bánh chưng, giò chả, gạo nếp, gấc, gà sống, cả các loại hoa quả để bày mâm ngũ quả. Hiện tại ở Pháp có khá nhiều chợ Việt online, nhưng địa chỉ mình tin tưởng và thường xuyên mua nhất là trang Hàng Việt Market của chị Yến Triệu. Chị ấy có trang web và có cả group bán hàng trên Facebook nên mình cũng thường xuyên được cập nhật các mặt hàng mới.

Qua đây, mình cũng xin gửi lời cảm ơn đến các chợ Việt online đã giúp mang lại những mặt hàng Việt phong phú đa dạng cho người Việt Nam xa quê hương có cái Tết rất là đủ đầy, có thể nói là không thiếu gì so với Tết ở Việt Nam ».

Không khí chợ Tết

Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 với biến thể Omicron vẫn đang lây lan nhanh, thời điểm này lại không trùng với đợt nghỉ lễ tại Pháp, nên sắm Tết Việt trực tuyến ở các chợ Việt có lẽ là lựa chọn của không ít gia đình, bảo đảm sự tiện lợi, nhưng có lẽ điều khó có thể làm tất cả người Việt xa xứ cảm nhận được chính là « không khí chợ Tết » nhộn nhịp, tấp nập những ngày áp Tết. Xin khép lại bài viết với lời chia sẻ của chị Đồng Thị Liễu :

« Có nhiều mặt hàng mình không thấy trên mạng, nhất là dịp Tết này mình hay muốn tìm mua hoa đào, một số nhà khác tìm cây quất hoặc hoa mai, nhưng không thấy có trên mạng mà nếu có thì mình cũng muốn tìm đến tận nơi để chọn cái vừa ý với mình thì mình mới mua. Đó cũng là không khí sắm Tết, mình muốn có không khí đấy. Mình đã xa Việt Nam rồi nên nếu có dịp để hưởng một chút không khí Tết thì mình sẽ thực hiện ».



viethoaiphuong
#28 Posted : Tuesday, February 1, 2022 9:03:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)


Trò chơi dân gian Nu Na Nu Nống và võ sĩ Joe Louis tuổi Dần

01/02/2022 - Thanh Hà / RFI
Nu Na Nu Nống, một trò chơi dân gian bị chìm vào quên lãng, một huyền thoại trong làng quyền anh thế giới cầm tinh con Cọp và những năm Dần lẫy lừng trong sự nghiệp của « Hổ Chúa » Joe Louis (1914-1981). Nhà nghiên cứu Nguyễn Dư, tại Lyon thử giải đáp về ý nghĩa và xuất xứ của trò Nu Na Nu Nống. Từ Chicago, nhạc sĩ Dương Hồng Kỳ nhìn lại sự nghiệp của Joe Louis trong bối cảnh chính trị đặc biệt của nước Mỹ trước Thế Chiến Thứ Hai.

Nhảy lò cò, khiêng kiệu, mèo bắt chuột, đánh chuyền… vẫn còn là những trò chơi được học trò Việt Nam ưa chuộng. Hiếm hơn một chút là cơ hội thả diều, đấu pháo đất. Bên cạnh đó có những trò chơi bắt đầu chìm vào quên lãng : đó là những trò chơi « hiền lành » như chi chi chành chành, kéo cưa lửa xẻ, thả đỉa ba ba. Không biết trẻ con Việt Nam ngày nay có còn chơi trò Nu Na Nu Nống hay không ? Chơi như thế nào, « Nu Na Nu Nống » nghĩa là gì và xuất xứ của trò chơi ấy từ đâu ?

Trong tạp chí ngày đầu xuân Nhâm Dần RFI tiếng Việt mời nhà nghiên cứu Nguyễn Dư trả lời các câu hỏi trên. Trước hết ông nhắc lại Nu Na Nu Nống chơi như thế nào ?


Nhà nghiên cứu Nguyễn Dư- Lyon

« Không biết trẻ con Việt Nam ngày nay có còn chơi Nu na nu nống không? Với cái đà đô thị hoá như bây giờ thì khó mà chơi được. Nơi nào cũng mở mang, thi nhau xây nhà cao tầng. Mỗi thước đất là một cục vàng. Tìm được một góc vỉa hè thông thoáng để chơi không phải là chuyện dễ.

Nu Na Nu Nống là trò chơi gì mà đòi hỏi khó khăn như vậy?

Chẳng có gì là khó khăn. Ngược lại, Nu Na Nu Nống rất dễ chơi.

Con trai, con gái đứa nào muốn chơi thì ngồi cạnh nhau, duỗi hai chân ra phía trước, xếp thành hàng ngang. Đứa làm trưởng trò ngồi giữa hoặc ngồi đầu hàng phía tay trái hay tay phải tuỳ ý. Trưởng trò dùng tay lần lượt chạm vào bàn chân những đứa khác. Vừa chạm vừa hát bài Nu Na Nu Nống.

Nu Na Nu Nống

Cái cống nằm trong

Cái ong nằm ngoài

Củ khoai chấm mật

Phật ngồi phật khóc

Con cóc nhảy ra

Con gà ú hụ

Bà mụ thổi xôi

Nhà tôi nấu chè

Tè he chân rụt.

Chạm hết hàng chân thì quay trở lại, tiếp tục cho đến hết bài hát.

Tiếng cuối cùng của bài hát rơi vào chân nào thì chân ấy phải rụt về. Trò chơi tiếp tục lại từ đầu bài hát. Cứ như vậy, cho đến bàn chân cuối cùng. Đứa cuối cùng này bị thua, phải làm trưởng trò chơi ván khác.

Muốn cho trò chơi tăng thêm hồi hộp, thú vị thì trưởng trò có thể ngân nga kéo dài tiếng cuối cùng rồi bất chợt vung tay chạm bất cứ chân nào. Chơi như vậy bắt buộc đứa nào cũng phải chăm chú.

Nu Na Nu Nống không cần chạy nhảy, hò hét. Không làm dơ bẩn chỗ chơi. Người lớn có vẻ bằng lòng cái trò ‘dễ thương’ này ».

Một trò chơi xuất hiện từ khi nào ?

Nguyễn Dư : « Ngay cả Ngô Quý Sơn, người biên khảo về các trò chơi của trẻ con, cũng không trả lời được. Kể cả những người giúp ông đi điều tra, ghi chép thông tin cũng không ai biết nghĩa là gì. Có lẽ vì vậy mà Ngô Quý Sơn mới đi đến kết luận là tên Nu na nu nống không có nghĩa. Tuy nhiên, Ngô Quý Sơn cũng cho biết một điều bên lề là những cộng sự già nua nhất của ông lúc bé cũng đã từng chơi Nu Na Nu Nống. Dựa vào bằng chứng này, ông cho rằng trò chơi Nu Na Nu Nống đã có từ lâu.

Sách Jeux d´enfants du Vietnam (Trò chơi của trẻ con Việt Nam) của Ngô Quý Sơn xuất bản năm 1943. Tạm cho là cộng sự già nua nhất của Ngô Quý Sơn lúc này thọ khoảng 70 tuổi. (1943 – 70 = 1873). Như vậy thì trò chơi Nu na nu nống phải có từ trước năm 1884, trước ngày kí hiệp ước Patenôtre công nhận Pháp đô hộ nước ta. Có thể khẳng định rằng Nu na nu nống là một trò chơi Việt Nam).

Có nhiều bài hát Nu Na Nu Nống. Ngắn gọn nhất có lẽ là bài:

Nu na nu nống

Thằng cống cái cạc

Chân vàng chân bạc

Đá xỉa đá xoi

Đá đầu con voi

Đá chân thì rụt

Các bài hát đều bắt đầu bằng câu Nu na nu nống. Trừ một bài:

Nu nả, nu na

Nở ra tua túa

Nổ túa lên trời

Nổ rơi xuống đất

Nổ bật nắp vung

Nổ tung nón lá

Nu nả, nu na.

Tất cả các bài hát đều có cặp từ Nu na. Điều này cho thấy rằng Nu na là từ chính. Nu nả hay Nu nống là từ phụ, từ lắp láy của Nu na ».

Chữ nghĩa xuất phát từ chữ Hán

Nhà nghiên cứu Nguyễn Dư giải thích : « Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức định nghĩa : Nu na là: Một trò chơi của trẻ con, ngồi duỗi chân ra mà đếm. Nghĩa rộng của Nu na là : Ngồi thong thả nhàn hạ. Công việc không có, ngồi nu na với nhau cả ngày.

Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ định nghĩa: Nu na là: Đồ chơi của trẻ con như cái nghiên mực, đáy thật mỏng, để giáng úp xuống cho nổ. Chơi nu na, nắn nu na.

(Chơi nu na của Lê Văn Đức được tranh Oger gọi nôm na là Trẻ con đánh pháo bằng đất)

Tự điển Việt Hoa Pháp của Gustave Hue cũng định nghĩa Nu na nu nống là một trò chơi. Nhưng G. Hue lại đưa ra một câu nói khó hiểu làm thí dụ: Chồng đống mà nu na nu nống.

Chồng đống là trò chơi Chồng đống chồng đe của trẻ con.

Người chơi đứng hay ngồi thành vòng tròn, hai nắm tay đưa ra đằng trước, chồng lên nhau. Tất cả chất thành một đống cao. Trưởng trò vừa hát bài Chồng đống chồng đe vừa đưa tay đụng lần lượt cái đống nắm tay…

Chồng đống chồng đe

Con chim le lưỡi

Nó chỉ thằng nào?

Nó chỉ thằng này.

Cách chơi Chồng đống chồng đe tương tự Nu Na Nu Nống. Một đằng chồng tay, một đằng xếp chân. Chồng đống mà nu na nu nống. Nói rõ hơn là Chồng đống mà chơi Nu na nu nống. Nghĩa là muốn chơi Nu Na Nu Nống thì phải có thêm trò chơi Chồng đống. Vô lí! Phải chấp nhận rằng Nu Na Nu Nống của câu nói không phải là một trò chơi. Nu na nu nống còn có nghĩa gì khác.

Nói tóm lại, ba cuốn từ điển cho thấy Nu na (nu nống)có thể là một trò chơi, một thứ đồ chơi hay một trạng thái như… ngồi thong thả, nhàn hạ.

Nghĩa thứ ba thật bất ngờ, thú vị. Nu na là Ngồi thong thả, nhàn hạ. Có một bài ca dao chế giễu tục Tảo hôn (Lấy vợ sớm) dùng nghĩa này:

Chồng lên tám, vợ mười ba

Ngồi rỗi nu nống nu na đỡ buồn

Mười tám vợ đã lớn khôn

Nu na nu nống chồng còn mười ba

Mẹ ơi ! Con phải gỡ ra

Chồng con nu nống nu na suốt ngày

Đêm nằm khắc khoải canh chầy!

Cô vợ trẻ than thở với mẹ rằng anh chồng bé con chỉ biết ban ngày thong thả ngồi chơi, ban đêm lăn ra ngủ khì. Nu Na (Nu Nống) đúng là trạng thái thong thả, nhàn hạ.

Tranh Oger có tấm vẽ trẻ con chơi Nu na nu nống. Tên tranh bằng chữ Hán là Nô na. Nô na nghĩa là gì?

Nô: Đầy tớ. Ngày xưa con cái kẻ có tội phải vào làm đầy tớ cho nhà quan gọi là nô (Đào Duy Anh).

Nô: Đứa ở. Luật ngày xưa người nào có tội thì bắt con gái người ấy vào hầu hạ nhà quan, gọi là nô tì. Về sau kẻ nào nghèo khó bán mình cho người, mà nương theo về họ người ta cũng gọi là nô (Thiều Chửu).

Nô bộc là đầy tớ trai. Nô tì là đầy tớ gái.

Na: An nhàn. Hữu na kì cư là Chỗở an nhàn (Thiều Chửu).

Na (Nghỉ): En paix, tranquille (an nhàn), se reposer (nghỉ ngơi) (Génibrel).

(Từ điển Đào Duy Anh không có Na nghĩa là an nhàn, nghỉ ngơi).

Nói tóm lại, Nô na nghĩa là Đầy tớ lúc được an nhàn, nghỉ ngơi. Đầy tớ được an nhàn, nghỉ ngơi có thể hiểu là lúc được chơi đùa. Nghĩa rộng của Nô na là Đầy tớ chơi đùa lúc được an nhàn, nghỉ ngơi.

Nô na của chữ Hán bị nói sai hay nói trại thành Nu na của tiếng Việt.

Nô na ban đầu nghĩa là Đầy tớ (chơi đùa) lúc an nhàn. Nô na bị bóp méo thành Nu na. Cuối cùng, Nu na (nu nống) được hiểu theo nghĩa là Trò chơi của trẻ con.

Nu na là trò chơi chứ không phải là đồ chơi.

Nu na có thể là trò chơi Nặn pháo bằng đất. Nu na không phải là cái pháo bằng đất.

Đầy tớ được giải phóng, được mời vào cùng chơi đùa với trẻ con.

Vui vẻ cả làng. Tha hồ Nu Na Nu Nống!

