Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

37 Pages«<34353637>
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#701 Posted : Saturday, April 16, 2022 6:06:29 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Enrico Macias : Những sáng tác xuyên qua bao thế hệ

16/04/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Tuy đã ngoài 80 tuổi, nhưng nam danh ca Enrico Macias dường như vẫn chưa an phận. Sau đợt trình diễn hồi đầu tháng 04/2022 tại nhà hát Olympia ở Paris, Enrico sau đó tham gia các liên hoan ca nhạc kể từ tháng Năm ở miền Nam nước Pháp, đến biểu diễn tại trạm nghỉ mát ven biển La Grande Motte cũng như tại thành phố Marseille. Còn vào mùa thu năm nay, ông chuẩn bị tái ngộ khán giả vì năm 2022 đánh dấu đúng 60 năm sự nghiệp ca hát của Enrico.

Ánh đèn sân khấu cũng như tình cảm ưu ái của công chúng đem lại điều mà ông gọi là những niềm vui chưa dứt của một đời người. Sau ngày vợ ông qua đời vào cuối năm 2008, ông sống gần gũi hơn nữa với gia đình con cháu. Con trai của Enrico Macias (Jean-Claude Ghrenassia) cũng là nhạc sĩ chuyên nghiệp, đã giúp thân phụ thực hiện bước kế tiếp. Bốn album phòng thu (từ năm 2011 đến 2019) được giới phê bình đánh giá cao, xen kẽ các sáng tác mới với những bản phối lại từ các giai điệu kinh điển. Sau khi cho ra mắt vào cuối năm 2019 tuyển tập Enrico Macias với dàn nhạc Al Orchestra, nam danh ca đã ít có cơ hội đi hát để quảng bá cho album này, đợt biểu diễn cũng bị dời lại cho tới đầu năm nay. Trong mùa dịch Covid-19, Enrico cũng đã từng gặp nhiều vấn đề sức khỏe. Năm nay chính là dịp thuận lợi hơn để ông xuất hiện trở lại dưới ánh đèn sân khấu và hy vọng là mọi chuyện đều suôn sẻ hanh thông.

''Giã từ quê hương'', bài hát ngậm ngùi về kiếp sống lưu vong

Kể từ khi hai bố con Enrico Macias quyết định làm việc với nhau, sự hợp tác trong vòng hơn một thập niên liền đã giúp cho giới trẻ ở Pháp khám phá lại khá nhiều bài hát nổi tiếng trước đó của Enrico, dưới dạng song ca như trên tập nhạc ''Venez tous mes amis !'' (Mời tất cả các bạn cùng đến) nhờ vào sự góp mặt của những giọng ca ăn khách hiện thời, như trường hợp cua Kendji Girac hát chung với Enrico một trong những sáng tác hay nhất của ông : nhạc phẩm ''Adieu Mon Pays'' nói lên tâm trạng ray rức, nỗi ngậm ngùi thổn thức của một kiếp sống lưu vong. Bài này cũng từng được nữ danh ca Khánh Ly ghi âm với tựa đề ''Giã từ quê hương''.

Giới trẻ thời nay thông qua sự hợp tác của các tài năng mới (trong số này có khá nhiều ca sĩ đều xuất thân qua cuộc thi hát truyền hình) khám phá lại thân thế của Enrico, một danh ca người gốc Do Thái (sinh trưởng ở Constantine) xuất thân từ một gia đình nhập cư từ Algérie. Bắt đầu đi hát tại Pháp từ năm 1962, Enrico Macias nổi tiếng nhờ chất giọng đặc trưng của miền Địa Trung Hải, khi hát tiếng Pháp thường hay bỏ thêm dấu, nhưng quan trọng hơn nữa là nhờ vào một nhóm sáng tác vững chắc (Jacques Demarny và Pascal René Blanc còn có bút danh là Carlos Bryan khi viết cho các ca sĩ khác).

Enrico Macias tạo sức bật cho tango và bolero

Nhóm tác giả này giúp cho Enrico Macias có được nhiều bản nhạc thành công trong nhiều thập niên liên tục. Trong số này có khá nhiều bài hát của Enrico từng được phóng tác sang tiếng Việt : địa danh ''Solenzara'' có thể được xem là khuôn mẫu cho điệu bolero qua bài ''Nắng Xuân'', còn ''L'amour c'est pour rien'' là thước đo nhịp tango với ''Tình cho không biếu không'' theo cách đặt lời của tác giả Phạm Duy. ''Paris tu m’as pris dans tes bras'' (Paris âu yếm) hay bài hát ''La Femme de Mon Ami'' trở thành ''Tình và Bạn'' do tác giả Lê Toàn phóng tác hay ''Bản tình ca của chúng ta'' dưới ngòi bút của Khắc Dũng.

Sự nghiệp của Enrco trải dài trên 6 thập niên với gần 500 ca khúc, 35 album phòng thu và hơn 60 triệu đĩa nhạc được bán trên thế giới. Cho dù ông từng được phong làm sứ giả hòa bình Liên Hiệp Quốc vào năm 1997, nhưng cho tới nay Enrico Macias vẫn chưa thực hiện được ước mơ ấp ủ trong nhiều năm qua : trở lại biểu diễn ít nhất một lần ở nguyên quán Constantine (ở Algérie) trước khi từ giã cõi đời.

Thành danh hầu như cùng thời với Adamo, cả hai đều kỷ niệm 60 năm sự nghiệp trong năm nay. Ngoài phong cách trữ tình lãng mạn, chất nồng nàn trong giọng ca, Enrico Macias còn là một nhạc sĩ tài ba, có khả năng soạn những giai điệu rất lọt tai, dễ đi vào lòng người. Cả hai tác giả Adamo và Enrico đều đứng ngoài phong trào nhạc trẻ những năm 1960 và cũng chính nhờ vào cái tài soạn nhạc mà họ mới trụ vững cho tới tận bây giờ. Các sáng tác của Enrico Macias thường hay được giới nghệ sĩ trẻ trình bày hoặc ghi âm lại.

Những giai điệu chẳng những không có biên giới mà cũng chẳng sợ rào cản ngôn ngữ do đã được phóng tác sang rất nhiều thứ tiếng. Enrico từng sáng tác bài ''Le Violon de mon Père'' để tưởng nhớ tài chơi vĩ cầm của người cha. Nối bước thân phụ, Enrico Macias trước khi nổi danh tại Pháp đã từng chơi đàn từ năm 1956 đến 1961 trong dàn nhạc chuyên nghiệp của nhạc trưởng Raymond Leyris (sau đó là bố vợ của Enrico). Có thể nói là do thấm nhuần ảnh hưởng của hai bậc thầy, Enrico Macias ngoài cái tài soạn giai điệu, còn học thêm cách phối hợp nhạc khí để tạo thêm trong âm sắc bài ca, nét ấm áp đậm đà, chất mượt mà thiết tha.



viethoaiphuong
#702 Posted : Sunday, April 17, 2022 8:39:50 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

110 năm vụ đắm tầu lịch sử Titanic : Lỗi do tuân thủ các quy định ?

16/04/2022 - Minh Anh / RFI
Ngày 14/04/1912, trong chuyến vượt đại dương đầu tiên, Titanic đã bị đắm tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương sau khi đâm phải một núi băng trôi làm khoảng 1.500 người chết. 110 năm sau, chiếc du thuyền được cho là sang trọng bậc nhất thời đó, vẫn tiếp tục mê hoặc giới chuyên gia, các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như nghiệp dư, tìm cách giải đáp bí ẩn của tấn thảm kịch hàng hải nghiêm trọng nhất trong thời bình.

Những nỗ lực không ngơi nghỉ này của giới nghiên cứu đến mức giờ người ta có thể kể lại một câu chuyện khác về Titanic, với một câu hỏi khác được đặt ra : Phải chăng đó là do một sai lầm của thủy thủ đoàn ? Tấn thảm kịch xảy ra là do đã tuân thủ quy định được áp đặt thời kỳ đó ?

Titanic – Con tầu hạng sang bậc nhất

Nhà sử học, chuyên gia về lưu thông hàng hải xuyên Đại Tây Dương, Antoine Resche, trong chuyên mục SuperFail của đài France Culture trước hết nhắc lại, Titanic được thiết kế và đóng trong khoảng thời gian 1909-1912. Đây được xem là chiếc tầu chở khách sang trọng nhất, lớn nhất, tân tiến và an toàn nhất của thời đại.

« Chiếc tầu khách này, còn rất đặc biệt ở điểm, nó không được thiết kế để chạy nhanh như một số đối thủ của nó. Hãng chính của chiếc thuyền này, White Star Line, thời ấy cho rằng những kỷ lục tốc độ là một điều gì đó đã lỗi thời, việc chạy nhanh là quá tốn kém và tốt hơn hết là nên đến đúng giờ, tạo ra một nhịp chạy đều đặn cho hành khách và nhất là một sự tiện nghi hơn là việc phải chạy với tốc độ nhanh tốn nhiều than và gây ra nhiều sự rung lắc khó chịu ».

Quả thật, tốc độ trung bình của Titanic và chiếc tầu « song sinh » Olympic chỉ ở mức 21-22 hải lý/giờ, thấp hơn nhiều so với những chiếc tầu khách đối thủ, Mauretinia và Lusitania, có thể chạy với tốc độ 27 hải lý/giờ. Do vậy, theo Antoine Resche, vận tốc con tầu không phải là một trong số các nguyên nhân gây ra thảm kịch.

Titanic cũng như một phần lớn du thuyền hiện đại thời đó đã được ví như là những con tầu « không thể chìm ». Nhưng trớ trêu thay, vụ việc xảy ra khiến người ta không khỏi nghi vấn : Liệu phần thiết kế kỹ thuật của Titanic có đáp ứng đủ các tiêu chí về tính chất không thể chìm của thời đó ? Antoine Resche giải thích tiếp :

« Tính chất không thể chìm được dựa trên những khái niệm khá cũ xưa. Đó chính là chia chiếc tầu ra thành nhiều khoang kín với ý nghĩ là khi một khoang bị ngập, nước sẽ không tràn sang các khoang bên cạnh và như vậy, chiếc tầu sẽ không bị quá tải bởi lượng nước ngập và sẽ không chìm.

Vì vậy, đối với Titanic, chúng tôi nhắm đến hai tiêu chí chính : Thứ nhất, hai khoang bất kỳ liền kề nào đó trong tổng số 16 khoang có thể đã bị đâm vào mà tầu vẫn chưa chìm. Ý nghĩ ẩn sau vụ việc này chính là rủi ro lớn nhất mà Titanic gặp phải chính là đã bị một tầu khác húc vào và nếu va chạm xảy ra chỉ giới hạn ở 2 khoang, thì 2 khoang này sẽ bị ngập và Titanic vẫn sẽ sống sót.

Giả định này đã được kiểm chứng năm 1911 với chiếc Olympic đã bị một chiếc tuần dương chiến đấu đâm phải. Dầu bị hư hại nặng nhưng Olympic vẫn không gặp vấn đề gì lớn, mất vài tuần sửa chữa để có thể quay trở về Belfast. Do vậy, những chiếc thuyền này thật sự là rất chắc.

Tiêu chí thứ hai, chính là trường hợp chiếc thuyền dường như đã đâm vào một chướng ngại vật. Nhưng thời điểm đó, người ta đã thiết kế chiếc thuyền sao cho 4 khoang đầu tiên có thể bị ngập nước nhưng không gây nguy hiểm cho tầu. Bốn khoang là rất lớn bởi vì chúng chiếm đến ¼ chiều dài của du thuyền và do vậy, không chắc rằng hư hại có thể ảnh hưởng đến nhiều khoang khác. »

Đêm đầy sao, một đêm định mệnh nghiệt ngã

Vậy tuyến đường mà Titanic đi có an toàn hay không ? Vùng biển Bắc Đại Tây Dương thời ấy được biết là một vùng đại dương khá nguy hiểm, thời tiết thường xuyên xấu, hay có nhiều cơn bão lớn. Đây cũng là hải trình đông đúc nhất, luôn có nhiều rủi ro đâm phải tầu khác do sương mù, kẻ thù số một của lưu thông hàng hải thời ấy. Nhà sử học Antoine Resche nhắc lại, để tránh những rủi ro đó, người ta đã lập ra hai lộ trình : Một ở phía nam và một ở phía bắc.

