Welcome Guest! To enable all features please Login. New Registrations are disabled.

Notification

Icon
Error

những vấn đề cần biết về Văn Hóa -Xã Hội Việt Nam
viethoaiphuong
#1 Posted : Thursday, February 12, 2009 4:00:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Những tính nết Tốt và Xấu của người Việt


Tôi vừa đọc bài “ Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt “ trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đảo Văn Bình.
Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn “ quy tư “ về con Người chính mình và đồng bào mình. Cái nhìn khó nhất trên đời là con Người chính mình và con Người của đồng bào mình.
Nói về chuyện người thì ai cũng hám nghe, nhưng khi nói về mình về đồng bào mình, nhất là chuyện xấu thì thật là khó nghe, người nghe có cảm tưởng người viết có ý lên mặt dạy đời, nhưng khổ thay vơớ bệnh tình đất nước hiện nay, có chẩn đúng bệnh và có “ thuốc đắng có mới dã được tật “.


Ta biết ngày nay, con người Việt ta đã quá phân hóa, xã hội đã quá rối ren, vì mọi chuyện xấu trong xã hội đều do con Người không tốt làm ra.
Người ta đã chẳng nói: “ thế giới được dẫn đạo bởi những tư tưởng “, mà tư tưởng sai đưa đến hành động sai. Lại nữa khi những hành động sai đã quen nếp thì thất khó mà sửa đổi. Khi mà đầu óc đã vấy bẩn, đôi tay đã dính bùn, thì phỏng có làm được điều gì tốt đẹp nên thân, cứ xem những người CSVN cứ chạy quanh những hiện tượng sa đọa hôm nay thì ta thấy rõ, cái sa đoạ lớn nhất là vong nô bán nước.
Vấn đề của đất nước ta bắt nguồn tận mãi tâm khảm mỗi người, có tính cách nội khởi trong mỗi người, mọi người, không thể cứ “ xoa dầu cù là “ ngoài hiện tượng rối ren để mà chữa các thói xấu của mình và tệ nạn xã hội được!
Vấn đề khó nhất và nguy hiểm nhất của con người là chính mình, vì mình bị chính cái không gian của mình che khuất và thời gian quá khứ và tương lai ám ảnh, nên không bao gìờ mình có cái nhìn chính xác con Người mình Nơi đây ( không gian đang sống ) và Bây giờ (từng giây phút hiện tại ). Do đó mà không thấy vấn đề gây ra nan đề, thì làm sao mà tìm ra đáp đề.
Vì “ Việc người thì sáng, việc mình thì quáng “ nên người ta thường hay xét nét về người khác, còn đối với mình thì lại rất đại lượng, do đó mà luôn luôn con Người” đã cũ vẫn như cũ “ hay ngày càng tệ hơn!
Ông Bình có nêu lên 10 điều tốt và 10 điều xấu của người Việt ta, trong đó cách này hay cách khác đều có phần của mỗi chúng ta.
Trong 10 điều tốt như: Tư chất thông minh; Cần mẫn, nhẫn nại; chịu đựng khó khăn;tinh thần đùm bọc của gia đình;quý trọng việc học và người có học; yêu nước nồng nàn; biết giữ gìn bản sắc dân tộc. . ., thì theo tôi những đức tính có tư chất thông minh, tinh thần đùm bọc gia đình, qưý trọng việc học,. . . là những mẩu tinh hoa còn sót lại từ nền văn hoá xưa rất xưa, mà ta bỏ quên và khinh suất, nó khởi tận từ nền văn hoá hoà bình, cũng như từ nước Văn Lang cũa Tổ tiên xưa, đây là một vấn đề dài hơi, không thể nêu ra trong khuôn khổ bài này.
Còn đức tính cần mẫn; nhẫn nại; chịu đứng khó khăn, một phần là do hoàn cảnh bị nô lệ lâu dài buộc phải thích ứng với hoàn cảnh khó khăn để sinh tồn.
Cón 10 điều xấu như: không tôn trọng giờ giấc, vô kỷ luật, không tôn trọng của công, vô trách nhiêm, hay nói dối, nói quanh, không làm ăn chung hùn hạp được với người khác ( cái tiểu tâm, tiểu trí, tiểu danh, tiểu lợi do hoàn cảnh bị nghèo đói sinh đạo tặc mà nhiễm vào ), thì theo thiển ý những tính xấu này đều được tiêm nhiễm vào do bị áp bức bóc lột trong những đêm trường nô lệ, cái tệ hại nhất là đến khi được độc lập cứ ù lì như trước , không có những cuộc vận động chung để tẩy xoá cái xấu và phát triển cái tốt, mà ai nấy cứ theo đường cũ mà sống với nhau, nên tiếp tục gây ra những thảm hoạ như ngày nay.


Cố triết gia Kim Định đã có những nhận định dẫn chứng như sau:
Tính hay nết xấu của người Việt
( Vấn đề Quốc học: 5.- Nết xấu của. . . : Kim Định )
I .- Nết xấu của dân tộc
1.- Do bị bóc lột áp bức mà nhiễm vào
“ Hỏi rằng có nét xấu nào gọi được là dân tộc tính chăng? Nên phân biệt, nếu là xét về Thể thì không có vì nhờ nền văn hoá đạt Cơ ( trong phạm trù Ý, Từ , Dụng, Cơ ) , thì tất cả những nhu yếu nền tảng đều đã có chỗ ứng đáp. Nhưng nếu xét về Dụng tức là do hoàn cảnh ngoại lai thì mấy nét xấu sau đây có thể gọi được là gắn liền với dân tộc, một là gian vặt hai là cẩu thả và ba là thiếu lòng chung.
Cả ba gây nên do tình trạng của nước bé nhỏ sống bên cạnh một nước quá lớn, hay bị xâm chiếm đô hộ thì tất nhiên phải chịu nhiều bất công nên nhu yếu sinh tồn bắt phải tìm những lề lồi ngang ngửa quặt quẹo để sống.
Trong các lối đó phải kể trước hết là:
a.-Sự gian lận
Thí dụ lúc người Pháp còn cai trị lập ra sở Đoan, muốn để giữ độc quyền mua bán muối. Mua vào 6 xu bán ra 9 cắc (hay là 90 xu tức 15 lần đắt hơn. Đây là thí dụ có thực ở Bắc Việt). Với giá mua rẻ mạt như vậy tất nhiên dân làm muối quá khổ, cần phải gian lận, giấu giếm một ít để bán lậu. Thế là có cả một hệ thống buôn muối lậu mà ai cũng cho là phải lẽ. Nói là gian lận thì không đúng, vì đó là của mồ hôi nước mắt mình, nay bị ngoại bang tham tàn đến cướp miếng cơm thì mình có quyền phản kháng nhưng vì quá yếu phản kháng vô ích chỉ còn cách làm lén một việc không hề phạm tới quyền lợi của ai, vì thế được mọi người chấp nhận. Nhưng chính sự chấp nhận đó lâu ngày gây nên tật xấu là gian dối. Tôi có đọc trong một quyển sử Pháp nào đó lời phàn nàn rằng sau bốn năm quân Đức chiếm đóng, người Pháp phải nói dối để tự vệ, để giúp du kích quân.... thế là khi lấy lại được độc lập thì nhiều người Pháp đã mắc tật nói dối, gian lận...
Mới có 4 năm Đức chiếm đóng mà tật gian dối đã xâm nhập một số người Pháp, huống chi từng ngàn năm Bắc thuộc, rồi 80 năm Pháp thuộc thì người Việt Nam thoát sao khỏi cảnh bị tẩm nhuận trong việc ăn gian nói dối. Khi nó lan vào giới công chức nhất là những đợt cao cấp thì sẽ làm tê liệt mãi mãi quê hương ta. Không một việc lớn nào có thể hiện thực khi chính quyền gồm phần lớn những đầu óc tham nhũng.
b.- Cầu thả
Tật xấu thứ hai cũng do cảnh tiểu nhược quốc bên cạnh nước khổng lồ, không bao giờ được hưởng thái bình lâu dài nên cứ phải làm lại cuộc đời luôn luôn. Sự kiện đó gây nên tâm trạng “ ăn xổi ở thì “ lâu ngày đâm ra quen không thích những lối làm việc dài hơi. Thế là lâu ngày đoạ ra cầu thả.
Đấy là một nết xấu rất tai hại, Con đường người Việt tráng nhựa thì hầu như phải làm lại một năm. Dây điện cao độ do người Việt mắc chưa xong mà các cây sắt đã quằn hoặc trệ xuống. Quyển Kinh Thư do trung tâm học liệu xuất bản mà không có đến cả một mục lục. Quyển Xuân Thu thì phải kể là thùng rác... Hầu hết cách chua xuất xứ trong các sách khảo cứu của ta còn xa lắm mới đạt sự cẩn thận của khoa học gia... Đây là một tật xấu rất tai hại, có sửa đổi được thì nước mới trông tiến bộ. Sau trận thế chiến thứ hai thì Nhật và Đức là hai nước đã phục hưng một cách mau lẹ hiện nay Nhật đứng thứ ba Đức thứ bốn sau Mỹ, Nga. Cái gì đã giúp hai nước này tiến được như thế? Có nhiều lý do nhưng các nhà quan sát đều nhận thấy ở cả hai nước một yếu tố chung thuộc tinh thần đó là sự ham mê việc làm, nhờ vậy việc nào làm cũng tới nơi tới chốn.
Có thể nói đức tính này đứng đầu trong các nhân tố đẩy đà tiến mạnh của hai nước Đức Nhật. Đấy là tấm gương trong mà người nước ta cần phải soi đêm soi ngày cho tới lúc bất cứ việc gì to nhỏ không làm thì thôi, đã làm là làm tới chốn. Chỉ có thế nước nhà mới trông theo kịp thế giới.
c.- Thiếu lòng chung
Nét xấu thứ ba là thiếu lòng chung không chú ý đến lợi ích công cộng. Điều này xem ra trái ngược với tinh thần công thể mà chúng tôi đã gọi là một dân tộc tính. Quả thiệt nó là một dân tộc tính phát xuất từ tình huynh đệ phổ biến, nên đã được thi hành ở nhiều đợt: gia đình, làng xã, quốc gia. Tuy nhiên xuyên qua các đời tinh thần công thể đã không gặp bầu khí thuận lợi cho sự nẩy nở do tình trạng luôn luôn bị đô hộ.
Một khi chủ quyền đã vào tay ngoại bang thì khó có thể còn lòng chung, và lúc ấy lòng chung chỉ còn được biểu lộ qua những vận động đánh đuổi xâm lăng.
Sự đánh đuổi này có nhiều độ: có khi là phá cầu cống đê điều có khi là tẩy chay hay làm việc công cho qua lần... Thế là ít lâu công dân cũng như công chức mất tinh thần lo cho công ích để chỉ còn biết lo cho gia đình.
Vì thế hiện nay ta thấy các nhà tư gia của các ông bự thì rất đẹp, đang khi các cơ sở chung thì rất tồi tệ. Ngược hẳn với bên Đài Loan nhà của các ông lớn xuýt xoát như nhà dân có hơn cũng không nhiều, đang khi đó các công sở đều đẹp đẽ tráng lệ, nước nhà lại trong tình trạng chậm tiến. Và cũng là những bóng đen che khuất lấp mất những đức tính cố hữu của dân tộc.
Vì thế muốn nhìn ra cần phải vượt nhiều đợt trật đường do ngoại bang, thí dụ “bình sản” là một nét dân tộc nhưng vì bị ảnh hưởng của Tàu (tự đời Tần, Hán... xem Cửa Khổng) nên bình sản co lại như miếng da lừa: Ngoài Bắc còn có 20 phần trăm, Trung còn có 26 phần trăm, đến Nam vì chịu thêm một ách đô hộ mới của Pháp nữa nên chi còn được có hơn hai phần trăm. Vậy nếu căn cứ trên số lượng công điền hiện có thì làm sao nói được “bình sản” là một nét của dân tộc. Muốn thấy câu trên đúng thì phải vượt qua nhiều đợt trở ngại chắn khuất. Chính vì sự vượt qua này khó khăn không phải ai cũng có mắt tinh tường để minh biện, nên khi nói đến dân tộc tính ít có sự đồng ý là vì vậy. Bởi vì trong mọi địa hạt đều có sự lấn át tương tự như trong vụ bình sản nhưng không hiện lên trong hình tích đếm đo được. Tuy nhiên vẫn có đó trong tình trạng hôn mê và ta có thể dùng những tỷ lệ ruộng công trên (20, 26, 25 phần trăm) làm như tiêu biểu của sự sa sút của đức tính dân tộc gây nên do những căn do bên ngoài.
Còn cái tật xấu nguy hại nhất là chia rẽ, đây không phải là dân tộc tính, vì nó trái hẳn với triết lý bọc Âu Cơ. Vậy đó chỉ là ác quả của cuộc ngoại nhân đô hộ. Thực dân Tàu hay Pháp đều dùng lối chia để trị, lâu ngày sự chia rẽ thấu vào xương tủy dân bị trị, nên nay sự chia rẽ đã trở nên quốc nạn. Nhiều người Việt tỵ nạn không ngần ngại tuyên bố là sợ người Việt. Người Việt mà còn sợ người Việt, thì mong gì được ngoại bang kính yêu. Xem trong sử tự đầu bao cuộc khôi phục độc lập đã thất bại cũng vì chia rẽ. Hiện nay trong nước ta trở nên nô lệ cho Nga Sô và nhất là cho Tàu do bọn Việt Cộng.
Vậy muốn phục quốc mà không trừ nổi nạn chia rẽ thì phục quốc chỉ là chuyện diệu vợi.
Còn vụ cẩu thả và gian lận cũng do nền thống trị ngoại nhân. Với óc quật cường của dân ta không đánh đuổi được chúng thì phá hoại. Làm cho qua lần là môt hình thức phá hoại. Gian lận cũng thế, tài sản của mình bị thực dân cướp đoạt làm sao không dành lại. Nhưng sức yếu thì phải dùng lối gian lận, lâu ngày trở thành thói quen .
Đó là tật xấu cần phải tẩy rửa . Tẩy rửa để xây dựng lại con người Nhân chủ để cho nó mạnh hơn không chỉ hành động như môt con người yếu đuối chỉ biết làm những điều tiêu cực “ . ( Hết trích )


2 .- Do bị vây khổn trong thôn trang
Để cho dễ hiểu, ta nên nhận biết dân tộc ta có hai thành phần, một thành phần làm nghề nông , gồm Sĩ Nông, sống quay quần trong các làng xóm sau những luỹ tre xanh. Còn thành phần khác ở thành thị chuyên về Công Thương, đa số là gốc từ Tàu, qua các cuộc xâm lăng. Nhờ công thương phát triển hơn mà người Tàu phát triển được nhiểu lãnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. . . Nhìn khắp Đông Nam Á ta đều có thể nhận diện ra điều này. Ngoài các tật xấu như đã nêu trên, đa số nhân dân ta còn có cái thất lợi lớn hơn nữa là chỉ sống trong môi trường khó khăn ở nông thôn.
Số là khi bị người Tàu cai trị cũng như khi đã độc lập, người Việt vẫn lấy thôn làng làm cứ điểm để bảo vệ cái gốc Sĩ, Nông của mình hầu tránh nạn đồng hoá. Còn Công Thương thì người Hoa ở trong nước ta nắm phần lớn. Họ nắm phần lớn huyết mạch kinh tế của mình, nhiều khi họ đầu cơ tích trử làm cho dân Sĩ Nông điêu đứng ! .
Lại nữa làm nghề nông thì khi nào cũng khổ, được mùa thì lúa gạo rẻ không có tiền tiêu, khi mất mùa thì thiếu cả tiêu và cả ăn, như thế thì làm sao mà phát triển mọi thứ được. Cha ông chúng ta đã bảo : “ Cái khó bó cái khôn “ là thế !
Khi nền kinh tế không phát triển thỉ mọi ngành khác đều bị đình trệ, nhất là văn hoá, vì khi sống trong vòng túng quẩn người ta khó có đủ điều kiện sống theo Lễ Nghĩa ( phú qúy sinh lễ nghĩa ) được. “ Bần cùng sinh đạo tặc” là thế !
Cứ nhìn vào hiện tình trong nước ngày nay thì rõ. Cái khó luôn bó cái khôn, cứ bị bó mãi trong nghèo đói và ngu dốt nhiều đời tất con Người sẽ trở lại lốt ngợm!!
Người Tàu đã giam hãm dân tộc chúng ta trong nghèo đói và ngu dốt triền miên, rồi bảo dân tộc ta là man di mọi rợ!( Nam man ). Ngày nay Bắc Kinh đang xiết gọng kìm lên cộng nô để đẩy mạnh công việc đồng hoá mà họ đã mưu toan qua nhiều ngàn năm nay!


Do cái tư tưởng “ vi nhân bất phú, vi phú bất nhân “ cũng như cái lối học chuộng từ chương khoa cử của Hán Nho, nên cha ông chúng ta không đi vào công thương, và nghiên cứu khoa học kỹ thuật để giúp phát triển kinh tế, như vậy làm sao nâng cao dân sinh và dân trí được, đó cũng là một lý do kìm hãm xã hội ta trong cảnh khốn cùng lạc hậu .
3 .- Vài hiện tượng sa đoạ gần đây
Gẫm lại, nếu mọi người con dân đất Việt thâm tín rằng mình thuộc giống nòi cao quý, con Rồng cháu Tiên, người Phật giáo tin rằng mình là Phật sẽ thành, người Công giáo tin trong mình có đền Chúa ngự, người Nho giáo tin là “ Thiên lý tại nhân tâm “ tức là Thượng Đế ở ngay trong lòng mình , các tín đồ các tôn giáo khác cũng có niềm tin cao quý như vậy, thì đâu con dân đất Việt lại ăn ở bất xứng tàn tệ với nhau như thế, để lâm vào cảnh bị phân hoá trầm trọng không lối thoát như ngày nay !
Sống trong cảnh phân hoá trầm trọng, thay vì tìm cách cứu gỡ, lại ngày càng đối xử cực đoan với nhau mà không sao tiêu diệt được nhau, thì chỉ làm cho cảnh phân hoá càng thêm tồi tệ !
Đây là lúc cần đến sự hướng dẫn tích cực của các nhà lãnh đạo tôn giáo các vị trí thức khoa bảng cho đường lối tích cực, cho phương thức hữu hiệu để tháo gỡ cái mối tơ vò trên.
Cái sảy quên gốc nảy ra cái ung phân hoá của dân Việt là ở chỗ đó.
Thí dụ: Trước đây, tuy người Việt nào cũng bảo mình là con Rồng cháu Tiên, tức là con cháu của Tổ tiên đầy lòng nhân ái và lẽ công bằng, nhưng trong sự đối xử với nhau có đâu được như là đồng bào, nay khi tỵ nạn ra ở nước ngoài, lại lùi thêm một bước nữa là không gọi nhau bằng đồng bào mà là đồng hương, nghĩa là muốn phủ nhận cái gốc Rồng Tiên rồi, để mà ăn thua đủ với nhau !
Đây là cái ngõ bí rất khó tháo gỡ, nếu không trở về gốc Tổ tiên để un đúc Nhân Trí Dũng thì xem ra vô vọng.
Sai một ly lạc đi một dặm là vậy!
Chỉ có đường lối “ Chí Nhân và Đại Nghĩa “ thì may ra có lối thoát, còn chạy lộn quanh theo lối CS thì ngàn đời như thế, rồi cũng là “ vẫn thế “! Cứ để cho anh em đồng bào sống trong cái vòng “ Tư tưởng ngõ cụt “ thì rất có lợi cho ngoại nhân dễ bề trục lợi, thôn tính và vây hãm.
Không ai đóng cữa Chùa, thì lỗi nói chung là của tất cả các sãi, không nên ngồi bắt lỗi nhau mà cùng rủ nhau ra đóng cữa Chùa đang mở toang !
Lúc trước có nhiều người nghĩ là việc nước có chính quyền lo, nhưng khi nước mất và mọi nhà tan rồi thì tìm ai mà đòi hỏi lại cái nhà của mình, vì dân là cái gốc mà đã tan rồi thì chính quyền dẫu có còn thì cũng chẳng biết để làm gì !