Huyền thoại Cọp Chúa Joe Louis

Nhâm Dần nói chuyện Cọp : năm nay là năm tuổi của rất nhiều vĩ nhân trên thế giới, như nữ hoàng Anh, Elizabeth II, ca sĩ người Mỹ Lady Gaga hay ông vua quần vợt Tây Ban Nha, Rafael Nadal. Nhìn về quá khứ lịch sử thể thao Hoa Kỳ từng rất tự hào với ông Cọp Chúa Joe Louis sinh năm Giáp Dần và những nhăm Dần luôn là những cột mốc quan trọng trong gần 20 năm sự nghiệp của ông. Từ Chicago nhạc sĩ Dương Hồng Kỳ phác họa lại chân dung của huyền thoại da màu cầm tinh con Cọp mang tên Joe Louis :

Nhạc sĩ Dương Hồng Kỳ ngược thời gian nhìn lại huyền thoại quyền anh Joe Louis : « Nhà vô địch thế giới Quyền Anh hạng nặng nổi tiếng bậc nhất lịch sử có lẽ là Joe Louis của Hoa Kỳ. Joe Louis tên thật là Joe Louis Barrow, nhưng khi đề cập đến nhà vô địch này, ai cũng chỉ gọi tắt là Joe Louis. Và Joe Louis "cầm tinh con cọp", tức tuổi Dần.

Joe Louis sinh năm 1914 (năm Giáp Dần) tại Chambers County, thuộc tiểu bang Alabama, là con của Monroe và Lillie Barrow. Cha của ông ta (Monroe) là người da màu nhưng ít nhiều cũng có mang thêm dòng máu Âu Châu, còn mẹ (Lillie) có nửa dòng máu Cherokee (tên một bộ lạc thổ dân da đỏ).

Sự nghiệp của Joe Louis bắt đầu từ năm 1934 và chấm dứt vào năm 1951. Ông ta giữ chức vô địch từ năm 1937 cho đến 1949 khi ông ta giải nghệ lần thức nhất. Trong suốt thời gian này, ông ta đã bảo vệ chức vô địch 25 lần trong 13 năm, tất cả đều là kỷ lục tuyệt đối của tất cá các hạng trong bộ môn Quyền Anh. Lúc giải nghệ (lần thứ nhất 1949), Joe Louis đã đấu tất cả 61 trận, thắng 60, chỉ thua có 1.

Mỉa mai thay, chính trận thua của Joe Louis lại là đề tài được bàn đến nhiều nhất. Đó là trận thứ 28 trong đời làm võ sĩ của ông ta vào năm 1936. Sau khi thắng liên tiếp 27 trận (với 0 trận thua), Joe Louis được xem là võ sĩ số 1 của Quyền Anh, là nhà vô địch chưa mang đai. Đối thủ của Joe Louis trận đó là Max Schmeling người Đức, từng giữ qua chức vô địch Quyền Anh hạng nặng. Max Schmeling từng bị một cựu vô địch khác của Hoa Kỳ là Max Baer hạ đo ván trong khi chính bản thân Max Baer từng bị thảm bại dưới tay Joe Louis nên không ai nghĩ Joe Louis có thể thua được. Nhưng ai có ngờ đâu Max Schmeling đã âm thầm nghiên cứu lối đánh của Joe Louis. Và khi thượng đài, trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, Schmeling đã chế ngự được minh tinh số 1 của Quyền Anh lúc bấy giờ bằng cách hạ gục Joe Louis vào hiệp thứ 12. Nhưng điều sỉ nhục cho Joe Louis nhất không phải là bại trận mà là thái độ của lãnh tụ Đức Quốc Xã Hitler khi vinh danh Max Schmeling, đưa đi khắp Âu Châu, hãnh diện khoe rằng người Đức không thể thua ai được, nhất là dân da màu ».

Khi người Mỹ da trắng hãnh diện vì một huyền thoại da màu

Nhạc sĩ Dương Hồng Kỳ nhấn mạnh đến ý nghĩa cuộc phục thù : «Joe Louis phải đợi đến tháng 6 năm 1937, sau 8 trận thắng nữa mới được quyền đụng đương kim vô địch James Braddock (Hoa Kỳ) lúc bấy giờ. Joe Louis đã hạ đo ván James Braddock vào hiệp thứ 8 để đoạt chức vô địch thế giới Quyền Anh hạng nặng. Và kể từ đó cho đến lúc giải nghệ lần thứ nhất vào năm 1949, từng võ sĩ một, ai ai cũng phải gục ngã khi lên đài so găng với “Hổ Chúa” Joe Louis.

Trong thời gian này, Joe Louis tái đấu với Max Schmeling vào năm 1938. Trận đấu này đối với dân Hoa Kỳ và dân Đức không phải chỉ là một trận đấu Quyền Anh tranh vô địch bình thường, cũng không phải là trận phục thù của Joe Louis, mà còn là thể diện của hai quốc gia giữa Hoa Kỳ và Đức Quốc Xã nữa, chẳng khác gì Đệ Nhị Thế Chiến. Và lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, dân da trắng không ngần ngại lên tiếng ủng hộ một võ sĩ da màu, hãnh diện công nhận rằng Joe Louis xứng đáng đại diện cho họ trước một đối thủ mà Đức Quốc Xã đang đặt nhiều kỳ vọng. Và Joe Louis dĩ nhiên không làm họ thất vọng khi hạ đo ván, đánh ngã Max Schmeling tới 3 lần chỉ vỏn vẹn trong 2 phút 4 giây của hiệp 1.

Cứ như thế, Joe Louis đi từ trận thắng này đến trận thắng nọ, và rồi không ai còn là đối thủ của anh ta nữa. Đến năm 1949, với thành tích 60 trận thắng, chỉ có 1 trận thua, bảo vệ chức vô địch 25 lần trong 13 năm, Joe Louis lên tiếng giải nghệ.

Năm 1950, vì thiếu thuế chính phủ hơn nửa triệu Mỹ Kim, Joe Louis không còn đường nào lựa chọn nên phải trở lại võ đài. Tranh chức vô địch với tân vô địch lúc bấy giở là Ezzard Charles, Joe Louis thua điểm chật vật sau 15 hiệp. Sau đó, Joe Louis thắng 8 trận liên tiếp trước khi đụng Rocky Marciano (Hoa Kỳ). Trận đấu giữa Joe Louis và Rocky Marciano rất quan trọng vì người thắng sẽ được quyền thượng đài tranh chức vô địch sau đó.

Nhưng kết quả không được như ý cho Joe Louis, anh ta bị Rocky Marciano hạ đo ván vào hiệp thứ 8 (Rocky Marciano sau đó đoạt chức vô địch Quyền Anh hạng nặng. Rocky Marciano cũng là nhà vô địch Quyền Anh hạng nặng xuất sắc bậc nhất, và cũng là nhà vô địch Quyền Anh hạng nặng duy nhất bất bại, không thua, không hòa trận nào với 49 trận thắng. Hy vọng sẽ có dịp chia sẻ với độc giả về Rocky Marciano một ngày gần đây). Sau trận đấu, thay vì ăn mừng chiến thắng, Rocky Marciano đến gặp Joe Louis an ủi, rồi nhỏ lệ, nói: “I’m sorry, Joe” (Tôi rất tiếc, Joe [cũng có thể nói: Tôi xin lỗi, Joe]). Joe Louis cảm động đáp lại rằng: “What’s the use of crying? The better man won. I guess everything happens for the best” (Có gì đâu mà phải khóc? Người giỏi hơn tất thắng. Tôi nghĩ chuyện gì xảy ra cũng có lý do chính đáng của nó).”

Sau trận thua Rocky Marciano, Joe Louis giải nghệ lần thứ nhì, vĩnh viễn rời xa võ đài. Đến nay, Joe Louis đương nhiên đã khuất bóng, nhưng tên tuổi của ông ta bất tử, vẫn sống mãi với thời gian, không những trong giới Quyền Anh mà còn ở ngoài đời sống nhân văn nữa, và sẽ tiếp tục sống mãi muôn đời. Không những thế Joe Louis còn là một tấm gương sáng cho mọi người noi theo, là người không mặc cảm với màu da của mình, theo đuổi hoài bão đến cùng để rồi tự dành lấy cho mình một chỗ đứng trong lịch sử Quyền Anh nói riêng và lịch sử nhân loại nói chung ».

viethoaiphuong
#29 Posted : Friday, February 4, 2022 5:41:20 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Tiệm Mọt, nơi gìn giữ tiếng Việt ở xứ người

04/02/2022 - Chi Phương / RFI
Được thành lập vào thời điểm dịch bệnh căng thẳng, Tiệm Mọt, tiệm sách chuyên bán sách tiếng Việt hiện đã có mặt tại 8 nước châu Âu, tại Mỹ, Úc và Canada. Không chỉ mong muốn thực hiện mục đích mang tiếng Việt tới bất cứ nơi nào có người Việt và có nhu cầu sách tiếng Việt, Tiệm Mọt đã cho ra mắt bộ thơ Tết song ngữ đầu tiên.


Gió trời se lạnh

Mưa rơi lâm thâm

Gió xuân âm thầm

Đang gọi Tết tới


Em bé phấn khởi

Mình đi chợ nào

Tậu ngay cành đào

Mua thêm cây quất

Mở ra là thấy Tết, đón Tết về nhà, trên đây là một vài câu thơ trong trang đầu tiên qua giọng đọc của bốn bạn trẻ đến từ những nơi khác nhau trên thế giới của tập thơ Đón Tết Về Nhà. Cuốn sách sử dụng những hình ảnh minh hoạ đơn thuần dí dỏm, mô tả mùa xuân, gợi nên không khí Tết với cành mai cành đào, đi chợ sắm Tết…, xen lẫn với những vần thơ 4 chữ tạo nên giai điệu như những đồng giao của tuổi thơ. Song song với những vần thơ tiếng Việt là bản dịch thơ sang tiếng Pháp, tiếng Đức hoặc tiếng Anh. Đây là bộ thơ Tết song ngữ đầu tiên được phát hành bởi Tiệm Mọt - tiệm sách chuyên bán sách tiếng Việt tại châu Âu. Ý tưởng bán sách song ngữ đã có từ lâu, nhưng theo người phụ trách chi nhánh Tiệm Mọt tại Pháp, Thu Mai, điều này không dễ dàng gì để thực hiện, đặc biệt là đối với tiếng Pháp. Sách song ngữ Việt - Anh đã có rất nhiều nhưng sách song ngữ Việt - Pháp thì ít phổ biến hơn, nhất là những chủ đề về Tết. Cho đến nay, gần 4000 bản in bộ sách thơ về Tết song ngữ đã đến tay những gia đình Việt ở nước ngoài.

RFI Tiếng Việt đã có dịp trao đổi với Thu Mai phụ trách chi nhánh Tiệm Mọt tại Pháp. Trước hết, liên quan đến bộ thơ Tết song ngữ, bạn có thể chia sẻ quá trình làm ra bộ thơ này ?

Nhân dịp Tết, bọn mình cũng muốn làm một thứ gì có ý nghĩa, đó cũng là một dịp quan trọng đối với người Việt, cũng mong muốn là giới thiệu được văn hoá của người Việt mình tới nhiều người, thậm chí là người nước ngoài. Thực ra, vào cuối hè năm ngoái, Lionbooks là một nhà phát hành sách thiếu nhi ở Việt Nam, họ chú trọng vào dòng sách thuần Việt. Họ giới thiệu bản thảo của cuốn sách Tết này. Tiệm Mọt có xem qua bản thảo và thấy là khá là ưng ý, nên chúng mình đã tiến hành mua bản quyền, tìm dịch giả để chuyển ngữ. Lúc đầu bọn mình chỉ định làm bản tiếng Pháp, nhưng cũng thấy khá là hay. Các tiệm tại các chi nhánh khác cũng rất quan tâm và và làm cả bản tiếng Anh và tiếng Đức, tổng cộng có 3 bản song ngữ. Những bạn nhỏ nào tiếng Việt chưa giỏi lắm, có thể đọc tiếng Pháp nhiều hơn thì các bạn ý có thể đọc cả hai bên. Cả phần tiếng Pháp cả phần tiếng Việt, hoặc những gia đình nào bố là người Pháp mẹ là người Việt thì cùng một quyển sách mẹ cũng có thể đọc cho con, bố cũng có thể đọc cho con. Đấy là lý do mà chúng mình làm cuốn sách thơ song ngữ này.

Tại sao Tiệm Mọt lại chọn một tập thơ thay vì một câu truyện ngắn dân gian về Tết, như vậy các bạn thiếu nhi có thể dễ dàng nắm bắt câu chuyện hơn ?