« Con đường ở phía bắc dành cho giai đoạn các tảng băng chưa trôi xuống bởi vì con đường này là khá ngắn, vì thế rất tiện để đi. Nhưng trong suốt thời gian đầu năm, người ta thường đi theo tuyến đường xa hơn ở phía nam để tránh các tảng băng trôi. Thế nên, khi chìm tầu, Titanic trên tuyến đường phía nam đó. Việc con tầu tránh xa những vùng biển nguy hiểm là lẽ thường, đơn giản chỉ vì năm đó mùa đông khá ôn hòa, nên băng trôi nhiều hơn về phương nam. Chúng ta sẽ thấy có nhiều băng trôi tại một vùng mà lẽ ra chúng có rất ít. »

Nếu như việc chọn lộ trình này được cho là chính đáng, thì điều được cho là bất cẩn và lơ là ở đây chính là Titanic đã được cảnh báo qua sóng radio từ nhiều tầu khác rằng có nhiều băng trôi xung quanh hải trình. Các sĩ quan biết rõ điều đó nhưng lại đưa ra các biện pháp rất hạn chế.

« Họ thông báo cho những người gác đêm rằng sẽ có băng và yêu cầu những người này phải cẩn thận theo dõi. Bởi vì, vị thuyền trưởng và các sĩ quan của ông tuân theo nguyên tắc cho rằng vì không có sương mù, thì bình thường ra họ sẽ không gặp vấn đề gì để thấy băng. Điều đáng lo ở đây là thời tiết gần như quá tốt bởi vì chẳng có gió, chẳng có sóng, mặt biển phẳng lặng như tờ, nhiều nhân chứng khẳng định như thế.

Mặt biển quá tuyệt vời, chẳng có chút gợn sóng do băng trôi gây ra, thường cho phép xác định có băng. Đêm hôm đó khá tối, đó là một đêm đầy sao nhưng không có ánh trăng, nên cách thức chính để nhận diện băng trôi là nhìn thấy chúng nổi rõ trên nền trời đầy sao. Người ta sẽ thấy một bóng mầu đen che khuất các vì sao. Vấn đề ở đây là những người gác đêm của Titanic đã phát hiện ra chiếc bóng này quá trễ. »

Rồi người ta còn bàn tán về việc không có ống nhòm và điều này đã cản họ nhìn thấy tảng băng. Vẫn theo nhà sử học này với đài France Culture, đây chính là điểm gây ra nhiều tranh cãi. Nhưng theo nhiều thuyền trưởng thời ấy, cũng như các thuyền trưởng thời nay, đây sẽ là một sai lầm khi nghĩ như vậy.

« Bởi vì ống nhòm chẳng giúp ích được gì cho việc xác định các chướng ngại vật, chúng được dùng để nhìn vật cản rồi để kiểm tra đó chướng ngại gì. Vai trò của người gác đêm không phải để kiểm tra xem nó là gì mà chỉ để nói cho biết có thứ gì đó và như vậy người ta có thể giả định rằng cho dù có ống nhòm, người gác đêm cũng sẽ phải mất một ít thời gian để kiểm tra đó là gì bằng ống nhòm và như vậy sẽ phải báo động trễ hơn một chút.

Trên thực tế, nhân viên hải đồ, người có ống nhòm, đã nhìn thấy tảng băng gần như cùng lúc và do đó, không có quãng thời gian quyết định nào có thể tạo ra một sự khác biệt. Điểm mấu chốt ở đây là do các điều kiện điều hướng tốc độ bởi vì Titanic đã không giảm tốc độ. »

Những quy định hàng hải lỗi thời ?

Tuy nhiên, nhà sử học lưu ý, giờ đây, khi xem xét lại các quy định hàng hải thời đó, người ta cũng không thể trách cứ thủy thủ đoàn, đơn giản chỉ vì ai cũng phải thực hiện cùng một cách. « Chừng nào tầm nhìn còn rõ thì vẫn tiếp tục đi hết tốc độ để ra khỏi vùng băng nhanh nhất có thể. Người ta xuất phát từ nguyên tắc chỉ cần nhìn thấy tảng băng kịp thời thì họ vẫn sẽ có thể tránh được chúng ».

Tổ chức cứu hộ tồi, phải chăng cũng là một nguyên nhân ? Về điểm này, ông Antoine Resche nhấn mạnh đến chi tiết, thủy thủ đoàn phải mất đến 40 phút để đánh giá thiệt hại và mới đi đến kết luận là tầu đang chìm. « Toàn bộ thủy thủ đoàn không hiểu rằng Titanic đang chìm. Nhiều nhân chứng kể cả các sĩ quan khi lên ca-nô cứu hộ vẫn nghĩ rằng Titanic sẽ sống sót. Phải mất một lúc sau, khi đã yên vị trên ca-nô, nhìn chiếc tầu từ bên ngoài họ mới chợt nhận ra rằng con tầu trong một tình trạng rất nghiêm trọng. »

Cũng theo nhà nghiên cứu này, Titanic cũng gây cảm giác chìm rất chậm cho những ai ở trên boong tầu, nó chỉ hơi nghiêng một chút nhưng không cho thấy có gì là thảm khốc, chỉ thật sự đột ngột vào phút cuối của vụ chìm khi mà con tầu bắt đầu mất thế cân bằng, đột nhiên bị lật và chìm xuống, một điều kinh điển trong các vụ đắm tầu. « Thế nên, trong một quãng thời gian dài, một phần lớn hành khách có ấn tượng sai lầm về an toàn. Nhưng điểm quan trọng ở đây chính là thuyền cứu hộ, vốn được thiết kế để chứa đủ 1.178 người, nhưng trên thực tế lại không có đủ ở trên tầu. Vì chỉ có 712 người sống sót, điều đó cũng có nghĩa là còn thiếu đến hơn 400 chỗ. »

Như vậy, rõ ràng là có những thiếu sót hiển nhiên trong khâu cứu hộ, nhất là con tầu đã không được chuẩn bị tốt và người ta đã đánh giá sai tình hình. « Để cứu người, lẽ ra phải có nhiều tầu tại chỗ và phải có đủ ca-nô để có thể đưa mọi người xuống. Đây có lẽ phải là một chiến dịch đòi hỏi nhiều thời gian, những chiến dịch này thực hiện giữa biển khơi đôi khi phải mất đến hàng chục giờ. Trên thực tế, để mà có thể cứu hết toàn bộ số hành khách của Titanic, những người cứu hộ có lẽ sẽ phải đến đó ngay cả trước khi tảng băng trôi đến. »

Titanic, nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật

Nghi vấn cuối cùng đặt ra : Phải chăng Bruce Ismay – chủ hãng tầu khi ấy cũng có một phần trách nhiệm khi không muốn Titanic giảm tốc độ, thậm chí phải đến sớm hơn ? Một quan điểm không được Antoine Resche đồng chia sẻ :

« Một mặt, người ta biết rằng hãng tầu gây áp lực lớn đối với các thuyền trưởng về an toàn. Theo các thư họ gởi, mức lương hàng năm của các thuyền trưởng tăng gấp đôi nếu không có một tai nạn nào. Như vậy, mọi thứ thật sự được thực hiện để nhấn mạnh rằng an toàn là trên hết và thế nên khó có thể tin rằng Bruce Ismay đi trái với quy tắc của chính mình, nhất là chúng ta có những tài liệu cho thấy ông ấy không phải là một kẻ cuồng tốc độ.

Ngược lại, vào thời đó, một số nhân chứng, một số hành khách từng suy nghĩ đến việc trách nhiệm cuối cùng là tập thể. Bởi vì, thay vì một cá nhân gây áp lực, thì ở đây có một áp lực chung : Để có thể đến đúng giờ không nên có những biện pháp phòng ngừa không cần thiết.

Chúng ta có thể suy luận một cách phi lý, bắt đầu từ nguyên tắc : Điều gì sẽ xảy ra nếu thuyền trưởng Smith quyết định giảm tốc độ, thậm chí dừng tầu chờ đến sáng vì cẩn thận. Trong trường hợp đó, ngày hôm sau, sẽ có rất nhiều hành khách vốn rất quan tâm đến các hiệu năng của con tầu, sẽ phàn nàn rằng người ta đã có một sự cẩn thận cuối cùng không mấy gì hữu ích.

Điều trớ trêu là người ta chỉ thấy những biện pháp phòng ngừa đó là hữu ích khi nhận ra rằng mình đã không thực hiện và thảm kịch đã xảy ra. »

Titanic là một ví dụ hoàn hảo về một thảm họa không phải do sự bất cẩn gây ra, ngược lại là do tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chí hàng hải thời đó, như giả định do ông Christian Moreau đưa ra trong tập sách có tiêu đề « Những quyết định phi lý ». Dẫu sao thì như tựa đề nhạc phẩm « My heart will go on » do nữ danh ca Céline Dion trình bày, bất kể kết luận các cuộc điều tra có ra sao, Titanic – vụ đắm tầu lịch sử này – vẫn luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho văn học, hội họa và điện ảnh.

Chẳng phải bộ phim Titanic của đạo diễn James Cameron, với sự tham dự của hai diễn viên gạo cội Leonardo DiCaprio và Kate Winslet, đã làm rung động hàng triệu con tim và đoạt đến 11 tượng vàng Oscar danh giá năm 1997, trong đó có giải Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất !


viethoaiphuong
#703 Posted : Thursday, April 21, 2022 5:40:36 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Hội chợ sách Paris mở lại với tên mới sau hai năm đóng cửa

21/04/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Sau hai năm buộc phải ngưng hoạt động do đại dịch Covid-19, Hội chợ sách Paris mở cửa đón khách trở lại trong ba ngày từ 22/04 đến 24/04/2022. Hội chợ sách Paris là một trong những sự kiện quan trọng nhất của ngành xuất bản tại Pháp, năm nay hội chợ xuất hiện trở lại với một mô hình tổ chức mới, chẳng những tân trang diện mạo mà còn thay đổi luôn tên gọi cũng như nội dung chương trình sinh hoạt.

Trước kia mang tên là ''Salon du Livre'' (Hội chợ sách), nay sự kiện lớn này được biến thành ''Festival du Livre de Paris" (Liên hoan sách Paris). Ban tổ chức dùng từ ''liên hoan'' vì chương trình sinh hoạt đã được mở rộng sang nhiều lãnh vực khác, bổ sung thêm với nhiều môn nghệ thuật. Bên cạnh đó, chương trình năm nay có thêm nhiều sinh hoạt mang tính lễ hội như hòa nhạc, diễn kịch và đặc biệt là hoàn toàn miễn phí để cho tất cả mọi người được dịp chung vui, trong khi các phiên bản trước đây đều có bán vé vào cửa (giá 10 euro mỗi người) như vào năm 2019, trước khi có đại dịch.

Những nét thay đổi chính tại ''Liên hoan sách Paris''

Liên hoan sách Paris ngoài việc đổi tên (Festival du Livre), còn thay luôn địa điểm tổ chức. Trong vòng nhiều năm liền, Hội chợ sách Paris thường diễn ra tại Cung triển lãm Porte de Versailles ở Paris quận 15. Giờ đây, sự kiện này được tổ chức tại Grand Palais Éphémère tạm dịch là ''Cung điện Phù du'' trên quảng trường Champ de Mars, Paris quận 7. Được khánh thành vào mùa xuân năm 2021, ''Cung điện Phù du'' là một khu vực triển lãm tạm thời, được dựng lên để thay thế cho Viện bảo tàng Grand Palais, vốn đang được trùng tu trong vòng ba năm liên tục.

Công việc thiết kế không gian triển lãm đã được giao cho kiến trúc sư Isabelle Allégret, một mặt giữ nguyên nét hùng vĩ hoành tráng của ''Cung điện Phù du'', mặt khác thay đổi cơ cấu truyền thống của hội chợ với hàng loạt quầy sách san sát nhau. Liên hoan sách Paris 2022 nay có không gian mở, chứ không còn được ngăn vách thành từng gian hàng triển lãm. Liên hoan cũng là một sinh hoạt dành cho mọi thành phần công chúng, các bạn đọc thuộc mọi lứa tuổi, cho nên không có trải thảm cũng như không dựng thêm sân khấu hoặc khán đài.

Theo ông Vincent Montagne, chủ tịch Liên đoàn ngành xuất bản sách SNE, không gian mở của Liên hoan sách là nơi giới thiệu 300.000 tác phẩm đủ loại, trong đó có khoảng 15.000 tựa mới, kể cả các tác phẩm văn học, tiểu thuyết trinh thám, các loại sách bỏ túi cũng như các bộ truyện tranh, tủ sách hướng dẫn hay truyện đọc dành cho thiếu nhi ….. Theo dự kiến, Viện bảo tàng Grand Palais sẽ được mở lại nhân kỳ Thế vận hội Paris 2024 sau khi hoàn tất công trình sửa chữa mái vòm khổng lồ bằng thủy tinh. Còn về phía hội chợ sách, dĩ nhiên là ban giám đốc hy vọng là Grand Palais trong tương lai lại trở thành nơi tổ chức ''liên hoan'' sách thường niên.