Quên cái gốc nhân ái và công bằng của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long một cách vô ý thức hay có ý thức đều nảy ra cái ung phân hoá chia ly, có kêu gào nhau đoàn kết mấy cũng chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc !
Đáp đề của nan đề đất nước của chúng ta không ở đâu xa, không phải bên Moscow, bên Bắc Kinh hay Washington, mà chính trong lòng mỗi chúng ta và đồng thời trong tất cả chúng ta .
Việc thứ hai khi qua các nước Tây phương, ta đổi cái tên lộn ngược, tên trước họ sau : Tên trước là (Me first ), mối liên hệ này với tha nhân là “ I , that “ , tức là “ tôi với người đó ( cái đó ) “ . Ai cũng you cả, Thượng Đế cũng you, con mèo cũng you nốt .
Do đó mà họ sống theo lối cá nhân chủ nghĩa, coi nhẹ mối liên hệ với những người khác, đầu mối cho sự phân hoá.
Còn người Tây phương chỉ có một luân Chủ Nô mà thôi, nay một số thanh niên nam nữ lơ là hay bỏ tinh thần tôn giáo mà sống theo “ kiểu thích và không thích “, ( likes and dislikes ) thì tốc độ sự phân hoá càng nhanh. Không biết chỉ có luật pháp, là hàng rào bên ngoài có tác dụng gìn giữ được đến bao lâu?


Còn Việt Nam ta là đặt Họ ( Family first ) trước Tên sau, nghĩa là dân mình tôn trọng và sống theo tính thần công thể, coi trọng tôn ti trật tự, lấy Luân thường Đạo lý làm trọng: ta có Ngũ Thường để tu thân, có Ngũ Luân để ăn ở với nhau theo lẽ công bằng, đây là lối sống nghĩa nặng tình sâu . Đó là tiêu chuẩn đạo lý chung cho mọi người y cứ.
Nay qua đây sống ở Tây phương, nếu ta coi luân thường đạo lý là cổ hủ, xem gia đình không là nơi ươm tình người nữa, mà sống theo cá nhân chủ nghĩa thì dễ đánh mất Tình Người. Con người mà để đánh mất tình người thì chỉ còn có Lý, mà Lý chay và cực đoan nữa thì dễ sa vào vòng gian ác lưu manh.! Gương Tam vô của CSVN đang sờ sờ ra đó.
Việt Cộng cũng nói là chúng tôi có” Tình Hữu Ái Giai Cấp”, nhưng khốn nỗi đây là mối tình băng đảng, nếu có thì cũng để xuí dục nhau dấy động lòng căm thù để tàn hại giai cấp khác, chứ đâu là “ tình đồng bào” hay tình “ Tứ hải giai huynh đệ “.
Con người quên Gốc và thiếu Tình người tất không phải là con người tốt về đường ăn lối ở, chỉ tổ gây rối cho gia đình và xã hội.
Cái gương không mấy tốt đẹp của môt số thanh niên hư hỏng người Mỹ đối với cha mẹ cũng cho ta thí dụ cụ thể về điều nhức nhối thấu xương trên, ngày nay những cảnh sống thương luân bại lý này cũng không hiếm hoi gì nơi một số gia đình Việt Nam..
Có một điều rõ ràng nhất là những ai còn giữ được nề nếp gia đình thì bất cứ ở đâu và nơi nào cũng thành công tốt đẹp !

Đành rằng khi sống ở nước ngoài ta phải theo tục lệ của nước đó, trong giấy tờ khai sinh hay căn cước ta phải đổi lộn tên ngược như thế, nhưng khi ở chung trong cộng đồng người Việt với nhau, ta phải để ý đền vấn đề này, tức là vấn đề sống theo tinh thần gia tộc, theo tinh thàn công thể, để còn ngó mặt nhau. Ngày nay đã có những người Việt Nam không muốn sống gần, giao thiệp với người Việt Nam nữa, cả hai bên đều mang nhục vong bản chung mà không nhận biết.
Vì vậy mà chúng ta nên luôn nhắc nhở nhau lưu tâm đến vấn đề hệ trọng đó, cũng như giúp cho thế hệ trẻ hiểu rõ được ý nghĩa tốt đẹp của nền văn hoá trọng công thể qua cái tên, cũng như giới thiệu với dân địa phương nét đẹp văn hoá này của ta.
II.- Cái hay còn giữ được
Nguồn gốc và ơn ích của gia đình Việt


( Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc: Phần phụ trương I. Lược ý Đề tài thảo luận. Kim Định )


“ Trẻ Việt học rất giỏi ai cũng hãnh diện. Người Mỹ rất ngạc nhiên, không hiểu tại đâu. Ðã có người đi điều tra tận mãi bên Ðông Á, họ không thấy cái gì chứng tỏ là người Á Ðông có thiên phú trội hơn người Âu Tây, nên hầu hết đi đến kết luận sau: lý do căn để là bởi gia đình.
1.- Gia đình vững thì con em học giỏi
Ðiều ấy cũng xẩy ra cho các gia đình Mỹ bậc trung lưu trở lên.
Ngoài ra về tiền của, các gia đình trung lưu của người Ðông phương cũng tiến mau hơn . . . , ấy cũng nhờ gia đình .
Nội một gia đình lỏng lẻo hay ăn cơm tiệm, con cái sớm ra ở riêng. . . gây tốn phí gấp bao.
Chỉ kể sơ qua hai ơn ích đó đủ chứng tỏ ga đình là một giá trị rất lớn cần phải hét sức duy trì.
Ðến khi nghiên cứu về nguồn gốc văn hoá mới thấy giá trị còn cao hơn nhiều lắm. Các nhà xã hội học nhận thấy rằng:
.- Ở đâu gia đình vững thì không có chế độ nô lệ
Cái đó dễ hiểu vì người trong gia đình có ai bị bắt làm nô lệ bao giờ. Vậy mà tinh thần gia tộc của ta đã được duy trì qua bao ngàn năm.
Khởi đầu là Hồng Bàng thị .
Chú ý chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc.
Tinh thần đó đã vẫn giữ được từ khi Bộ lạc bước lên đợt Quốc gia, thành ra quốc gia cũng chỉ là bộ tộc mở rộng, cũng như bộ tộc cũng chỉ là mở rộng thị tộc, như thị tộc là nối tiếp gia tộc. Chính vì thế mà người trong nước xưng nhau bằng những danh xưng thuộc gia đình như bà con, cô, bác, chú, thím, cha, ông.
Và bất cứ ai dù không ở trong gia tộc cũng xưng hô là ông, bà, cô, thím, chị, em . . .
Ðó là hiện tượng rất lạ.
Tôi còn nhớ cảm tưởng thú vị xưa khi đọc sách Tây họ bỡ ngỡ biết bao vì người ăn mày bên ta cũng được gọi là ông là bà.
Họ ngạc nhiên vì bên Âu Tây ai cũng gọi nhau bằng you, vous, Chúa cũng gọi là you, , mà con mèo cũng gọi là you.
Vi xã hội họ không xây trên mẫu gia đình mà trên mẫu chủ nô.
Ai có của thì là chủ ai không có của thì là nô. Ðó là nền móng xã hội La Hy.
Người Tàu cũng chỉ có ngộ với nị, nên xã hội nhiểu nô lệ hơn bên ta, và phá chế độ nô lệ muộn.
Bên La Mã xưa có phép đầu phiếu “ bách tiền ” gọi là Centuric. Tiếng này gốc từ tiếng La Tinh Centrum là trăm. Hễ ai có được một trăm ngàn thì có quyền bỏ phiếu, nhiều trăm ngàn thì bỏ nhiều phiếu. Không có tiền không được bỏ phiếu. Ðó là tại xã hội xây trên tài sản chứ không trên tình gia đình, mà vì quy chế tài sản là tuyệt đối ( quyền tư hữu tuyệt đối ), nên 2, 3 người có, 7, 8 người không, thành ra đến 70 – 80 % người trong xã hội là nô lệ, chỉ chừng 20 % là có tự do. Ðời ấy người ta chỉ mới biết có công bằng trừu tượng khái quát mà chưa biết đến công bằng xã hội, tức là người nào trong nước cũng phải được tham dự tài sản trong nước. Công Bằng xã hội mới được nói đến từ thế kỷ 19.
Còn bên ta có ngay từ đầu với phép công điền công thổ, tức là ai ai hễ đến tuổi đều được làng cấp ruộng. Làng tôi mỗi đinh được 5 sào, nhưng có người giữ miếng đất hay vườn quá 5 sào mà không tiện chia cắt thì người đó phải theo “ rong canh ” những sào dư : mỗi sào 5 thùng thóc. Người đến tuổi đinh được có phần điền mà không có ruộng thì được người khác theo rong canh cho 25 thùng, thành thử không ai trong nước là vô sản hết. Ông Paul Mus có nói người Việt Nam nghèo thiệt, nhưng nghèo cả hàng tổng: lợi tức không có chênh lệch quá lớn về giàu nghèo như các xã hội tư bản. Ðó là nhờ phép công điền.
Phép công điền đã được nói bóng trong truyện Mẹ Âu Cơ đẻ cái bọc 100 trứng , bà sợ vất ra ngoài đồng thế mà rồi con nào cũng được phương trưởng cả . Ðại ý là con nào cũng được bao bọc như nhau. Vất ra ngoài đồng tức là nền nông nghiệp theo chế độ công điền, nên con nào cũng phương trưởng hết. Không ai phải làm nô lệ vì thiếu phần điền.
Ðến sau Việt Nho lược đồ hoá lý tưởng trên bằng phép Tỉnh Ðiền: nghĩa là chia lô dât ra 9 lô theo hình chữ Tỉnh ( 井 ) cho 8 gia đình 8 lô , còn lô giữ để nộp cho vua , trong đó có đào một cái giếng chung chữ Nho kêu là tỉnh, nên gọi là Tỉnh Ðiền . Tỉnh điền hay bọc Mẹ Âu Cơ ném ra ngoài đồng đều chỉ phép công điền công thổ mà tôi gọi là Bình Sản : tài sản chia đều cho mỗi người dân .
Phép ấy tiên Tổ ta đã có ngay từ Hồng Bàng thị. Chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc, mà về sau các bà còn mang trong tên . Lâu ngày người ta coi thường chữ ấy, nhưng ở thời khai nguyên thì chữ đó cao trọng lắm, nó chỉ tinh thần mậu hệ, đặt vợ trước chồng. Nước được lập ra do 50 con theo Mẹ lên núi, chứ không do 50 con theo Cha xuống biển, nghĩa bóng là văn hoá vẫn giữ được tình người, mà trong triết gọi là giữ được nguyên lý Mẹ. Còn văn hoá Tây Âu thì không, nên mang tiếng đực rựa : duy Dương, duy Lý, mà hình thái cùng cực là Cộng sản duy vật chống lại mọi thứ tình: tình Nhà, tình Nước, tình Trời, gọi là Tam vô: vô Gia đình, vô Tổ quốc, vô Tôn giáo, cho nên thuyết Tam vô Cộng sản cũng nẩy sinh từ Tây Âu là chuyện đương nhiên và những người còn cố bênh vực Karl Marx , Hồ Chí Minh đổ tội cho Lénin, cho Ðồng Duẩn là tỏ ra chưa nghiên cứu thấu triệt văn hoá Âu Tây .
Cũng như nói đến Việt Nam có chế độ nô lệ thì chỉ là nói theo “ đảng tính ” tức là đảng nói vậy chứ có xét đến nguồn gốc thì có trung thực đâu.
Ðành rằng trong thực tế không giữ được đầy đủ như trong lý tưởng, nên có những hiện tượng nô lệ. Chú ý hiện tượng chứ không phải chế độ. Nếu chế độ thì là việc luật pháp, người nô lệ có tiền cũng không thoát ra khỏi chế độ nô lệ. Còn hiện tượng không có hàng rào luật lệ nào. Con sen nếu trúng số độc đắc thì lập tức có thể trở nên bà chủ, bà giám đốc, không ai ngăn cản cả . Nếu là chế độ thì có tới 70 – 80% người dân nô lệ . Còn hiện tượng thì chỉ vài phần trăm, và cũng chỉ là con ăn đầy tớ. Ðôi khi bị xử tệ như nô lệ thì cũng chỉ là chuyện làm ẩu của chủ nhà chứ không có luật pháp nào cho phép coi đầy tớ như sự vật.
Tuy nhiên vì ảnh hưởng Hán Nho nrên chế độ công điền có suy vi dần nhưng nói chung thì đến đầu thế kỷ 20 quá bán ruộng đất ta vẫn còn là công điền. Ðến khi Pháp cai trị miền Nam ( Bạc Liêu, thí dụ ) công điền nhiều nơi trụt xuống chỉ còn vài ba phần trăm, vì có đồn điền của tư nhân chiếm hàng ngàn mẫu. Ðó là chế độ Tư bản Tây Âu nương thế bảo hộ xen vào phá vỡ chế độ bình sản của ta, đây là nói kiểu thông thường . . .
Còn nói theo kiểu triết lý chính trị thì đó chính là Dân Chủ .
Nói theo chiều tiêu cực thì dân chủ là thoát nạn chuyên chế, còn tích cực là Ăn Nói .
Ðược ăn là được tham đự tài sản trong nước gọi là Bình Sản.
Ðược nói là được tự do phát biểu ý nghĩ của mình .
Như vậy Dân Chủ chân thực phải có Bình Sản, và được tự do suy tư nói nghĩ .
Thiếu hai cái đó thì chỉ là dân chủ giả hiệu. Xã hội Âu Tây có chế độ nô lệ, nên phải dày công mới lập được chế độ dân chủ, lúc ban đầu cũng chỉ có dân chủ trên pháp lý, chưa có bình sản, nên tự do bị gọi là tự do chết đói. Cộng sản đã có ý sửa lại chỗ đó bằng tuyên bố dân là chủ tài sản quốc gia.
Nhưng thực chất vẫn là tư bản, chỉ khác chủ tư bản xưa là cá nhân, nay là chính quyền, dân vẫn là vô sản , đã vậy tự do cũng mát luôn nên khốn khổ hơn vô sản xưa muôn vàn .
Xét theo mấy điều trên ta thấy gia đình là thể chế gây ơn ích hết sức sâu xa. Ơn ích ngay đời ta : con em học hành giỏi, bố mẹ làm ăn chóng nên cơ nghiệp. Còn đời xưa là chế độ dân chủ chân chính có bình sản, có tự do , làm nên một xã hội có Tình, có Nghĩa , một quê hương tổ quốc thâm sâu.
Thật không ngờ nơi ta ra chào đời, sống bên cạnh những người thân yêu trong quảng đời tươi đẹp nhất lại chất chứa nhiều minh triết xuyên qua bao đời cho đến nay ta vẫn còn được hưởng.


Bây giờ xin nhắc đến những điểm làm ta có thể ngửa mặt lên hãnh diện. Đó là mấy đức tính gọi được là dân tộc tính .
3.- Trước hết là tinh thần gia tộc
Điều này phát xuất tự cái Cơ ( theo phạm trù Tứ, Ý, Dụng, Cơ ) nên toàn quốc gọi nhau bằng đồng bào theo huyền sử cùng phát xuất từ bọc mẹ Âu Cơ, tức nước xây trên mẫu mực gia tộc . Người trong nước xưng hô nhau bằng lối xưng hô trong gia tộc : bà con, cô bác . Đó gọi là gia tộc hóa lối xưng hô.
Ngược lại Tây Âu không có tinh thần gia tộc mạnh nên phi ngôi hoá lối xưng hô : ai cũng là you, vous cả . Vậy ta cần duy trì tinh thần gia tộc như nét đặc trưng của ta . đó là điều cho đến nay còn giữ được nhiều, là vì trong thực tế có, lợi bớt tốn : cùng ăn, cùng ở bớt tốn hơn. Nhất là vụ học: con Mỹ thường ở apartment riêng tốn hơn gấp hơn 2, 3 lần ở với bố mẹ
a.- Chăm học
Chăm học cũng là một dân tộc tính phát xuất tự đầu được ghi lại trong tên huyền sử Văn Lang là nước của những người có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải chăm học . Vậy nước ta tự mãi xa xưa đã coi trọng việc học, đặt quan văn trên quan võ. . .
Đây là điểm rất lợi cho dân Việt . Người ta tính ra đến 60% so với Chicano ( Mễ ) chỉ có 30 % . Tuy đó là con số khó thể đoan chắc, nhưng ta có thể nói dân Việt đi học đông vào bậc nhất cũng như giỏi đứng vào hàng đầu.
b.- Cần cù
Cần cù cũng là đức tính dân tộc cần được duy trì. Theo huyền sử Vua Hùng sinh ra bởi tổ chung với người Mường gọi là Lang Đa Cần. Tên này gợi lên ý chuyên cần làm việc. Hiện nay nhiều hãng ưa thâu dụng nhân công Việt vi tính này. Khi tôi ở Đại học Loyola một giáo sư Mỹ lúc đầu rất tẻ lạnh với tôi, bỗng một hôm ông vồn vã hết sức, thì ra là do mấy người Việt trong hãng bạn của ông làm việc rất chăm chỉ…
Có kiệm ước mới dư giả để thực thi lòng quảng đại. Cần chú ý rằng đức kiệm ước này rất dễ mất trên đất Mỹ , nên cần tập từ những cái nhỏ ( vặn nước, tắt đèn. . . ) để nuôi dưỡng dức đó.
c.- Lễ độ
Còn có thể kể thêm đức lễ độ biểu lộ nhiều nhất do học sinh, sinh viên trong lớp đối với giáo sư.