Bởi vì thơ có vần các bạn sẽ nhớ hơn. Thế nên mình mới chọn thơ, nhưng đây lại là một thách thức lớn, vì dịch thơ rất khó. Mình phải tìm dịch giả. Bọn mình cố gắng tìm một dịch giả chắc chắn sẽ truyền tải được nội dung cũng như là hình ảnh, và đảm bảo được là thơ phải có vần. Thế cho nên, không phải chỉ là dịch, bọn mình thấy là thà không làm còn hơn là (làm rồi) để mọi người đọc xong rồi bảo : “Ôi dịch chán thế !” thì cũng không được. Lúc đấy mình thấy rất là may vì bọn mình tìm được dịch giả ưng ý, vừa có kinh nghiệm, kiến thức về văn hoá Việt Nam lẫn văn hoá Pháp. Ngoài ra thường xuyên tiếp xúc với trẻ em mới biết là truyền tải như thế nào các bạn sẽ thấy dễ hiểu nhất. Đó là mục tiêu của bọn mình

Quay trở lại với Tiệm Mọt, bạn có thể chia sẻ cơ duyên nào khiến các bạn cùng nhau mở tiệm sách tiếng Việt tại châu Âu, nhất là đúng thời điểm dịch ?

Thực ra việc thành lập Tiệm M ọt đến rất tự nhiên, nó đến từ nhu cầu của bản thân mình và mọi người xung quanh. Cá nhân mình rất thích đọc sách, mỗi lần từ Việt Nam sang, mình sẽ đem sang cả một va li sách để đọc dần dần, xong đợi đến lần tiếp theo về Việt Nam. Vì dịch Covid cũng lâu lắm rồi không được về Việt Nam, nên là mình có nhu cầu có thêm sách mới để đọc. Ngoài ra mình biết là nhiều bà mẹ sinh con ở bên này có nhu cầu đọc sách Tiếng Việt cho con. Và nỗi trăn trở lớn nhất của những bà mẹ sinh con ở bên này là mong muốn con giữ được tiếng Việt, nói được tiếng và giữ được tiếng Việt. Ban đầu Tiệm Mọt được thành lập ở Phần Lan, (bởi Quỳnh Hạnh), bạn ý muốn tìm sách cho con bạn ý, thế là bạn ý mới nhập sách từ Phần Lan sang, mở Tiệm Mọt ở Phần Lan. Mình thấy hay quá, thế nên là mình cũng luốn liên lạc với bạn ý. Thế rồi mở thêm chi nhánh ở Pháp rồi nhân lên các chi nhánh khác thôi. Nhu cầu về sách rất là cao, ở bất cứ nơi nào có người Việt, đều có sách Việt, chính vì thế nên Tiệm Mọt hình thành và có nhiều chi nhánh ở khắp mọi nơi.

Về chi nhánh mà bạn đang quản lý tại Pháp, được thành lập từ đầu năm 2021, trong quá trình thành lập, các bạn có gặp phải khó khăn gì không ?

Chắc khó khăn lớn nhất là việc vận chuyển. Vận chuyển khó khăn, giá cả cũng cao. Thời gian vận chuyển cũng lâu, nhiều khi mình muốn có sách sớm, trước một ngày nào đó chẳng hạn. Năm ngoái, mình vẫn nhớ là chuyến nhập sách sang Pháp đầu tiên của mình đó là chuyến sách Tết Tân Sửu. Mình đã lấy order (đơn hàng) từ tháng Một, sau đó cũng muốn là có sách sang trước Tết, thế nhưng vận chuyển rất là lâu, bị delay (trễ) rất nhiều. Gần Tết rồi vẫn chưa có sách, thế nên mình phải xin lỗi những khách hàng đã đặt. Và cuối cùng thì thùng sách đến nhà vào mùng Một Tết năm ngoái, thành ra sau Tết một chút, nhưng mà mọi người cũng thông cảm, bởi vì vận chuyển mùa dịch. Đó là phần khó khăn, ngoài ra thì giá cả vận chuyển cũng cao, nên là sách sau mà so với giá bìa ở Việt Nam so với cái giá bán bên này thì không thể so sánh được, cũng mong muốn là khi dịch giảm bớt, giá cả được cải thiện.

Trong các đầu sách giới thiệu hiện nay, các bạn chọn sách theo những tiêu chí nào ?

Khi mình hoạt động một thời gian ở trên thị trường mình biết được rằng là xu hướng đọc và sở thích chung của thị trường là gì. Có một điều thú vị là ở mỗi chi nhánh khác nhau của Tiệm Mọt, mình có thể so sánh được là các thị trường khác nhau có sở thích khác nhau. Ví dụ mảng sách thiếu nhi ở đâu cũng sẽ cần, các em nhỏ sinh ra lớn lên ở nước ngoài, các bố mẹ đều muốn con mình có sách tiếng Việt để đọc, thì ở đâu cũng có sách thiếu nhi, tuỳ theo thị trường mỗi nước đều có sở thích khác nhau. Ví dụ như ở Pháp, mọi người đọc đa dạng lắm, nhưng sách văn học vẫn chiếm ưu thế, hơn hẳn các thị trường khác. Còn ở Bắc Âu chẳng hạn, họ thích đọc sách về cách kinh doanh, tài chính, hoặc sách self help, ở Mỹ thì họ cực kỳ thích đọc truyện tranh. Khi làm một thời gian mình sẽ bắt đầu nhận ra rằng là xu hướng của thị trường thế nào thì mình sẽ cố gắng theo dõi. Giả sử như ở Pháp, mọi người thích sách văn học, mình cũng cố gắng theo dõi xem sách nào mới này, hay này, để giới thiệu lại với mọi người. Ngoài ra mỗi một đầu sách nhất định, mỗi mảng mình kiếm một số đầu sách để tủ sách đa dạng hơn

Theo tổng kết kết quả năm 2021, khoảng 15.267 bộ sách và 7,3 tấn sách đã qua tay Tiệm Mọt đến với độc giả, có thể nói đây là một khởi đầu thuận lợi, vậy trong những năm sắp tới các bạn có định hướng gì không ?

Mình thì mình muốn hướng tới nhiều đối tượng khác nhau. Mình thấy ai cũng có nhu cầu, kể cả một bạn sinh viên, chưa có con nhỏ nhưng cũng có như cầu đọc sách. Những người nhiều tuổi, con họ cũng lớn rồi và không nói Tiếng Việt. Nhưng họ cũng muốn đọc sách bằng tiếng Việt, đã xa nhà lâu, nhớ nhà, nên muốn đọc tiếng Việt, để họ tìm được cảm giác thân thuộc. Thế nên mình muốn phục vụ nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau. Chứ không phải nhắm vào một đối tượng nhất định. Tất cả các chi nhánh đều hướng tới việc mở rộng thị trường, tới các nhà sách đa ngôn ngữ. Ví dụ như cung cấp sách cho thư viện thì mọi người sẽ được đọc miễn phí, chỉ cần thẻ thư viện thôi. Chúng mình không muốn chỉ bán khởi nghiệp cá nhân thế này thôi mà muốn là sách Việt ngày càng có mặt nhiều nơi hơn, và nhiều người tiếp cận được hơn nữa.

Ngoài ra mình cũng có mục đích là phổ biến văn hoá Việt, giúp cho văn hoá Việt tới được nhiều người hơn nữa, rất được mong là có thể liên kết với các tổ chức khác, quảng bá văn hoá Việt Nam.

RFI Tiếng Việt xin cảm ơn Thu Mai, chủ chi nhánh Tiệm Mọt tại Pháp đã dành thời gian chia sẻ về hoạt động của mình.

Sau hơn một năm thành lập, Tiệm Mọt đã có mặt tại 11 quốc gia ở châu Âu, Mỹ, Canada và Úc. Tiệm Mọt trở thành đối tác của một số nhà xuất bản lớn như Nhã Nam, Kim Đồng hay Đông A. Hiện khách mua hàng chủ yếu qua trang mạng trực tuyến của Tiệm Mọt và các trang mạng xã hội. Ngoài bộ thơ Tết song ngữ do chính Tiệm Mọt đăng ký bản quyền và phát hành, hiệu sách cũng nhập các cuốn sách song ngữ Anh - Việt về Tết từ các đơn vị khác. Gần đây tiệm sách tiếng Việt ở nước ngoài này cũng liên kết hợp tác với nhà xuất bản sách thiếu nhi Horami ở Berlin, chuyên về các loại sách song ngữ, với hy vọng xuất bản nhiều cuốn sách song ngữ trong tương lai. Trong dịp Tết Nhâm Dần 2022, Tiệm Mọt đã liên kết với trung tâm dạy tiếng Việt ở châu Âu Vietmaster, đồng tổ chức cuộc thi Tài Năng Việt Năm Châu, tạo sân chơi cho các bé thiếu nhi tham gia thể hiện tài năng như ca múa hay đọc thơ bằng tiếng Việt.

Để kết thúc chuyên mục tạp chí hôm nay, RFI xin giới thiệu 2 bài dự thi đọc thơ Tết của hai bạn nhỏ đến từ Phần Lan và Canada :



Vũ Hoàng Bảo, Phần Lan (đọc thơ đón Tết về nhà)



Bé đến cổng chợ

Kéo vội tay bà

Mình đi ngắm hoa

Rồi mua quà Tết

Khu chợ náo nhiệt

Ai cũng tươi vui

Khuôn mặt rạng ngời

Chào cô chào bác



(Nguyễn Lê Bảo Hân, Canada)

Xuân sang Tết đến mọi nhà,

Con chúc ông bà sức khỏe an khang

Chúc cô chú bác giàu sang

Một năm sung túc cười vang mỗi ngày

Chúc anh chúc chị học hay

Con ngoan trò giỏi đợi ngày công danh

Chúc cho vạn sự tốt lành

Nhâm Dần năm mới bước chân xuân ngời


viethoaiphuong
#30 Posted : Saturday, February 12, 2022 12:15:24 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

MỘT VÒNG CHỢ QUÊ MỘT CHỮ

Dọc trên con đường thiên lý Bắc Nam qua tỉnh Quảng Trị, nếu để ý bạn sẽ bắt gặp dăm cái chợ với những cái tên rất ngộ, chỉ độc một chữ duy nhất. Mỗi chợ có một “hộ khẩu” gắn với từng mảnh làng nhưng phần đa rất nổi tiếng dù chẳng ai lý giải được cái tên của chúng hoặc nếu có cũng rất mơ hồ…

Gọi quen mà Thanh

Có người bảo rằng tên chợ một chữ là ví dụ điển hình nhất của bản chất người miền Trung giản dị, có sao nói vậy, cốt cho giản tiện. Vậy nên khắp vùng Bình Trị Thiên, đâu đâu cũng “gặp” chợ quê một chữ: chợ Dinh, chợ Niệu, chợ Mai (Thừa Thiên-Huế); chợ Hôm, chợ Tréo (Quảng Bình) và Quảng Trị với chợ Cạn, chợ Sòng, chợ Cầu, chợ Kên, chợ Do. Người ta chỉ biết rằng, từ đời trước, ông bà tổ tiên đã gọi thế thì con cháu sau này cứ vậy mà gọi theo.

Ví như ở chợ Cạn (xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong), đây từng là một địa danh nổi tiếng từ thời nhà Nguyễn, gắn liền với một bộ môn nghệ thuật vang bóng một thời. Dẫu rằng “tuồng chợ Cạn” đã thuộc về dĩ vãng nhưng hễ nhắc đến “chợ Cạn”, phàm là người dân Quảng Trị dù có xa xứ vài chục năm vẫn biết. Có người chơi chữ tếu táo vẫn nói chợ Cạn là cái chợ ngược đời nhất bởi đã là chợ thì phải “đầy” chứ “cạn” thì lấy gì mà bán mà mua.

Chợ Cầu ở huyện Gio Linh cũng có một quá khứ lẫy lừng. Ngày nay, nhiều người chỉ biết về nó như là một ngôi chợ khang trang được đặt ngay giữa trung tâm thị trấn Gio Linh, sát bên quốc lộ 1A mà ít ai biết rằng cái tên chợ Cầu đã được định danh từ thời chúa Nguyễn, gắn liền với đình làng Hà Thượng (ngôi đình được các nhà nghiên cứu xếp vào hàng cổ bậc nhất tỉnh Quảng Trị). Chợ Cầu đã từng đi vào thơ ca: “Vôi trắng nghìn năm lời ước hẹn/ Đỏ au cổ tích chẳng nhòa phai/ Chợ Cầu giao cảm cùng sông núi/Viên mãn cho người một sớm mai…”. (Võ Văn Hoa)

Hàng bún, hàng không thể thiếu ở những ngôi chợ “nhà quê”

Riêng đối với chợ Sòng, tôi đã “trộm” nghĩ rằng phải chăng vì chợ đặt ngay cạnh ngã tư Sòng (ranh giới giữa thành phố Đông Hà và huyện Cam Lộ) nên có tên như vậy, nhưng rồi cuối cùng tôi cũng “tắc tị” với từ “Sòng”.

Một người đàn anh trong buổi trà dư tửu hậu đã “lý giải” với tôi về những cái tên một chữ rất đơn giản nhưng cũng có phần ngạo nghễ của một số chợ quê ở Quảng Trị rằng: “Có khi người xưa đặt tên chợ cũng giống như đặt tên cho con cái, nhiều cái tên không có nghĩa, không rõ nghĩa hoặc nhiều nghĩa nhưng cốt lõi là ngắn gọn, dễ nhớ…”.