Ba triển lãm lớn và 300 ngàn tựa sách đủ loại

Về mặt nội dung, chương trình năm 2022 có khá nhiều sự kiện mới. Theo bà Marie-Madeleine Rigopoulos, giám đốc nghệ thuật Festival du Livre, thay vì đơn thuần tập trung vào việc giới thiệu sách thông qua các buổi ký tặng sách hay giao lưu với bạn đọc, liên hoan sách 2022 tạo ra những chương trình "hỗn hợp", hầu tạo ra những cuộc đối thoại giữa các hạng mục hay ''thể loại" với nhau, kể cả điện ảnh, truyền hình, âm nhạc, du lịch, ẩm thực, đời sống, manga hay phim hoạt hình …. Nói cách khác, thay vì phân chia các tác giả thành nhiều nhóm, hoạt động song song và riêng lẻ, các nhà văn hay giới cầm bút có thể tự do đi lại, tham gia các buổi giao lưu, các xưởng đào tạo hay các lớp sáng tác.

Một cách cụ thể, độc giả có thể đăng ký tham gia các buổi giao lưu giữa một đầu bếp chuyên viết sách dạy nấu ăn với một nhà văn từng khai thác thế giới ẩm thực trong các tác phẩm của mình. Một diễn viên kịch hoặc một nhà văn chuyên viết truyện phiêu lưu trao đổi với một họa sĩ chuyên vẽ truyện tranh, một đạo diễn phim truyện hay tài liệu có thể nói về quá trình phóng tác một tác phẩm nổi tiếng của một bậc thầy tiểu thuyết trinh thám ….. Liên hoan sách dĩ nhiên dành một vị trí quan trọng cho các thể loại cực thịnh hiện thời thông qua ba cuộc triển lãm chuyên đề lớn : người máy Goldorak (manga và phim hoạt hình Nhật Bản), truyện tranh Titeuf của Pháp (họa sĩ kiêm tác giả Zep) và 50 năm ngày khai sinh tủ sách bỏ túi Folio (nhà xuất bản Gallimard).

Theo bà Marie-Madeleine Rigopoulos, mục tiêu của các sinh hoạt này vẫn là tạo thêm cơ hội trao đổi giữa nhiều đối tác, vào những lúc bình thường họ chưa chắc gì đã nói chuyện với nhau. Riêng đối với thành phần bạn đọc, đã từ lâu cuốn sách là một cánh cửa mở rộng tầm nhìn ra bên ngoài, dẫn đến những thế giới mới, đó là cách để khám phá nhiều hình thức nghệ thuật cũng như các nền văn hóa khác lạ, nhất là giờ đây sách đọc lại có thêm nhiều phiên bản bổ sung, kể cả sách minh họa hay sách âm thanh dưới dạng nguyên tập hay chia thành nhiều kỳ.

Theo ông Jean-Baptiste Passé, đồng giám đốc ''Festival du Livre'', sau hai năm bị đóng cửa, liên hoan sách Paris mở lại trong một bầu không khí tự do hội hè, khát khao đổi mới. Việc tổ chức một chương trình hoàn toàn miễn phí chính là mở rộng việc đón tiếp mọi người bất kể tuổi tác và đối tượng độc giả. Hạn chế duy nhất là số lượng người tham dự, có mặt cùng lúc tại chỗ. Do số người vào cửa được quy định ở mức tối đa là 5.500 khách , cho nên ban tổ chức yêu cầu khách nào muốn tham dự nên đặt trước vé vào cửa (miễn phí) cũng như khung giờ tham gia trên trang web chính thức.

Ấn Độ, khách mời danh dự nhân Liên hoan sách Paris

Hiện giờ theo chương trình chính thức, có hơn 150 tác giả tham gia sự kiện trong đó có giải Nobel Văn học người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, các nhà văn nổi tiếng như Clara Dupont-Monod từng đoạt giải văn học Femina, tác giả Nicolas Mathieu từng đoạt giải thưởng Goncourt, nhà văn người Mỹ Stephanie Blake mừng sinh nhật 20 tuổi của bộ truyện thiếu nhi Chú thỏ Simon, đạo diễn kiêm tác giả Pháp Joan Sfar hay họa sĩ người gốc Armenia Charles Berberian ….. Liên hoan sách Paris 2022 cũng đánh dấu ngày xuất hiện trở lại của nhiều nhà xuất bản lớn như Grasset, Calmann-Lévy, Fayard thuộc tập đoàn Hachette, Gallimard, Flammarion, POL thuộc tập đoàn Madrigall, ngoài ra còn có Plon, Robert Laffont, Presses de la Cité thuộc nhóm Editis, ngành xuất bản truyện tranh thì có Seuil, Dargaud hay Dupuis..... Các nhà xuất bản này vắng bóng tại hội chợ sách trong những năm 2015-2018 do bất đồng quan điểm về điều kiện tham gia và cách tổ chức.

Khách mời danh dự của Liên hoan sách Paris 2022 là Ấn Độ. Thật ra, ''cường quốc văn học'' này đã được mời vào năm 2018, nhưng do vấn đề tổ chức và sau đó nữa là hai năm đại dịch, cho nên mãi đến bây giờ mới có thể thực hiện được. Theo nhà phê bình Jean-Claude Perrier, chuyên về văn học Ấn Độ, có khoảng 30 tác giả Ấn Độ, sáng tác trong 10 ngôn ngữ khác nhau sẽ có mặt tại Liên hoan sách Paris. Năm 2022 cũng đánh dấu 75 năm ngày Ấn Độ tuyên bố độc lập, cho nên ông Jawed Ashraf, Đại sứ Ấn Độ tại Paris sẽ tham gia chương trình đặc biệt năm nay.

Một điểm quan trọng khác đáng ghi nhận là khác với những năm trước, Liên hoan sách Paris là một chương trình sinh hoạt ''lưu động'' không chỉ diễn ra ở Grand Palais Éphémère mà còn được tổ chức ở nhiều nơi khác như hội trường Đại học Sorbonne, phòng triển lãm Điện Panthéon, Bảo tàng Petit Palais, Thư viện Trường Võ bị École Militaire ….. Với mô hình lưu động này, Liên hoan sách tìm lại tinh thần lễ hội đại chúng trong những năm tháng đầu tiên, khi vừa mới ra đời. Được khai sinh cùng thời với Ngày hội Âm nhạc (Fête de la Musique) vào năm 1981, Hội chợ sách sau đó được cố tổng thống Mitterand chính thức khai trương vào năm 1982 ngay tại mái vòm thủy tinh của Viện bảo tàng Grand Palais. Năm 2022 chính là dịp để cho Festival du Livre ăn mừng sinh nhật 40 tuổi.



viethoaiphuong
#704 Posted : Saturday, April 23, 2022 7:43:03 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Shawn Mendes - Tham vọng của tuổi trẻ

23/04/2022 - Gia Trình / RFI
Shawn Mendes là một trong những ngôi sao trẻ triển vọng nhất trong làng âm nhạc hiện nay. Nam ca sỹ người Canada có thành tích đáng nể về số lượng các hit đình đám. Không ngạc nhiên khi Shawn Mendes tham vọng trở thành một siêu sao nhạc pop vĩ đại nhất.

Bảng vàng thành tích

Ở tuổi 23, Shawn Mendes có trong tay những gì khiến cho đồng nghiệp phải ghen tỵ? Ca sỹ sinh năm 1998 sở hữu tới 4 album phòng thu xếp hạng 1 trên bảng xếp hạng Billboard. Mười ca khúc lọt top 20 ca khúc ưa thích nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Năm 2018, tạp chí TIME đã bình chọn Shawn Mendes trong danh sách 100 người ảnh hưởng nhất thế giới. Nhờ thể loại pop-rock trong If I can’t have you hay latin-pop trong Senorita với bạn gái cũ Camila Cabello, nam ca sỹ người Canada đang chiếm lĩnh trái tim của hàng triệu khán giả nghe radio và các kênh streaming âm nhạc trực tuyến. Khi nhắc đến anh, chắc chắn xuất hiện âm thanh gào thét của fan nữ khi thấy diện mạo lãng tử của Shawn Mendes.

Nam ca sỹ sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống tôn giáo và khá giả tại Ontario, Canada. Cha anh là doanh nhân kinh doanh nhà hàng, còn mẹ anh là môi giới bất động sản. Mendes bắt đầu học chơi guitar ở tuổi 14 khi xem Youtube. Nhờ cover lại ca khúc As Long as You Love của Justin Bieber trên mạng xã hội Vine năm 2013, tên tuổi của Shawn Mendes bắt đầu bật lên mạnh mẽ. Tại thời điểm đó, Justin Bieber là hình mẫu lý tưởng cho Shawn Mendes học hỏi. Anh có 10.000 like đầu tiên, hàng triệu lượt xem và số lượng người theo dõi tăng dần đều.

Chỉ sau 1 năm, chàng trai trẻ có hợp đồng ghi âm với hãng Island Records. Album đầu tay có tên gọi Handwritten (Viết tay) nhảy lên hạng 1 Bảng xếp hạng Billboard nhờ các đĩa đơn ăn khách như Stiches, Life of the Party. Ca khúc Stiches có lượng người xem trên 1 tỷ lượt trên kênh Youtube, tương tự như bản nhạc song ca với tình cũ, Camila Cabello, Senorita. Ca khúc Treat You Better cũng thành công ngoài sức tưởng tượng với 2 tỷ lượt xem trên kênh Youtube.

Âm nhạc của Shawn Mendes chịu ảnh hưởng rõ nét của những ngôi sao pop/rock, folk như John Mayer, Ed Sheeran, Taylor Swift. Đến thời điểm 2022, anh đã ra mắt được bốn album phòng thu. Không quá ngạc nhiên khi Shawn chuẩn bị cho ra mắt album thứ 5. Anh khát khao trở thành ngôi sao nhạc pop vĩ đại nhất.

Hành trình trở nên ngôi sao nhạc pop vĩ đại

Giống như các thần tượng, Shawn Mendes không những trình diễn tốt mà còn có khả năng sáng tác nhạc. Từ một thiếu niên bắt chước thần tượng, giờ đây tiếng tăm của Shawn Mendes ngang ngửa với Justin Bieber. Trước đây, cách thức tiếp cận của Shawn khá thông minh nhưng lại hơi cực đoan. Ekip sản xuất khuyến khích fan hâm mộ mua sản phẩm âm nhạc để gặp ngôi sao ca nhạc ngoài đời thực. Họ muốn khán giả đổ đến xem anh biểu diễn ở địa điểm nhiệt đới nóng bỏng. Shawn tìm cách “bán” sự nguyên bản và ngoại hình ưa nhìn của mình như dấu ấn âm nhạc. Anh mặc vest, hoặc cởi trần, làm đại sứ thương hiệu đồ lót của Calvin Klein. Xét tổng quan, Shawn tạo dựng một hình mẫu ngôi sao nhạc pop lịch lãm, quyến rũ đến hoàn hảo.

Tuy nhiên, việc nổi tiếng quá sớm tạo cho anh những áp lực nghẹt thở của ánh đèn sân khấu. Sự nghiệp trải hoa hồng cho anh lại hé lộ những chông gai thử thách phía trước. Shawn sớm nhận thấy thành công của những bản hit lừng lẫy không đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp. “Tất cả những lời khen có thể biến thành con quái vật gặm nhấm sự tự tin của tôi. Nếu ai đó nói rằng họ không thích âm nhạc của tôi, có lẽ tôi sẽ cảm thấy mình không còn giá trị nữa”.

Chính vì thế, Shawn bước ra khỏi vùng an toàn teen pop nhờ ca khúc hơi hướng rock, mạnh mẽ In my blood.Anh chứng tỏ mình có thể trở thànhKing of Leonthay vì folk-pop nhẹ nhàng, dễ nghe của Taylor Swift. Bản hit nổi trội này trích trong album cùng tên năm 2018 mang tên Shawn Mendes. In my blood đề cập tới sự chiến đấu với nỗ lo âu, sự căng thẳng của giới trẻ. Ca khúc rất được ưa chuộng trên sóng phát thanh và mang về cho Shawn đề cử Grammy cho Ca khúc của năm. Album phòng thu thứ ba này cũng xuất sắc với nhiều bản hit nổi trội, âm nhạc có chiều sâu hơn hẳn hai album trước đó. Bản nhạc Falling all in you tạo được thiện cảm tốt với công chúng nhờ giai điệu trữ tình theo phong cách folk-pop.

Anh sở hữu kho năng lượng dồi dào trong việc sản xuất âm nhạc. Chỉ 2 năm sau, Shawn ra mắt album phòng thu thứ 4, Wonder (Điều kỳ diệu). Trong album này, anh sản xuất và sáng tác gần như toàn bộ các ca khúc trong album. Ít người biết rằng thành công rực rỡ của ba album trước đó khiến cho Shawn trục trặc tâm lý. Trong khi sản xuất album Wonder, anh không thể hát trong 1 tháng do rơi vào trạng thái quá lo lắng. Âm nhạc của album thứ 4 rất đa dạng âm thanh của pop, với nhiều ballad mạnh mẽ, giai điệu mạnh của bass như nhạc hộp đêm như Wonder, Dream, Look Up the Stars.