Đó là dăm ba đức tính dân tộc đã làm cho đoàn người tỵ nạn Việt Nam đáng nể . Rất nhiều nhà quan sát tiên đoán rằng không bao lâu nữa đoàn người Việt sẽ trở nên giàu có và nắm những vai trò quan trọng.
Vậy thì đây là những đức tính cần được nuôi dưỡng môt cách cụ thể và thiết thực.
Cho tới nay nói đến duy trì văn hoá chúng ta mới dậm chân ở đợt Từ ( Ý, Từ, Dụng, Cơ ) như làm văn nghệ , báo chí. . . Cần đi mạnh vào đợt dụng, cần cụ thể hơn tức bàn đến những điểm thiết thực rồi tìm cách sửa đổi, ai nấy cố tự sửa, và sửa cho con cháu.
Thí dụ :
Đức kiệm ước biết tắt cái đèn lúc không cần, vặn nước đánh răng cho nước chả y ồ ồ tốn nước gấp trăm lần. Ăn uống nhai ngồm ngoàn đầy tiếng động . Xé thư người khác. . .
Còn nhiếu chuyện quá nhỏ mọn nhưng dễ làm cho ta phải cúi gầm mặt khi thấy một người Việt Nam làm trước mặt ngoại bang ( như chen nhau khi sắp hàng . . . )
Những điều này nếu không sửa đổi mạnh trong gia dình thì không học đâu được.
Ở trường không ai dạy những cái tế nhị đó.
Bởi vậy tuy tầm thường mà hoá rất khó, nhận thức ra đã khó, mà khi thấy người khác phạm thì mấy ai dám sửa, trừ phi là bạn thân lắm, hoặc cha mẹ với con cái. Đã vậy rất khó sửa , nói 5 lần 7 lượt cũng không xong . . .
Chớ cho rắng đó là những cái quá nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Thưa rằng những cái nhỏ đó mới làm cho đời sống trở nên có văn vẻ ( tức được thấm nhuần văn hoá ) . Chính cái phần bé nhỏ đó là phần tinh tế của công việc hội nhập xã hội văn minh . Chính vì những cái nhỏ nhặt đó làm cho chúng ta đỏ mặt trước ngoại nhân .
Văn hoá của một dân phải nhằm mục tiêu làm cho đời sống của dân ấy có văn vẻ tế nhị hay ít nhất không gây Khó chịu cho tha nhân, không làm cho người cùng hội phải hổ thẹn vì đồng hương mình.
Chúng tôi mong ước, chúng ta sẽ thảo luận kỹ về điểm này và cử ra một uỷ ban, hay ước mong có những người nào đó có cơ duyên viết một quyển tựa như phép lịch sự của Âu Mỹ trong việc ăn uống, nói năng, xử sự, giao tiếp để đồng bào tỵ nạn ý thức mà châm chước giữ gìn.


Xin nhắc lại câu định tính văn hóa Việt là cái khối “ xù xì da Cóc trong bọc trứng Tiên “, và ước mong cho việc làm văn hóa mở rộng hơn nhiều: xuống thì tới chỗ Dụng là mài dũa những cái xù xì da cóc, lên thì tới tận Ý tận Cơ, tức gồm thêm triết lý xây trên cơ cấu của Việt tộc, đó là phần “ trong bọc trứng Tiên “ cần phải chú tâm vun tưới. Vì trứng Tiên mới chính là cái Cơ, cái nõn, cái nền triết Việt. Một nền văn hóa đẹp đẽ đến đâu mà thiếu Ý thiếu Cơ thì chỉ là một nền văn hóa nông cạn. Văn hóa Tây Âu hơn ta ở Ý tức họ có một nền triết học rất đồ sộ, nhưng họ lại kém ta ở cái Cơ, vì cơ chưa ổn nên triết họ còn cần đổi nền. Ta thì thiếu triết, nhưng hơn họ cái Cơ. Nhưng là hơn trong tiềm lực, chứ trong thực tế thì kể là không, vì cái Cơ của ta ví như trứng tiên bị bọc trong xù xì da cóc, có còn mấy ai thấy đâu. Vì vậy đã đến lúc làm văn hóa phải vươn xa hơn đợt Từ để đạt đợt Ý và đợt Cơ. Hễ có Cơ thì rồi có Ý. Chính cái Cơ mới là tinh hoa văn hóa của ta. Chính cái Cơ mới làm cho ta nhìn rõ đâu là tinh hoa, đâu là cặn bã, nếu ta không nghiên cứu và thấm nhuần thì ít thế hệ sắp tới sẽ không thấy Văn hóa Việt đáng duy trì ở chỗ nào, và do đó sẽ trở nên người vong bản, vong quốc. Chính cái Cơ mới bơm sinh lực vào cho Ý, cho Từ, cho Dụng. Hơn thế nữa, chính cái Cơ mới giúp chúng ta khả năng đóng góp vào nền Văn hóa thế giới.


Hiện nay con người đang trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng. Các nhà trí thức Âu Mỹ gọi đó là một sự trống rỗng của Tây Âu (nihilisme occidental) nghĩa là mọi giá trị cao cả của Tây Âu đã sụt giá. Họ không còn tin tưởng vào những giá trị cổ truyền nữa, với hậu quả là hiện họ đang trở nên vô hướng vô hồn trong mọi cấp từ “ tu thân “ qua “tề gia “ đến “ trị quốc “ đều thiếu đạo. Họ có chống cộng là trên bình diện kinh tế tức tư bản chống cộng sản chứ thiếu triết, nên nước có tiếng chống cộng hơn hết là Mỹ mà trong nước tràn ngập người thiện cảm với cộng sản. Chính vì vậy nước Mỹ thiếu lãnh đạo trong chính trị và nhất là trong văn hóa, đành để thế giới Tự Do trở nên con thuyền không lái. Lâu nay trong họ đã nhiều người nhận ra cần thiết lập một nền Văn hóa mới, một nền văn hóa có khả năng tổng hợp được các giá trị đông tây kim cổ.… Thế nhưng cho tới nay chưa ai tìm ra nền. Theo cơ cấu luận thì Âu Tây duy hữu, hữu vi. Còn Ấn Độ thì duy vô: vô vi. Đều không phải là cơ cấu tổng hợp. Chỉ triết lý An Việt mới có cơ cấu tổng hợp: “ có mà như không, không mà lại có “. Chỉ có cơ cấu lưỡng hợp đó mới đủ khả năng tổng hợp những giá trị lẻ tẻ (do lương tri) của Âu Ấn để chỉ hướng đi cho con người ngày nay đang đầy xao xuyến khắc khoải.
Thế nhưng có điều bất hạnh là triết lý giàu tính cách tổng hợp kia lại không được mấy ai biết đến. Âu Tây đã đành mà ngay đến những người trong khối Việt Nho cũng không hơn. Đấy là chỗ người Việt tị nạn cần lưu tâm. Đấy là chỗ chúng ta có thể đóng góp cho thế giới. Hiện tình nhân loại chỉ biết sống trên bình diện lợi hành, trên nữa không còn đạo lý nào cả. Vì vậy đầy chia rẽ, rất là nguy hiểm. Ngay khối Cộng sản còn đang trong giai đoạn chinh phục lẽ ra phải đoàn kết lắm để tránh họa vậy mà cũng vẫn chia năm...
viethoaiphuong
#2 Posted : Sunday, March 28, 2010 10:25:50 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)


Những căn bệnh đang hủy hoại xã hội Việt Nam


Từ năm 1989 đến 1991, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của các nước nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô. Hơn 20 năm qua, nếu có dịp đến thăm các quốc gia này, người ta sẽ thấy rằng chính phủ mới và nhân dân tại các nước này đã kịp làm được khá nhiều điều; đời sống kinh tế, xã hội của người dân tốt hơn hẳn so với trước kia, nhưng vẫn còn rất nhiều việc mà chính phủ và nhân dân họ phải nỗ lực thực hiện để xóa đi di sản do những năm dài dưới chế độ cộng sản để lại trên con đường trở thành những quốc gia phát triển, giàu mạnh, dân chủ, tự do. Và tùy theo nội lực của từng nước mà quá trình này nhanh hay chậm, nhẹ nhàng hơn hay nặng nề vất vả hơn. May mắn như nước Đức, nhờ có Tây Đức với một tiềm lực kinh tế hàng đầu của châu Âu, vậy mà trong những năm qua chính phủ Đức đã phải đổ không biết bao nhiêu tiền để vực dậy Đông Đức, xóa đi khoảng cách về mọi mặt giữa hai bờ Đông Tây. Nhưng dù sao, các nước Liên Xô và Đông Âu vẫn có những nội lực nhất định – các nước này trước khi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã là những quốc gia có nền kinh tế công nghiệp tư bản bước đầu, có nền văn hóa dày dặn, người dân của họ dù sao cũng đã hiểu thế nào là dân chủ, tự do… nên quá trình thay đổi thế chế chính trị cũng đỡ nhọc nhằn vất vả hơn những quốc gia không có được những “hành trang” như vậy. Ví dụ như Việt Nam chẳng hạn. Đôi khi nghĩ đến một ngày nếu vận hạn của đất nước đã qua, Việt Nam may mắn chuyển đổi thể chế chính trị thành một quốc gia dân chủ pháp trị, thì một điều có thể thấy trước đó là cái giá phải trả do di họa của những năm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam để lại trên đất nước này phải nói là vô cùng nặng nề, và những mất mát, thiệt thòi là vô cùng lớn.

Thứ nhất là ở Việt Nam, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng sản cho đến nay đã kéo dài hơn một số quốc gia khác – 65 năm trên miền Bắc và 35 năm trên toàn lãnh thổ, nên cái hại cũng nặng nề hơn. Thứ hai là do nội lực của đất nước và của dân tộc, trước khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo cho đến ngày nay, Việt Nam vẫn chỉ là một nước nông nghiệp nghèo nàn đang phát triển, từ hạ tầng cơ sở vật chất kinh tế, kỹ thuật… đều chưa có gì đáng kể. Cộng với một tầm nhìn ngắn, văn hóa “lùn” của các thế hệ lãnh đạo nối tiếp nhau từ trên xuống dưới, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, hoặc vừa làm vừa phá, hoặc chỉ lo vơ vét, tham nhũng mà không nghĩ gì đến tương lai của đất nước và dân tộc, nên sau bao nhiêu năm cầm quyền, trên khắp đất nước nhìn đâu cũng thấy dấu vết của sự phá hoại trên mọi lĩnh vực. Bao nhiêu đất dọc theo biên giới phía Bắc, biển, đảo… đã mất, biết bao giờ mới đòi lại được. Rừng bị tàn phá, tài nguyên bị khai thác một cách vô tội vạ, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, một số sông ngòi bắt đầu khô cạn, bây giờ người ta lại bắt đầu phá nát Tây Nguyên với những dự án khai thác bauxite lợi ít hại nhiều, bộ mặt các thành phố lớn, nhỏ thì hỗn độn, quy hoạch yếu kém, kiến trúc lộn xộn một cách không thể sửa chữa nổi v.v… Chưa nói đến cơ cấu luật pháp hay một nền giáo dục yếu kém cần phải xây dựng lại từ đầu, rất mất thời gian. Chưa kể cả một xã hội bị băng hoại về mặt đạo đức, những giá trị, chuẩn mực bị lệch; con người hoặc bị nhồi sọ bởi lối giáo dục tuyên truyền một chiều phải mất thời gian mới hiểu ra được đâu là sự thật đâu là dối trá, hoặc bị tồi tệ đi do phải sống trong một môi trường xã hội có quá nhiều điều không tử tế v.v… Nhưng điều nguy hiểm nhất đối với số phận của đất nước và dân tộc Việt Nam, đó là nếu sự thay đổi thể chế chính trị đến chậm thì nguy cơ phụ thuộc, thậm chí mất nước vào tay nước láng giềng phương Bắc là điều mà hiện nay nhiều người đều đã thấy.

Có những di hại có thể thấy rõ vì nó hữu hình và có thể xây dựng lại, có thể hồi phục sau một thời gian vài ba thập niên tùy theo. Nhưng có những cái di hại vô hình khó thấy hơn mà hậu quả của nó thì rất nặng nề và sự điều chỉnh, sửa chữa cũng vô cùng khó khăn, mất thời gian. Đó là những di hại về văn hóa, con người, về tinh thần mà những quốc gia đã từng trải qua chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo đều phải trả giá.

Một môi trường sống bị ô nhiễm, bị hủy hoại. Môi trường tinh thần cũng vậy. Có những căn bệnh tinh thần mà nếu sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam hay Trung Quốc (vốn là một hình mẫu để chính quyền Việt Nam bắt chước theo y hệt nên những căn bệnh cũng giống nhau) lâu ngày con người sẽ bị lây nhiễm ít nhiều mà không hay.

Bệnh vô cảm

Xã hội Việt Nam bây giờ có quá nhiều điều phi lý, trái tai gai mắt, và cũng có quá nhiều những bi kịch, những câu chuyện thương tâm. Mỗi ngày mở những tờ báo ra, bật TV lên, hoặc ngay trong đời sống thường ngày, người ta phải đọc, nhìn, nghe hay chứng kiến tận mắt biết bao nhiêu chuyện như vậy. Tổng Giám đốc X bị bắt vì tham nhũng hàng tỷ đồng. Công ty Y bị phát hiện có dấu hiệu lừa đảo, làm thất thoát hàng trăm tỷ. Một khu nhà hay một cây cầu vừa mới xây đã bị sập, lún vì làm ăn gian dối, bớt xén vật tư. Một bữa tiệc sinh nhật của con cái một “quan lớn” tốn kém hàng trăm triệu đồng trong đó chủ nhân bữa tiệc vung tay tặng các bạn mỗi người một chiếc xe gắn máy hiệu @. Một em bé chết oan vì bị điện giật trên đường do dây điện bị hở, không ai chịu trách nhiệm. Một tai nạn giao thông thảm khốc do đường hẹp, lô cốt chặn, chen lấn nhau hoặc đôi khi chỉ vì do chất lượng đường xá tồi khiến người đi xe ngã xuống và bị xe tải phía sau cán lên. Một người phụ nữ nghèo đi mót cà phê bị chó nhà giàu cắn chết nhưng công an lại không truy cứu tội hình sự người quản lý trang trại đã để mặc chó cắn chết người v.v… Đầu tiên khi đọc hoặc nghe những chuyện như vậy, người ta phẫn nộ, bức xúc, thương cảm. Nhưng rồi hàng ngày cứ phải đọc mãi, chứng kiến mãi với mức độ phi lý, bất công ngày càng lớn hơn, người ta thành quen đi, không còn ngạc nhiên trước bất cứ chuyện gì nữa. Người ta quen dần với những điều không tử tế, với cái xấu, cái ác… và trở nên vô cảm dần dần mà không hay.

Tai hại của điều này là đến lượt mình, mỗi người khi phải làm một điều không tử tế hoặc không lương thiện sẽ tự bảo rằng chung quanh mình ai cũng làm như vậy, ai cũng đang sống như vậy, có sao đâu?

Cái xấu, cái ác lên ngôi

Chưa cần phải từ nguồn báo chí truyền thông của “thế lực thù địch” nào, chỉ cần theo dõi báo chí trong nước, do nhà nước kiểm soát nội dung và cho phép phát hành, cũng có thể thấy ở Việt Nam hiện nay, cái xấu, cái ác đang lộng hành ra sao. Có nhiều người sẽ bảo xã hội nào mà chả có cái xấu, cái ác, ở Mỹ chẳng hạn, cũng có những cảnh bạo lực, giết người, thậm chí sát nhân hàng loạt… đó thôi. Nhưng vấn đề ở đây là cái xấu, cái ác, sự thiếu lương thiện đang tràn lan ở mọi cấp độ từ những hành vi nhỏ nhặt hàng ngày như chen lấn giành đường nhau, dúi tiền cho cảnh sát giao thông để được cho qua khi bị bắt lỗi và cảnh sát cũng thản nhiên nhận tiền như là chuyện bình thường phải vậy, hoặc sẵn sàng cãi vã, chửi bới nhau thậm chí đánh nhau chỉ vì những chuyện xích mích không đáng… cho đến những hành vi ở mức độ lớn hơn. Nhiều khi rùng mình vì mức độ trơ tráo vô đạo đức trong những hành vi tội lỗi như khi một ông hiệu trưởng không những dụ dỗ, ép dâm hàng loạt học sinh tuổi vị thành niên mà còn buộc các em phải lên giường với hàng loạt quan chức để có lợi cho mình; hay mức độ dã man một cách thản nhiên như khi một con người có thể để mặc cho đàn chó cắn xé đồng loạt đến chết mà không cứu; hay những cô cậu học sinh còn ở tuổi cấp hai có thể thản nhiên đánh bạn, thản nhiên quay video clip tung lên mạng và những học sinh khác thì ngồi xem mà không phản ứng gì. Khi một xã hội mà những điều không tử tế, cái xấu, cái ác đã trở thành chuyện bình thường trong khi điều tử tế, cái đẹp, cái thiện dần trở thành hiếm hoi, bất bình thường thì đó là điều thực sự phải báo động đỏ từ lâu rồi.

Sự bạc nhược, cầu an

Khi phải sống chung quá lâu với những điều bất công phi lý, với các xấu cái ác đang tràn lan, và biết rằng có kêu thì cũng chẳng thay đổi được gì, số đông người Việt dường như đã chọn cho mình một “phương châm” sống an toàn, đó là mặc kệ, mọi chuyện đã có nhà nước lo, họ chỉ lo kiếm sống, lo cho bản thân và gia đình. Và điều đó tạo ra một căn bệnh khác cũng phổ biến không kém: sự bạc nhược, cầu an. Đối với đám đông này, đừng nói với họ về sự thối nát của chế độ, về gánh nặng nợ nần đang đổ lên đầu các thề hệ sau do việc vay nợ nước ngoài, việc mất đất mất biển và cả nguy cơ mất nước trong tương lai, việc các nước khác người dân được có những quyền gì cũng như nhu cầu tự do dân chủ trong nhân dân… Họ sẽ lảng tránh, sợ hãi, không tin, và tiếc thay con số này vẫn còn khá lớn. Chưa kể những kẻ mà quyền lợi gắn chặt với chế độ này và vẫn cố sống cố chết bênh vực cho chế độ này là không tính đến. Đó là lý do vì sao một đảng cầm quyền có quá nhiều sai lầm và tội lớn đối với đất nước, với nhân dân trong suốt bao nhiêu năm qua như Đảng Cộng sản Việt Nam lại vẫn tiếp tục tồn tại.

Sự giả dối

Trong lịch sử giành chính quyền và giữ chính quyền của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng rất nhiều “chiêu thức”, trong đó có sự dối trá, mỵ dân. Có thể nói sự dối trá, nói một đằng làm một nẻo là “chính sách” xuyên suốt trong đối nội cũng như đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ bao lâu nay. Và từ bao nhiêu nay người dân Việt Nam đã phải sống trong một môi trường giả dối, từ khi còn đi học trẻ em Việt Nam đã phải học tin vào những điều giả dối cho đến khi trưởng thành nhìn xung quanh xã hội toàn những điều giả dối – bằng giả, hàng giả, chất lượng công trình và cả chất lượng tác phẩm văn hóa văn nghệ nhiều thứ cũng là giả… Và cũng như các căn bệnh đã kể trên, đến một lúc nào đó sự giả dối cũng trở thành căn bệnh phổ biến trong xã hội – người ta chạy theo thành tích, chạy theo những giá trị ảo, giá trị giả bên ngoài và đánh giá nhau cũng bằng những cái bên ngoài đó như căn nhà, chiếc xe, áo quần, mảnh bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ “mua”… mà không xét đến giá trị thật bên trong của một con người.