Chợ “nhà quê”

Chợ “nhà quê” có phong cách, lề lối riêng. Những ngôi chợ “một chữ” xét cho cùng cũng là chợ “nhà quê”, bởi hàng hóa chủ yếu là các loài sản vật địa phương, từ mớ rau con cá cho đến trái ổi, trái cam. Chợ quê tựa mặt tiền, là nơi để người ta “khoe” những sản vật của làng mình, của gia đình mình. Dẫu cho hàng hóa được làm ra trên đồng đất quê, từ bàn tay người dân lam lũ rồi chúng ra chợ và cũng đến tay những người “nhà quê” khác mà thôi.

“Trên ti vi người ta nói ăn cái gì cũng có độc, cũng mắc bệnh, còn tôi chắc chắn sẽ được ăn đồ sạch. Hàng hóa ở chợ toàn do hàng xóm nuôi trồng, lẽ nào họ trồng rau, nuôi heo như thế nào mà tôi không biết?”- bà Lê Thị Phường, một người đi chợ Cạn nói chắc nịch.

Chợ quê Quảng Trị thường bán cả những cây con giống phục vụ bà con nông dân

Chợ quê còn bán cả cây con giống, ví như vào chợ Kên (xã Trung Sơn, huyện Gio Linh), nếu đến hàng trứng thì sẽ có cả rổ gà con lông tơ vàng óng đang chen lúc nhúc, nếu đến hàng thịt chí ít cũng gặp đôi chú heo sữa kêu ủn ỉn dưới gầm hàng. Hay như ở chợ Do (xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Linh), dù được dựng lại khang trang với mức đầu tư hơn chục tỉ đồng thì người ta vẫn nằm lòng câu ca dao chẳng biết có tự bao giờ rằng: “Chợ Do chợ của nhà quê/ Chợ sắn, chợ cá, chợ chè, chợ tiêu”.

Có ghé chơi mấy ngôi chợ này mới biết “văn hóa chợ quê” cũng mang nhiều nét lạ. Người bán người mua cứ thủng thẳng, chẳng ai tranh giành vồ vập gì nhau. Được cái chợ thường họp sớm và chừng 10 giờ sáng thì bắt đầu vãn người.

“Dân quê chúng tôi dành thời gian chợ búa cho buổi sáng, ít khi họp chợ chiều. Đi chợ sớm vừa để ăn sáng, vừa để mua bán, vừa để trò chuyện…Chúng tôi có thời gian chứ không phải tấp vội tấp vàng vào chợ xép lề đường như người trên phố.”- chị Lâm, một tiểu thương ở chợ Kên (xã Trung Sơn, huyện Gio Linh) chia sẻ.


Quê ngoại tôi cũng có một ngôi chợ nhỏ nằm e ấp bên dòng Kiến Giang và cũng chỉ có một tên (chợ Hôm ở xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình). Người ta thường nói xa quê, một trong những điều làm người ta nhớ nhất chính là ngôi chợ quê yên bình. Cũng như bao người khác tôi đã gửi một phần ký ức tuổi thơ mình ở nơi chốn đó…

Theo NGUYỄN PHÚC (Quảng Trị Online)


viethoaiphuong
#31 Posted : Saturday, April 30, 2022 6:06:41 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

CỬA TÙNG, NỖI NHỚ KHÔNG NGUÔI

học giả Dương Bỉnh

Cửa Tùng là hải khẩu sông Bến hải, con sông mang dấu ấn tang thương của đất nước. Tôi rời Cửa Tùng đã trên nửa thế kỷ mà nỗi nhớ vẫn không nguôi, lòng cứ bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, bởi nơi đây là “Quê Cha Đất Tổ”, nơi Tổ Tiên tôi cùng các vị đồng bối, hưởng ứng công cuộc di dân của chúa Nguyễn Hoàng, đã đến đây lập nghiệp. Các bậc tiền bối, qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau khai sơn phá thạch biến hoang địa thành vùng đất phì nhiêu và cửa Tùng trở nên chốn “Thanh phong lưu thủy”, một hải ngạn đẹp đẽ được người đương thời so sánh “nhất Đồ sơn, nhì Cửa Tùng”. Thi sĩ Đông Hồ khi tả cảnh Hà tiên đã nhắc đến Cửa Tùng “...có một ít Đồ sơn, Cửa Tùng, một ít Nha trang, Long hải...”.

Theo Việt sử, vùng đất Cửa Tùng nguyên là lãnh thổ của nước Chiêm thành. Vì quân Chiêm hay quấy nhiễu nước ta nên năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Chế Củ xin dâng ba châu để chuộc tội là châu Địa lý, châu Bố chính và châu Ma linh. Ba châu ấy nay thuộc địa hạt tỉnh Quảng bình và một phần phía bắc tỉnh Quảng trị. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông sai ông Lý Thường Kiệt vẽ lại họa đồ hình thể sông núi của ba châu và đổi tên châu Địa lý thành châu Lâm bình, châu Bố chính vẫn giữ nguyên tên cũ và châu Ma linh đổi thành châu Minh linh, rồi chiêu mộ di dân sang ở.

Theo Cương Mục Chính Biên thì châu Địa lý là phần đất huyện Quảng ninh, châu Bố chính là phần đất thuộc các huyện Bố trạch, Quảng trạch và Tuyên đức thuộc tỉnh Quảng Bình, còn châu Ma linh là phần đất toàn phủ Vĩnh linh và một phần phía bắc huyện Gio linh, tỉnh Quảng trị.

Như vậy, Cửa Tùng, phần đất phía đông bắc của phủ Vĩnh linh được sáp nhập vào lãnh thổ Việt nam kể từ năm 1069, năm mà Chế Củ xin dâng ba châu để chuộc tội.

Chủ trương của vua Lý Nhân Tông chiêu mộ di dân sang lập nghiệp vùng ba châu đã mở đầu công cuộc Nam tiến của nước ta. Tuy ban đầu, người Việt còn dè dặt trong việc di cư xuống phía Nam vì e ngại người Chiêm quấy nhiễu, trả thù, nhưng dần dần lãnh thổ phía nam nước ta bành trướng đến đèo Hải vân, rồi đến Quảng nam, Quảng ngãi..., người Việt phía Bắc mới an tâm đến lập nghiệp ở phía Nam.

Năm 1558 (Mậu ngọ), đời vua Anh Tông, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận hoá, đóng ở Ái-Tử tỉnh Quảng trị. Bấy giờ những người họ hàng với chúa Nguyễn ở huyện Tống sơn tỉnh Thanh hoá và những quân binh ở Thanh hoá Nghệ an và gia đình họ cùng đi theo chúa Nguyễn. Đợt di dân nầy được xem là đông đúc. Những đợt di dân tiếp theo trong nhiều năm sau đã tăng dân số trong vùng được gọi là “Đàng Trong” từ sông Gianh trở vào thuộc quyền cai trị của chúa Nguyễn. Qua hàng trăm năm các đời vua nối tiếp nhau cho đến cuối triều nhà Nguyễn, ngày vua Bảo Đại thoái vị (29-8-1945), thì vùng Cửa Tùng gồm có các làng xã sau đây:

Đại xã An du gồm có bốn làng : An du Đông, An du Tây, An du Bắc, An du Nam, làng Di loan (Di luân), làng An ninh, làng Vĩnh an, làng Tân trại, làng Cổ trai và làng Tùng luật thuộc tổng Hiền lương, phủ Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị.

Cửa Tùng là nơi sông Bến hải chảy ra biển. Con sông nầy phát xuất từ dãy Trường sơn, dài 59 km, diện tích lưu vực 936 km2. Đoạn nguồn mang tên “Ben Hai” một tên gọi của người Thượng địa phương. Khúc sông nầy dài nhưng hẹp và cạn, có nơi có thể lội bộ qua được, nhưng khi chảy đến bến đò Hiền lương (cầu Bến hải) được một phụ lưu khác hợp lưu, chảy vào địa phận tổng Hiền lương nên được gọi là sông Hiền lương, vừa rộng vừa sâu, chảy qua các làng Thuỷ khê, Cẩm phổ, Xuân mị, Cát sơn phía bờ nam và làng Tùng luật, Di loan, Vĩnh an phía bờ bắc rồi chảy ra biển.

Hải khẩu cửa Tùng nguyên thuộc địa phận một phường của làng Tùng luật, người địa phương gọi là làng Tùng, cửa biển gọi là cửa Tùng. Vào khoảng năm 1915-1920, phường nói trên được xuất làng mang tên là làng Vĩnh an. Dân cư trong làng sống chen chúc trên một đoạn bờ bắc cạnh cửa biển. Sát cửa biển, mặt tiền làng Vĩnh an, một ngôi chợ nhóm vào buổi chiều gọi là chợ Hôm hay chợ Cựa (Cửa). Chợ gồm mấy dãy quán tranh, sạp tre, bán các loại hải sản như cá, tôm, cua ... của các thuyền câu cập bến sau một ngày ra khơi. Cạnh chợ có mấy nhà gạch, một tiệm thuốc bắc, một tiệm hớt tóc và một tiệm may. Khu vực chợ Cựa ban mai mang bầu khí tịch mịch nơi thôn dã, đến xế chiều, thuyền câu đổ bến và họp chợ mang lại cảnh tấp nập huyên náo, trên bến dưới thuyền chen chúc nhau mua bán vội vàng vì chợ tan trước lúc mặt trời lặn.

Hằng năm, hai mùa xuân hạ, sóng êm biển lặng, các thương thuyền cũng cập bến để thu mua các loại sản phẩm như khoai khô, sắn khô, chè (trà) khô gọi là chè Tùng, cá khô, mực khô, hạt tiêu...

Xa về phía bắc chợ Cựa, một vùng đá khá rộng chạy từ bờ đất doi ra biển. Mỏm đá nầy tạo cảnh quang cho cửa biển thêm đẹp nhưng cũng là mối nguy cho thuyền bè có thể bị vỡ khi vào cửa gặp lúc bão lụt sóng to gió lớn.

Cách mỏm đá nói trên vài cây số về phía bắc, một dàn đá khác lớn gấp ba, nhô ra biển. Sóng biển nhấp nhô len lỏi trong các gềnh đá phủ đầy rong, một vài loại hải sản như đỉa biển (hải sâm), cua, còng ở vùng cạn, còn vùng cao, mặt đá phẳng lì, người địa phương chia ô, cô nước biển thành nước muối, sau đó chế thành muối ăn.

Giữa hai vùng đá nói trên là một eo biển, gọi là Bãi Eo hay “Bãi Tắm Cửa Tùng”, cong hình trăng non với bãi cát trắng mịn, dài trên 1 km rộng độ 100 mét, với hai đường xe song song theo độ cong của bờ đất. Bãi Eo là một bãi tắm lý tưởng bởi đáy biển thoai thoải, cát mịn, nước trong, mùa hè mặt biển gợn sóng lăn tăn, gió nồm hiu hiu thổi từ biển vào rừng dương liễu bọc quanh bờ bãi tắm nghe vi vu như tiếng sáo trúc trầm bổng vang vọng trong cảnh yên hà tịch mịch.

Phía bắc bãi Eo độ 2 km, một mỏm đá vôi doi ra biển trông xa như đầu con voi, người địa phương gọi là “trôốc voi”, danh từ địa lý gọi là “Mũi Lài”, người Pháp gọi là “Cap Lay”.

Xa xa phía biển đông có cù lao “Cồn Cỏ” thấp thoáng in hình trên mặt biển. Tương truyền rằng : ngày xưa có ông “Thồ lồ” (khổng lồ) gánh đất từ dãy Trường sơn về lấp biển, bị gảy đòn gánh nên một đầu bị đổ ra biển đông nay gọi là đảo Cồn Cỏ và đầu kia đổ ở làng Hồ xá, nay là núi “Lò Reng”

Phía tây bãi tắm là sườn dốc cao với rừng dương liễu dày đặc xanh rì, cao vút, tiếng reo vi vu hoà quyện với gíó biển tạo âm hưởng vọng lên khắp vùng hải ngạn.

Hết dốc cao đến vùng bình địa đất đỏ bazan, loại đất thích hợp trong kinh tế vườn với các loại cây mít, chè, thơm, chanh, cam, quít, bưởi, cau, tiêu, sắn, khoai, chuối v.v...

Giữa hai đường cái quan song song dọc bờ đất hình cánh cung, nhiều nhà cửa, nhà hàng, biệt thự của người Pháp, các cơ quan như nhà Dây thép (Bưu điện), Nhà thương (Trạm y tế), Đồn lính tập (Lính khố xanh), Nhà máy đèn (Nhà máy phát điện) và nhà Thừa Lương (Nhà hóng mát) của các vua cuối đời nhà Nguyễn.

Tuy là nhà Thừa lương của vua nhưng chẳng phải “lầu son gác tía” hay “Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, gác thừa lương thức ngủ thu phong”(CgO), mà là một ngôi nhà khá to, lợp tranh, đóng lát bằng gỗ mang dáng uy nghiêm. Nơi đây đã nảy sinh mối tình dang dở của vua Duy Tân.