Tuy nhiên, album không thành công về thương mại như các album trước đó. Các tạp chí âm nhạc uy tín cho rằng anh có giọng hát tốt nhưng hay cường điệu quá những đoạn rung hay giọng giả. Nội dung xoáy vào vấn đề xã hội hiện đại như trầm cảm, áp lực của mạng xã hội, nhưng cá tính âm nhạc của Shawn bị nhạt nhòa. Âm nhạc trong album lãng mạn như tâm trạng đang yêu, mộng mơ hơn là sự phức tạp của cảm xúc trái chiều khi tâm lý khi căng thẳng.

Những dự án tiếp theo

Shawn đang triển khai dự án mới, album phòng thu thứ năm mà anh mô tả như ngã rẽ một phần tư cuộc đời. Anh làm việc với nhà sản xuất Mike Sabath (người đứng sau thành công của Meghan Trainor). Đồng thời, Shawn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ Paul Simon đến Coldplay, những nhạc sỹ không chịu bó hẹp trong khuôn khổ. Anh đang có thay đổi nhất định về tư duy âm nhạc. Giờ đây, ngôi sao nhạc pop này muốn bán cá tính âm nhạc của mình, thay vì sản phẩm âm nhạc dễ nghe, đóng khung với hình ảnh lãng tử. Do đó, anh phải làm quen với áp lực không nhỏ của giới phê bình và chỉ trích của công luận.

Là người cầu toàn, Shawn khá nhạy cảm với lời chỉ trích. Nhiều nhà phê bình cho rằng âm nhạc của Shawn nhạt nhòa và mô phỏng công thức lặp lại. Đối với dư luận, họ cho rằng mối quan hệ tình cảm với nữ ca sỹ gốc Cuba Camila Cabello là giả tạo, để khuyếch trương sự nghiệp hai bên. Những lời nhận xét thẳng thừng khiến cho ngôi sao ca nhạc bị tổn thương sâu sắc. Về chuyện đổ vỡ tình cảm, anh cũng sớm bộc bạch trong đĩa đơn mới It’ll be Okay. Lời ca bài hát "We don't have to stay / I will love you either way / It'll be OK" (Chúng ta không cần ở lại / Anh sẽ yêu em theo cách khác, sẽ ổn thôi).

Shawn Mendes có tham vọng muốn chinh phục cả thế giới, khiến tất cả đều yêu mến anh. Anh hội tụ đầy đủ yếu tố trở thành ngôi sao nhạc pop vĩ đại. Tham vọng của tuổi trẻ chắc chắn giúp Shawn có nhiều cơ hội hơn, các album ăn khách hơn và nhiều tour diễn hơn nữa.

(Theo Billboard, The Guardian, Wikipedia)



viethoaiphuong
#705 Posted : Friday, April 29, 2022 7:53:54 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Danh họa Picasso trong tầm ngắm của cảnh sát nhập cư Pháp

29/04/2022 - Thanh Hà / RFI
Pablo Picasso ngày nay là một tượng đài văn hóa, là niềm tự hào của nước Pháp. Trong gần nửa thế kỷ, ông bị coi là kẻ ăn nhờ ở đậu, là « phần tử nước ngoài nguy hiểm ». Đã là người ngoại quốc lại có ngôn ngữ nghệ thuật « xa lạ » với viện Hàn Lâm Mỹ Thuật Paris, đến cuối thập niên 1940 các phòng triển lãm và bảo tàng Pháp vẫn khóa chặt cửa với tranh của Picasso cho dù ông đã rất nổi tiếng.

Bất kỳ một thành phố nào trên đất Pháp giờ đây cũng có một con đường hay trường học mang tên danh họa Tây Ban Nha. Paris có cả một trạm métro Pablo Picasso. Bảo tàng Picasso ngay giữa lòng thủ đô đã hoạt động từ gần 40 năm nay. Hiếm ai biết rằng thiếu chút, người ta đã không thể viết nên những trang sử đẹp giữa tác giả của Guernica hay Người Đàn Bà Khóc, Những cô gái Avignon với nước Pháp. Họa sĩ này đã làm nên tội tình gì để bị cảnh sát nhập cư của Pháp theo dõi, bị xếp vào diện « đối tượng nước ngoài nguy hiểm » và bị từ chối khi Pablo Picasso xin gia nhập quốc tịch Pháp ?

Pháp và Picasso : duyên–nợ

Pablo Picasso (1881-1973) sinh ra tại thành phố Malaga, miền nam Tây Ban Nha. Ông đã dừng lại Madrid và Barcelona trước khi chọn Paris là nhà, là nơi lập nghiệp, là xưởng sáng tác. Năm 1900, Pablo Ruiz Picasso 19 tuổi đầu, để lại sau lưng gia đình và cả một con đường sự nghiệp rộng thênh thang để tìm đến kinh đô ánh sáng.

Paris là một « mê hồn trận » với muôn vàn ngõ ngách mà phải mất hàng chục năm ông mới « tìm được lối ra ». Năm 1901 lần thứ nhì sang Pháp, trong vỏn vẹn vài tuần lễ Pablo Picasso sáng tác hơn 60 bức tranh để kịp dự một cuộc triển lãm. Một năm sau ông trở lại kinh đô ánh sáng cùng với một vài người bạn nghệ sĩ từ vùng Catalunya. Không tiền, họ lang thang từ phòng trọ tồi tàn này đến khách sạn bẩn thỉu khác. Đó là thời gian những nét cọ của Picasso « nặng trĩu nỗi buồn u ám ». Ông đưa vào hội họa hình ảnh những người ăn mày, những cô gái điếm … những góc khuất của kinh đô ánh sáng Paris.

1904 họa sĩ Tây Ban Nha quyết định không bao giờ rời xa nước Pháp. Đó là thời điểm Paris là chốn nương thân của những nghệ sĩ của thế giới bị truy bức. Pablo Ruiz Picasso là một ngoại lệ : ông không là một người tị nạn chính trị, không đến Paris với mục đích tha phương cầu thực. Nhưng ông biết Paris là người bạn đồng hành đưa ông đi rất xa trên con đường nghệ thuật, là « nơi duy nhất trên thế gian xứng đáng để sống » như chính Pablo Picasso đã thổ lộ.

Dù không một đồng xu dính túi, không biết tiếng và hoàn toàn không hiểu biết gì về xã hội Pháp, Pablo Ruiz Picasso vẫn quyết định ở lại Paris, dù đấy là tình yêu một chiều.

Tranh của ông bị giới hàn lâm khinh rẻ, ngôn ngữ hội họa của Picasso quá « xa lạ » với quan niệm về mỹ thuật của Pháp. Tệ hơn nữa, đến năm 1940 vì thời cuộc, khi xin gia nhập quốc tích Pháp, Pablo Picasso phát hiện cảnh sát quản lý người nhập cư tại Pháp đã liên tục theo dõi ông suốt bốn thập niên và đã vin vào những tác phẩm của ông để chụp mũ Picasso là một kẻ « nổi loạn », là phần tử « nguy hiểm ».

Nhà sử học Annie Cohen Salal, nói về hai bức tường thành kiên cố mà họa sĩ Pablo Picasso đã phải vất vả vượt qua trong nửa đầu thế kỷ XX. Căn cứ vào những tư liệu của bên cảnh sát, năm 2021 Annie Cohen Salal ra mắt độc giả cuốn Un Etranger Nommé Picasso – Phần tử nước ngoài mang tên Picasso, NXB Fayard. Bà cũng là người điều hành triển lãm tại Bảo Tàng Quốc Gia về Lịch Sử Nhập Cư, Porte Dorée Paris vừa kết thúc. Triển lãm mang nhan đề Picasso l’Etranger. Chữ étranger ở đây có thể hiểu danh họa Tây Ban Nha là người ngoại quốc, mà cũng có thể là « kẻ xa lạ ».

Annie Cohen Salal : « Picasso phải đương đầu với hai định chế đồ sộ, đó là Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật-Académie des Beaux Arts và bên cảnh sát quản lý người nước ngoài. Người ta gán cho ông ba nhãn hiệu : một là « đối tượng người nước ngoài ». Do là « người nước ngoài » lại nương tựa vào cộng đồng người vùng Catalunya –Tây Ban Nha định cư tại Pháp ở khu Montmartre và trong cộng đồng đó có một phần tử « vô chính phủ » thành thử sở di trú xếp Picasso vào danh sách những « phần tử vô chính phủ » dù là không có bằng chứng và điều đó hoàn toàn sai. Tì vết thứ ba đè nặng lên họa sĩ này do Viện Hàn Lâm Mỹ Thuật xem Picasso là một nghệ sĩ « theo chủ nghĩa tiền phong » tức là có tinh thần nổi loạn. Với ba « bản án » đó Pablo Picasso bị coi là một đối tượng nguy hiểm và vì thế ông bị theo dõi chặt chẽ. Tuy nhiên Picasso đã rất khéo léo tìm một chỗ đứng trong cái không gian tự do hạn hẹp đó. Không chỉ là một danh họa của thế giới mà còn tìm được những kẽ hở trong xã hội rất khắt khe của Pháp thời bấy giờ, để xây dựng cả một cơ đồ ».

Picasso bị cảnh sát theo dõi

Như đã nói, những năm tháng đầu tiên trên đất Pháp, Pablo Picasso sống cùng với các đồng hương vùng Catalunya ở khu bình dân Montmartre. Không nói và biết tiếng Pháp, ông đọc báo bằng tiếng Tây Ban Nha. Trong quá trình nghiên cứu nhà sử học Annie Cohen Salal tìm thấy một báo cáo mà tác giả là « ông cò » Rouquier viết về Pablo Picasso từ năm 1901 như sau :

« Đối tượng về khuya, nhận báo tiếng nước ngoài, một thứ tiếng mà chúng ta không đọc được. Hắn nói gì, mọi người gần như không hiểu. Tranh hắn vẽ những người đàn bà ăn xin, gái điếm (...) Hắn ở trọ nhà một đồng hương tên là Manach, một phần tử vô chính phủ. Vậy là Picasso chia sẻ ý tưởng của Manach. Do vậy hoàn toàn có lý do chính đáng nghi ngờ Picasso cũng thuộc thành phần vô chính phủ ».

Không cần đưa ra thêm nhiều chứng cớ, tài liệu này là một « bản án » và hồ sơ đó được lưu trữ tại Phòng quản lý người nước ngoài, trụ sở cảnh sát ở Quận 4–Paris. Tập các-tông mang số 74.664 liên quan đến Pablo Ruiz Picasso đã ngủ yên bên cạnh 2,5 triệu hồ sơ của người nước ngoài cho đến ngày 03/04/1940 khi danh họa Pablo Picasso đệ đơn lên bộ Tư Pháp xin nhập quốc tịch.

Cần nói thêm là ở thời điểm năm 1940 Đức Quốc Xã xâm chiếm Pháp, và từ trước đó đã là điểm tựa của chế độ độc tài Franco bên Tây Ban Nha. Là một họa sĩ dấn thân, Picasso ý thức được rằng nếu bị trục xuất, chỉ nội tác phẩm phản chiến Guernica sáng tác năm 1937 cũng đủ để ông lãnh án tử hình. Do vậy ông cần vào quốc tịch Pháp để được bảo đảm là không bị trục xuất về Tây Ban Nha.

Picasso đã ngỡ ngàng khi đơn xin nhập quốc tịch của ông bị từ chối và càng ngỡ ngàng hơn nữa khi được biết báo cáo Rouquier 39 năm trước là bản án treo theo đuổi Pablo Picasso trong suốt thời gian ông sống và sáng tác trên đất Pháp, dù không một lần phạm tội.

Annie Cohen Salal : « Pablo Picasso nhớ rõ là cứ hai năm một lần ông phải trình diện cảnh sát để gia hạn thẻ cư trú và mỗi lần dọn nhà, đổi địa chỉ phải khai báo ngay lập tức. Nhỡ có quên, thì Picasso được nhắc nhở ngay. Khi đi nghỉ ở thành phố Royan tháng 9 năm 1939 ông được cảnh sát thành phố « mời lên nói chuyện » và chỉ khi đó mới được giấy phép để đi lại trong thành phố này. Trong vụ hồi năm 1911, cùng với thi sĩ Apollinaire, cũng người nước ngoài mua nhầm một pho tượng bị ăn cắp, đã khiến cả hai đều hết sức lo lắng là họ sẽ bị trục xuất khỏi nước Pháp. Picasso ý thức được rằng ông bị theo dõi chặt chẽ như thế nào và đó là một nhược điểm lớn đe dọa toàn bộ cuộc sống cá nhân và sự nghiệp của ông. Tuy vậy Picasso không bao giờ để lộ mối lo đó. Ông cũng chẳng than thở với bất kỳ một ai và cần nhấn mạnh rằng trong cuộc đọ sức với bên cảnh sát di trú, Picasso chưa bao giờ tự coi mình là nhân ».