Hoài nghi và mất lòng tin

Và khi phải ăn uống hít thở hàng ngày với một bầu không khí giả dối như vậy thì lẽ đương nhiên con người trở nên mất lòng tin, hoài nghi vào tất cả mọi thứ. Từ một nguyên nhân sâu xa nhất là sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống lý luận chính trị Mácxít-Lêninnít, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản… mà bao nhiêu năm nay Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn ra sức nhồi nhét vào đầu người dân, trong lúc chưa tìm ra được một hệ thống lý luận khác để thay thế (thật ra thì đã có sẵn những hệ thống lý luận của các nước dân chủ pháp quyền khác để mà học hỏi nhưng vấn đề là nhà nước Việt Nam không muốn học!), cùng với sự xuống cấp, tha hóa về mọi mặt trong đời sống đạo đức xã hội, khiến con người mất lòng tin và căn bệnh hoài nghi này cũng phổ biến không kém. Điều tai hại hơn là người ta không tin cả vào những điều tốt, sự tử tế.

Môi trường xã hội Việt Nam hiện nay là một môi trường mà cái ác cái thiện lẫn lộn, môi trường văn hóa nghệ thuật cũng vậy – cái đẹp cái xấu lẫn lộn, thật giả lẫn lộn, dễ làm cho con người, nhất là giới trẻ, bị nhiễu về mặt nhận thức, thẩm mỹ cho đến phương hướng, mục đích sống… không biết phân biệt, thẩm định hay dở, đúng sai. Xã hội cứ thế mà nhiễu loạn cả lên.

Và tất cả những căn bệnh đó như những tế bào ung thư đang tàn phá cả xã hội Việt Nam mà nếu không có một sự thay đổi toàn diện, triệt để về mặt thể chế chính trị thì mọi sự “sửa chữa” kiểu như thay tên Đảng, thay tên nước, thay đổi nhân sự này chính sách kia… cũng chỉ như những cố gắng vá víu tạm bợ, che chỗ này vá chỗ kia trên ngôi nhà đã thực sự mục ruỗng từ bên trong mà thôi.

Song Chi

viethoaiphuong
#3 Posted : Tuesday, May 25, 2010 11:56:18 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)


Nền Tảng Văn Hoá Việt Nam

Phạm Hy Sơn

Người Việt chúng ta dạt dào tình cảm, từ tình yêu nước thương nòi, yêu quê hương, thương yêu cha mẹ anh chị em đến bạn bè, làng xóm. Tình cảm làm con người mơ mộng, dễ xúc động trước cảnh, trước người.

Thêm nữa tiếng Việt âm thanh trầm bổng tự nhiên nên khi chúng ta nói giọng cao, giọng thấp của các âm mang dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng nghe tựa như một bản nhạc hay một bài thơ rồi.

Sách cổ Tàu ghi người Việt nói líu lo như chim hót. Mới đây khi tôi vào mua đồ sửa chữa xe (part), người bán hàng cho biết ông ta đã sống ở Việt Nam mấy năm và nhận xét khi chúng ta nói chuyện âm điệu lên lên, xuống xuống nghe như nghe một bản nhạc.

Vì thế tổ tiên chúng ta đã để lại một kho tàng văn chương đồ sộ là tục ngữ, ca dao ghi lại mọi khía cạnh của đời sống từ tình yêu man - nữ đến tôn giáo, trời đất , phong tục tập quán , quan niệm về sự sống, sự chết, cách trồng tỉa, thời vụ . . ..

Hai tập Tục Ngữ Phong Giao của Ông Nguyễn văn Ngọc được sưu tập vào năm 1928 gồm hơn 6.500 câu tục ngữ, hơn 850 bài ca dao và 366 bài thơ đố.

Sau này Ông Trọng Toàn trong hai tập Hương Hoa Đất Nước do nhà Xuất bản Bốn Phương in năm 1956 thu tìm được 2.077 bài gồm từ hai đến mười câu thơ. Không biết những câu phương ngôn của các địa phương xa xôi đã được ghi nhận hết chưa. Trong hơn hai ngàn bài ca dao Ông Trọng Toàn ghi nhận, tính trung bình mỗi bài có 5 câu thơ thì chúng ta có hơn mười ngàn câu ( 2.077 x 5 =10.385) .

Điều đó chứng tỏ chúng ta có một nền văn học rất phong phú, rất sớm, cách đây nhiều ngàn năm, không thua người Trung Hoa về thời điểm và có thể cả về số lượng vì khi Khổng Tử soạn kinh Thi đã chỉ chọn được hơn ba trăm trong số những bài ca dao từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu để dạy người Trung Hoa.

Ông Phan Khôi trong bài khảo luận về Tục ngữ Phong giao đăng trên báo Tao Đàn ngày 1-08-1939 cho rằng: " Trong hạng phong giao tả tình Việt Nam, những câu nói về trai gái hay vợ chồng chiếm một phần lớn chẳng khác trong Quốc Phong của Kinh Thi bên Tàu .... Chưa nói đến cái hay chỉ nói đến cái nhiều cũng đủ thấy chỗ đặc sắc của phong giao xứ ta. . . . Sau một hồi nghiên cứu về Tục Ngữ Phong Giao, tôi thấy ra nó có cái địa vị trong văn học vững vàng mà rực rỡ lắm. "

Tại sao dân tộc chúng ta sáng tác nhiều thơ văn đến thế ?

Trước hết phải nói người Việt là một dân tộc chuộng thơ văn. Câu nói "mỗi người Việt Nam là một thi sĩ " không có gì quá đáng vì người Việt sống bằng tình cảm, dạt dào tình cảm, tâm hồn dễ rung động lại sống trong một đất nước xinh đẹp, núi cao, sông rộng, biển cả mênh mông, cỏ cây bốn mùa xanh tốt, con người hiền hòa dễ mến.
Trước cảnh ấy, người ấy, tất tức cảnh thành thơ :
- Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc bờ ao ,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Đây là cảnh đẹp trên đường vào xứ Nghệ :
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Đứng trước cảnh núi cao, sông dài, biển rộng, con người bâng khuâng tự hỏi :
- Núi kia ai đắp mà cao,
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu!

Ngày nay chúng ta thường hiểu Ca Dao là một thể thơ bình dân, nhưng nguyên thủy ca có nghĩa là hát và dao là bài hát ngắn. Vậy từ ngàn xưa trải dài qua cuộc sống dân tộc chúng ta mặc nhiên là ca sĩ trước khi trở thành thi sĩ mà không ai để ý.

Điều đó dễ hiểu vì ngôn ngữ của chúng ta qúa dồi dào âm điệu, nói ra tiếng là đã thành như ca hát. Tiếng Việt rất phong phú về âm, chúng ta có khoảng 15.000 âm do sự biến hóa của các dấu kể trên với 12 nguyên âm i ,o, a. .. và các nguyên âm kép như oa, oe, iu.... So với Trung Hoa, tiếng Bắc Kinh (Quan Thoại) chỉ có khoảng 1.300 âm - chưa bằng 1/10 Việt Nam ; với Nhật số âm còn ít hơn, khoảng 120 âm ( Tài liệu lấy từ Tiếng Việt Mến Yêu của Ông Đỗ thông Minh đăng trong Tập San Lê Hoa số Xuân 2006, trg 116 ).

So số vần trong 8 câu thơ Lục bát của ta với 8 câu thơ luật Đường của Trung Hoa thì số vần gấp hơn 2 lần ( 11 đối với 5) :
( Chữ Vần )
Làm trai nết đủ trăm đường : đường
Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay. : thường, nay
Công cha, đức mẹ cao dày, : dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ. : ngày, thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ, : giờ
Trưởng thành, con phải biết thờ hai thân. : thờ, thân
Thức khuya, dậy sớm chuyên cần, : cần
Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con. : phần
Ca Dao Cộng : 11 vần

Đưa Cho Vợ ( Chữ vần)
Quanh năm buôn bán ở ven sông, : sông
Nuôi đủ năm con với một chồng. : chồng
Lăn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông. : đông
Một duyên, hai nợ âu đành phận ,
Năm nắng, mười mưa chẳng quản công. : công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc ,
Có chồng hờ hững cũng như không. : không
Trần Tế Xương Cộng : 5 vần

Có lẽ vì số âm ít nên Trung Hoa và nhiều nước khác không có thể thơ có vần ở giữa (yêu vận) như loại thơ Lục Bát của ta.

Nhờ âm, điệu dồi dào nói không đã thành thơ, thành nhạc thì việc làm một vài câu thơ tả tình, tả cảnh hay nói về phong tục tập quán ( tục ngữ) hoặc những lời khuyên dạy con cháu (châm ngôn ) không khó nên từ xa xưa, trước khi có học hành chữ nghĩa, người Việt đã sáng tác rất nhiều câu thơ chúng ta gọi là ca dao. Vì là những bài "thơ" ngắn có vần, điệu êm tai, dễ nhớ nên được phổ biến rộng rãi và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Bất cứ người Việt Nam nào, dù là người nông dân không bao giờ cắp sách tới trường, cũng thuộc ít nhiều những câu tục ngữ, ca dao liên quan tới cuộc sống hàng ngày về phong tục tập quán, cách cày cấy, thời tiết . .. như :
- Cơn (mưa) đàng đông vừa trông vừa chạy.
- Tháng Chạp thì mắc trồng khoai ,

Tháng Giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà. . ..
- Lạy trời mưa xuống ,
Lấy nước tôi uống ,
Lấy ruộng tôi cày ,
Lấy bát cơm đầy ,
Lấy rơm đun bếp.
- Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Người bình dân từ thuộc ca dao đi đến việc dễ dàng sáng tác những câu ca dao.
Vì vậy phần lớn ý của ca dao đơn giản, bình dị ; cách gieo vần cũng thế nên có người nói ca dao giống vè nhiều hơn thơ :
- Tin bợm mất bò ,
Tin bạn mất vợ, nằm co một mình.
-Tay mang túi bạc kè kè,
Nói quấy nói quá cũng nghe ầm ầm.

Tuy nhiên có những bài ca dao rất hay cả về ý lẫn lời như bài dưới đây :
-Trèo lên cây bưởi hái hoa ,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc ,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay ,
Sao anh không hỏi những ngày còn không !
Bây giờ em đã có chồng ,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Đó là tâm tình của đôi trai gái ở sát nhà nhau, biết nhau từ nhỏ, lớn lên "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Rồi chàng phải lên đường tòng chinh hay vì nhà nghèo phải đi xa làm thuê làm mướn, khi trở về thì:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. ( Nguyễn Du )

Ôm mối thất tình chàng buồn rười rượi. Thế rồi một hôm nàng được phép chồng về thăm cha mẹ. Nghe giọng ai quen mà nhìn không thấy mặt vì hai nhà cách nhau bờ giậu. Lòng chàng bồn chồn đứng ngồi không yên hết leo lên cây bưởi ngó sang, lại xuống vườn cà sát bờ rào giả hái nụ tầm xuân ( hoa hồng dại) để mong thấy mặt nói lời than thở. Hai câu chót dùng vần trắc ( biếc, tiếc ) diễn tả nỗi lòng đau khổ :
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc ,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay !
Và nàng cũng vậy, sau khi trách chàng sao không dạm hỏi trước khi ra đi, đã tỏ rõ nỗi lòng nuối tiếc không cùng vì ván đã đóng thuyền mất rồi ! Còn nền luân lý khắt khe, còn danh phận phải giữ gìn, không thể làm gì hơn. Nàng cũng dùng vần trắc (gỡ, thuở ) ở hai câu cuối để bày tỏ lòng mình:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Mấy câu ca dao sau đây nói lên nỗi buồn cô quạnh, mênh mang của con người:
Đêm qua ra đứng bờ ao ,
Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ ,
Buồn trông con nhện giăng tơ ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai!

Thiết tưởng những thi sĩ tài danh như Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân... chưa chắc đã làm được nhưng câu thơ hay hơn.

Chúng ta so sánh mấy giòng thơ sau đây với bài thơ Thề Non Nước của thi sĩ Tản Đà. Cả hai đều nói lên lòng chung thủy đợi chờ xem bài nào cô đọng hơn, xúc động hơn :
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà ,
Bóng sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ không mòn,
Tào khê nước chảy, lòng còn trơ trơ.
Ca Dao

Thề Non Nước
Nước non nặng một lời thề ,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy ,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. . ..
Tản Đà

Lối hát Quan Họ Bắc Ninh, hát Ví hay hát Đối của đồng bào dân quê miền Bắc, Hát Trống Quân vào đêm Trung Thu , Hò kéo gỗ, Hò giã gạo, Hò miền Nam, Hát Ru v. v. hầu hết dùng thể thơ Sáu Tám cả.

Nhưng nói đến thơ bình dân mà không nói đến vè là một thiếu xót. Vè là loại bình dân nhất, dễ làm nhất thường dùng để chế nhạo, trêu cợt :
Nghe vẻ nghe ve ,
Nghe vè xóm Cả,
Họp hành cãi vã,
Như đám mổ bò,
Việc làng không lo ,
Khấu đầu nộp vạ. .. .

Về sau, người ta dùng hai câu thơ bảy chữ có vần trắc cộng với thể thơ Sáu Tám thành thơ Song Thất Lục Bát sở trường diễn tả sự buồn phiền, ai oán trong Bần Nữ Thán, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc ( có người cho rằng 2 câu thơ 7 chữ do biến thể từ thơ Đường luật, sau khi đọc kỹ ca dao tôi thấy không đúng. Lối gieo vần trắc ở giữa đã có rất nhiều trong ca dao, thí dụ vắn tắt như bài Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa ở trên ).

Có thể nói nền văn hoá Việt Nam không bị biến hoá hay đứt đoạn nhờ những bài hát hay những vần thơ bình dân. Tổ tiên chúng ta khởi công xây dựng văn hoá bằng những câu nói đơn sơ nhưng có vần có điệu như: " Cầu được, ước thấy. ", " Ăn trông nồi, ngồi trông hướng. " Mất bò, mới lo làm chuồng. "

Từ đó tiến tới loại thơ gần với thơ Sáu Tám. Chúng ta lần lượt đọc những câu sau đây để hiểu rõ hơn sự tiến triển của ca dao Việt nam:
- Đãi *** sáo lấy hạt đa,
Đãi *** gà lấy tấm.
Hay:
-Nắng sớm thì đi trồng cà ,
Mưa sớm ở nhà phơi thóc .
- Cố đấm ăn xôi ,
Đấm thì vô hồi, xôi chẳng được ăn.
- Mặt nạc đóm dày,
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn.
- Ba vợ, bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi!

Tới thể Sáu Tám là thể thơ hoàn chỉnh nhất, không những được giới bình dân sử dụng mà cả những người có học nơi cửa Khổng Sân Trình không những dùng để sáng tác tiểu thuyết dài bằng thơ mà còn dùng để viết sử nữa như Nguyễn huy Tự, Nguyễn Thiện với truyện Hoa Tiên, Nguyễn Du với Truyện Kiều, Nguyễn đình Chiểu với Lục Vân Tiên, Phạm đình Toái và Lê Ngô Cát với Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca v. v..

Ngày xưa nhà Nho thi cử phải thông thạo Phú Lục, Văn sách là những loại văn thơ của Tàu, không học văn thơ Việt Nam nên loại thơ chính thức các cụ hay làm là thơ Đường (loại thơ bảy chữ tám câu ).

Nhưng nếu tổng cộng tất cả thơ được các cụ sáng tác bằng chữ Nho chưa chắc bằng số thơ các cụ sáng tác bằng chữ ta (nôm) qua thể Sáu Tám.

Điều đó giải thích tại sao chúng ta không bị Tàu hóa và nêu rõ địa vị quan trọng của tục ngữ ca dao trong nền Văn Hóa Việt Nam.

Đó mới chỉ là xét qua theo hình thức, xét phần nội dung tức những tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán chứa đựng trong những câu nói, câu thơ bình dân kể trên mới là phần quan trọng. Sau đây là những điểm chính :

- Tín ngưỡng : Tín ngưỡng tức niềm tin tôn giáo. Người Việt Nam xưa đã có tôn giáo, đó là Đạo Trời trước khi các đạo Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa tới truyền bá.

Người Việt tin Ông Trời là đấng tối cao tạo dựng vạn vật, có toàn quyền năng mà mỗi khi cần xin điều gì, người ta vái lạy :
Lạy Trời mưa xuống ,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày ,
Lấy bát cơm đầy ,
Lấy rơm đun bếp.

Đối với những kẻ độc ác, bất nhân người ta tin sẽ khó lòng thoát khỏi bị Trời trừng phạt với câu: " Lưới Trời lồng lộng. ", " Trời có mắt. " hoặc " Không có Trời ai ở được với ai." hay :
- Đừng cậy khoẻ, chớ cậy giàu ,
Trời kia còn ở trên đầu, còn kinh.
- Của Trời, Trời lại lấy đi,
Giương hai mắt ếch làm chi được Trời !
Nên người ta phải ăn ở hiền lành, có nhân, có nghĩa :
- Làm ơn ắt hẳn nên ơn ,
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ .
Do đó người ta tin tưởng vào Đạo Trời :
- Dù ai nói ngược, nói xuôi ,
Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng.

Đạo Trời là đạo tự nhiên như ăn ngay ở lành, hoà thuận, thương yêu. Ông Trời đối với người Việt rất gần gũi và thân yêu , không cầu kỳ cao xa như Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Trung Hoa, Thiên Chúa đáng sợ đáng kính của người Do Thái trong Kinh Cựu Ước.

Câu truyện cổ kể ngày xưa Trời ở sát với người nhưng anh chàng kia được vợ dặn ở nhà trông cái váy phơi trên cây sào. Anh chàng quên không để ý, đến lúc nhớ ra thì cái váy đã bị gío thổi bay mất. Chàng ta không biết thế lại nghi là trời ăn cắp nên lấy cây sào đâm trời, trời giận mới bay lên cao như bây giờ.

Hình ảnh Ông Trời đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam nên hơi một tí là người ta kêu Trời. Vui cũng kêu Trời, buồn cũng kêu Trời: "Trời ơi vui qúa ! " , " Trời ơi sao tôi khổ qúa ! "

Đạo Phật đã hiện diện ở Việt Nam hơn 2 ngàn năm nhưng không xóa được hình ảnh Ông Trời trong đầu óc họ, trái lại người ta vẫn thường nói: " Nhờ Trời, nhờ Phật ". Được như vậy là vì Ông Trời trong Đạo Trời của Việt Nam là đấng thiêng liêng, có toàn quyền năng, đấng tạo dựng vạn vật mà đạo Công Giáo gọi là Thiên Chúa, Đạo Hồi gọi là đấng A - Lát, người Trung Hoa gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tất cả , dù cách diễn tả có đôi chút khác, nhưng đều thờ một đấng tối cao mà thôi ( Trong kinh sách xưa của đạo Công Giáo, những nhà truyền giáo Âu Châu cũng kêu Thiên Chúa là Đức Chúa Trời ).