Chuyện kể rằng năm 1914, vua Duy Tân ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, lúc ấy nhà vua độ 15 tuổi muốn có bạn chơi cùng lứa nên đã truyền cho ông Hồ đắc Trung, Thượng thư bộ Học theo hầu và dẫn thêm mấy người con của ông Trung, 2 trai 16 và 15 tuổi, 2 gái 13 và 10 tuổi đi theo cho vui. Nhà Vua tuy nghiêm trang nhưng vẫn vui đùa với hai cậu trai và cô gái út, còn cô gái 13 được Ngài lưu ý để mắt tới nhưng ít tiếp chuyện. Nghỉ hè sắp mãn, vua tôi bịn rịn quấn quít lúc chia tay, cô chị ứa lệ nhìn Ngài. Ngài bảo sang năm sẽ gặp nhau lại. Năm sau, gần đến hè, cô chị xin đi theo các anh em ra Cửa Tùng, nhưng quan Thượng không cho, bảo ở nhà với mẹ, cô chị oà lên khóc nức nở. Khi đến Cửa Tùng, gặp lại mấy anh em, Nhà Vua hỏi sao thiếu mất một người, cô em tâu rằng mẹ bảo ở nhà. Vua nói “Thật tội nghiệp cho chị ấy”. Mãn hè một tháng, một hôm có quan Thị vệ đến xin ảnh cô chị đem vào Nội cho bà Thái Hậu xem mặt. Khoảng một tuần sau đó, Thái Hậu cho mời ông bà Thượng thư Hồ đắc Trung vào chầu. Ít bữa sau, kiệu vua đệ ra nhà quan Thượng một đôi bông tai và một đôi vòng vàng cho cô chị. Đó là lễ hỏi và cô chị ra lạy tạ ơn vua hạ cố.

Vào khoảng tháng 12 năm 1915, sau khi ở triều về, quan Thượng kín đáo báo cho quan Bà và bảo con lấy đôi vòng và đôi bông tai để mẹ con đem vào Nội dâng lại cho vua vì Ngài từ hôn và Ngài bảo hãy an ủi con và gả ngay cho người khác, đừng để con buồn tội nghiệp, Ngài còn bảo “Thầy nên hiểu vì ta thương gia đình thầy nên mới phải từ hôn với người mà ta mến từ hai năm nay”.

Sở dĩ có sự đổi ý đột ngột như thế vì vua Duy Tân đã có kế hoạch đánh quân Pháp ở Huế vào đêm 3 tháng 5 năm 1916. Cuộc khởi nghĩa bại lộ, vua Duy Tân bị bắt. Ngài có tâm sự rằng “Vì tôi thương gia đình ông Hồ đắc Trung, sợ ông ấy bị liên lụy nên tôi từ hôn”.

Cũng có một vài giai thoại về vua Duy Tân tại Cửa Tùng: Có lần tay vua đầy cát bẩn, quan Thị vệ đem chậu nước đến để vua rửa. Vua vừa rửa vừa hỏi quan Thị vệ “Tay nhớp thì lấy nước rửa, nước nhớp thì lấy chi rửa?”.

Ông quan còn ấp úng chưa trả lời được, thì vua nói “Nước nhớp thì lấy máu mà rửa. Nhà ngươi biết chưa?”.

Sau khu biệt thự của người Pháp và cơ quan của nhà nước là làng mạc sầm uất, đường sá ngoằn ngoèo, nhà cửa ẩn khuất trong những khu vườn đất đỏ trồng cây lưu niên như chè, mít, tiêu, cau, trầu, ổi, cam, quít, chanh, bưởi, vả, thơm, chuối ... Cây chè (trà) ở đây to lớn, gốc đường kính 2,3 tấc, cao 5,6 mét, mỗi năm bẻ (cắt cành) 2 lần, giả nát, phơi khô, cho vào bao xuất khẩu gọi là “Chè Tùng”. Còn cây mít cao trên chục mét, trái để ăn, gỗ ròng màu vàng dùng làm phản, giường, tủ, bàn, ghế, cột nhà, rui, kèo... Những cây mít cổ thụ được dùng làm cột đình, chùa, nhà thờ ...

Hai bên đường và bìa vườn người ta trồng tre. Tre khắp nơi, nhiều loại, nhiều thứ, đường nào cũng có tre, vườn nào cũng có tre, dùng để ăn măng, làm nhà, làm phên, đan đát thúng mủng, sàng, dần, gàu giai, gàu sòng, thuyền nan, chuồng trại gia súc, v.v...

Trung tâm khu vực Cửa Tùng là một vùng đất cao, rộng và bằng phẳng được dùng làm sân máy bay loại nhẹ thường gọi là “máy bay bà già”. Vào một trưa mùa đông năm 1941, một phi cơ chiến đấu của Nhật bổn lâm trận với máy bay địch ở Biển Đông không trở về hậu cứ được, cạn xăng, nên tìm nơi gần nhất để hạ cánh, đã đáp xuống phi trường Cửa Tùng. Bởi phi đạo quá ngắn nên phi cơ đã vượt ra xa, đâm vào bờ đất, bị vỡ. Phi hành đoàn 6 người gồm 1 Trung úy, 1 Thiếu uý và 4 quân nhân. Thân phụ tôi đã dùng chữ Hán tiếp xúc với Trung úy Trưởng đoàn, ông muốn có một nơi tạm trú cho phi hành đoàn. Ba tôi đã mời cả 6 người về nhà và cung cấp ẩm thực trong 7 ngày, cho đến khi họ liên lạc được với Bộ Tư Lệnh Bộ Binh Nhật ở Huế cho xe đến đón.

Cạnh phi trường nầy có một sở Tằm (Sở Canh nông) cung cấp trứng tằm giống, cố vấn việc nuôi tằm, giới thiệu giống dâu năng suất cao (lá to và nhiều lá).

Gần phi trường có một sân vận động nhỏ và một trường học tọa lạc trên đất xã An du, sát tỉnh lộ, cạnh sân banh của Tiểu chủng viện An ninh, trên cổng trường có một bảng lớn đề : “École élémentaire d’An-du”.

Người Cửa Tùng gọi trường này là “Trường Hương sư”, thời Pháp thuộc chỉ có ba lớp: Đồng ấu (cours enfantin), Dự bị (cours préparatoire) và Sơ đẳng (cours élémentaire). Lúc đầu chỉ có thầy giáo Thạnh, người làng An du tây dạy 2 lớp đồng ấu và dự bị, sau thầy Thạnh là 2 thầy Nguyễn quang Yêng , người làng An du Nam và thầy Phiên người làng Sơn công Sơn quả tỉnh Thừa thiên, dạy 3 lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng. Hai thầy Yêng và Phiên thuyên chuyển, hai thầy khác đến thay là thầy Lê văn Thử người làng Vĩnh an và thầy Nguyễn văn Nghi người làng An ninh. Các thầy phục sức chỉnh tề: khăn đóng, áo dài đen, quần trắng, mang guốc hay sandale, thỉnh thoảng áo chemise trắng, quần tây xanh đậm. Cả trường chỉ có một cái đồng hồ để bàn của thầy Hiệu trưởng. Hộc bàn thầy nào cũng có một cây roi ngắn để “trị” các trò không thuộc bài. Đặc biệt bài “Học thuộc lòng”phải thuộc làu, đọc suôn sẻ như tụng kinh. Năm 1940, đệ nhị thế chiến diễn ra khốc liệt tại châu Âu, Chính phủ Bảo hộ Pháp kêu gọi người Việt đi lính sang giúp Pháp đánh Đức, đã truyền hịch “Tùng chinh”, được thầy cắt làm 3 đoạn bắt học thuộc lòng như sau:

Hỡi anh em bạn tùng chinh,
Vì sao nước Pháp hưng binh phen này.
Chỉ vì nước Đức cố gây,
Muốn làm bá chủ đông tây một mình.
Bấy lâu sinh sự hoành hành,
Chiếm xong Áo Tiệp lại dành Ba lan.
Kể sao xiết nỗi hung tàn,
Giết người cướp của dã man vô cùng.
Pháp Anh hai nước một lòng,
Quyết phò công lý, chẳng dung cường quyền
Đồng minh quân đội kết liên,
Với quân Thuộc địa khắp miền gần xa.
Binh hùng tướng dũng kéo ra,
Dưới cờ Đại Pháp kể là rất đông.
Thù giặc Đức, cũng thù chung,
Nếu không chinh phạt thời không hoà bình.
Đánh cho Quốc xã tan tành,
Hít-le đến phải thất kinh oai trời.
Anh em Nam Việt ta ơi!
Vốn dòng nghĩa khí, vốn nòi thông minh.
Trong lòng vốn sẳn cảm tình,
Biết ơn Bảo hộ với mình lâu nay.
Tùng chinh lại gặp hội này,
Đền ơn ta phải góp tay với người.
Quản gì vượt biển ra khơi,
Chí nam nhi đặng gặp thời càng hay.
Sắt son ghi tạc dạ này,
Lo tròn phận sự cho tày người ta.
Khi về cổi bức chiến bào,
Hai Nhà nước thưởng công lao cho mình.
Ngoài xã hội, trong gia đình,
Tháng ngày vui hưởng thái bình phước chung
Anh em nên cố gắng công!.

Không biết tác giả bài nầy, nhưng được thầy giáo bắt học thuộc lòng và bảo đọc lớn tiếng cho trong nhà và hàng xóm nghe để cổ động đi lính qua Pháp đánh Đức.
Mỗi chiều, nửa giờ trước khi bãi, thầy tập hát. Thời đó chưa có tân nhạc, chỉ có cổ nhạc theo điệu dân ca Bình Trị Thiên, cũng gọi là dân ca Huế. Một vài bài điển hình sau đây:

1) Khuyến học (điệu lý con sáo)
Bớ trò đi học nhà trường,
Phải chăm, phải chăm mà bước,
Kẻo đường ơi trò ơi còn xa.
Giữa đường chớ giỡn chớ la,
Phải so, phải so ngày tháng,
Thoát đà ơi trò ơi nhường thoi.

2) Đạo làm trai (điệu kim tiền)
Sanh ra đạo làm trai, chăm lo học cho đặng nên người. Để đua trí đua tài kịp người ta, đường lớn xa. Khi bên thầy, khi bên bạn, khi bên đèn. Lấy văn tự đêm ngày đặng mà coi. Này con ơi! Này con! gắng công mà học cho đặng nên người, gặp thời giúp đời. Ai mà chăm chỉ thì nên. Cố công rèn tập ư thời gặp, thời gặp hội rồng mây. Cố công rèn tập ư thời gặp.

Trường tuy nhỏ nhưng cũng qui tụ học sinh các làng ở xa 3,4 cây số, đem theo cơm trưa, ngày học hai buổi mai chiều, tuần nghỉ hai ngày thứ năm và chủ nhật. Mỗi sáng nghe trống đánh 1 hồi 3 dùi, học trò sắp hàng trước cửa lớp, thầy bảo “Entrez”, học sinh đáp ”Nous entrons” rồi lễ phép đi vào lớp, đứng tại chỗ, thầy cho lệnh ”Asseyez-vous”, học sinh đáp ”Nous nous asseyons” rồi ngồi xuống. Thầy mở sổ “appel” gọi tên từng trò, học sinh lần lượt trả lời “présent”. Chiều bãi, ông phu trường đánh một hồi trống, học sinh xếp sách vở. Thầy hô ”Levez-vous”, học trò đứng dậy và nói “Nous nous levons”.Thầy nói tiếp “Sortez”, học sinh đáp “Nous sortons” rồi lần lượt ra cửa. Học sinh xưng hô với nhau bằng “trò” không được nói tao mi. Ra đường gặp thầy, phải cất nón chào thầy. Đúng là tiên học lễ hậu học văn.

Thời ấy (Pháp thuộc), quá tuổi không cho nhập học nên một số học sinh ở thôn quê khai hạ tuổi. Đi học để vừa biết chữ vừa kiếm mảnh bằng “Sơ Học Yếu Lược” (Certificat élémentaire) để trình làng, được miễn tạp dịch và sau nầy ra làm hương lý gánh vác việc Làng việc Tổng, xin làm Cai Lục lộ (Công chánh), hoặc ông Cai ông Bếp lính Khố xanh hay xin học làm y tá hương thôn, nữ hộ sinh hương thôn, v.v...Học hết lớp ba (cours élémentaire) ở trường Hương sư, muốn học tiếp thì lên Phủ (quận) học École primaire, xa 10 km, ở trọ nhà quen, góp gạo và tiền mua thức ăn.

Cùng học chung với nhau từ thuở tấm bé lớp Đồng ấu đến lớp Sơ đẳng trong ba năm liên tiếp, theo thứ tự ghi trong sổ appel của thầy, gồm có các trò : Niên, Nước, Thiên, Tới, Lự, Phận, Vị, Để, Hồng, Nghi, Ân, Niệm, Bỉnh, Tuấn, Tường, Tường, Lội, Hoè , Thảo, Điền, Cư, Đinh, Khánh, Cung, Bỉnh, Ba. (Hai mươi sáu trò, 66 năm qua, bây giờ ai còn ai mất, xin hoài niệm).

Khoảng năm 1940, có lần học sinh được xếp hàng dọc theo tỉnh lộ, tay cầm cờ long tinh nhỏ, miệng hô to “Vive l’Empereur” khi xe hoàng đế Bảo Đại đi qua để về Thừa lương. Cũng dịp nầy, một đoàn Hướng đạo đến đóng trại, ca hát, lửa trại, hài kịch rất vui.