Hai vết thương lớn, một tấm lòng chung thủy

Pháp từ chối quy chế công dân với danh họa Pablo Picasso vào thời điểm tên tuổi của ông đã nổi lên như cồn. Ngoại trừ trên đất Pháp, các nhà phê bình nghệ thuật từ những thập niên 20 đã trông thấy Picasso là một cây đại thụ của thế giới. Vậy mà đến tận năm 1949 trên toàn nước Pháp vẫn mới chỉ có hai tác phẩm với chữ kỹ Pablo Picasso được trưng bày cho công chúng.

Annie Cohen Salal : « Những tác phẩm lập thể của Pablo Picasso đã được bán ở khắp các thủ đô của châu Âu, nhất là bên đông Âu, từ Áo cho đến Hungary hay Nga. Trong khi đó tại Pháp, mọi cặp mắt đều hướng về trường phái mỹ thuật của Pháp thừa hưởng từ thời vua Louis XIV. Bước sang Thế Chiến Thứ Hai, Picasso vẽ rất nhiều bức tranh siêu thực và không ít trong số ấy đã đến được New York qua trung gian giám đốc Bảo Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại MoMa. Đó cũng là thời điểm Pablo Picasso đã rất nổi tiếng. Ông được xem là một họa sĩ lớn của thế giới của thế kỷ XX, là một cây đại thụ của phong trào tiền phong tại châu Âu, trong suốt giai đoạn từ những năm 1900 cho đến 1940. Điều kỳ lạ ở đây là Pháp hoàn toàn « lệch pha » với phần còn lại của thế giới về vị trí của Picasso trên bầu trời nghệ thuật. Mãi đến năm 1947, thời điểm Pablo Picasso hiến cả trăm tác phẩm cho các viện bảo tàng quốc gia Pháp, mọi người mới có một cái nhìn khác về Picasso. Khi nhận cả trăm tác phẩm của Picasso cống hiến cho nước Pháp, Jean Salles, giám đốc toàn bộ các viện bảo tàng quốc gia đã có câu nói để đời ‘Hôm nay là ngày khép lại cuộc ly hôn giữa Nhà nước Pháp và một thiên tài’ ».

Vết thương không lành

Tránh được đổ vỡ nhưng Pablo Picasso không bao giờ tha thứ.

Annie Cohen Salal : « Có một cái gì đó rất đặc biệt giữa người nghệ sĩ này và tình yêu ông dành cho nước Pháp. Đây là nơi ông chọn để lập nghiệp, là tổ ấm. Pháp là mái nhà của gia đình Picasso và ông đã sống tại đây suốt cuộc đời còn lạị. Nhưng Pablo Picasso đã quay lưng lại với Paris và ông muốn công luận hiểu được điều đó. Năm 1955 ông định cư tại miền nam nước Pháp để không bao giờ quay gót về kinh đô ánh sáng nữa. Pablo Picasso tung hoành và làm tỏa sáng khung trời nghệ thuật của vùng Địa Trung Hải. Ông đã đổi mới cách nhìn về cái gọi là quốc tịch, về mối giao lưu giữa các nền văn hóa ».

Pablo Picasso từ chối vinh hạnh được chính phủ Pháp trao tặng Bắc Đẩu Bội Tinh. Ông cũng đã khước từ nhã ý của Nhà nước Pháp mời ông trở thành công dân Pháp để chỉ hài lòng với quy chế của một « công dân ưu đãi -citoyen privilégié » mà một vài thị trấn ở miền nam, rất xa Paris dành tặng cho ông.

Là họa sĩ đầu tiên được bảo tàng Louvre Paris tổ chức triển lãm tranh của ông khi còn sinh thời, Pablo Picasso đã vắng mặt trong buổi khai trương sự kiện với sự tham gia của đông đảo các quan chức nhà nước và giới chức sắc trong làng nghệ thuật.

Một câu trả lời muộn

Pablo Picasso từ giữa thập niên 1950 về ở hẳn miền nam nước Pháp. Ông đã qua đời tại Mougins năm 1973 ở tuổi 90.

Đầu thể kỷ XX, Pablo Ruiz Picasso đã mơ, mơ rất nhiều về nước Pháp trước khi phải đối mặt với thực tế. Mối quan hệ phức tạp của họa sĩ Pablo Picasso với xã hội Pháp khi xưa có thể cũng là thân phận những người nhập cư của ngày hôm nay. Trong số những người chân ướt chân ráo vừa đến Pháp giờ đây, có bao nhiêu người tài hoa, có bao nhiêu kẻ si tình đủ kiên nhẫn và độ lượng để vượt lên trên những định kiến như Picasso hơn 100 năm về trước ? Tấm gương của Pablo Picasso năm nào liệu có đủ sáng để thi thoảng đạp đổ những thành kiến về « người nước ngòai » ở bất cứ xã hội nào hay không ?


viethoaiphuong
#706 Posted : Monday, May 2, 2022 7:34:17 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Nữ nghệ sĩ Pháp Régine qua đời ở tuổi 92

02/05/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Thời còn sống, nghệ sĩ Pháp Régine tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn hát trên sân khấu. Lúc ấy bà đã từng nói đùa: Sức khỏe bà còn tốt có lẽ là do nhiều năm đi nhảy với giày cao gót Bà cũng đã ước gì được sống tới hơn 100 tuổi. Nhưng định mệnh lại không an bài như vậy. Theo tin từ gia đình, do tuổi già sức yếu, nghệ sĩ Pháp Régine đã vĩnh viễn ra đi hôm 01/05/2022 tại tư gia ở vùng ngoại ô Paris, hưởng thọ 92 tuổi.

Nhắc tới Régine, công chúng Pháp đầu tiên nghĩ tới một ca sĩ và đồng thời một phụ nữ có óc kinh doanh. Régine là một trong những gương mặt đầu tiên ở Pháp từ những năm 1950 lao vào khai thác các vũ trường (dancing) và hộp đêm (night club), theo mô hình của Mỹ. Vào những năm 1980, Régine điều hành hơn 20 hộp đêm tại 10 thành phố lớn trên thế giới. Chính với cuộc sống về đêm mà Régine đã có cơ hội mở rộng quan hệ của mình với tất cả các nhân vật quan trọng của làng giải trí (showbiz) hay giới văn nghệ sĩ. Từ chỗ quen biết ấy, nhiều ngòi bút nổi tiếng đã sáng tác nhạc cho Régine. Sự nghiệp ca hát của bà bắt đầu từ năm 1966 và kết thúc vào năm 2019 với bộ toàn tập nhân dịp Régine mừng sinh nhật 90 tuổi.

Nghị lực xuất phát từ tuổi thơ bất hạnh

Vấp ngã nhiều lần nhưng lúc nào cũng tự đứng lên mà không phàn nàn, đó chính là cá tính của Régine, một phụ nữ nổi tiếng có bản lĩnh, luôn nói thật dù có làm mất lòng. Nghị lực phi thường ấy xuất phát từ thời thơ ấu kém may mắn : Régine bị cha bạc đãi, mẹ bỏ rơi. Bà không phải là trẻ mồ côi nhưng lại phải trải qua cảnh thiếu thốn nghèo đói.

Sinh năm 1929 tại Anderlecht, Bỉ, Régine xuất thân từ một gia đình người nhập cư Ba Lan gốc Do Thái. Thân phụ của bà, ông Joseph Zylberberg, nghiện cờ bạc khiến cho gia đình tan nát, tài sản không còn. Mẹ của Régine bỏ nhà ra đi, Régine lúc ấy mới 4 tuổi cùng với đứa em trai nhỏ (Maurice) buộc phải rời nước Bỉ sang Paris, ở nhờ nơi một gia đình người thân, làm việc trong ngành dệt may.

Khi Chiến tranh Thế giới Thứ nhì bùng nổ vào năm 1939, Régine lúc ấy chỉ mới 10 tuổi buộc phải đổi tên họ để tránh bị lưu đày. Do là người gốc Do Thái, mà lại không có cha mẹ nâng đỡ, Régine được đưa vào trong một tu viện ở Aix en Provence, bà thoát nạn nhờ sự che chở của các nữ tu Công giáo, luôn giấu kín danh tính của bà cũng như một số trẻ Do Thái khác. Trên giấy tờ khai sinh, Régine ban đầu mang quốc tịch Ba Lan dù ra đời ở Bỉ, trong những năm tháng đầu đời bà lại sống một kẻ ''vô gia đình'' như trong tiểu thuyết của Hector Malot. Mãi tới năm 1969, Régine, lúc ấy đã trở nên nổi tiếng trong giới showbiz, mới nhập tịch Pháp năm bà 40 tuổi.

Từ khi còn nhỏ, Régine đã nuôi giấc mơ danh vọng, trở thành một nhân vật nổi tiếng, để không còn phải sống cảnh nợ nần nghèo túng như thời của cha mình. Thời hậu chiến, khi Paris đang trong giai đoạn tái thiết, bà bắt đầu làm việc trong các quán cà phê. Tính tổng cộng, bà chỉ được đi học 6 năm ở trường lớp. Nhưng Régine lại thành công nhờ học hỏi nhiều kinh nghiệm ở trường đời. Trong quyển hồi ký do nhà xuất bản Robert Laffont phát hành, đề tựa ''Hãy gọi tôi bằng cái tên Régine'' (Appelez-moi par Mon nom), bà ghi nhận rằng trong thời chiến, đầu óc con nít lại càng phải lớn nhanh khi tứ bề hiểm nguy rình rập.

Thoát nạn, Régine đi làm từ năm 15 tuổi để kiếm sống. Cho dù đồng lương không có bao nhiêu, nhưng khi để dành được một chút tiền, Régine mua vé đi xem chiếu phim hay đi xem các thần tượng của mình là Édith Piaf, Yves Montand hoặc Charles Trenet. Vào ban đêm, Régine rất thích đi nghe nhạc jazz hay mang giày cao gót để nhảy điệu bebop trong các quán rượu ở dưới tầng hầm. Lập gia đình và sinh con trai đầu lòng vào năm 19 tuổi, Régine sau đó lại ly hôn và chọn nuôi con một mình, vì bà không muốn phụ thuộc vào bất cứ ai, nhất là đàn ông.

Từ vai trò tiên phong đến ''Nữ hoàng của màn đêm''

Thập niên 1950 đánh dấu thời kỳ cất cánh trong sự nghiệp của Régine. Bà nhận lời quản lý vũ trường ''Whisky à Gogo'', gọi là điều hành nhưng thật ra bà một mình làm đủ mọi công việc do không có tiền để mướn nhân viên, kể cả rửa chén hay quét dọn. Nhưng vũ trường này lại là nơi bà mở rộng quan hệ giao thiệp, từ nhà văn Françoise Sagan cho tới ca sĩ Sacha Distel, hay đạo diễn Louis Malle. Thế nhưng, nhân vật quan trọng nhất là nhà ''triệu phú'' Porfirio Rubirosa. Nhờ sự tư vấn của ông, Régine từng bước trở thành một hiện tượng của làng giải trí Paris, một nữ hoàng ngự trị trên hàng chục sàn nhảy và hộp đêm.

Được xem là một trong những gương mặt tiên phong trong lãnh vực hộp đêm, Régine luôn tìm kiếm những xu hướng mới để du nhập vào Pháp. Bà thích nghe điệu swing và jazz, nhưng lại giúp cho hai điệu nhảy Twist (năm 1961) và Cha-cha-cha (năm 1963) trở nên phổ biến tại Pháp. Régine cũng trở thành một trong những tay hòa nhạc DeeJay đầu tiên trong các hộp đêm. Danh ca Hervé Vilard trước khi thành danh nhờ ca hát cũng đã bắt chước Régine, làm DeeJay trong hộp đêm Bus Palladium, gần phố Montmartre. Régine đã du nhập vào Pháp hộp đêm với quả cầu bạc và muôn ánh đèn nhấp nháy trên sàn nhảy. Ở tuổi 36 (năm 1965), Régine thành công với nhiều hộp đêm như ''Chez Régine'' ở phố Saint-Germain des Prés, sau đó là ''New Jimmy's. Ngoài chuyện kinh doanh, Régine còn bắt đầu ghi âm và thường xuyên đi hát trên đài truyền hình.