- Nhân sinh quan : Cũng như tư tưởng của Lão Trang du nhập về sau, người Việt Nam đã sớm nhận ra cuộc đời ngắn ngủi như hoa sớm nở, tối tàn :
- Người đời khác nữa là hoa ,
Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn.

Tuy cuộc đời ngắn ngủi, phi lý nhưng người Việt chúng ta quan niệm đã sống thì sống cho có ý nghĩa, đừng phí phạm tháng ngày :
- Đời người được mấy gang tay ,
Ai hay ngủ ngày, chỉ được nửa gang .
Và đã sống thì phải sống sao cho hào hùng, sống sao có ích cho đời :
- Làm trai cho đáng nên trai ,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.

Ngoài ra tục ngữ, ca dao còn đề cập đến nhiều vấn đề như giáo dục, tâm lý người đời, phong tục, tập quán, thời tiết, nông vụ . .. :

Giáo dục :
- Cá không ăn muối cá ươn ,
Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư.
-Dạy con, con chẳng nghe lời ,
Con nghe ông hểnh đi đời nhà con.
- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Lòng hiếu thảo :
- Công cha như núi Thái Sơn ,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra .
Một lòng thờ mẹ kính cha ,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con .
- Công cha đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

Thời tiết :
- Ngày tháng 10 chưa cười đã tối.
- Mồng chín tháng Chín không mưa ,
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn.
Mồng chín tháng Chín có mưa ,
Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng.

Thời vụ :
- Tháng Chạp là tiết trồng khoai ,
Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.
Tháng Ba cày bở ruộng ra,
Tháng Tư gieo mạ thuận hoà nơi nơi. . ..
- Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. . ..

Phong tục, tập quán :
- Tháng Giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Tháng Tư đong đậu nấu chè ,
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm. . ..
- Phép vua thua lệ làng.
- Chồng cô, vợ cậu, chồng dì ,
Trong ba người ấy chết thì không tang.
- Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng .

Tâm lý :
- Yêu nên tốt, ghét nên xấu.
- Khó khăn ở chợ leo teo ,
Ông cô, bà cậu chẳng điều hỏi sao.
Giàu sang ở tận nước Lào,
Hùm tha, rắn cắn tìm vào cho mau.

Tóm lại, chỉ nhận xét riêng về phần Ca dao chúng ta thấy nước Việt từ ngàn xưa đã có một nền văn hoá riêng, phong tục tập quán riêng, tín ngưỡng riêng ( thờ Trời, thờ Ông Bà Tổ Tiên ) , bờ cõi riêng được xác tín qua bài thơ sau đây của danh tướng Lý thường Kiệt :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tạm dịch :
Vua Nam ở đất nước Nam ,
Sách trời phân định biên cương rõ ràng .
Giặc nào dám tới hoành hành,
Tất nhiên đại bại tàn tành như tro .

Sự phân định bờ cõi cũng như xác định nền văn hoá Việt được Cụ Nguyễn Trãi hùng hồn nhắc lại trong bài Bình Ngô Đại Cáo sau khi dân tộc ta đánh đuổi quân Minh về nước :
Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng Văn Hiến đã lâu ,
Sơn hà cương vực đã chia ,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Ngoài ca dao, chúng ta còn có một kho tàng văn hoá cổ khác là các truyện cổ tích lưu truyền trong dân gian mà mãi về sau một số được ghi lại thành sách vở vào khoảng thế kỷ 13, 14 bởi các Ông Lý Tế Xuyên với Việt Điện U Linh tập và Trần Thế Pháp với Lĩnh Nam Trích Quái. Sau này còn các Ông Nguyễn Dữ viết Truyền Kỳ Mạn Lục, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết Tang Thương Ngẫu Lục sưu tập những truyện cổ trong dân gian. Những truyện loại này được truyền từ đầu môi của cha mẹ, ông bà hay các bậc gìa cả kể lại cho con cháu, từ đời này đến đời khác về truyền thuyết của dân tộc, các vị vua Hùng dựng nước, các vị anh hùng cứu nước như Đức thánh Gióng, Hai Bà Trưng, các vị thần linh như Thần núi Tản Viên, Chử Đồng Tử. . .. Qua những câu chuyện ấy, người ta biết được nguồn gốc của mình, biết được tổ tiên mình dựng nước và giữ nước ra sao, đất nước mình có những vị thần minh bảo trợ và các vị anh hùng hào kiệt từng chiến thắng kẻ xâm lược, những thuần phong mỹ tục phải duy trì (tục cưới hỏi trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, tình nghĩa vợ chồng, anh em trong truyện Trầu Cau...).

Cũng như ca dao, truyện cổ tích len lỏi vào tâm hồn người Việt như những mạch suối ngầm nên trải qua bao nhiêu cơn quốc biến với chính sách đồng hoá gắt gao từ đời Hán đến đời Minh, đời Thanh với chỉ thị thấy bất cứ dấu vết văn hóa nào như sách vở, bia đá, ca lý dân gian của người Việt thì một mảnh, một chữ, một câu cũng phải đốt, phải đục hết ( Chỉ dụ của Minh thành Tổ ngày 21-8-1406). Sách vở, bia đá thì người Tàu tha hồ thu, tha hồ đục. Cái gì của Tàu trả cho Tàu. Cái gì của Việt một mảy may không hề sứt mẻ.

Nhìn qua sách vở viết bằng chữ Nho (Hán), hoặc nghiên cứu về các luật lệ, cách thức tổ chức triều đình xưa một số người Việt và người ngoại quốc vội cho rằng người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung hoa. Đó là một điều sai lầm vì người Việt xưa kia chưa có chữ thì viết bằng chữ Nho, các triều đại xưa thấy đạo Nho của Khổng Mạnh có lợi cho vương quyền nên cũng bắt trước Trung Hoa trong tổ chức triều nghi, đặt ra các luật lệ theo chiều hướng ấy hoặc như vua Gia Long nhà Nguyễn đem gần nguyên bộ luật của Nãm Thanh ra áp dụng. Đó chỉ là bộ mặt của các vương triều, các bộ luật không ảnh hưởng đến hầu hết dân chúng vì " Phép vua thua lệ làng ". Ngay cả các nhà Nho nổi tiếng về Hán học như các cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến. .. sau khi đỗ đạt thành danh thì lại qui ẩn nơi thôn dã sau lũy tre xanh, sống hòa mình với bà con của mình, ăn măng, ăn rau gía, uống rượu nếp, lấy cần câu tiêu khiển chứ không uống rượu bồ đào, lụa là, xe ngựa như người Trung Hoa :
- Thu ăn măng trức, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp ,
Nhìn xem phú qúi tựa chiêm bao.
Nguyễn bỉnh Khiêm
Hay:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được ,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nguyễn Khuyến

Một học giả người Pháp khi đã nghiên cứu kỹ văn hóa Việt Nam thấy rằng nền tảng văn hóa Việt Nam không hề thay đổi dù trải qua hai lần bị ngoại bang đô hộ ( Trung hoa và Pháp) với mưu toan đồng hoá. Ông ví Văn hóa Việt như một cây tre, nếu cạo những lớp sơn (văn hóa ngoại lai ) bên ngoài thì bên trong cây tre vẫn là cây tre.

Văn hóa Việt không ghi trong sách vở, văn bia, không viết bằng ngòi bút mà " viết " bằng lời nói, bằng một thứ ngôn từ rất huyền diệu được phổ biến và lưu truyền nhanh chóng. Trong bất cứ thời kỳ đen tối nào của dân tộc Việt, những câu ca dao hô hào lòng yêu nước hay phỉ báng quân thù không những không hủy được mà còn phát triển mạnh hơn như thời quân Thanh sang xâm lăng ra lệnh cho người Việt phải kết tóc thành bím thả ra phía sau như một cái đuôi. Việc này họ đã thành công ở bên Tàu nhưng thất bại ở Việt Nam :
Trèo lên trên núi mà coi ,
Kìa kìa Ngô khách mọc đuôi đàng đầu !

(Chỉ có loài thú vật như trâu, bò, lừa, ngựa. .. mới có cái đuôi mọc ở chỗ xấu và dơ nhất. Đây là lời nhạo báng rất nặng nề dành cho kẻ xâm lăng ).

Sự kiểm soát tư tưởng không thời nào khắt khe, tàn bạo và tinh vi như thời cộng sản vì ở khắp mọi nơi, mọi chỗ đều có đảng viên làm tai mắt. Những người dùng ngòi bút để chống đối như những nhà văn, nhà thơ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm hay Ông Nguyễn chí Thiện thì bị tù tội, văn sách bị tịch thu, bị cấm nhưng ca dao vẫn nảy nở và được lưu truyền rộng rãi :
- Một người làm việc gấp hai ,
Để cho cán bộ mua đài (radio), sắm xe.
Một người làm việc gấp ba ,
Để cho cán bộ xây nhà xây sân.
- Đôi giép râu xéo nát đời son trẻ ,
Mũ tai bèo che lấp cả tương lai .
Ngay cả những câu ca dao kỳ tai hại, cực kỳ nguy hiểm đối với chính quyền mà họ cũng không tài nào ngăn cấm được vì người ta không viết thành truyền đơn hay biểu ngữ nhưng lại ghé sát vào tai nói cho nhau nghe :
- Bao giờ hồ cạn, đồng khô, (ám chỉ Ông HCMinh và PV Đồng )
Búa liềm thì cũng là đồ bỏ đi .. . . . . ..

Thời nay dù sách vở thuận tiện nhưng tục ngữ, ca dao vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành nếp sống của người Việt từ nông thôn tới thành thị và ngay cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài mỗi khi muốn nói đến một cách cư xử hay một tập quán nào ( như nghi lễ cưới xin ) người ta vẫn dùng tục ngữ, ca dao để chứng dẫn.

Có người cho rằng trước sức bành trướng ào ạt của văn minh phương Tây ,văn hóa Việt Nam sẽ bị trốc gốc. Chúng tôi thiết nghĩ đó là một ý tưởng bi quan, chúng ta đã qua thử thách của lịch sử trong qúa khứ. Một thử thách khác đang thể hiện nơi người Việt tị nạn sống khắp thế giới. Tuy là thiểu số nhưng nơi nào chúng ta cũng có khuynh hướng hội tụ thành quần thể với các sinh hoạt văn hóa riêng của mình như sách báo, đài phát thanh , đài truyền hình, ca nhạc, trường học, chùa, nhà thờ, các đoàn thể, hội đoàn. . . . Điều đó chứng tỏ nền Văn Hóa của chúng ta có thể tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào.

PHẠM HY SƠN
(Người Việt Chúng Ta )



viethoaiphuong
#4 Posted : Wednesday, August 4, 2010 6:20:16 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Sưu Tập Văn Học Dân Gian

LTS: Đây không phải là “mục vui cười” kể chuyện hài hước, cợt nhả (joke) mà là mục sưu tập những chuyện đã được quần chúng truyền tụng rộng rãi suốt Bắc Trung Nam, có tính cách phê phán, châm biếm, mỉa mai (critic, satiric, ironic) chế độ cộng sản thống trị.
Hai điều này khác nhau, một đàng vụ mua vui, một đàng mang tính chất đấu tranh. Mở mục này, Người Dân nhằm ba mục đích: để khỏi thất truyền, để cộng sản biết tâm tình dân chúng, và để một số đồng bào Miền Nam thấy rằng không phải cứ là dân Miền Bắc thì là cộng sản hoặc không chống cộng.

Người Dân hy vọng mục này khiến thân hữu/bạn đọc sẽ cầm bút để bắt đầu tham gia vào hàng ngũ “biện sĩ” trong một lãnh vực của mặt trận đấu tranh tư tưởng, văn hóa.

Người Dân cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng, vì tính chất “dân gian”, nên ngôn ngữ trong một số câu chuyện có thể bị coi là không thích hợp với các em bé. Xin quí vị lớn tuổi trong gia đình đọc, kiểm duyệt trước, để chuẩn bị giải thích, nếu muốn các em hiểu biết về lối châm biếm, mỉa mai của “dân gian” ngoài đời như thế nào.

THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN

Để tiếp nối chương trình Văn Học Dân Gian của NgD trong việc duy trì một bộ môn văn hóa dân tộc, nên “hay hèn cũng thể nối điêu”, người viết chỉ xin phụ thêm một số đề tài, ngoài những đề tài mà các bạn đã viết trên những số trước. Điều đáng chú ý là bộ môn văn hóa này quá phong phú dưới thời nước nhà rên siết dưới gông cùm cộng sản, mà những sự hà khắc làm đề tài cho nền văn học dân gian có thể lấy thúng mà đong không xuể, nếu chịu khó sưu tầm thì viết được cả một tập sách dày.

Bị đè nén, áp bức, bóc lột nhưng hễ công khai phản kháng, chống đối, phê bình bất cứ dưới hình thức nào, thì cũng lập tức bị khủng bố, tù đày; điển hình như trường hợp các nhân sĩ trong phong trào Nhân Văn/Giai Phẩm trước đây và mới rồi vụ Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Trần Mạnh Quỳnh, vv… Cho nên văn học dân gian nảy nở, do tiếng nói của các chiến sĩ vô danh phát huy tinh thần phê phán qua những vần thơ, câu vè, câu hát phản ảnh một chân lý nhuộm đầy màu sắc thực tế phũ phàng để loan truyền trong dân gian, nhạo báng bạo quyền. Tinh thần phê phán này ví như liều thuốc an thần cho người dân thấp cổ bé miệng, giải tỏa những ẩn ức trong lòng, pha loãng những ưu tư phiền muộn miên man, mua lấy nụ cười sảng khoái cho mình và cho cả những người đồng hội đồng thuyền. Do tiếp cận với thực tế, bộ môn văn học này rất giản dị; tác giả lại vận dụng tài tình tư tưởng một cách nhẹ nhàng, nên rất dễ truyền cảm. Bởi vậy nó trở thành một thứ vũ khí khá nặng ký của người bị trị giáng lên đầu quân thống trị, vì nó được loan truyền trong quảng đại quần chúng, làm suy giảm uy thế của kẻ cầm quyền, lại còn gây mầm mống những chống đối nguy hiểm cho chế độ. Cũng cần nói thêm rằng loại hài hước này còn là thước đo những bất mãn, bất công, điều xấu của chế độ bị dùng làm đề tài sáng tác. Và thước đo này càng dài càng thể hiện rõ ràng mức độ oán hờn của nhân dân đối với bọn thống trị phi nhân. Sau đây người viết sao chép ra một số ít đề tài về từng loại thể văn để độc giả cười vui trong chốc lát:

THƠ

Sau khi Hồ Chí Minh ký Hiệp Định 6-3-46 nhượng thực dân Pháp chủ quyền về thuộc địa Nam Kỳ, có bài thơ Khóc Ông Hồ họa nguyên vận bài Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương:

Trăm năm ông lão cáo già ơi!
Cái đất miền Nam mất thật rồi.
Chôn chặt vàng quyên ba tấc đất, [1]
Tung hê độc lập bốn phương trời.
Cán cân Bắc bộ rơi đâu mất,
Miệng túi miền Nam thắt chặt rồi.
Hiệp định năm năm là mấy chốc,
Trăm năm ông lão cáo già ơi!

Rồi đến khi ông về chầu Các Mác, còn dối lại cho đàn em xuất công quỹ hàng tỉ bạc ra để ướp xác, bèn có bài thơ họa nguyên vận bài Lỡm Ông Cuội có đền thờ ở làng Ngang thuộc tỉnh Hà Nam của cụ Tam Nguyên Yên Đổ như sau:

Qua đường Ngọc Hà có chỗ lội,
Có lăng ông Hồ cao vòi vọi.
Đàn bà đến đấy vén quần lên,
Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối.
Ông Hồ ngồi trên mỉm miệng cười
Cái gì trăng trắng như con cúi?
Đàn bà khép nép đứng lên thưa:
Con trót hớ hênh ông xá tội.
Không! Không! Con có tội chi mà,
Lại đây ông cho giống ông nội.
Từ đấy Việt cộng đẻ ra cuội
Đẻ ra toàn một phường nói dối.

THỂ DÂN CA

Chế độ quản lý dạ dày con người qua hình thức hộ khẩu là một chế độ thâm độc có một không hai của cộng sản. Không phục tùng là không có gạo, uy lực “bà cả đọi” luôn luôn đe dọa con người, nên mới có lời than:

Ngày xưa roi điện thì om,
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương.
Ngày xưa nô lệ có cơm,
Ngày nay độc lập xương sườn lòi ra.

Nhân phẩm con người xuống cấp cũng chỉ vì miếng ăn:

Ngày xưa roi điện thì om,
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương.
Ngày xưa nô lệ có cơm,
Ngày nay độc lập xương sườn lòi ra.

Còn về vụ đấu tranh giai cấp, thì cộng sản chủ trương san bằng “trí phú địa hào phải đào cho tận gốc trốc cho tận rễ”, giết, giết hết, để chỉ còn có một giai cấp “đại đồng” thôi. Nhưng trên thực tế thì chúng lại phân chia quyền lợi rõ ràng, như phân phối lương thực thì có chợ vua quan, chợ trung gian nịnh thần, chợ thương nhân, chợ vỉa hè. Và lương bổng thì:

Hai trăm ngồi phán [2]
Trăm tám ngồi nghe
Tranh nhà tranh xe
Là anh trăm rưởi
Tất ta tất tưởi
Là chị chín mươi
Dở khóc dở cười
Là anh sáu chục
Cửa nhà lục đục
Là chị bốn lăm
Khoai sắn quanh năm
Là anh băm chín
Bữa ăn bữa nhịn
Là chị băm hai
Có làm không nhai
Là em nông nghiệp.

Sau này thì Việt cộng cũng diễn trò đổi mới nhưng cái trò đổi mới nửa chừng xuân chỉ là âm mưu củng cố địa vị để vơ vét cho đầy túi tham trước khi sụp đổ theo vết xe của quan thày Liên Xô và các “đồng choé” Đông Âu. Và văn học dân gian cũng sẽ đổi mới dài dài.

*****

Lối tuyên truyền phỉnh nịnh mê hoặc quần chúng của cộng sản có thể xếp vào hạng bịp bợm siêu nhiên.

Chúng oang oang trên loa phóng thanh ngày đêm ca tụng đủ mọi thứ tốt đẹp của chế độ “xuống hàng chó ngựa” (xã hội chủ nghĩa). Thí dụ như về vấn đề công bằng xã hội, chúng bảo chủ trương là san bằng giai cấp. Có nghĩa là không có kẻ giầu người nghèo, kẻ sang người hèn, tất cả đều “mắm sốt” như nhau. Dựa vào đó, chúng bày trò giết chóc “địa chủ, phú nông, cường hào gian ác” hàng mấy trăm ngàn người trong phong trào “cải cách ruộng đất”.

Nhưng hỏi rằng thực tế ra sao, thì dân gian bèn ca rằng:

Nhà ai giầu bằng nhà cán bộ
Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
Dân tình thất đảo bát điên
Công an mặc sức vung tiền vui chơi.