Hằng năm đến ngày 14 Juillet, Quốc khánh Pháp, có đội kèn tây về trình diễn âm nhạc, buổi tối có chiếu phim lộ thiên cho tây và ta xem.

Khu vực Cửa Tùng gồm 10 làng: An du đông, An du tây, An du nam, An du bắc, An ninh, Di loan (Di luân) Cổ trai, Tân trại, Tùng luật và Vĩnh an. Ranh giới khu vực được giới hạn đông giáp biển, nam giáp sông Bến hải, tây giáp làng Liêm công, bắc giáp làng Thủy cần và Thạch bàn.

Một vài làng điển hình sau đây :

- Xã An du cũng gọi là An do rộng lớn hơn cả, xưa kia là một đại xã. Vị khai khẩn là ông Nguyễn như Long, ông có người em ruột là Nguyễn như Hổ là vị khai khẩn làng Tân trại. Hằng năm, lễ giỗ khai khẩn, An du xướng tên cả hai vị “Nguyễn như Long, Nguyễn như Hổ”, Tân trại cũng xướng tên hai vị nhưng ngược lại “Nguyễn như Hổ, Nguyễn như Long”. An du có một ngôi chợ khá lớn gọi là chợ Do (An do), giữa chợ có đình chợ lợp ngói, ba bốn cây sanh cây đa rợp bóng mát, mặt tiền chợ là cánh đồng nho nhỏ, ba mặt hậu, tả, hữu là nhà cửa, quán xá, 2 tiệm thuốc bắc, 2 tiệm may, ba bốn sạp vải, nhiều sạp tạp hoá. Chợ mua bán nhiều loại nông sản, hải sản, thịt gia súc, chim chóc, đồ thủ công như nón lá, tơi lá, dần, sàng, thúng, mủng, v.v... Chợ nhóm suốt buổi mai đến xế trưa, đông đúc, nhộn nhịp mang vẻ sầm uất nơi thôn dã.

Bởi cư dân ngày càng đông, xã An du được chia làm hai làng: An du đông và An du nam. Về sau, để đáp ứng việc gia tăng dân số, chính quyền tỉnh Quảng trị cho chia làng An du đông thêm làng An du bắc, làng An du nam thêm làng An du tây. Về điền thổ không chia, chỉ chia dân số theo tiêu chuẩn tín ngưỡng: An du đông lương, An du bắc công giáo, An du nam lương, An du tây công giáo. Tuy chia như vậy nhưng nhân hoà đoàn kết, nhân tâm vui vẻ.

- Làng Di loan (Di luân), quê quán của đức cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm. Di loan trước kia là một xã lớn, vì dân số đông nên vào năm 1950 cho một phường xuất làng mang tên là làng Di loan bắc, làng nầy chiếm 2/3 dân số giáo xứ Loan lý, ở sát bãi tắm Cửa Tùng.

Phong cảnh làng Di loan khá đẹp, mặt tiền làng hướng về phiá nam nơi dòng sông Bến hải lững lờ chảy ra biển. Dọc bờ sông, tầng thấp làm ruộng muối, tầng cao ruộng lúa, đến một con đường khá rộng suốt từ đầu làng đến cuối làng. Sau con đường nầy là cư dân, nhà cửa, vườn tược xanh tươi. Giữa làng, phía mặt tiền nhìn ra sông, một ngôi thánh đường trang nghiêm cổ kính với ba quả chuông lớn. Chánh xứ coi sóc họ đạo Di loan là linh mục Léopold Cadière, tên Việt là cố Cả, thuộc hội Thừa sai Ba lê (Mission Étrangère de Paris), đến Việt nam năm 1892, làm giáo sư Tiểu chủng viện An ninh Cửa Tùng 1893-1894, Chính xứ Di loan kiêm Hạt trưởng Giáo hạt Đất đỏ (Cửa Tùng) từ tháng 9 năm 1918 đến tháng 3 năm 1945, bị Nhật bắt giam 5 tháng trong dịp Nhật đảo chánh Pháp. Ngày 19.12.1946 bị Việt minh bắt đi an trí tại Vinh (Xã đoài) cho đến ngày đình chiến, được trả tự do và hưu trí tại nhà Hưu dưỡng toà Giám mục Huế. Ông là một học giả kiệt xuất, giỏi hán, nôm, quốc ngữ, thông thuộc sử sách, địa dư, phong tục, tập quán Việt nam, Trung hoa, Cambodge và Lào. Năm 1990, Chính quyền Hà nội đã vinh danh Léopold Cadière là “Nhà Huế Học” và là “Nhà Việt nam Học”do những công trình nghiên cứu của Ngài đã làm cho thế giới biết đến văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử Việt nam.

Sau vườn nhà thờ Di loan là Nữ Tu viện dòng Mến Thánh giá Di loan, sống âm thầm trong một khuôn viên khá rộng, cây cối rợp bóng quanh năm. Hằng ngày, các Dì Phước, luôn đi cặp đôi, đến các trường học giáo xứ để dạy giáo lý và khai tâm quốc ngữ miễn phí cho các em nhỏ. Nhờ công khai trí ấy mà tất cả người công giáo Cửa Tùng đều biết đọc chữ quốc ngữ. Các nữ tu lo tu hành nhưng cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế như sản xuất muối ăn, nuôi tằm, dệt tơ lụa. Thuở ấy các loại vải nội hoá khổ ngắn, nhưng tu viện Di loan đã dệt được lụa khổ rộng như hàng ngoại hoá nhờ biết cải biến khung cửi (máy dệt bằng tay). Tu viện cũng cung cấp các loại thuốc tây thay các loại cao đơn hoàn tán để trị các bệnh thông thường như cảm mạo, nhức đầu, đau bụng, ghẻ chốc,v.v...

Đầu làng Di loan có 2 lò vôi cung cấp vôi ăn trầu, xây nhà, quét tường đủ cho nhu cầu địa phương.

Nơi giáp ranh làng Di loan với làng Tùng luật có một trạm Thương-chánh để thu thuế toàn vùng do một người Pháp làm Trưởng trạm và vài nhân viên người Việt. Ai sản xuất muối, rượu hay thuốc lá phải khai báo. Muối lậu, rượu lậu, thuốc lá lậu sẽ bị tịch thu và nộp phạt. Vì vậy đã có những xích mích dẫn đến đánh lộn với vài người địa phương.

- Làng Cổ Trai: Theo tương truyền thì làng Cổ Trai là quê của bà Nguyễn thị Băng, vợ của chúa Nguyễn phúc Nguyên tức chúa Sãi (1613-1635). Nghe các cụ nói hồi xưa có vụ tranh chấp giữa hai làng Cổ trai và Tân trại về chủ quyền một con đê. Quan phủ Vĩnh linh xử cho làng Tân trại thắng, làng Cổ trai phản kháng, Hội đồng Kỳ mục làng đi thẳng vào Huế xin Hội đồng Hoàng tộc can thiệp, lấy cớ Cổ trai là quê quán của nguyên phi của Sãi vương, nếu Cổ trai thất kiện thì tổn thương danh dự hoàng gia. Bởi vậy, Quan phủ được lệnh xử lại và cho Cổ trai thắng kiện.

Các cụ cũng kể chuyện vui, xưa kia Tri phủ (Quận trưởng) hành hạt thăm các làng, thường đi cáng (võng có mui hai người gánh), đến làng nào làng ấy lo cắt cử phu gánh cáng quan đến làng kế tiếp. Lúc đi qua khu rừng gần làng Cổ trai, quan phủ nằm trên cáng hỏi ông Lý trưởng (Xã trưởng):

-Này Xạ nầy! nghe nói ở rừng nầy có cọp phải không ?

-Ông Xạ trả lời: Bẩm quan đừng có lo, cỡ một đòn thì tui coi thường. (Ý nói cọp lớn nặng cỡ 1 đòn (2 người gánh), ám chỉ quan cũng một đòn. Quan làm thinh, biết ông Xã nói xỏ mình).

Đi thêm một đoạn đường nữa, ông Xã ra dấu cho hai người phu khiêng cáng, rồi hô to: Cọp! Cọp! Cọp! ơi quan cọp!. Hai người khiêng đồng loạt vứt cáng xuống đất rồi cùng ông Xã chạy thoát khỏi rừng. Quan bị té như khúc gỗ từ trên cao rơi xuống mặt đường, lổm ngổm ngồi dậy và chạy theo ông Xã.

(Còn tiếp)

(Nguồn: benhaigiang)


viethoaiphuong
#32 Posted : Sunday, May 8, 2022 6:57:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,098
Points: 16,455

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

CỬA TÙNG - NỖI NHỚ KHÔNG NGUÔI
( Dương Bỉnh - tiếp theo và hết)

- Làng An ninh: Một làng trung bình về diện tích lãnh thổ lẫn dân số. Người làng An ninh hiền hoà. An ninh được nhiều người biết vì có Tiểu chủng viện cuả Giáo phận Huế đóng lâu đời tại đó. Tiểu chủng viện là nơi đào tạo linh mục trong giai đoạn 8 năm đầu, sau đó vào học ở Đại chủng viện Huế 6 năm rồi mới thụ phong linh mục. Tiểu chủng viện An ninh cũng giúp giáo huấn chủng sinh cho Giáo hội Công giáo Lào. Một ít chủng sinh thụ giáo ở đây sau nầy nổi danh như Đức cha Hồ ngọc Cẩn, Giám mục Giáo phận Bùi chu; Đức cha Ngô đình Thục, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Đức cha Lê hữu Từ, Giám mục Giáo phận Phát diệm; Đức cha Nguyễn văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đà lạt; Đức Hồng y Nguyễn văn Thuận, Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hoà bình Toà thánh Vatican; Đức cha Nguyễn như Thể, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Huế; Linh mục Nguyễn hy Thích, giáo sư hán văn và triết học Đông phương tại Đại học Huế, Sài gòn và Đà lạt; Linh mục Nguyễn văn Lập, Viện trưởng viện Đại học Đà lạt.

Tiểu Chủng viện tọa lạc trong một khuôn viên khá rộng, trên 1 mẫu tây (hectare) đất. Trong đó có ba nhà thờ: Nhà thờ chính, Nhà thờ Đức Bà và Nhà thờ thánh An tôn; hai dãy nhà lầu lớn làm nơi học và ở cho giáo sư và chủng sinh, còn có nhà khách, nhà chơi, sân chơi, nhà ăn, nhà bếp và lẫm lúa (kho thóc)...

Tiểu chủng viện An ninh cũng là nơi trú ẩn và bảo vệ giáo dân trong thời kỳ Văn thân giết hại tín đồ Công giáo vào năm 1885.

Nguyên vào thời bấy giờ, tình hình trong nước quá rối loạn: Vua Tự đức băng hà, vua Dục đức lên nối ngôi, làm vua được ba ngày bị truất phế và giam đói cho đến chết; vua Hiệp hoà lên thay, làm vua được bốn tháng mười ngày bị ép uống thuốc độc chết; vua Kiến phước lên ngôi được tám tháng thì chết đột ngột, nghi là bị đầu độc; vua Hàm nghi lên ngôi lúc 12 tuổi. Thời đó, việc triều chính ở Huế đều do hai quan phụ chính là Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết định đoạt. Do tình hình căng thẳng giữa triều đình Huế và quan chức Pháp tại Huế, họ áp bức triều đình nộp chiến phí 20.000 thoi vàng, 200.000 thoi bạc, 200.000 quan tiền và có thái độ hống hách với triều đình. Đêm 4 tháng 7 năm 1885, nhân phía Pháp tổ chức tiệc, ông Tôn thất Thuyết đã cho lệnh tấn công, đốt cháy các trại ở tòa Khâm, đánh vào thành Mang cá, một số sĩ quan và binh lính Pháp chết. Đến sáng ngày 5 tháng 7 quân Pháp mới chấn chỉnh lại hàng ngũ và phản công. Hai quan phụ chánh Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết thấy thất bại, vội phò vua Hàm Nghi ra Quảng trị. Việc hai ông Tường và Thuyết đánh Pháp, vua chẳng hay biết gì cả. Ông Tôn thất Thuyết sau khi đưa vua Hàm Nghi đến Tân sở, Quảng trị, nhân danh vua ra một chiếu thư kể tội giặc Pháp và hô hào nhân dân cả nước chống Pháp. Chiếu thư nầy được gọi là “Hịch Cần vương” (hết sức cứu viện vua), sau đó ông Tôn thất Thuyết đưa vua ra Quảng bình rồi ông trốn sang Trung hoa, còn ông Nguyễn văn Tường ra đầu thú Pháp.