Với sự giúp đỡ của người em trai, Régine đàm phán về các điều kiện hợp đồng, khai thác tên mình như một thương hiệu. Sau khi thành công với ''Regine's'', gần đại lộ Champs-Élysées tại Paris vào năm 1973, khoảng 20 hộp đêm cùng tên khác đã được khai trương tại nhiều thành phố trên thế giới dành cho thành phần jet-set, giới ăn chơi có tiền tại New York hay Miami ở Mỹ, Montréal ở Canada, Rio de Janeiro và São Paulo ở Brazil, Genève ở Thụy Sĩ, Marbella ở Tây Ban Nha, Dusseldorf ở Đức, Cairo ở Ấn Độ, Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ, sòng bài ở Monte-Carlo, còn tại Pháp thì có Deauville, Saint Tropez sau Paris. Thời hoàng kim, Régine ngự trị trên ba châu lục, cũng từ đó bà được mệnh danh là ''Nữ hoàng của màn đêm'' .....

Từ đầu thập niên 70 trở đi và trong vòng 30 năm liền, Régine quen biết hầu như tất cả các nhân vật quan trọng trong làng nghệ thuật và giải trí. Bà từng nhảy tango với vua hề Charlie Chaplin, cụng ly với Mick Jagger, tổ chức nhiều tiệc riêng cho gia đình nhà triệu phú Rothschild. Régine cũng thường tổ chức các ''bữa ăn tối'' quy tụ những ngôi sao Hollywood như Ava Gardner hay Marlene Dietrich, các nhà thiết kế trứ danh như Yves Saint Laurent hay Paco Rabanne, ngôi sao múa ballet như Rudolf Nureev, thần tượng điện ảnh như Delon hay Belmondo, ca nhạc như Aznavour và Gainsbourg.

Hình ảnh của Régine trong mắt công chúng

Về mặt tài chính, Régine tuyên bố bà gặt hái thành công trong cả hai lãnh vực kinh doanh cũng như nghệ thuật là nhờ vào sức chịu đựng bền bỉ và tinh thần làm việc không ngại khó khăn. Đằng sau sự nghiệp khá dài của Régine (như bà đã từng thổ lộ trong quyển hồi ký), không có sự giúp đỡ nào từ phía bên ngoài hoặc sự hào phóng của nhà một tỷ phú, chỉ có mồ hôi và nước mắt của chính bản thân bà.

Sau nhiều năm thành công, thương hiệu ''Regine's'' bắt đầu lu mờ. Mô hình kinh doanh này trước kia bội thu, đến cuối những năm 1990 lại bị thua lỗ. Việc đóng cửa ''Le Palace'' vào năm 1996, do Régine quản lý, khiến cho mảng kinh doanh hộp đêm bị lung lay. Mãi tới năm 2004, Régine ở tuổi 74 tuyên bố công ty của bà bị phá sản. Nữ hoàng của màn đêm từ lúc bấy giờ đã đánh mất ngai vàng. Đó cũng là thời điểm bà nối lại với ca hát, sau nhiều lần vấp ngã, bà vẫn đứng dậy và tìm cách trở lại trên sàn diễn.

Tại Pháp, có một số thành phần trong công chúng vẫn trung thành với ca sĩ Régine. Những gì bà để lại trong lòng giới hâm mộ chính là những bài hát mà bà ghi âm từ những năm 1965-1966 cho tới năm 2009. Những ca khúc giống như những tiết mục được viết cho sân khấu nhạc kịch : ''La Grande Zoa'', ''Les P'tits Papiers '', ''Azzuro'', ''Patchouli Chinchilla'', ''Reine de la Nuit''. Với gần 300 ca khúc ghi âm cho khoảng 20 album, Régine đã trình bày nhiều tác giả Pháp quan trọng như Gainsbourg, Barbara, Dabadie hay Aznavour. Các nhà văn như Françoise Sagan hay Patrick Modiano do mến mộ bà đã từng sáng tác cho Régine.

Lần cuối cùng đi hát trên sân khấu, Régine đã xuất hiện tại nhà hát Folies Bergère ở Paris vào năm 2016. Ở tuổi 87, Régine vẫn mặc trang phục nhung huyền và đi giày cao gót. Bà kể lại câu chuyện của mình, một người thường hát những lời lẽ dí dỏm hài hước như để tạm quên đi số phận bi đát. Trên sân khấu cũng như ở ngoài đời, Régine càng giống như nhân vật tiểu thuyết, chỉ trong một đời người mà tưởng chừng đã sống muôn kiếp.


viethoaiphuong
#707 Posted : Wednesday, May 4, 2022 6:11:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

10 năm ngày giỗ của danh ca Pháp Éric Charden

30/04/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Nhạc phẩm mở đầu chương trình Góc vườn âm nhạc của RFI tuần này chính là bài ''Le monde est gris le monde est bleu'' (tạm dịch là Thế giới đổi màu), một giai điệu từng ăn khách trước đây qua phần trình bày của Éric Charden. Bản nhạc này được chọn vì năm nay đánh dấu đúng 10 năm ngày giỗ của ca sĩ kiêm tác giả. Eric Charden qua đời vì bạo bệnh vào ngày 29/04 năm 2012 dù chưa tròn 70 tuổi.

Nhắc lại những kỷ niệm với người bạn đồng hành quá cố (Stone và Charden cũng từng kết hôn và sống chung với nhau từ năm 1966 đến 1974), Annie Gautrat, với nghệ danh là Stone, cho biết là trước khi thành lập ban song ca phỏng theo mô hình cặp vợ chồng nghệ sĩ người Mỹ Sonny & Cher, Annie Stone cũng như Éric Charden thật ra đều đã có sự nghiệp ca hát riêng. Éric Charden bắt đầu ghi âm từ năm 1962 và từng thành công vào năm 1966 với bài ''Le monde est gris le monde est bleu'', nhờ vào sự dìu dắt của nhà sản xuất Pierre Bourgeois. Cùng với Monty, Charden trở thành tác giả chuyên viết nhạc cho các thần tượng nhạc trẻ Pháp những năm 1960. Stone và Charden lập ra ban song ca, ban đầu là để cùng đứng chung sân khấu và sau đó cùng đi lưu diễn với nhau, bản thân hai nghệ sĩ này cũng không ngờ rằng những bản song ca được ghi âm từ năm 1971 trở đi lại thành công rực rỡ đến như vậy.

Tái bản album nhân 10 năm ngày giỗ của Éric Charden

Riêng về nhạc phẩm ''L'avventura'', hai nghệ sĩ Stone & Charden đã ghi âm khá nhiều phiên bản khác nhau, gần đây nhất là cách nay vừa đúng 10 năm trên tuyển tập ''Made in France''. Album song ca này được phát hành đầu năm 2012, chỉ vài tuần trước khi tác giả Éric Charden từ trần vì không qua khỏi bệnh ung thư. Ngoài những bài hát quen thuộc của mình, Stone & Charden chủ yếu ghi âm lại những bản song ca tiếng Pháp từng ăn khách những thập niên trước đó như ''J'ai un problème'' của Sylvie Vartan và Johnny Hallyday, ''Les Gondoles à Venise'' của Sheila và Ringo hoặc tình khúc cực kỳ nổi tiếng ''Paroles Paroles'' của Dalida và Alain Delon, thời hai nghệ sĩ mới quen nhau trong những năm đầu mới vào nghề. Khi gặp lại nhau vào năm 1973 để ghi âm bài hát, cả hai nghệ sĩ Dalida và Delon tuy đã trở nên cực kỳ nổi tiếng trong lãnh vực riêng của họ (ca nhạc / điện ảnh), nhưng hai người vẫn chưa quên bao kỷ niệm của thuở khó khăn ban đầu.

Trên tuyển tập ''Made in France'' vừa được tái bản song song với chương trình tưởng niệm trên kênh truyền hình Melody, Stone và Charden cũng đã hát lại nhạc phẩm ''Dieu est un fumeur de havanes'' do Catherine Deneuve ghi âm với Serge Gainsbourg. Bản nhạc đánh dấu sự hội ngộ của Deneuve và Gainsbourg nhân dịp đóng phim với nhau (trong tác phẩm điện ảnh ''Je vous aime'' của Claude Berri, quy tụ nhiều diễn viên sáng giá thời bấy giờ như Depardieu và Trintignant). Trong bộ phim tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Catherine Deneuve (''La Reine Catherine'' được chiếu trong tháng này trên kênh truyền hình France 3), thành công của bản nhạc này thay vì mở ra một quan hệ hợp tác dài lâu giữa hai nghệ sĩ lại bị đoạn tuyệt do tác giả Gainsbourg đã có những lời lẽ bất cẩn, đối với người bạn diễn là ngôi sao màn bạc Pháp Catherine Deneuve.

Album đầu tiên của Stone & Charden tròn 50 tuổi

Thành công của nhạc phẩm ''L'avventura'' (Lãng Du) mở ra một giai đoạn cực thịnh cho ban song ca Stone & Charden. Theo lời của Annie Stone, chỉ trong vòng 20 năm từ năm 1971 đến 1991, ban song ca này đã bán hơn 30 triệu đĩa hát. Chỉ riêng nhạc phẩm ''L'avventura'' (Lãng Du) đã lập kỷ lục số bán với hơn ba triệu bản. Cho dù hai vợ chồng nghệ sĩ buộc phải chia tay nhau trong đời tư cũng như trên sân khấu, nhưng sau một thập niên, họ lại tái hợp vào đầu những năm 1990 để cùng nhau đi biểu diễn những bản nhạc từng làm nên tên tuổi của họ.

Năm 2022 không chỉ là dịp để kỷ niệm 10 năm ngày giỗ của Eric Charden mà còn đánh dấu đúng 50 năm ngày phát hành album đầu tay với chủ đề ''L'avventura'' của Stone & Charden. Nhân dịp này, hình bìa các album gốc (chủ yếu là các đĩa nhựa 33 vòng) của ban song ca được trưng bày tại viện bảo tàng âm nhạc đại chúng Musée des Musiques Populaires gọi tắt là MuPop tại thành phố Montluçon. Nằm ở vùng Allier, miền trung nước Pháp, cách thủ đô Paris khoảng 300 cây số, bảo tàng MuPop chuyên sưu tầm các hiện vật, băng đĩa chính gốc, video phim ảnh, nhạc cụ hay trang phục sân khấu liên quan đến các nghệ sĩ chuyên hát nhạc nhẹ hoặc xuất thân từ dòng nhạc phổ thông. Toàn bộ băng đĩa gốc của ban song ca Stone và Charden bổ sung cho một bộ sưu tập gồm hơn 5.000 hiện vật được luân phiên trưng bày.

Dòng nhạc của Stone & Charden từng đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Việt, nhạc phẩm ''L'avventura'' có nhiều lời khác nhau kể cả Lãng Du (Nguyễn Duy Biên) hay Cuộc phiêu lưu (Phạm Duy), "Laisse aller la Musique" được phóng tác thành Hãy đến cùng âm nhạc, "Le prix des allumettes" được Việt hóa thành Tình mình như giá diêm. Cũng như tác giả Michel Fugain hay Alain Barrière (một số ca khúc của các tác giả này vừa được ghi âm lại làm nhạc phim), các sáng tác quan trọng nhất của Éric Charden trở nên tiêu biểu cho dòng nhạc lãng mạn của Pháp những năm 1970, trong giai đoạn cực thịnh huy hoàng.


viethoaiphuong
#708 Posted : Saturday, May 7, 2022 7:58:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

The Cranberries - Niềm tự hào rock Ireland

07/05/2022 - Gia Trình / RFI
The Cranberries là một trong những nhóm rock tiêu biểu thập niên 1990 nhờ sức hút nam châm của giọng ca chính Dolores O’Riordan. Cái chết của Dolores trong năm 2018 đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của nhóm. Album In the end sản xuất năm 2018 như lời tri ân đặc biệt tới nữ ca sỹ Dolores.

Cuộc hội ngộ của những thanh niên yêu nhạc

Ban đầu, nhóm nhạc có tên là The Cranberry Saw Us thành lập năm 1989, gồm tay guitar Noel Hogan, guitar bas Mike Hogan, tay trống Fergal Lawler và giọng ca chính Niall Quin. Khi Niall rời nhóm, ban nhạc đăng quảng cáo tìm giọng nữ thay thế. Cô gái trẻ Dolores O’Riordan ứng tuyển bằng sáng tác ca từ dựa trên bản thu demo của nhóm.

Thành viên sáng lâp là Noel Hogan nhớ lại ngày Dolores đến thử giọng : “Cô ấy quá bé nhỏ và trầm lặng, nhưng khi cất giọng hát, chất giọng đáng kinh ngạc và âm lượng to hết cỡ hơn cả thân hình cô ấy”.Cô sáng tạo nên một bản ghi âm thô mộc Linger,sau đó trở thành bản hit đầu tay. Các thành viên nhóm hoàn toàn bị chinh phục bởi tài năng của cô gái bé nhỏ.