Sự tốt đẹp của chế độ như thế nên dân gian bèn dùng những mẫu tự đầu của nhóm chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa” biến thành những nhóm chữ sau đây:

Xạo hết chỗ nói, xóa hết chữ nghĩa, xuống hàng chó ngựa, xếp hàng cho ngay, xếp hàng cả ngày, xếp hàng cả năm, siết họng công nhân, xuống hàng chó ngựa, xuống hố cả nút để nói lên kết quả của nền cai trị vô luân.

*****

Dân tộc Việt rất sính thơ văn, nên trong mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị đến thôn quê, đâu đâu cũng truyền khẩu những tiếng hát, câu hò, câu ca, câu ví đượm màu sắc văn học dân gian, để diễn tả tâm tình trong từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng, từng môi sinh.

Đây là một nét đẹp, nét hay, nét đặc thù của dân tộc gắn liền với đời sống hàng ngày của cộng đồng, từ đời này qua đời khác, thể hiện bằng những vần điệu thơ mộng, huê tình, lằng lơ bay bướm, hồn nhiên sảng khoái, ai oán tiếc thương, cũng có khi lại mỉa mai giễu cợt, châm biếm khôi hài. Tóm lại là một nền văn học thực tại trên đủ mọi khía cạnh của cuộc sống thường ngày.

Dài dòng văn tự, có vẻ hơi quá lý thuyết, thiếu cụ thể. Chi bằng xin viện dẫn ra đây vài mẫu hiện thực của nền văn học dân gian thời trước và thời nay, để độc giả thưởng lãm, với một nụ cười đồng thuận đồng tình.

Trước đây, dù dưới sự đô hộ của bọn thực dân hà khắc, nhưng đời sống nhân dân còn có phần nào tự do, nên đó đây còn vẳng lên những vần ngây thơ lãng mạn, như:

Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm?
Hỡi ai đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than đôi lời!
Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Qua cầu ghé nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu.
Chim khôn đậu nóc nhà quan
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng.
Cành tre câu bóng trăng vàng
Con cò trắng đỗ, nhịp nhàng gió đưa.
Lưng trời tiếng sáo vi vu
Cá buồn đớp bóng trăng thu tan tành.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Bắt được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?

Nhịp điệu như trên cứ thế dài dài. Nhưng rồi… cách mạng thành công! Cộng sản ngự trị trên khắp dải non sông đất nước. Xã hội lâm cảnh gian nan cơ cực. Dân tình mang kiếp sống khổ ải điêu linh. Thì những vần thơ xưa mất đi âm hưởng để nhường chỗ cho những điệu ai oán than van, mỉa mai châm biếm, đôi khi hết sức cay độc sỗ sàng:

Tự do chết đói với nhau
Độc lập đứng dậy làm trâu kéo cày
Ba bảy hai mươi mốt ngày
Hạnh phúc tràn đầy là đạp xích lô.
*
Cướp đường, cướp chợ, cướp sông
Cướp sâu, cướp cạn, cướp trong, cướp ngoài
Cướp đông, cướp xuống thôn đoài
Dân ta căm giận hoài hoài không quên.
*
Gia đình giờ chẳng có tiền
Ốm đau lại viếng, tật nguyền lại mang
Ruộng đồng, cây trái bỏ hoang
Không người săn sóc, hoang tàn rất mau.
*
Ai về qua tỉnh Nam Hà
Hãy xem lũ khỉ xây nhà bê tông.
Khỉ ơi! Mày có biết không?
Chúng ông làm chủ mà không bằng mày? [3]
*
Ai về Nam Định, Hải Phòng
Cho ta nhắn tụi thằng Đồng một câu:
Liệu mà tụt xuống cho mau
Kẻo rồi bị chém beng đầu đến nơi.
*
Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng
Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào?
Vặt lông cả đám cho tao!
*
Đảng là mẹ, Bác là cha
Từ khi Bác chết, Đảng ta góa chồng
Sinh ra rặt rắn vắng rồng
Thạch Sanh không thấy, Lý Thông quá nhiều.
________________________________________________________

Chú thích của Người Dân:

1. Vàng quyên trong Tuần Lễ Vàng, nói là để mua khí giới đánh Pháp.
2. Tiền hồi 1965: lương tháng 200$ hàng bộ trưởng; 180$ thứ trưởng; 150$ giám đốc, quận trưởng; 90$ chánh sự vụ, phường trưởng; 60$ chủ sự; 45$, 39$, 32$ nhân viên.
3. “Chính quyền” Nam Định xuất công quỹ lớn lao ra xây cất nhưng phần vì dốt nát, phần vì bớt xén vật liệu, xây xong, công trình sụp đổ ngay lập tức.

Trích: Nguoi Dan
viethoaiphuong
#5 Posted : Tuesday, October 12, 2010 9:25:54 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Cần phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ Nam bộ

* NGUYỄN HỮU HIỆP/ Thứ bảy, 09/10/2010

Cũng như người Nam bộ, ngôn ngữ Nam bộ rất chân quê, giản dị, nhưng lại cực kỳ phong phú, đa dạng. Có để tâm tìm hiểu, người ta mới nhận ra rằng, ở mỗi một trường hợp, mỗi một tình tiết, dân gian đã sử dụng ngôn từ rất tinh tế, hình tượng và tất nhiên vô cùng chính xác. Về phương diện này, đôi khi chính “người Nam bộ hôm nay” cũng chưa chắc đã thấu triệt hoàn toàn ý nghĩa cụ thể của từng từ, cụm từ. Người đọc thỉnh thoảng vẫn bắt gặp đó đây những cách giải thích từ, ngữ hết sức tùy tiện, cũng như nhận định, xem xét sự kiện hết sức hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn mắt” mà còn dẫn đến sai lầm nghiêm trọng.

Giải thích tùy tiện có khi còn làm mất đi cái hồn của ngôn ngữ, làm hoen ố tính trong sáng vốn có của tiếng Việt đáng yêu, nhứt là tiếng Việt Nam bộ.



Trong quyển “Văn hóa đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam” – Đại học quốc gia Hà Nội – “tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập trong các trường đại học”, đã giải thích ngược: “Nước rong: nước cạn. Nước ròng: nước lớn”! Hay sách “Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ” đã giải thích chữ buôi (trong câu “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược”) là “bơi. Tiếng Nam bộ xưa”! Cá buôi là một loài cá, quê hương của nó không chỉ khu biệt ở Nam bộ, mà nó cũng có nhiều ở những nơi khác. Đó là “thứ cá sông tròn mình, nhỏ con mà có nhiều mỡ” (“Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của). Trong kho tàng ca dao dân ca Nam bộ cá buôi được nhắc đến khá nhiều, và thời trước nó cũng đã nghiễm nhiên là một loại thủy đặc sản quý hiếm”:

Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội xuôi,
Anh với em xa cách ngậm ngùi,
Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng.

Hay:

Ngó lên trời thấy cục mây bạch,
Ngó xuống vàm rạch thấy cá chạch đỏ đuôi,
Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội theo,
Con cá heo nó khóc, con cá lóc nó sầu...

Hoặc:

Năm tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho đặng đãi người khách sang

Ba tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

Và:

Dòng nước chảy xuôi.
Con cá buôi lội ngược.

Anh thương nàng biết được hay chăng...

Phải chăng con cá buôi ngày nay đã tuyệt chủng nên có sự lầm lẫn? Không! Nó vẫn còn, tuy rất hiếm. Đó là một loại cá có tập tính sống thành bầy đàn. Khi đàn cá trưởng thành, chúng tách ra sống thành từng cặp. Và người đi bắt cá buôi thường bắt một lần được cả cặp, do con cá đi cùng cứ lẩn quẩn bên người bạn tình vừa bị bắt. Cá buôi có đặc điểm là chỉ ăn bọt nước và phiêu sinh vật nhỏ trong nước phù sa nên ruột rất sạch. Người ta chỉ có thể đánh bắt, chứ không câu được.

***

Trong phạm vi của một bài viết nhỏ không cho phép người viết dài dòng giải thích bởi không khéo sẽ mắc phải “nói sang đàng”. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà soạn văn bản, và nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ bao giờ cũng tỏ ra rất trân trọng, và luôn ý thức gìn giữ, bảo lưu tính tích cực của vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang sử dụng phát triển. Bởi nếu không như thế thì sẽ không tránh khỏi tình trạng nghèo hóa ngôn ngữ, nếu không muốn nói đó là một hành vi phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp thế hệ cha ông mình – những người đã phải trải quá trình lao động, chiến đấu vô cùng gian nan, vất vả, để rồi từ sự cọ xát cuộc sống trong sinh hoạt đời thường, họ mới lần lượt sáng tạo và phát minh ra cả một kho tàng ngôn ngữ cực kỳ phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta thừa hưởng.

Ngôn ngữ - tiếng nói của Nam bộ mộc mạc, chân quê, nhưng rất đích xác, phong phú. Chẳng hạn như để mô tả trạng thái của nước, ngôn ngữ Nam bộ có đến hàng chục cách: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đầy mà, nước rặt, nước nhửng, nước nhảng, nước ưng, nước quay, nước lên, nước đổ, nước lộn, nước dâng, nước bò, nước sụt, nước trồi, nước môi, nước xẹt, nước lụt, nước tống, nước chụp, nước phân đồng... Hoặc như nói về cái chết của con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm cách nói, mà cách nào cũng có nghĩa riêng như: mất, qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”, ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh dũng hy sinh, đền xong nợ nước, ly trần, tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh, Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế giới, về cõi vĩnh hằng, trở về cát bụi v.v.

Cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười... mỗi mỗi hầu như người Nam bộ nào cũng sẵn có “cả kho”, ít gì cũng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn – từ nào cũng mang ý nghĩa riêng, biểu tỏ rất hình tượng, chân xác, đồng thời thể hiện rất đúng tâm trạng hoặc trạng thái của nhân vật, ngay cả tại “thời điểm khoảnh khắc”. Phong phú đến mức không ai tài nào có thể ghi lại được một cách đầy đủ!

Trước đây người ta cho rằng tiếng Nam bộ là... phương ngữ, xem như nó chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ, khu biệt trong một địa phương – ít nhiều có ý “phân biệt”! Nhưng dần về sau, khi đã nhận chân được rằng, tiếng Việt Nam bộ quả đã thực sự đóng góp rất tích cực trong việc làm giàu ra cho ngôn ngữ toàn dân thì, cách hiểu ấy không còn phù hợp. Không ít nhà nghiên cứu đã đổi gọi lại, không dùng phương ngữ Nam bộ nữa mà gọi là ngôn ngữ Nam bộ.

Ngôn ngữ Nam bộ cũng là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn ngữ là người sử dụng, giữ gìn và phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu vì lý do nào đó ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt thì một ngày không xa đương nhiên nó sẽ teo tóp dần, lúc ấy ta còn gì trong tay để “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”?

Danh nhân văn hóa thế giới – từng căn dặn: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”.

viethoaiphuong
#6 Posted : Tuesday, October 26, 2010 5:43:52 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Sông nước trong tiếng miền Nam

NamKyQuoc.VN -



Nam bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Bài viết này muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống, đến tính cách, tâm lý của con người và tính cách, tâm lý đó sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền .



Sông nước là một phần, nếu không nói là phần quan trọng nhất
của sinh hoạt người miền Tây Nam bộ.

Nam bộ là miền đất nhiều sông lắm rạch. Số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước vì vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào ngôn ngữ toàn dân (NNTD): rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng…; nước lớn, nước ròng, nước rong, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương…; ghe, tam bản, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng... Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà còn phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu hò, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để nhà văn, nhà thơ khai thác.

Ngoài những ý nghĩa chung phản ánh những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, nhiều từ ngữ sông nước còn được dùng theo nghĩa phái sinh để gọi tên những sự vật, hiện tượng khác theo cách mở rộng nghĩa. Năm 1895, Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam Quốc âm tự vị đã định nghĩa từ bùng binh: “khúc sông rộng phình tròn ra”. Đến năm 1970, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức ghi nghĩa từ bùng binh là “khu đất rộng nối các trục đường trong thành phố”: bùng binh Ngã Sáu, bùng binh Ngã Bảy… Như vậy một từ chỉ sông nước đã được dùng để gọi tên giao lộ của các con đường trong thành phố.

Nếu phương ngữ Bắc bộ gọi loại ôtô lớn chở hành khách trên các tuyến đường dài, thường là các đường liên tỉnh là ôtô ca (hay xe ca, xe khách) thì phương ngữ Nam bộ gọi là xe đò theo nghĩa đò là “thuyền chở khách trên sông nước theo một tuyến nhất định”.

Trong Từ điển tiếng Việt (viện Ngôn ngữ học), quá giang là “đi đò ngang qua sông”. Ngoài nghĩa đó, phương ngữ Nam bộ còn có thêm cách dùng phổ biến “đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó” (vẫy xe xin đi quá giang một đoạn).

Khi thuyền chở đầy và nặng, không thể chở hơn được nữa, người ta nói là thuyền khẳm: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm...” (Nguyễn Đình Chiểu). Phương ngữ Nam bộ còn mở rộng nghĩa của khẳm là “quá nhiều, quá sức chứa”. Ví dụ: tiền vô khẳm, lời khẳm, thêm một ly nữa là khẳm… Chìm xuồng cũng thường được dùng ở nghĩa bóng: “cố ý bỏ qua, không đề cập tới nữa”: vụ đó kể như xử chìm xuồng rồi.

Phần lớn làng xã ở Nam bộ đều nằm hai bên bờ sông rạch. Từ đây dẫn đến một đặc điểm là đặt địa danh gắn liền với sông nước. Nhiều địa danh ở các tỉnh Nam bộ và Sai Gon mang tên nhóm từ sông nước này: Bàu Mây, Cồn Phụng, Cù Lao Dài, Giồng Trôm, Giồng Quéo, Láng Cò, Rạch Cá Trê, Rạch Cá Lóc, Rạch Bà Mụ… (Bến Tre); Vàm Cỏ (Long An); Vàm Cống (An Giang); Tắt Thủ (Cà Mau); Bàu Nai, Bàu Cát, Giồng Ông Tố, Bưng Sáu Xã, Rạch Chiếc, Rạch Miễu, Láng Le, Láng Thé, Rỏng Tràm, Rỏng Bàng, Vàm Sác… (Saigon).

Nếu so sánh địa danh ở các tỉnh Nam bộ với địa danh ở các tỉnh Bắc và Trung bộ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tính bình dị, dân dã của địa danh Nam bộ, trong đó các địa danh có từ ngữ sông nước kết hợp với danh từ chỉ động vật, thực vật, tên người nổi tiếng trong vùng… chiếm một tỷ lệ khá lớn.

Những hình thức văn học dân gian như ca dao, hò, lý, cải lương… cũng đã khai thác và phản ánh những hình tượng thiên nhiên, tâm tư, tình cảm con người… qua những từ ngữ sông nước này. Trong ca dao Nam bộ, hình ảnh ghe xuồng, sông rạch xuất hiện với tần số cao.

Trong số các nhà văn Nam bộ, nhà văn lão thành Sơn Nam đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác và khảo cứu về vùng đất và con người Nam bộ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về Sơn Nam: “Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây” (tạp chí Sông Hương, số 235, 9.2008). Bởi thế không lạ gì khi những từ ngữ sông nước xuất hiện nhiều trong các truyện và ký của Sơn Nam:

– Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa, nối liền qua những lung, bàu, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… (Hương rừng, tập Hương rừng Cà Mau).
– Dưới sông, từng dề lục bình trôi theo ngọn nước ròng (Giấc mơ ngoài bãi tha ma, tập Hương rừng Cà Mau).
– Bấy lâu nay, ở vùng sông nước chằng chịt với chợ làng, chợ nổi ven sông, đêm thanh vắng nghe những câu hò, câu lý xen nhau dài theo con rạch, con kinh dường như vô tận, qua khúc loi, khúc vịnh, về đêm, trên nhánh bần gie có đóm đậu sáng ngời. (Từ U Minh đến Cần Thơ, Hồi ký).

Một nhà văn khác – nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – sớm thành công và nổi tiếng với những sáng tác đậm chất Nam bộ, cũng viết về vùng đất và con người Nam bộ với ngôn ngữ vừa bình dị vừa tinh tế. Trong các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, những từ ngữ sông nước cũng được sử dụng khá nhiều và giàu giá trị biểu cảm.
viethoaiphuong
#7 Posted : Monday, December 13, 2010 7:48:37 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

NGÀY XƯA VÀ NGÀY NAY

http://sphotos.ak.fbcdn....55_5198405_6650622_n.jpg[/img]

Nữ sinh ngày xưa



Nữ sinh ngày nay



Phở xưa



Phở nay



Bửa ăn xưa



Bửa ăn nay



Hớt tóc xưa



Hớt tóc nay



Xưa



Nay



Ban nhạc xưa



Ban nhạc nay



Xưa

[img]http://sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc4/hs927.snc4/74007_453786677155_86620102155_5198574_6948354_n.jpg" alt=""/>

Nay

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng ,
Xếp tàn y lại để dành hơi


* posted by Mắt Buồn - TV - VB
viethoaiphuong
#8 Posted : Tuesday, December 21, 2010 1:06:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng"

Người ta thường ngỡ những món ăn của vua chúa ngày xưa như "nem công chả phụng" chỉ còn trong những câu dân gian lưu truyền chỉ sự xa hoa của vua chúa ngày xưa.
Thế nên ít ai ngờ ở Huế ngày nay vẫn có người giữ được bí quyết làm những món ăn "trong mơ" ấy. Đó là bà Tôn Nữ Thị Hà (còn có tên là Tôn Nữ Hà), ngụ tại hẻm 28, phố Lê Thánh Tôn, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.




Bà Tôn Nữ Thị Hà.
Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng",
Ẩm thực, am thuc, nem công chả phụng, bí quyết,
món ngon, đặc sản Huế, món ăn dâng vua


Một thời thất truyền

Bà Hà kể lại, vốn là con cháu thuộc hoàng tộc, bà được những người cô ruột là những phu nhân quan Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Lễ và Đốc phủ trong triều đình truyền dạy cho những kỹ thuật, mẹo nấu ăn cung đình.

Bà Hà kể ngày xưa các vua triều Nguyễn rất chú trọng đến việc ăn uống, trong cung có hẳn một ban gọi là Thượng Thiện Đội (thời vua Minh Mạng) lên tới 50 người chuyên lo việc bếp núc, ăn uống cho Hoàng tộc. Những người này phải tuân thủ một số điều cấm nhằm đảm bảo thức ăn vừa ngon, vừa có tác dụng trị bệnh, bằng cách kết hợp những thảo phẩm trong chế biến.

Sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, những đầu bếp trong cung vua lưu lạc khắp nơi, những món ăn cung đình vì thế bị lãng quên theo thời gian. "Thời buổi loạn lạc tiền bạc đâu mà chế biến thức ăn như trong cung. Đầu bếp phải đổi nghề kiếm sống, người về quê làm ruộng, người theo kháng chiến, không còn ai chú tâm đến chuyện gìn giữ những món ăn cung đình nữa", bà Hà nhớ lại.