Hịch Cần vương kêu gọi bình tây sát tả. Bình tây thì chẳng chống được giặc Pháp, còn sát tả thì giết dã man tàn bạo vô số đồng bào ruột thịt theo đạo công giáo trên khắp nước. Hịch Cần vương được nhóm Văn thân, gồm thành phần thư lại, thân hào, hưởng ứng cuồng nhiệt, họ cho người trang bị giáo mác xông vào các làng công giáo vùng Cửa Tùng chém giết không nương tay bất kể nam phụ lão ấu, đốt sạch nhà thờ và nhà giáo dân, vơ vét hết của cải thóc gạo áo quần, làm thịt hay dẫn đi tất cả trâu bò heo gà của giáo dân.
Giáo dân nào may mắn thoát khỏi chém giết thì chạy đến Tiểu chủng viện An ninh, tại đây, họ cùng nhau đào hào đắp lũy chống lại lũ người đang hăm he tấn công cướp của giết người ở Tiểu chủng viện. Toán quân của Văn thân đã mấy lần tấn công bằng hỏa mai đốt phá hàng rào để đột nhập, nhưng lực lượng bên trong kiên quyết cố thủ. Quân tấn công dần dần rút lui.


Tháng 8 năm 1885, vua Đồng Khánh lên ngôi.

Nước đã có vua, trật tự an ninh được vãn hồi, giáo dân trở về nơi ở, giúp nhau chặt cây, cắt tranh làm lại tạm thời nhà ở và nhà thờ, gây dựng lại cơ nghiệp với nhiều lầm than gian khổ trong nhiều năm liên tiếp. Các giáo xứ dần dần ổn định và xây dựng lại cơ sở bằng gạch ngói như nhà thờ, trường giáo lý và khai tâm quốc ngữ,v.v...

Theo tổ chức của Giáo phận Huế thì các giáo xứ vùng Cửa Tùng được gọi là Giáo hạt “Đất Đỏ” gồm có các giáo xứ sau đây: Di loan (Di luân), An ninh, An du tây, An du đông, An bằng, An lễ, An trí, An ngãi, Loan lý (Luân lý) và Hoà ninh. Hằng năm vào tháng 9 dương lịch, Giáo hạt tổ chức kiệu Đức Mẹ Mân-côi tại nhà thờ An ninh. Đoàn rước dài hàng cây số, thiếu nhi tung hoa, cờ phướn rợp trời, chuông đổ hồi, trống đại điểm nhịp, trống cà-rầng rập ràng như một bản nhạc tuyệt vời trổi lên giữa tiếng cầu kinh của hàng ngàn giáo dân.

Đầu làng Vĩnh an có một ngôi chùa cổ, một vị tăng già trụ trì. Xóm nhà ở gần chùa gọi là xóm Chùa.

Các làng An du đông, An du nam, Tân trại, Cổ trai đều có đình thờ Thành hoàng và có tự điền, hằng năm thu hoa lợi ở đó mà lo việc tế Kỳ Phúc xuân thu nhị kỳ và giỗ Khai khẩn. Dịp nầy đình làng trở nên náo nhiệt, cờ quạt phất phới, các chức sắc mặc áo rộng xanh xướng lễ trước hương án, chiêng trống rộn rã, tiếng sáo hoà đờn cò các bản cổ nhạc nam ai nam bình trầm bổng. Khi lễ tất, dân làng yến tiệc rất vui vẻ.

Người Cửa Tùng hiền hoà, tiếng nói mang đặc điểm thổ ngữ miền bắc Trung phần Việt nam (Thanh hoá, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên). Có một số ngữ ngôn cổ xưa như : ả (chị), cụ mự (cậu mợ), cơn (cây), cấy giôông (vợ chồng), cươi (sân), nác chiếng (nước giếng), ló chôống (lúa giống), eng ả (anh chị), nghin ngái (gần xa), ôông mụ (ông bà), roọng (ruộng), v.v...

Một mẫu đối thoại: Mùa ni tui có làm thêm một trào roọng, eng có ló chôống khôông, để cho tui ít thúng. (Mùa này tôi có làm thêm một sào ruộng, anh có lúa giống không, để cho tôi ít thúng).

-Eng qua bên cụ mự tui. (Anh qua bên cậu mợ tôi.)
-Từ đay qua đó nghin ngái (Từ đây qua đó xa gần)
-Đứng đay ngó chộ nị (Đứng đây trông thấy mà).

Từ ngõ ngách trong các thôn xóm, thỉnh thoảng vọng lên giọng hát khoan thai, dịu dàng, truyền cảm của bà ru cháu, mẹ ru con theo điệu dân ca Bình Trị Thiên:

Ơ! à! ơ! chàng về thiếp một theo mây. Ơ! à! ơ! con thơ (mà) để lại Ơ! à! ơ! chốn nầy ai nuôi.
Ơ! à! ơ! chàng về thì đục cũng về, ơ! à! ơ! dùi cui ở lại, ơ! à! ơ! làm nghề chi đây?
Ơ! à! ơ! gió đưa cây cải về trời. Ơ! à! ơ! cây rau răm ở lại, Ơ! à! ơ! chịu lời đắng cay.
Ơ! à! ơ! Ru em! ơ! à! ơ! em théc cho muồi, ơ! à! ơ! để mẹ đi chợ, ơ! à! ơ! mua vôi ăn trầu. Ơ! à! ơ! mua vôi thì mua chợ Quán chợ Cầu, ớ à! ơ! mua cau Nam phổ, ơ! à! ơ! mua trầu chợ Dinh.. Chợ Dinh bán áo con trai, ơ! à! ơ! Mậu sơn bán vải, ơ! à! ơ! Mậu tài bán kim. Ơ! à! ơ! kim xa kim ở bên Tàu, chỉ xa Hà nội, ơ! à! ơ! gặp nhau tình cờ. Tình cờ mà đáng nhân duyên, ơ! à! ơ! những nơi kết vấn thề nguyền bỏ đi,v.v...

Nơi thôn lương hiền hoà yên tĩnh ấy vẫn có những hoạt động chính trị âm thầm len lỏi trong dân chúng dưới thời Pháp thuộc. Một ít thân hào nhân sĩ địa phương kín đáo ủng hộ các nhà ái quốc Phan bội Châu, Ngô đình Diệm và thỉnh thoảng bàn tán về Việt nam Quốc dân đảng. Cũng có một vài ông người Nghệ an, hoạt động chính trị, bị mật thám Pháp tầm nả, trốn đến Cửa Tùng, xin nhập làng An du bắc, đổi tên và cải họ Nguyễn.

Một sáng mùa thu năm 1941, một lá cờ đỏ có hình búa liềm được treo trên một cây tre dài 3,4 mét cắm tại sân máy bay Cửa Tùng. Xã địa phương báo phủ Vĩnh linh, Phủ cho một thầy Ký về cùng với địa phương lập biên bản và hạ cờ. Kể từ đó, chính quyền cho lệnh mỗi làng phải lập điếm canh, cắt đinh tráng (đàn ông khỏe mạnh) tổ chức toán “Tuần đinh” trang bị bằng gậy gộc và dây buộc, hằng đêm tuần tiểu trong làng để giữ an ninh trật tự.

Một đêm hè năm 1942, toán “Tuần kiểm” của phủ Vĩnh linh gồm năm sáu người do thầy Ba dẫn đầu, tất cả đều đi bằng xe đạp, khi đến địa phận làng An du bắc vào khoảng 9 giờ tối, trăng sáng lờ mờ, toán Tuần đinh đang đứng ở điếm canh nhìn thấy biết là toán Tuần kiểm của Phủ, Tuần đinh hô to “Ai đó, đứng lại” Toán Tuần kiểm khinh thường, tiếp tục đạp xe đi, Tuần đinh liền dùng gậy thọc bánh xe, Tuần kiểm xuống xe dùng roi da bò đánh Tuần đinh, Tuần đinh dùng gậy phang đầu Tuần kiểm, hai bên cận chiến vật lộn nhau, rồi mõ làng đánh gấp ngũ liên, chuông nhà thờ đổ hồi, dân chúng kéo tới hỗ trợ Tuần đinh đánh toán Tuần kiểm một trận nhừ tử. Kể từ đó, cơ quan phủ huyện bớt thói hống hách với nhân dân địa phương.

Tuy ở gần biển nhưng chỉ độ 5% cư dân sống theo ngư nghiệp. Vùng Cửa Tùng ruộng ít đất nhiều, đại đa số dân chúng theo nông nghiệp. Một số sản phẩm được xuất bán các nơi khác như: muối ăn, nước mắm, ruốc, cá, tôm hùm, mực khô, chè (trà) khô, hạt tiêu, tơ lụa, nón lá, tơi lá, khoai sắn khô, các đồ bằng mây tre,v.v...

Có hai loại tiền tệ lưu hành song song trên thị trường địa phương: Tiền đồng hình tròn giữa có lỗ vuông, một mặt trơn, mặt khác có bốn chữ hán, do vua phát hành, như: tiền Gia long, tiền Minh mạng, tiền Tự đức... Tiền đồng phát hành lần chót ghi năm phát hành là “Bảo đại nguyên niên”. Lưu hành song song với tiền đồng là Giấy bạc Đông dương (dùng chung cho ba nước Việt Miên Lào) do Chính phủ Bảo hộ Pháp phát hành. Bạc giấy Đông dương ngày càng mất giá nên dân chúng thích lưu trữ tiền đồng cho đến ngày 1 tháng 8 năm 1954, ngày di cư vào Nam.

Cách mạng tháng 8 năm 1945: một số người không rõ xuất phát từ làng nào, trang bị bằng gậy gộc, tới chiếm Nhà Dây thép (Bưu điện), Đồn Lính tập (lính khố xanh), cờ đỏ sao vàng cũng đồng thời xuất hiện tại hai nơi nầy. Mấy ngày sau, một cuộc mít-tinh (meeting) được tổ chức tại sân vận động Cửa Tùng, dân chúng tham dự khá đông, ba bốn cán bộ đứng trên ghế gỗ, tay cầm loa thông báo “Bảo đại thoái vị ... chống thực dân Pháp và quân phiệt Nhật ... giành chánh quyền lại cho nhân dân... Từ nay nước ta độc lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ chí Minh .... Tha hẳn thuế thân.... Khi nghe tuyên bố “Tha hẳn thuế thân” dân chúng hoan hô nhiệt liệt, bởi “Thuế thân” là loại thuế mà tất cả đàn ông đến tuổi, phải đóng hằng năm cho Chính quyền Bảo hộ Pháp, ai không đóng sẽ bị hình phạt kềm kẹp tay chân đau khủng khiếp.

Sau khi giành được độc lập, trong tiến trình tiến tới thể chế dân chủ, các chính đảng công khai hoạt động, gây ảnh hưởng lôi cuốn nhân dân bầu cho người của đảng phái mình vào quốc hội để có tiếng nói bày tỏ lập trường góp phần xây dựng đất nước. Trong tinh thần đó, Liên đoàn Công giáo cũng được thành lập với khối giáo dân Công giáo hạt Đất Đỏ. Một Ban Chấp hành Liên đoàn Giáo hạt được bầu ra để điều hành công việc.

* Cửa Tùng trong chiến tranh 1945-1954 :

Trước khi quân Pháp tái chiếm Cửa Tùng, Uỷ ban Hành chánh Kháng chiến phủ Vĩnh linh cho lệnh đập phá toàn bộ cơ quan và nhà cửa của người Pháp, đốn sạch rừng dương liễu quanh bãi tắm và phi trường Cửa Tùng, đào hào ngang dọc giữa sân bay để không cho máy bay đáp, cắm nhiều cây tre vạt nhọn trên sân bay để đề phóng quân nhảy dù, đào lỗ dọc theo bờ biển đặt ống tre lớn hướng mũi ra biển ngụy tạo súng đại bác để đánh lừa tàu chiến Pháp đang đậu ngoài biển.

Đầu năm 1947, quân bộ Pháp từ Đồng hà tới Cửa Tùng không có tiếng súng giao tranh, thỉnh thoảng điểm vài tiếng hải pháo từ tàu thủy bắn vào. Bộ đội Pháp đóng 2 đồn, 1 tại làng Tân trại và 1 tại làng Vĩnh an, ngay trên hải khẩu, cạnh nhà Thừa lương của vua Bảo đại.

Dần dần chánh quyền lâm thời địa phương được thành lập, các chánh phó tổng và hương lý chế độ quân chủ cũ trở lại làm việc. Lúc nầy đời sống yên ổn, kinh tế thịnh vượng , xe hàng mỗi tuần vài chuyến CửaTùng - Đồnghà - Huế. Trường An du được xây mới mang tên trường “Tiểu học An du” với 5 lớp (từ lớp năm đến lớp nhất), Nữ tu viện Di loan cũng mở một trường Tiểu học tại đầu làng Vĩnh an. Chợ Do chợ Cựa họp đông đúc. Đình làng chiêng trống cờ quạt tiệc tùng linh đình sôi nổi náo nhiệt mỗi lần tế Kỳ phúc cầu quốc thái dân an. Ba ngày tết mở hội “Bài chòi” tại chợ Do, nghe hô “Ông Ầm, Ông Rún” ồn ào, ai tới thì gõ mõ, đốt pháo, nhắp rượu và lãnh thưởng. Mùa hè có cuộc đấu võ giữa các võ sinh 2 lò của 2 võ sư, 1 của ông Túy (Di loan) và 1 của ông Hiếu (Tùng luật). Nghe các Cụ nói vào thập niên 1920-1930 có ông Nguyễn văn Bổn, người làng An du bắc, giáo xứ Hoà ninh, là người võ nghệ cao cường, ông có mở lò dạy võ và thanh trừng bọn cướp trong vùng.