Sau đó, nhóm đổi tên ngắn gọn hơn The Cranberries gồm những thanh niên mơn mởn ở độ tuổi 20. Những thanh niên đó làm nên chuyện lớn khi The Cranberries là nhóm nhạc Ireland đầu tiên có lượng xem trên Youtube hơn 1 tỷ lượt.

Album đầu tay mang tên Everybody Else Is Doing It, So Why Can't We? (Mọi người đều làm vậy, tại sao chúng ta không thể) ra mắt năm 1993. Ca khúc Linger do Dolores và Noel đồng sáng tác, gây được tiếng vang rộng rãi.

Tuy nhiên, phải chờ đến ca khúc phản chiến Zombie năm 1994, danh tiếng của ban nhạc mới được phất lên nhanh chóng khắp toàn cầu. Đây là bản hit xuất sắc No need to argue (Không cần tranh cãi), trích trong album phòng thu thứ hai của nhóm . Đến album thứ ba, To the Faithful Departed (1996), The Cranberries tiếp tục xoáy sâu vào đề tại chính trị, chiến tranh với những ca khúc như Bosnia, War Child hay I Just Shot John Lennon.

Họ đạt được thành công thương mại đáng kể tại thị trường Hoa Kỳ với hơn 22 triệu đĩa hát tiêu thụ tính đến năm 1996. Mặc dù thành công lớn về thương mại, tên tuổi của Cranberries khá nhạt nhòa tại Anh Quốc. Trái lại, nước Mỹ luôn chào đón họ, được coi là ngôi nhà thứ hai của nhóm.

Sau một thời gian dài gián đoạn kể từ album Bury the Hatchet (1999), ban nhạc tái hợp năm 2009 cho tour lưu diễn toàn cầu. Sau đó, họ cũng nỗ lực trình làng hai album Roses (2012) và Something Else (2017). Nhóm Cranberries luôn chung thủy với thể loại alternative rock trong suốt sự nghiệp. Ca từ chân thật, tổn thương, khiến khán giả luôn bị cuốn hút vào nội dung. Đặc biệt, chất giọng nữ chính đặc sệt Ireland, đa sắc thái tình cảm khiến giai điệu của nhóm Cranberries không thể bị nhầm lẫn với các nhóm khác.

Dolores O’Riordan - Linh hồn của ban nhạc

Dolores O’Riordan được coi linh hồn của ban nhạc Cranberries. Là thành viên nữ duy nhất, cô nổi tiếng nhờ vẻ cá tính, giọng hát nội lực, đầy màu sắc Celtic. Nhiều tạp chí âm nhạc nhận xét nữ ca sỹ có tầm ảnh hưởng lớn của dòng nhạc alternative rock thập niên 90. Trong nhóm Cranberries, cô là người sáng tác hầu hết ca từ trong các ca khúc.

Người phụ nữ bé nhỏ là con út trong gia đình 7 người con sinh trưởng tại Limerick, Ireland. Nữ ca sỹ sinh năm 1971 biết hát, chơi piano cổ điển và harmonica từ rất sớm nhờ biểu diễn trong nhà thờ. Đối với sáng tác nhạc, Dolores phản ánh nhãn quan sống thực tế của mình. Ví dụ, trong album đầu tay, cô đề cập, hé lộ những mối quan hệ từ thuở thiếu niên. Nữ nghệ sỹ chủ yếu sáng tác khi đau khổ, chứ không phải lúc hạnh phúc. Dolores từng ngã gãy chân khi trượt tuyết trong quá trình thu âm album thứ hai năm 1994. Khi đó, cô phải sáng tác trên giường bệnh và chiến đấu với căn bệnh trầm cảm.

Nhà phê bình Neil Strauss của tạp chí New York Times nhận xét Dolores có thể hát bất cứ chủ đề gì và biến chúng thành âm nhạc thực sự. Giọng hát của Dolores có phổ màu sắc khá đa dạng, ngọt ngào trong Ode to My Family, mơ màng trong Dreams, nhiệt huyết trong Salvation,cảm xúc trong Stars. Cô là tác giả duy nhất của bản hit ưa thích Zombie nói về tổ chức khủng bố đánh bom Ireland vào năm 1993.

Kể từ album thứ 2, luôn xuất hiện tin đồn Dolores sẽ tách nhóm để hoạt động solo. Thực tế, cô vẫn song hành cùng nhóm đến khi sản xuất album Bury the Hatchet năm 1999. Sau đó, ban nhạc hoạt động gián đoạn do Dolores dành phần lớn thời gian cho gia đình. Năm 2003, cô chuyển tới Canada sinh sống với người chồng Don Burton và ba con. Chồng cô, Don Burton, đồng thời là người quản lý tour lưu diễn ban nhạc từ năm 1994. Trong quãng thời gian gián đoạn, Dolores chính thức ra mắt 2 album solo Are You Listening? (2007) và No Baggage (2009) nhưng lại không thành công như mong đợi.

Sau khi ly hôn vào năm 2014, nữ ca sỹ dọn tới sống tại New York và gặp nhiều rắc rối về sức khỏe tâm thần. Dolores bị mắc chứng rối loạn lưỡng cực, cô từng xô xát với tiếp viên máy bay ở phi trường JFK do chứng hoang tưởng. Nữ nghệ sỹ qua đời tháng 1 năm 2018 tại Luân Đôn do say rượu và đuối nước trong bồn tắm. Lượng cồn xét nghiệm trong máu Dolores cao gấp bốn lần mức cho phép với tài xế. Cô qua đời ở tuổi 46 trong sự tiếc nuối của người hâm mộ và đồng nghiệp. Dường như sự bất hạnh trong những sáng tác ấn tượng của Dolores lại vận vào chính cuộc đời của cô.

Album kết thúc sự nghiệp - In the End

Tin buồn gây sốc của Dolores rơi vào thời điểm ban nhạc đang sản xuất album mới. Các thành viên còn lại phải mất một thời gian để quên thảm kịch, nỗ lực không ngừng để hoàn thiện dự án. Noel Hogan nhớ lại phải đến cuối tháng 2 năm 2018, nhóm mới đủ can đảm nghe lại bản ghi âm của Dolores. Được gia đình của cô chấp thuận, họ bắt đầu trở lại studio vào tháng 4. Gia đình Dolores hoàn toàn ủng hộ khi nhóm tiếp tục làm việc trên sản phẩm có sự hiện diện của nữ ca sỹ quá cố. Sau 5 tháng làm việc, họ cho ra đời album In the End. Album gồm 11 ca khúc mang di sản của Dolores O’Riordan đúng nghĩa. Về ca từ, có thể không mang màu sắc của Dolores nhưng về âm nhạc, giọng hát mạnh mẽ, đầy nội lực của nữ ca sỹ vẫn là tiêu điểm của album.

Chủ đề album gồm nhiều đề tài như sư lạm dụng, tình yêu và kỳ vọng. Theo tiết lộ của Noel và tay trống Fergal, phần quan trọng nhất của album là một sự khởi đầu mới mẻ theo đúng ý nguyện nữ ca sỹ : “Nhiều ca khúc người nghe sẽ bắt gặp chủ đề mọi thứ kết thúc, mọi việc đã xảy ra. Đó là cách cô ấy ám chỉ thời điểm trong cuộc sống, mọi thứ không thuận lợi, cô ấy cảm giác như bị ngưng trệ, nhưng đây là một chương hoàn toàn mới”.

Nhóm Cranberries đã chính thức tuyên bố giải thể từ năm 2019 sau gần 30 năm hoạt động. Di sản nhóm để lại gồm 9 album phòng thu với thành tích hơn 50 triệu đĩa hát tiêu thụ khắp toàn cầu. Ban nhạc vẫn mãi là niềm tự hào của xứ sở Ireland. Hình ảnh Dolores O’Riordan sẽ bất tử trong lòng khán giả hâm mộ nhờ phổ âm nhạc đa màu sắc.

(Theo Wikipedia, New York Times, Guardian)



viethoaiphuong
#709 Posted : Friday, May 13, 2022 8:14:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

RFI - tin tổng hợp

(AFP) - Nhà hát Lido đóng cửa.
Nhà hát ca-vũ-kịch Lido chuẩn bị nói lời tạm biệt với các vũ công của mình. Nhà hát khai trương vào năm 1946 nằm trên đại lộ Champs-Elysées sẽ được chuyển đổi thành một khán phòng biểu diễn. Phần lớn nhân viên hiện nay của Lido sẽ bị sa thải. Đây là quyết định của tập đoàn Accor, chủ sở hữu của nhà hát, do các show diễn không còn sinh lời.



(AFP) – Bức chân dung Marilyn Monroe của Andy Warhol được bán với giá 195 triệu đô la. Đây là tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế kỷ 20 được bán đấu giá. Shot Sage Blue Marilyn, bức tranh được vẽ vào năm 1964, hai năm sau cái chết bi thảm của minh tinh Hollywood, được bán vào hôm qua 09/05/2022, sau 4 phút đấu giá, với giá chính xác là 195,04 triệu đô la.

viethoaiphuong
#710 Posted : Saturday, May 14, 2022 7:31:16 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Ca khúc Ukraina vào chung kết Eurovision: «Tôi sẽ về được nhà, dù mọi nẻo đường đều bị phá hủy »

Trong lĩnh vực nghệ thuật, một sự kiện thu hút nhiều chú ý : Ca khúc « Stefania » do ban nhạc Ukraina Kalush Orchestra trình diễn lọt vào chung kết giải ca nhạc Eurovison 2022, tại Turin, nước Ý. Ban nhạc được chính thức đại diện cho Ukraina tham dự giải Eurovision trước khi chiến tranh nổ ra.

Ban nhạc của nghệ sĩ nhạc rap 27 tuổi, Oleh Psiuk, trình diễn ca khúc với giai điệu pha lẫn nhạc hip-hop với âm nhạc truyền thống. « Tôi sẽ luôn tìm được đường trở về nhà cho dù mọi con đường đều bị phá hủy » là một lời trong bài hát, đã được Oleh Psiuk viết ra để vinh danh mẹ anh. Trong bối cảnh chiến tranh đang diễn ra, lời ca của bài hát « Stefania » đột ngột trở nên đầy ý nghĩa.

Theo giới cá cược, ca khúc Stefania là một trong vài ca khúc có nhiều khả năng đoạt giải nhất cuộc thi, với vòng chung kết sẽ diễn ra hôm nay. Nếu Stefania đoạt giải, Ukraina sẽ trở thành quốc gia đăng cai Eurovion 2023, theo truyền thống của giải nghệ thuật này.

Toàn bộ thành viên của nhóm có mặt tại Eurovision, trừ một người trực chiến tại Kiev. Theo trưởng nhóm nhạc, ngay sau cuộc thi, toàn bộ nhóm sẽ trở lại Ukraina để tiếp tục tham gia cuộc kháng chiến vệ quốc.


viethoaiphuong
#711 Posted : Sunday, May 15, 2022 7:10:20 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Bài hát ‘‘Stefania’’ của Ukraina đoạt giải Eurovision 2022: Giải thưởng của tình liên đới

15/05/2022 - Minh Anh / RFI
Không chút ngạc nhiên, trong đêm chung kết cuộc tranh tài âm nhạc Eurovision được tổ chức tại Turin (Ý) hôm qua, 14/05/2022, ban nhạc Kaluskh Orchestra của Ukraina với bài hát « Stefania », đã giành được sự ưu ái từ khán giả.

« Xin tức thì giúp đỡ Mariupol, hãy giúp đỡ Azovstal », là lời kêu gọi của ca sĩ nhóm nhạc Kalush Orchestra trước khi rời sàn diễn. Theo AFP, ban nhạc Ukraina này đã giành chiến thắng nhờ vào các lá phiếu của khán giả truyền hình. Với hơn 600 điểm, Kalush Orchestra đã nhảy vọt lên vị trí hàng đầu, trong khi điểm của ban giám khảo chỉ đủ xếp ban nhạc ở hàng thứ 4. Trong khi đó, các nghệ sĩ Nga, vì cuộc chiến xâm lược Ukraina do Vladimir Putin tiến hành, nên không được dự mùa giải năm nay.

Bên lề cuộc họp tại Bruxelles của các ngoại trưởng NATO thảo luận về kết nạp Phần Lan và Thụy Điển, phó tổng thư ký NATO, bà Mircea Geoana, ghi nhận « sự ủng hộ to lớn của công chúng trên khắp châu Âu và nước Úc (Úc cũng có đoàn tham dự giải Eurovision năm nay) cho lòng can đảm… Lẽ dĩ nhiên, bài hát là hay, hay thực sự ».