Riêng bà Hà nhờ có kiến thức y tế nên được mời đến công tác tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tại đây ngoài công việc của một y tá, bà Hà kiêm luôn nhiệm vụ đầu bếp nấu ăn cho bệnh nhân. "Bệnh nhân ăn theo bệnh lý, tức mỗi người ăn một kiểu khác nhau, tôi phải nấu 1200 suất cơm mỗi ngày có khẩu vị khác nhau", bà Hà nói. Chuyện cô y tá có tài nấu nướng, những món ăn có chế độ dinh dưỡng hợp lý góp phần giúp hàng trăm bệnh nhân sớm khỏi bệnh được nhiều người biết đến. Một lần, khi tình cờ một vị Đại sứ ghé thăm Huế và ăn các món ăn do cô nấu, ông bất chợt gợi ý: "Sao chị Hà không mở nhà hàng ẩm thực, tôi sẽ làm thực khách trung thành". "Lúc đầu nghe cũng thấy to tát, khó thực hiện nhưng nghĩ lại thấy ông ấy nói cũng phải, biết đâu mình lại có cơ hội làm sống lại nghệ thuật ẩm thực cung đình bị mai một lâu nay", bà Hà suy nghĩ. Nhờ người thân, bạn bè ủng hộ, nhà hàng của bà được khánh thành từ mùa hè năm 1993 nằm trong một con hẻm trên phố Lê Thánh Tôn.

Kỳ công nấu nướng



"Nem công chả phụng" là đây


Vốn con nhà Hoàng tộc, được đào tạo công việc bếp núc từ nhỏ nên với nghệ nhân Tôn Nữ Hà, những công thức nấu nướng đã trở thành bài học thuộc nằm lòng, từ bữa ăn chính cho đến bữa điểm tâm, ăn dặm.

Bà Hà cho biết, để chế biến món ăn người đầu bếp không chỉ có kiến thức chuyên môn mà phải có khả năng sáng tạo khi chế biến, không phải cứ nhất nhất theo công thức có sẵn bởi "công thức chỉ có tính tương đối, phải tuỳ theo đặc tính từng loại thực phẩm để nêm gia vị cho phù hợp" như lời bà nói. Khác với chế biến món ăn thông thường, khi chế biến món ăn cung đình người đầu bếp phải nêm gia vị nhiều lần nhằm đảm bảo mùi vị vừa miệng, lại giữ được chất tươi nguyên của thực phẩm. "Sau khi nêm gia vị ướp thực phẩm, đầu bếp cần nêm bổ sung lúc thức ăn đang sôi. Khi tắt lửa phải nêm thêm lần nữa và cuối cùng trước khi bày ra dĩa phải nêm lần cuối. Một món ăn cung đình phải nêm gia vị không dưới ba đến bốn lần khi nấu", nghệ nhân Tôn Nữ Hà "bật mí".
Hay như chế biến món chè kê là món ăn lỡ (ăn giữa bữa) khoái khẩu của các vua, hoàng hậu... nếu không có kinh nghiệm nấu, chè rất dễ bị cháy khét, không còn mùi vị. "Trước khi nấu, người ta lót một lớp đậu xanh ở đáy nồi. Khi đậu sôi mới cho kê vào, hạt kê được chín tới nhờ hơi nước bốc lên từ những khe hở do lớp đậu tạo ra", đầu bếp Hà chia sẻ bí quyết nấu nướng.

Theo bà Hà, khi chế biến món ăn cung đình Huế có rất nhiều "mẹo vặt" giúp món ăn ngon hơn. Ví dụ để làm mất mùi tanh khi chế biến thịt ba ba, thịt lươn, trước khi nấu người ta dùng rượu gừng, nước muối để khử qua.




Bà Tôn Nữ Hà cũng là một trong những người được cấp hàng chục bằng chứng nhận đã tốt nghiệp các khóa đào tạo về ẩm thực. Ngoài những bằng được cấp trong nước như "Bằng tu nghiệp dinh dưỡng", bằng pha chế thực phẩm, bằng pha chế rượu Bartender... bà còn được nhiều trường đại học, học viện du lịch ở nước ngoài cấp bằng danh dự như Bằng đầu bếp của trường Đại học du lịch và nấu ăn Tây Ban Nha, Hàn lâm viện Tây Ban Nha...

Sức mạnh của ẩm thực

Theo bà Hà, ẩm thực Huế nói riêng và ẩm thực Việt Nam nói chung được người nước ngoài đánh giá rất cao, đặc biệt ẩm thực cung đình Huế nổi tiếng không chỉ ở cách chế biến mà còn ở cách trình bày, trang trí món ăn bắt mắt mà không phải nơi nào cũng làm được. Khách du lịch phương Tây rất thích cách trang trí món ăn cung đình Huế. Các trường Đại học du lịch Tây Ban Nha, Pháp , Iraq ... từng mời bà sang dạy cho đầu bếp của họ cách chế biến, trình bày món ăn cung đình Huế.



Trong những chuyến xuất ngoại như vậy người đầu bếp xứ Huế không quên quảng bá với bạn bè về vẻ đẹp quê hương. Bà kể rằng nhiều người lần đầu nghe bà giới thiệu, thấy bà chế biến món ăn Huế đều không khỏi tò mò và muốn đến Huế ngay để được thưởng thức. Có một kỷ niệm liên quan đến món ăn Huế khiến bà nhớ mãi là bữa tiệc hơn 200 khách tổ chức tại một khách sạn ở Tây Ban Nha nơi bà sang giảng dạy. "Hôm đó chủ khách sạn nhờ tôi làm vài món ăn Việt Nam theo yêu cầu của khách. Những món ăn Việt Nam ấn tượng với thực khách đến mức kết thúc bữa tiệc, hàng chục vị khách nán lại đòi gặp bằng được những người nấu ăn chỉ để bắt tay và nhắc đi nhắc lại một câu "Việt Nam"", bà Hà thuật lại.

Hay kỷ niệm 14 năm trước đây cũng là một chuyện đáng nhớ với bà Hà. Cuối năm 1996, trong một bữa ăn chiêu đãi hàng trăm nhân viên của một hãng kinh doanh Pháp, đến lúc tiệc sắp kết thúc, một người Pháp đứng tuổi đại diện cho các nhân viên của hãng đề nghị gặp người nấu món ăn ngay tại buổi liên hoan rồi ông nói trên micro: "Đến khi thưởng thức những món ăn này, tôi mới hiểu rằng trước đây người Pháp đã không hiểu gì về sức mạnh văn hóa Việt Nam".

Theo sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chế độ ăn uống của vua ngày 3 lần như sau: Điểm tâm 12 món (6h sáng); Ăn trưa 50 món mặn và 16 món ngọt (11h). Số lượng món ăn chiều cũng giống món ăn trưa.



Các món ăn cung đình lúc đầu là do truyền lại từ đời này sang đời khác, sau thì các sứ thần khi đi sứ về, họ cung tiến vua những món ăn lạ và ngon. Món nào đặc biệt sẽ được liệt vào danh sách rồi truyền tiếp sang đời sau, cứ thế, món ăn cung đình phong phú và đa dạng hơn
__._,_.___
viethoaiphuong
#9 Posted : Saturday, April 23, 2011 8:22:20 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Đờn ca tài tử Nam Bộ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-04-23

Đờn ca tài tử Nam Bộ đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nguồn gốc bắt đầu từ nhạc Lễ của cung đình Huế.


Photo: RFA
Ban nhạc Đờn ca tài tử
Lịch sử phát triển

Nó theo chân những công thần nhà Nguyễn lưu lạc vào Nam và được nhào nặn lại theo cốt cách của người phương Nam vốn ưa chuộng đời sống sông nước giang hồ. Âm hưởng Quảng Nam Quảng Ngãi cũng dần dà mất dần nhường lại cho một làn điệu đặc thù phương Nam sau nhiều năm sống chung với người lao động và cả tài tử văn nhân miền Nam của nhiều thế hệ.
Đờn ca tài tử được diễn tấu bởi 4 loại đờn là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và độc huyền cầm, sau này khi vọng cổ xuất hiện cây đàn tranh được thay thế bằng cây guitar có phím sâu. Theo nhiều tài liệu còn lại cho thấy thuở mới xuất hiện nó được trình diễn trong những nhóm nhỏ tại các dịp lễ cưới hỏi, hay đám giỗ, đám thôi nôi hay sau các vụ thu hoạch khi mọi người rãnh rổi việc nông nhàn. Những đêm trăng sáng, nam nữ thanh niên tụ nhau lại nghe và tham gia nếu biết hát. Mọi người say sưa với những cuộc chơi như thế cho đến khi mỏi mệt thường thì vào lúc nửa đêm về sáng.
Tuy nhiên, đờn ca tài tử mất dần khi chiến tranh tràn vào miền Nam và nhất là khi các phương tiện truyền thông ngày một trở nên tân tiến. Một thời gian rất lâu loại hình này không còn xuất hiện như xưa mà chỉ rải rác trong các khu vực xa hẳn thị tứ nơi người dân không còn gì giải trí ngoài cây đờn guitar phím lõm của mình.

Kết hợp với du lịch sinh thái

Vài năm gần đây báo chí rộn lên những bài viết về phong trào đờn ca tài tử kết hợp với du lịch sinh thái. Loại hình nghệ thuật này đã biến mất rất lâu nay xuất hiện trở lại khiến nhiều người có hiểu biết lịch sử phát triển của nó không khỏi vui mừng và hy vọng cho loại hình nghệ thuật dân dã phát xuất từ vùng đất miền Nam này có cơ sống lại.
Khách du lịch sinh thái thường là người ngoại quốc và những nhóm nhỏ từ mười lăm tới hai mươi người. Một nhóm đờn ca tài tử thường là 5 người, hai ca sĩ và ba nhạc sĩ. Buổi trình diễn của họ kéo dài khoảng nửa giờ và sau đó khách lại lên ghe đi tham quan những nơi khác.
Bên dưới những bóng dừa rợp mát của Bến Tre hay Mỹ Tho, Vĩnh Long, ... khách lịch sự ngồi yên lặng nghe tiếng đờn dạo lên một điệu lý, điệu vắn trước khi bắt vào chương trình. Không loa, không micro những nghệ sĩ trình diễn cố hết sức chuyển chút âm thanh đến người tứ xứ mà ngôn ngữ của họ không cho phép đồng cảm một chút gì trong những luyến láy chữ nghĩa Việt Nam.
Một nghệ sĩ trong nhóm đờn ca tài tử này, anh Chín Nguyên người vào câu vọng cổ vừa rồi rất ngọt cho chúng tôi biết:
“Khách du lịch hiện nay thì có người hướng dẫn truyền đạt lại. Mình trình diễn bài gì hay đờn bài gì thì hướng dẫn sẽ dịch lại. Theo mình đoán thì khách cũng hài lòng vì có hướng dẫn dịch ra cho họ nghe liền. Cũng như bây giờ mình lên hát điệu gì đó nói về lịch sử của Việt Nam hay nói về tình yêu quê hương đất nước thì hướng dẫn sẽ phiên dịch nội dung cho khách nghe. Tại vì khách đi du lịch quốc tế thường thì có một hoặc hai hướng dẫn.”
Nhạc sĩ Tám Long, người chơi guitar trong ban cho biết thêm:
“Nó khác hơn như tụi tui đây phục vụ theo khách như anh đã biết rồi đó. Phục vụ theo khách thì mình chơi bài bản thì nó cũng hổng đa hệ. Tại vì khách nước ngoài người ta không hiểu tiếng Việt của mình thành ra tụi tôi chơi mấy bản ngắn ngắn, điệu lý vậy thôi.”
Người cố cựu còn nhớ thời khẩn hoang lập ấp ở Nam Bộ có hai nhóm đờn ca tài tử nổi tiếng là nhóm ông Kỳ Quờn và nhóm ông Ba Đợi. Ông Kỳ Quờn thì ở miền Tây còn nhóm ông Ba Đợi thì thuộc nhóm miền Đông. Hai bên đều có công phát triển bộ môn đờn ca tài tử bằng cách cải biên các bản nhạc gốc từ Cung đình Huế để phù hợp với tâm tình và con người miền Nam. Sông nước bao la thích hợp với những điệu hò, điệu lý hơn là nguyên mẫu các bài có gốc từ xứ Quảng...

Còn bài bản mà các nhóm đờn ca tài tử hiện nay đang dùng để hát phục vụ khách du lịch thì sao, anh Chín Nguyên cho biết:
“Đờn thì cũng học thầy hay ca cũng phải học thầy chỉ ba cái rồi mình có năng khiếu rồi cộng thêm. Bài ca nói chung là thường thì do soạn giả chứ không có tự biên ra. Những điệu nào mình am hiểu về ca đờn thì có thể theo để viết cũng được nhưng mà ít thôi chứ không nhiều.”
Nhạc sĩ Tám Long giải thích làm cách nào mà khách nước ngoài đồng cảm được với những bản nhạc mà nhóm cố gắng chuyển tải, anh nói:
“Có số anh em hướng dẫn người ta rành người ta dịch ra. Thí dụ tôi ca một bản quê hương thì nội dung của bài ca quê hương đó được hướng dẫn viên dịch ra quê hương là như thế nào! Chứ còn khách nước ngoài nói chung mình ca tiếng Việt làm sao người ta biết? Người ta chỉ biết dụng cụ đờn. Thí dụ cây đờn kìm, cây đờn cò, cây đờn guitar của mình tại sao móc phím như vậy. Rồi mình phải nhấn nhá như thế nào đó.
Tụi tôi ở đây nói thiệt với anh giờ lớn tuổi rồi mà ở nhà thì không có công việc gì làm thành thử ra vốn có biết đờn nên đi làm để có đồng ra đồng vô để đổ xăng đi chơi với bạn bè. Nói chung làm thì lương hỏng có..mà cũng hỏng có cơm trưa nữa.”

Đã mai một

Tình trạng nghèo nàn từ bài hát tới người thưởng thức khiến nhiều người để ý tới với loại hình nghệ thuật dân gian này không khỏi lo ngại. Giáo sư Trần Văn Khê, người bỏ cả đời để nghiên cứu và giới thiệu nền dân nhạc Việt Nam ra khắp thế giới, khi chúng tôi hỏi thăm sự hiểu biết của ông về đờn ca tài tử xưa và nay có khác nhau nhiều lắm không, ông nói:
“Khác nhiều lắm! Cái tinh thần hồi xưa hễ vui thì đờn chơi còn không vui thì để một chỉ hay một lượng vàng cũng không đờn! Còn bây giờ khác! Bây giờ hễ bỏ tiền ra thì nó đờn. Hồi xưa chơi tài tử nghĩa là chơi không phải chuyên nghiệp, tức là vui thì chơi không vui thì thôi. Bây giờ không còn là tài tử nữa mà trở thành bán chuyên nghiệp và chuyên nghiệp.
Thành ra đi đờn trên TV cũng phải trả tiền, rồi du lịch cũng phải trả tiền thì cái đó là lẽ đương nhiên bởi vì lấy tiền du lịch thì phải trả tiền cho họ chứ họ làm cho du lịch mà không trả tiền thì đâu có được. Thành ra cái tinh thần không còn nữa và đờn cho du lịch thì họ đâu biết gì, miễn cho có tiếng vậy thôi.
Cái chơi hồi xưa là cái chơi do mỗi người có tùy hứng, có sáng tác. Mỗi người làm cái chữ cho hay. Đờn thiệt hay để làng của mình hơn cái làng bên kia, hơn trong nghệ thuật đó. Chơi với nhau cho vui thì nó mới có tiến bộ. Ngày xưa có chất lượng ngày hôm nay có số lượng mà không có chất lượng.”
Cô Kim Nguyên, một ca sĩ nghiệp dư gia nhập vào nhóm như một công việc có thu nhập và cô cảm thấy rất thích nghề này mặc dù thu nhập không đủ để trang trải cuộc sống ngày một đắt đỏ. Cô kể sinh hoạt chính của mình khi tham gia nhóm đờn ca tài tử:

“Em hát nếu mà gom lại thì chắc khoảng hai năm tại vì bị gián đoạn. Lúc trước em nghỉ đi bán ở cửa hàng trên thành phố rồi mới về làm lại cả năm nay. Lúc trước xin vô làm em không biết bài gì hết. Bạn bè nó chép sao đó em học thuộc rồi xuống điểm làm rồi hát thôi chứ ở nhà không có tập thêm. Lúc trước chỉ hát được mấy bản lý bản vắn nhỏ thôi rồi sau này mới học thêm. Em làm suốt luôn, không nghỉ. Thu nhập của em bình quân khoảng ba triệu một tháng.”
Chúng tôi tò mò hỏi cô có bao giờ thấy khách nghe hát có cử chỉ chê bai một cách lộ liễu hay không. cô cho biết:
“Em làm đa số là khách Tây nên không gặp trường hợp này.”
Còn họ có khen? Không lẽ cứ ngồi im xem từ đầu tới cuối không chê không khen gì hết hay sao?
“Có, nhưng khi họ khen thì chỉ diễn tả mà thôi chứ hỏng biết khen gì chỉ hiểu thôi. Khi họ nói “good” thì mình biết là tốt mà hỏng biết tốt về cái gì vì họ nói tiếng Anh nên không biết!”
Nhạc sĩ Tám Long cho biết những nhận xét của mình về lớp trẻ hiện nay khi phong trào đờn ca tài tử tự phát trở lại:
“Bây giờ mình chơi nó đa dạng hơn. Cái phong trào đờn ca tài tử bây giờ nó mở rộng, hầu như là từ thành thị đến nông thôn rồi xóm ruộng vườn ….Thí dụ như bây giờ lâu lâu mình về dưới quê rồi mấy anh em mới gom lại rồi ngồi trải nệm trải chiếu làm bậy một xị rồi ngồi đờn ca chơi vậy đó…
Hồi thời mình còn nhỏ năm 68 tui mới mười mấy tuổi thôi rồi chiều lại thấy mấy anh lính nghĩa quân mấy ảnh đi học đờn với nhau rồi mình học. Lúc đó tôi mới học Đệ Thất, mình nghe rồi mình khoái….nghe rồi tự học thôi chớ nói chung tôi chưa học thầy nào hết.
Hồi xưa thì ở một huyện, một xã chỉ có một vài người biết đờn ca chơi thôi còn bây giờ mấy em mình nó thông minh lắm. Thí dụ như nó học khoảng vài ba tháng thì được chút đỉnh rồi. Hồi xưa tôi học 6 câu vọng cổ mà học cả năm trời vậy chớ…”


Dưới cặp mắt của một người cả đời nghiên cứu âm nhạc dân gian, GS Trần Văn Khê khẳng định tinh thần của đờn ca tài tử không còn nữa, hay ít ra nó đã mai một dần kể từ khi những chiếc radio đầu tiên phát sóng các bài vọng cổ đầu tiên.
“Tinh thần tài tử nó mất từ khi có radio và khi đài phát thanh kêu vô đờn thì bắt đầu mất rồi. Từ khi có du lịch thì càng mất nữa. Nhưng điều đó không thể nào mình tránh khỏi được, bởi vì bất cứ nghệ thuật nào thì nó không phải bất di bất dịch, nó cũng phải thay đổi theo môi trường, phải thay đổi theo quan điểm thẩm mỹ, theo thị hiếu của quần chúng thành ra cũng có nhiều chuyện lắm…
Nhưng mình phải làm sao giữ cho nó còn cái tinh thần đó để ít nhất cũng còn một số người chơi. Người nào làm ra tiền thì cứ làm ra tiền. Nhưng mà bây giờ phần nhiều sống trong thời đại mà đem tiền vô thì người ta thích, kể cả chính quyền không bao giờ làm chuyện gì về văn hóa. Bởi vì làm văn hóa thì phải bỏ tiền ra mà không cần thu tiền vô, chứ còn kinh doanh thì bỏ tiền ra phải có tiền vô! Bây giờ người ta chỉ sống trong thời đại kinh doanh mà không còn sống trong thời đại văn hóa nữa.”
Chúng tôi xin mượn lời của Giáo Sư Trần Văn Khê để kết thúc bài này. Với niềm hy vọng mong manh là loại hình đờn ca tài tử này sẽ giúp cho nhiều người kiếm sống, tuy vất vả và khá nhọc nhằn nhưng dù sao thì việc làm của họ cũng giới thiệu được phần nào một nét đẹp văn hóa Việt Nam, văn hóa dân gian Nam Bộ.
viethoaiphuong
#10 Posted : Wednesday, May 11, 2011 9:14:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Văn hóa làng



Dân cư Thái Bình phần lớn sống ở nông thôn, quây quần trong các làng - một đơn vị kinh tế tương đối độc lập bởi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu mang nặng tính tự cung tự cấp.