Cảnh thái bình chỉ ngắn ngủi vài năm trong thời gian lực lượng Việt minh rút vào mật khu để kháng chiến chống Pháp.

Kể từ mùa thu năm 1949 tình hình an ninh trở nên bất ổn. Khởi đầu với vụ ông Chánh tổng bị giết ngay tại sân nhà ở làng An du nam. Một thời gian sau, một số thân hào làng An du bắc bị bắt mất tích, ông Lý trưởng (Xã trưởng) làng An du nam bị ám sát. Kể từ đây, các Cán bộ của Liên đoàn Công giáo, Chánh Phó tổng, Hương lý và các nhân sĩ trong vùng đều đi ngủ chui ở nhà bà con hay bạn bè để tránh khỏi bị bắt cóc hay ám sát. Về phía Cán bộ Việt minh cũng bị đồn Pháp bắt giết như anh Đinh (làng Tùng luật), ông Thuận (làng An du nam), ông Mậu (Giáo xứ An bằng), ông Diêm (làng An du đông).

Một buổi sáng mùa hè năm 1949, một toán tuần tiểu của đồn Cửa Tùng do một sĩ quan Pháp chỉ huy với 10 lính người Việt, bị phục kích tại sân banh Tiểu chủng viện An ninh. Mấy người lính chạy thoát được vào làng An ninh, còn vị Sĩ quan Pháp bị thương được quân phục kích băng bó và đem gửi trong Tiểu chủng viện. Đêm đó, họ tấn công đồn Cửa Tùng nhưng không chiếm được. Sáng hôm sau, viện binh Pháp giải tỏa áp lực địch và đưa sĩ quan bị thương đi bệnh viện.

Tình hình an ninh ngày càng bất ổn, dân chúng sống trong lo sợ dưới áp lực của 2 phía, ngày thì lính Pháp, đêm thì Việt minh.

Do nhu cầu chiến sự, quân bộ Pháp rút lính các đồn để thành lập các đơn vị lưu động, hai đồn Cửa Tùng và Tân trại được giao cho Bảo vệ quân Việt nam trấn giữ. Các làng Công giáo cũng tổ chức “Đoàn Hương vệ” trang bị bằng súng trường mousqueton và lựu đạn, xây đồn đắp lũy để tự bảo vệ xóm làng. Nhờ vậy xóm làng được yên ổn và vùng Cửa Tùng trở thành nơi tạm gọi là an toàn, giúp cho những người ở ngoài vùng đang lo sợ đến tính mạng đến đây ẩn náu. (Một chút hồi tưởng: Năm 1885, khi quân của Văn thân chém giết dã man đồng bào theo đạo Công giáo, một số giáo dân đã chạy đến các làng lương và được các người lương che chở khỏi bị sát hại. Thảm cảnh giết tróc lại tái diễn với chu kỳ 60 năm (1885-1945), các biến cố chính trị xảy đến, một số anh em bên lương cũng đã đến ẩn náu trong các gia đình ở khu vực Công giáo để được bảo toàn tính mạng).

Hiệp định Genève: Nỗi đau của Đất Nước, Nỗi niềm của Di Dân:

Sau khi chiếm được Trung quốc, Chính phủ Bắc kinh viện trợ ồ-ạt cho bộ đội Việt minh chống Pháp. Tình hình chiến sự trở nên khốc liệt. Do áp lực quốc tế, cả hai phía Pháp và Việt minh đều muốn chấm dứt chiến tranh và giải quyết vấn đề Việt nam theo phương cách hoà bình. Một cuộc họp tứ cường gồm Anh, Pháp, Mỹ và Liên xô ngày 18-2-1954 đã đưa ra quyết định mở hội nghị Genève vào ngày 26-4-1954 để giải quyết vấn đề Triều tiên và Đông dương trong hoà bình.

Để gây áp lực tại hội nghị, Việt minh tấn công mạnh, Điện biên phủ thất thủ vào ngày 7-5-1954. Ngày 26-5-1954, Pháp và Việt minh đồng ý ngưng bắn và rút quân về các khu chỉ định.

Tại hội nghị Genève, Pháp và Việt minh đồng ý chia cắt lãnh thổ Việt nam. Phía Việt minh đòi chia ở vĩ tuyến 13 (sông Đà Rằng, Tuy hoà), sau đó đòi chia ở vĩ tuyến 16 (Đà nẵng). Ngày 12-7-1954, Thủ tướng Trung hoa Chu ân Lai và Thủ tướng Pháp Mendès France thỏa thuận lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến hải, bắc Quảng trị) và ngưng bắn theo lịch trình như sau :

27-7-1954 : ngưng bắn tại Bắc Việt.
01-8-1954 : ngưng bắn tại Trung Việt.
11-8-1954 : ngưng bắn tại Nam Việt.
(Theo tài liệu Hiệp định Genève)

Thời bấy giờ thiếu phương tiện thông tin nên đa số người Cửa Tùng không hay biết gì về Hội nghị Genève và Hiệp định Đình chiến.

Việc di cư đã đến với dân chúng quá đột ngột. Thoạt tiên, có tin cụ Ngô (Ngô đình Diệm) về nước chấp chánh. Giới thân hào nhân sĩ và hương lý lâu nay ngưỡng mộ cụ Ngô, mặt khác, vì sợ Việt minh, nên dự định di cư cá nhân hay gia đình, để tài sản lại cho bà con, bạn thân, xóm giềng... Họ chưa kịp thực hiện dự tính ấy thì có tin hai đồn Cửa Tùng và Tân trại rút, các đoàn Hương vệ giải tán, giao nộp vũ khí cho đồn Cửa Tùng. Dân chúng hoang mang, dao động và cảm thấy sợ hãi. Các Linh mục trong hạt cũng muốn cho giáo dân có được cuộc sống yên ổn trong một xã hội an bình, tự do nên cũng giúp hướng dẫn giáo dân di cư vào Nam.

Di dân ra đi trong thương tiếc quê hương làng xã, nhà cửa, vườn tược, ruộng đất, mồ mã tổ tiên, thánh đường, đình chùa, lăng miếu, trường học,v.v... Qua nhiều trăm năm kiến công lập nghiệp của tiền nhân, nay đành chịu bỏ đi.

Năm 1558, Tổ Tiên người Cửa Tùng đã lìa bỏ quê hương Thanh hoá, Nghệ an, theo chúa Nguyễn di cư xuống phía nam đến định cư tại Quảng trị để tránh một cuộc chiến tranh kéo dài trên 50 năm giữa Bắc triều của nhà Mạc vùng Bắc bộ và Nam triều của chúa Trịnh từ Thanh hoá trở vào. Đây là một cuộc nội chiến ác liệt giữa hai tập đoàn phong kiến, nạn nhân trực tiếp của cuộc nội chiến ấy là nhân dân, cả hai phe dùng mọi thủ đoạn vơ vét nhân, tài, vật lực của nhân dân để phục vụ cho chiến tranh.

Năm 1954, người Cửa Tùng cũng rời bỏ quê hương đi về phía nam để tìm một cuộc sống an bình, tự do và dân chủ.

Đoàn di dân đầu tiên khởi hành ngày 01 tháng 8 năm 1954 (nhằm ngày 3 tháng 7 năm Giáp ngọ) là ngày ngưng bắn tại Trung Việt. Các đoàn khác đi vào các ngày kế tiếp. Đa số di dân đều chọn định cư ở những vùng đất gần thị xã Quảng trị như An đôn, La vang chính, La vang trung, La vang tả, La vang hữu, La vang thượng. Các làng di cư nầy, một lần nữa, phải di tản vì chiến sự “Mùa hè đỏ lửa 1972” và phân tán đến nhiều địa phương khác trên lãnh thổ miền Nam nước ta và sau biến cố tháng 4 năm 1975, nhiều người gốc Cửa Tùng đã đến định cư tại nhiều nước trên thế giới như Hoa kỳ, Canada, Úc, Tân tây lan, Pháp, Nhật, Anh, Đức, Ý, Hoà lan, Thụy điển, Đan mạch... Riêng giáo xứ Loan lý (Luân lý) được linh mục Phan văn Cơ hướng dẫn đến định cư tại Lăng-cô, dọc quốc lộ 1, trên một vùng cát trắng ven biển, gần chân đèo Hải vân tỉnh Thừa thiên. Giáo xứ Loan lý vẫn tồn tại trọn vẹn cùng với kỷ vật “Quả chuông đồng và Bàn thờ cổ chạm trổ rất công phu” được giáo dân đem từ Cửa Tùng vào. Hiện nay, một ngôi thánh đường khang trang vừa được xây xong thay cho ngôi nhà thờ cũ. Nay toàn xã Lăng cô đã trở thành “Thị trấn Lăng cô”, có điện, khu du lịch, bãi tắm, khách sạn, phòng trọ, cửa hàng, tiệm vàng, tiệm thuốc tây, hãng nước đá, chợ, trường học... Con đường hầm xuyên đèo Hải vân nối liền Đà nẳng - Lăng cô - cảng Chân mây giúp kinh tế địa phương phát triển.

Tất cả người Cửa Tùng ở lại (không di cư) đều phải sơ tán đến các tỉnh Quảng bình, Hà tĩnh, Nghệ an để tránh bom đạn thời chiến và hồi cư sau khi hoà bình đã vãn hồi trên toàn lãnh thổ Việt nam. Tất cả 10 nhà thờ của 10 giáo xứ và các đình, chùa, tu viện, tiểu chủng viện đều bị bom san bằng.

Tháng 5 năm 1989, trở về thăm quê cũ, Cửa Tùng còn đậm nét thê lương.

Mùa thu năm 2004, đúng 50 năm xa quê, tôi trở về thăm cố hương lần nữa, Cửa Tùng đã hồi sinh, tuy chưa bằng thuở trước nhưng sức sống đang vươn lên với nhiều triển vọng. Xe đưa tôi từ Huế, Đồng hà, Gio linh, xuống Ba dốc, qua cầu Bến hải, rẽ phải vào tỉnh lộ, qua làng Liêm công đến hết làng Tân trại có dựng một bảng lớn “Làng An du nam”, đi tiếp đến ngã ba vào chợ Do cũ, cũng dựng một bảng lớn “Làng An du đông”, vườn Tiểu chủng viện An ninh nay được chia lô làm nhà ở, vùng đất đỏ Hoà-ninh Di-loan, vườn mít, chè, tiêu, cam, quít, chuối...xanh tốt. Tại vườn nhà thờ Di loan, một ngôi trường học 2 gian mới xây, tường gạch mái ngói, cửa lá sách sơn nâu, mái hiên đúc với hàng chữ nổi “Trường Mầm non Di loan”. Đi tiếp về phía Loan lý cũ, người sơ tán hồi cư nay đã xây nhà gạch, vườn tược xanh tươi. Gần bờ biển, một số nhà gạch mái ngói ẩn khuất trong những vườn cây lưu niên. Sát bãi biển, năm sáu quán ăn với thực đơn đặc sản Cửa Tùng như tôm hùm, mực cơm, mực nang, mực thước, cá mú .....

Du khách ngồi ăn chỉ cách bờ sóng vỗ vài chục thước, những làn sóng bạc đầu từ xa cuốn vào bờ, tỏa nhẹ lên bãi cát trắng mịn tạo âm thanh “ầm ầm”, hơi nước bốc lên tựa làn sương mỏng quyện với gió lùa vào phòng ăn, thực khách cảm thấy mát rượi, thoải mái và ngon miệng.

Biết bao giờ Cửa Tùng lấy lại phong độ ngày trước, ngày mà Cửa Tùng được xem là thắng địa thắng cảnh của Đất Nước, là vùng trù phú trù mật của Vĩnh linh.

Cụ Thượng thư Nguyễn hữu Bài đã đề cảnh Cửa Tùng qua bài thơ sau đây:
Hóng mát chiều hôm dạo cảnh chơi,
Trông vào bãi cát, ngó ra khơi.
Núi bông trắng xát bao Cồn Hến,
Hòn Cỏ xanh dờn thẳng Trôốc Voi.
Phất phưởng đầu gành hơi gió thổi,
Long lanh mặt nước bóng trăng soi.
Hỏi thăm ông Tạo khi nào rảnh
Lấp biển, dời non dễ thử coi.

Cố Bác sĩ Phan văn Hy đến thưởng ngoạn Cửa Tùng năm 1936 đã cảm đề bài thơ “Vịnh Cửa Tùng” như sau:
Qua Cửa Tùng chơi bóng xế chiều,
Cảnh Thừa lương trước ngó buồn thiu.
Năm xưa Bến Ngự đôi gềnh đá,
Dấu cũ sân chầu mấy cụm rêu.
Quyên gọi luống đau lòng cố quốc,
Tùng reo như nhắc chuyện Tiền Triều.
Cuộc đời dâu bể nhìn thêm ngán,
Nhớ Chúa thương ai ruột chín chiều.

Tôi xót xa mỗi lần hoài cảm cố hương và càng xót xa hơn, lòng rạo rực bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, khi viết về Cửa Tùng.

Canada/Montréal, ngày 01-01-2006
Tác giả Dương Bỉnh



Users browsing this topic
Guest
2 Pages<12
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.