Nền văn hóa Thái Bình mang đậm chất văn hóa làng, có nguồn gốc và cơ sở là văn hóa làng.

Dòng họ - thành tố trực tiếp cấu thành văn hoá làng

Hầu hết các làng ở Thái Bình đều có rất nhiều dòng họ cùng sinh sống, thường từ 10 đến 20 dòng họ, phổ biến là họ Nguyễn, Lê, Trần,... có những dòng họ có bề dầy hàng ngàn năm như họ Bùi ở Tân Bình - Vũ Thư, từ đường họ thờ Bùi Quang Dũng từ thời Đinh (thế kỷ X). Mỗi dòng họ có người hiển đạt thường gắn liền với danh tiếng và niềm tự hào của cả làng, nhiều khi làng được biết đến qua những nhân vật lịch sử của một dòng họ cụ thể, như Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ quê ở làng Hải Triều thì gọi là Trạng Hải Triều. Về tên gọi, có khoảng 100 tên gọi các dòng họ, nhưng số chi phái thì rất nhiều.

Trong làng thường có một vài họ có số lượng vượt trội so với các họ còn lại, hôn nhân thường theo xu hướng lấy người trong làng khác họ, quan hệ "họ hàng" giao thoa với nhau chằng chịt; mối quan hệ giữa dòng họ này với dòng họ kia thường được xem xét bằng quan hệ đan xen từ những thành viên của bố họ, do vậy những mâu thuẫn nảy sinh thường được giải quyết nội bộ. Quan hệ giữa người làng với nhau trong các mối quan hệ cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh đã tạo nên nguyên lý cố kết bền chặt theo tâm thức "một giọt máu đào hơn ao nước lã". Cũng chính vì làng nhiều họ nên tính gia trưởng, cục bộ, bè phái ở Thái Bình vốn có từ xa xưa vẫn tồn tại đến nay nhưng trong chừng mực nào đó tính dân chủ làng xã thuở trước được hình thành và duy trì trong cơ chế làng nhiều họ.

Hương ước - một công cụ duy trì và điều chỉnh sự phát triển của văn hoá làng

Hương ước là những lệ làng thành văn, cũng có khi gọi là khoán ước, hương khoán hay hương biên. ở mỗi làng, trước đây thường tồn tại các qui ước sau:

Tộc ước: là những qui ước của một họ được ghi trong gia phả hoặc truyền miệng quy ước về đảm bảo trật tự kỷ cương, truyền thống dòng họ, nghi thức tế lễ tổ tiên.

Giáp ước: là những qui định của hàng giáp với các thành viên trong tế lễ, hiếu hỉ hay trong việc thực hiện nghĩa vụ của hàng giáp đối với làng nước.

Hương ước: có loại được soạn thành văn bản, có loại bất thành văn; có loại gồm đầy đủ các qui định về mọi lĩnh vực như cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng, về văn hoá giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, trật tự an ninh... được xem như một bộ luật tục của làng; nhưng có dạng chỉ qui định về một vấn đề cụ thể như sử dụng công điền, tế tự,... Hương ước thành văn có loại được viết trên giấy hàng năm đọc trước làng để duy trì, bổ sung, sửa đổi; có loại được khắc vào bia đá hoặc trên chuông đồng để lưu truyền (như thể lệ cúng giỗ, ruộng công...). Dù duy trì ở dạng nào thì hương ước cũng được coi là sản phẩm văn hoá của làng, là một thứ luật tục buộc mọi thành viên trong làng phải thực hiện.

Chợ



Một góc chợ quê

Hệ thống chợ làng ở Thái Bình hình thành rất sớm. Chợ là nơi không chỉ để mua bán, trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá giữa mọi người trong làng, với người làng khác, giữa vùng này với vùng khác. Chợ thường được đặt ở trung tâm làng, tên chợ thường trùng với tên làng.

Các chợ làng liên kết với nhau thành hệ thống, trong vòng bán kính từ 3 đến 5 km ngày nào cũng có chợ phiên của làng để những người buôn thúng bán mẹt có thể quanh năm chạy chợ.

Loại chợ nhỏ gọi là chợ Hôm, chợ Mai, mỗi ngày đều họp khoảng vài tiếng đồng hồ, người đi chợ ít, hàng hoá không nhiều, thường hình thành ở những làng ven biển làm nghề chài lưới. ở những làng lớn, chợ thường họp theo phiên vào những ngày cố định trong tháng, mỗi tháng có khoảng 6-12 phiên chợ. Các làng có chợ tự quyết định thời gian họp sao cho không trùng với ngày họp chợ của các làng lân cận.

Chợ lớn có tường xây, mái ngói bán cả gia súc gia cầm như trâu, bò, lợn, gà; còn chợ nhỏ thường mái rạ, lều tranh, ngày phiên cũng có cả gia cầm và hàng xén. Mặt hàng truyền thống của mỗi chợ gắn với sản xuất và nghề thủ công của từng làng, từng vùng; như chợ vùng trồng cói có chiếu và mặt hàng chế biến từ đay, cói; vùng ven biển có tôm, cua, cá biển; chợ làng rèn có sản phẩm nông cụ và vật dụng từ nghề rèn nghề đúc,.... Do vậy quá trình giao lưu giữa các vùng qua những phiên chợ làng là một nhu cầu tất yếu.

Nguồn: e-cadao
viethoaiphuong
#11 Posted : Sunday, June 26, 2011 3:38:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Vì sao người VN bây giờ hay nổi cáu, và dễ trở nên độc ác?

Song Chi


Khi còn ở Sài Gòn, tôi nhớ cứ mỗi lần ra đường là mình trở nên bực bội, căng thẳng, dễ dàng nổi cáu. Bởi khói bụi, ô nhiễm, nạn kẹt xe tắc đường liên miên, nạn ngập nước mùa mưa, giao thông hỗn loạn… Nhiều khi phải mất hàng tiếng đồng hồ để đi một quãng đường lẽ ra chỉ mất 10, 12 phút chạy xe gắn máy để tới một cuộc hẹn công việc hay hẹn với bạn bè. Và khi tới nơi được thì tâm trạng cũng mất vui.

Có những lúc tôi chứng kiến người khác sẵn sang nổi đóa, cãi nhau, chửi nhau ầm ỹ chỉ vì một vụ va quẹt nhỏ hay vì không nhường nhau trên đường. Ngay cả chính tôi cũng thế, có những lúc sẵn sàng vằn mắt quát lên ngay khi người khác chạy xe ẩu, lạng lách qua mặt chẳng hạn. Để rồi sau đó thừ người ra tự hỏi: sao mình có thể rất kiên nhẫn trong công việc-một công việc vốn phải làm việc với rất nhiều người và rất nhiều sức ép, nhưng lại dễ mất kiên nhẫn đến thế khi đi trên đường? Tự hỏi rồi tự trả lời, là bởi vì cuộc sống có quá nhiều thứ làm cho con người dễ phát khùng lên. Không dám phát khùng trong công việc-vì nó là nồi cơm, là sự nghiệp, hay với đồng nghiệp, người thân; thì nổi khùng với những chuyện vặt vãnh khác, với người xa lạ. Thế thôi.

Rõ ràng cuộc sống ở VN bây giờ gây cho con người quá nhiều những sự căng thẳng, bực bội. Nói như thế thì nhiều người sẽ bẻ lại: cuộc sống ở đâu mà chẳng căng thẳng, nhiều sức ép, con người phải quay cuồng với công việc từ sáng đến tối. Và xã hội nào mà chẳng có những vấn đề phải giải quyết. Cứ thử sang Mỹ, sang Nhật, hay Anh, Pháp…xem. Nhưng sự căng thẳng ở VN nó làm cho chúng ta bực vì hầu hết những vấn đề đang tồn tại trong xã hội nó vô lý quá, lẽ ra nó phải khác, nó không được phép ngang nhiên tồn tại như vậy.

Ví dụ nạn tắc đường. Đã tắc đường mà còn cứ đào đường lên sửa quanh năm, rồi quây lô cốt chiếm diện tích mặt đường hết ngày này qua tháng khác, bên cạnh đó là nạn buôn bán tràn lan lấn chiếm lề đường làm người đi bộ phải đi tràn xuống lòng đường, làm sao không tắc thêm? Mà có phải báo chí không nói đâu, nói mãi, chả thay đổi gì. Hay nạn nước ngập trời mưa, cứ mỗi năm mỗi ngập hơn, năm nào chả có người chết vì cống hở, vì điện giật…rồi vẫn cứ thế.

Nhìn lại tất cả mọi chuyện lớn nhỏ trong mọi lĩnh vực xã hội ở VN, chúng ta nhận ra một thực tế là hầu hết những “vấn nạn” đều đã tồn tại từ lâu. Và dù dư luận đã ta thán, kêu gào lên rất nhiều, nhưng chẳng có cái gì được cải thiện, chỉ có ngày càng tệ hơn. Điều đó làm cho con người bực bội hơn gấp nhiều lần. Đã vậy lại quá nhiều những sự vô lý, bất công cứ nhan nhản trong xã hội. Đã vậy người dân lại cứ bị “quấy nhiễu” thường xuyên về mặt tinh thần bởi những chính sách thay đổi xoành xoạch của nhà nước.

Như chuyện học hành phân ban, thi cử của học sinh. Cứ thay đổi xoành xoạch như là đánh đố. Thi tốt nghiệp cứ mỗi năm lại thay đổi môn, học sinh chỉ được biết trước ngày thi khoảng một tháng, rồi lúc thì kiến nghị bỏ thi tốt nghiệp, lúc lại tính chuyện gộp cả hai kỳ thi tốt nghiệp và thi đại học vào làm một v.v..Không chỉ học sinh mà phụ huynh, thầy cô cũng đau cả đầu. Hay chỉ riêng một chuyện mua bán ngoại tệ, kinh doanh vàng miếng chẳng hạn, có biết bao nhiêu thứ chỉ thị, cấm đoán cứ thay đổi làm người dân đến chóng mặt.

Tất cả những sự thay đổi liên tục, cái sau nhiều khi chỏi ngược với cái trước ấy vừa chứng tỏ một sự yếu kém, bất lực trong điều hành quản lý đất nước của nhà nước, vừa khiến người dân luôn ở trong một tâm trạng không yên ổn, hết sức mệt mỏi.
Xã hội bất ổn, kinh tế bất ổn. Vật giá leo thang hàng ngày, rồi điện tăng, xăng dầu tăng, đồng tiền ngày càng mất giá. Cuộc sống có quá nhiều thứ để phải lo, phải đối phó mà toàn là những thứ không đáng. Có lẽ vì vậy mà người VN bây giờ nhìn chung dễ bị ức chế, dễ nổi khùng, cách này cách khác.

Dư luận xã hội từng có một dạo bàng hoàng trước hiện tượng nữ sinh đánh nhau, lột áo làm nhục nhau rồi quay video clip tung lên mạng. Các nhà giáo, nhà tâm lý học, xã hội học đều đặt câu hỏi vì sao lại đến nỗi thế. Sự xuống cấp của đạo đức, của giáo dục-đã đành. Nhưng nó còn phản ánh sự bức bối trong tâm hồn các em. Bức bối, tức tối, bất mãn gia đình, trường lớp…không biết trút vào đâu, thế là đánh nhau, làm nhục nhau, như một hình thức để giải tỏa tâm lý.



Clip nữ sinh đánh nhau tràn ngập trên mạng. Nguồn: vnexpress.net

Nếu thường xuyên vào các mạng xã hội như facebook, chúng ta sẽ thấy có những sinh hoạt kiểu như thành lập các nhóm fan của ca sĩ này nghệ sĩ nọ. Rồi lại có những nhóm được lập ra để chê bai, chỉ trích một ca sĩ nào đó vì hát quá dở hay vì phong cách biểu diễn kém hoặc đơn giản, chỉ vì không thích. Các bạn vào đó viết những lời bình luận châm biếm, chửi bới, ném đá ca sĩ/nghệ sĩ mà họ không ưa. Đọc những lời bình loạn, chửi bới quá nặng nề, tưởng như thấy được cả gương mặt hả hê của người viết. Đó cũng là một hình thức giải tỏa tâm lý, chửi bới lăng nhục người khác chỉ vì không có gì vui hơn để làm.

Ngay cả đội ngũ thầy cô giáo, những người lẽ ra phải tượng trưng cho khuôn mẫu của đạo đức đối với học sinh, thì chúng ta cũng nhận thấy không ít những trường hợp cô bảo mẫu bạo hành trẻ, các thầy cô giáo sẵn sàng nổi nóng, văng những lời lẽ phản sư phạm vào mặt học sinh. Áp lực đời sống chăng? Nỗi bực dọc cơm áo gạo tiền và những cay đắng của nghề chăng?

Ngày càng nhiều những vụ xô xát, án mạng với tính chất ngày càng man rợ mà nguyên nhân nhiều khi chỉ vì va chạm nhau trên đường, vì nạn nhân lỡ “nhìn đểu” nên bị đâm cho bõ ghét hay một câu nói, một món nợ tiền bạc rất nhỏ…Chứng tỏ sự bức xúc, tức tối xã hội bị dồn nén bên trong, không biết làm cách nào để giải quyết, gặp dịp thế là bùng phát thành tội ác.



Các bị cáo trẻ trong vụ án giết người chỉ vì “nhìn thấy ghét” tại TP.HCM.
Nguồn: vietbao.vn

Báo chí cũng đã nói nhiều đến những vụ công an đánh chết người, nhiều khi chỉ vì những lý do rất nhỏ như quên đội mũ bảo hiểm! Chỉ cần vào google search mấy chữ “công an đánh chết người” là sẽ ra cho ra hàng loạt kết quả.

Có những cái chết đầy oan ức, thương tâm, xôn xao cả dư luận như vụ anh Nguyễn Văn Khương bị tay thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp đánh chết chỉ vì quên đội mũ bảo hiểm, khiến người dân bất bình dẫn đến cuộc bạo động lớn nổ ra ở Bắc Giang ngày 25.7.2010. Vụ ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội bị tay trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh gẫy hai đốt sống cổ ngày 28.2.2011 , từ vong sau khi vào bệnh viện một tuần cũng vì không đội mũ bảo hiểm. Hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt, bị chết trong trụ sở CA huyện Bến Cát (Bình Dương) ngày 25.4.2011, sau 5 ngày bị bắt giữ trái pháp luật để điều tra về vụ mất cắp lốp xe, sau đó công an còn vu cho anh là tự tử… Những chuyện như thế này không còn là hiếm nữa, có thể xảy ra cho bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào trên đất VN, nếu một ngày chẳng may rơi vào tay…”công an nhân dân”.

Gần đây, có những vụ công an đánh cả trẻ em như vụ cháu Ngô Đình Phát (11 tuổi ở phường Thủy Xuân – TP Huế) bị trung úy Trần Nguyễn Hồng Quang đánh phải nhập viện ngày 15. 6 vì em lỡ ăn cắp tiền của cô ruột.

Công an đánh cả phụ nữ đang mang bầu như trường hợp chị Dương Thị Mỹ Ngọc bị ông Nguyễn Thanh Hải, công an phường Tân Phú, quận 9, TP.HCM đánh đa chấn thương phần mềm ngày 3.4 chỉ vì chị không chịu bán cua giá rẻ cho ông này; hoặc đánh cả người bị khuyết tật như tay trung úy Thái Quang Vinh, cảnh sát khu vực thuộc Công an phường Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) đã cãi nhau và đánh một người thợ sữa chữa điện tử bị khuyết tật, tháng 4.2011. ..



Cháu Phát 11 tuổi bị công an đánh bầm tím cả mông, đùi. Nguồn: dantri.com.vn
Đến mức này thì phải đặt câu hỏi phải chăng đội ngũ công an VN hầu hết có vấn để về mặt…tâm lý, tâm thần? Họ muốn đánh chết ai thì đánh, chỉ để chứng tỏ ta đây có quyền, hay đó là một sở thích bệnh hoạn, hoặc, cũng như đã nói ở trên, giới công an cũng thường xuyên rơi vào tâm trạng bức bối, bất mãn nên hễ gặp dịp là xả vào thân thể người khác-những nạn nhân đang ở trong tay họ?
Tất cả những điều này cho thấy tâm hồn con người VN nói chung không được bình yên, không thư thái, thậm chí bất mãn đối với cái xã hội mà họ đang sống.
Nó cũng cho thấy đạo đức, nhân cách, những phẩm chất tốt đẹp của con người VN đang bị hủy hoại một cách đáng ngại.

Xây dựng lại một đất nước bị tàn phá về kinh tế đã khó, nhưng xây dựng lại một xã hội trong đó con người bị méo mó, lệch lạc,tàn phá về mặt nhân cách, tâm hồn, sẽ khó hơn rất nhiều.

viethoaiphuong
#12 Posted : Thursday, May 30, 2019 5:56:11 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,878
Points: 6,786

Thanks: 677 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)


Tâm Duong : người dân tộc ăn tết hội mùa xuân

Hoài Phương Phạm : đấy là ở vùng nào của VN nhỉ?

Tâm Duong : Chắc là vùng núi phía Bắc, đường sá hiểm trở khó đến thăm tùng nhà nên qui định cùng nhau liên hoan tập thể trong 1 ngày qui định thành lệ!

Hoài Phương Phạm : cám ơn anh cho biết thêm chi tiết về bức ảnh rất ấn tượng này !

Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.