Bài hát dự thi của Kalush Orchestra, được cổ vũ mạnh mẽ, là một sự pha trộn giữa hip hop với những làn điệu dân gian Ukraina. « Tôi sẽ về được nhà, dù mọi nẻo đường đều bị phá hủy » là một lời trong bài hát, đã được ca sĩ Oleh Psiuk ban nhạc Kalush Orchestra viết ra để vinh danh mẹ anh. Lời ca chất chứa nỗi niềm riêng tư nhưng lại cộng hưởng mạnh mẽ với thời sự đất nước.

Đây là chiến thắng thứ ba của Ukraina tại giải thưởng âm nhạc lớn của châu lục, sau mùa giải năm 2004 và nhất là năm 2016, hai năm sau khi bán đảo Crimée bị sáp nhập vào Nga, với ca khúc « 1944 », bài hát kể lại cuộc đày ải người Tatar thời Staline, do ca sĩ Jamala trình diễn.

Về nhì giải thưởng năm nay là Anh Quốc, qua sự đại diện của ca sĩ Sam Ryder. Một quán quân khác được giành cho nữ ca sĩ Tây Ban Nha, gốc Cuba. Nước Pháp, sau khi bị vuột mất giải thưởng cao quý trong gang tấc hồi năm 2021, năm nay đứng hạng thứ 24, áp chót bảng sắp hạng.

Giờ thì câu hỏi đặt ra, Eurovision sang năm sẽ được tổ chức ở đâu ? Về lý thuyết, Ukraina – nước thắng cuộc – sẽ phải là nước chủ nhà cho phiên bản năm tới. Chỉ có tiến triển tình hình trên thực địa mới có thể cho phép quyết định xem cuộc tranh tài có thể sẽ được tổ chức hay không. Quy định cũng dự trù, trong trường hợp từ chối hay bất khả, một nước khác sẽ tổ chức thay.

Sau khi giải thưởng được thông báo, tổng thống Ukraina Volodymyr Zelensky đã bày tỏ hy vọng Eurovision 2023 sẽ được tổ chức tại thành phố Mariupol « tự do, hòa bình và được tái thiết ». Thành phố cảng chiến lược Mariupol miền đông nam Ukraina bị tàn phá nặng nề, và hiện gần như hoàn toàn do quân đội Nga kiểm soát.


viethoaiphuong
#712 Posted : Monday, May 16, 2022 7:27:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

''Cánh chim và Trẻ thơ'', giai điệu hy vọng vẫn thắp sáng Eurovision

15/05/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Tối 14/05/2022, cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision diễn ra tại thành phố Torino, ở Ý. Vòng chung kết quy tụ 25 nước trên tổng số 41 quốc gia dự thi. Năm nay, các nước có triển vọng được nhiều điểm nhất vẫn là Ukraina, Thụy Điển, Anh Quốc. Còn nước Pháp, được đại diện bởi ban nhạc Alvan & Ahez, theo dự đoán chỉ về hạng 10. Góc vườn âm nhạc RFI tuần này được dành để nói về những bản nhạc Pháp tiêu biểu nhân các kỳ thi Eurovision.

Kể từ khi giải Eurovision được thành lập vào năm 1956, nước Pháp đã từng giành ngôi vị quán quân đến 5 lần, giai đoạn vàng son vẫn là hai thập niên 1950-1960. Lần cuối cùng, nước Pháp đứng đầu bảng là vào năm 1977, cách đây 45 năm, nhờ bài hát ''L'oiseau et L'enfant'' (Cánh Chim và Trẻ Thơ) qua giọng ca của Marie Myriam. Kể từ đó trở đi, nước Pháp đã nhiều lần về hạng nhì (kể cả Barbara Pravi hồi năm 2021), rồi vào giờ phút chót, vẫn để giải nhất vuột khỏi tầm tay. Nhắc lại giai đoạn này, Marie Myriam cho biết nhờ ''Cánh Chim và Trẻ Thơ'' mà sự nghiệp của cô tồn tại trong 4 thap niên, cho đến tận ngày nay.

Ngược dòng thời gian trở về năm 1977, bản nhạc ''L'oiseau et L'enfant'' (Cánh Chim và Trẻ Thơ) là sự hội ngộ giữa tác giả Jean Paul Cara và ca sĩ trẻ Marie Myriam. Sinh trưởng trong một gia đình gốc Bồ Đào Nha, Marie Myriam (tên thật là Myriam Lopes) theo bố mẹ đến Paris lập nghiệp từ năm 1963. Thời còn trẻ, cô thường hay phụ giúp cha mẹ, và đôi khi được hát trong quán ăn gia đình, thường có một dàn nhạc fado chơi vào những ngày cuối tuần. Giọng ca của Marie Myriam tình cờ lọt vào tai của tác giả Jean Paul Cara, thường hay đến ăn tối ở quán nhạc này.

Tuy cả gia đình cô đều không biết ông là ai, nhưng Jean Paul Cara lại là một nhạc sĩ có tiếng, thường xuyên hoạt động trong nhóm tác giả (nhạc trưởng Tony Rallo, các nhạc sĩ Bob Dupac hay Joe Gracy) chuyên sáng tác ca khúc tham gia cuộc thi hát truyền hình Eurovision. Bản nhạc ''L'oiseau et L'enfant'' (Cánh Chim và Trẻ Thơ) là một ví dụ điển hình : dùng ẩn dụ của cánh én màu xanh bay khắp địa cầu để nói lên khát vọng muôn thuở của tuổi thơ được sống trong hòa bình, yêu thương. Cuộc thi truyền hình châu Âu trở thành một ''diễn đàn'' lý tưởng. Marie Myriam ở tuổi đôi mươi, với giọng ca hồn nhiên, tươi sáng nụ cười, giúp cho giai điệu chim xanh tung bay vỗ cánh giữa bầu trời an lành, thời ấu thơ quang đãng.

Thành danh từ năm 19 tuổi, Marie Myriam ban đầu chủ yếu hát nhạc nhắm vào đối tượng gia đình (nhạc thiếu nhi, nhạc phim hoạt hình, nhạc Giáng Sinh), rồi sau đó mới chuyển qua nhạc pop. Mặc dù cho tới giờ chưa có bài hát nào có thể sánh bằng kỷ lục số bán của nhạc phẩm ''L'oiseau et L'enfant'' (Cánh Chim và Trẻ Thơ), nhưng các dự án ghi âm của Marie Myriam vẫn tiếp tục đều đặn, gần đây cô đã trình làng một tuyển tập kỷ niệm 40 năm sự nghiệp. Bản nhạc này cũng từng được nhóm Kids United ghi âm thành một phiên bản mới năm 2016, bên cạnh các ca khúc với chủ đề hoà bình thế giới như ''Heal the World'' của Michael Jackson hay là ''Le Pouvoir des Fleurs'' của nhóm tác giả Souchon/Voulzy.

Kể từ năm 1977 cho tới nay, có lẽ cũng vì chưa có nghệ sĩ hát tiếng Pháp nào lên thay thế Marie Myriam ở vị trí đầu bảng, cho nên trong hạng mục Eurovision, cô vẫn được xem là giọng ca có uy tín nhất. Phía Pháp vẫn đề cử nhiều giọng ca đi tranh giải Eurovision, trong đó có những tài năng cho dù không về đầu, nhưng vẫn được giới phê bình đánh giá tích cực, còn công chúng châu Âu thì hưởng ứng qua việc mua đĩa hay tải nhạc trực tuyến, giúp cho các nghệ sĩ này được xếp hạng cao trên thị trường. Đó là trường hợp của Barbara Pravi với nhạc phẩm ''Voilà'' năm 2021, ''J'ai cherché'' của ca sĩ Amir năm 2016 hay ''Je n'ai que mon âme'' của danh ca Canada Natacha Saint Pier đại diện cho nước Pháp nhân kỳ Eurovision tổ chức vào năm 2004.

Theo lời của chính tác giả Jean Paul Cara, sau khi thắng đậm tại cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision năm 1977, bản nhạc "L'oiseau et l'enfant" (Cánh chim và Trẻ thơ) đã được bán hơn 6 triệu bản. Nhạc phẩm này đã từng được phóng tác sang nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Anh, qua tựa đề "The Bird and the Child", tiếng Đức "Der Vogel und das Mädchen", tiếng Tây Ban Nha "El Zagal y el Ave Azul" và tiếng Bồ Đào Nha "A Ave e a Infância". Còn trong tiếng Việt, tác giả Lữ Liên từng chuyển thể bài này thành nhạc phẩm ''Cánh chim và Trẻ thơ'' qua phần trình bày của danh ca Khánh Hà. Lời Việt có đoạn như sau : Có đứa bé ưa lên ngắm cung trời đất rộng. Nó ngó tới nơi đàn chim trời xa tắp. Những cánh én xanh bay lướt trên vùng đất lành. Đưa ta qua vùng yêu đương địa đàng. Tình yêu là tôi, tình yêu đến anh. Cánh chim với ta, bé thơ là người …

Do xâm chiếm Ukraina, nước Nga trước kia thường được xếp hạng cao, năm nay lại bị loại trừ ra khỏi cuộc thi Eurovision. Cũng có nhiều khả năng, nhiều quốc gia châu Âu bỏ phiếu cho Ukraina chủ yếu để bày tỏ sự ủng hộ với một dân tộc đang hứng chịu bom đạn. Trong bối cảnh đó, "L'oiseau et l'enfant" tưởng chừng như đã quá xưa, bỗng dưng lại rất hợp thời. Liệu những giai điệu với chủ đề hòa bình và hy vọng vẫn thắp sáng Eurovision ? Bản nhạc ''Cánh chim và Trẻ thơ'' đặc biệt có ý nghĩa ở trong đoạn cuối :

Bất kể thời gian, tham vọng cuồng điên

Khổ đau nào sinh ra từ cuộc chiến

Duy tình yêu luôn là cõi vô biên

Cho tim trẻ thơ giữ mãi hồn nhiên



Như đứa bé ngước nhìn nắng ngời sáng

Nên chi mắt cũng tỏa ánh nhẹ nhàng

Tung cánh xanh tìm khắp cùng trái đất

Cho yêu thương ngày cập bến dịu dàng


viethoaiphuong
#713 Posted : Thursday, May 19, 2022 8:48:36 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Sân khấu Lido ở Paris sắp đóng cửa

16/05/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Cùng với nhà hát Moulin Rouge (1889), Paradis Latin (1803), Crazy Horse (1951), Lido là một trong những sân khấu ca vũ kịch (cabaret) nổi tiếng tại thủ đô Paris. Ngành giải trí này hàng năm thu về hơn 220 triệu euro. Thế nhưng, khi dịch Covid-19 bùng phát, các nhà hát ở Paris đều đã phải ngưng hoạt động trong vòng 10 tháng. Theo tuần báo Capital, sân khấu Lido dưới dạng ngồi ăn tối xem ca vũ kịch kể từ tháng 06/2022 sẽ vĩnh viễn đóng cửa.

Tuy không lâu đời như Moulin Rouge, nhưng nhà hát Lido tọa lạc ở một địa điểm lý tưởng, nằm gần Khải Hoàn Môn và ngay trên đại lộ Champs-Élysées, đối diện với cửa hàng sang trọng Louis Vuitton ở phía bên kia đường. Được thành lập thời hậu chiến trong giai đoạn tái thiết Paris (vào năm 1946), nhà hát Lido đã gầy dựng uy tín trong vòng hơn 7 thập niên liền. Sự kiện sân khấu nổi tiếng này buộc phải đóng cửa, thay đổi hẳn mô hình kinh doanh, đánh dấu sự kết thúc của cả một thời kỳ vàng son, khép lại một trong những trang sử quan trọng của ngành giải trí tại Pháp.

Covid-19 : Ngành sân khấu cabaret mất 80% doanh thu

Theo báo Les Échos, vào năm 2006 tập đoàn khách sạn Accor từng mua lại một phần của nhà hát Lido. Đến tháng 12/2021, công ty Sodexo bán toàn bộ phần còn lại cho đối tác hàng đầu của mình. Trong tuần qua, tập đoàn Accor chính thức thông báo ngưng hẳn các hoạt động của Lido dưới dạng cabaret, tức là không còn kết hợp các dịch vụ ẩm thực với biểu diễn sân khấu. Sân khấu Lido sẽ được chuyển đổi thành một nhà hát đơn thuần, nơi tổ chức các vở nhạc kịch hay các buổi trình diển ca nhạc. Công chúng đến đây chủ yếu để xem biểu diễn, chứ không còn là thực khách vừa ngồi xem vũ kịch, vừa dùng bữa tối.

Thông báo của tập đoàn Accor cũng có nghĩa là nhiều nhân viên có nguy cơ bị mất việc. Theo tuần báo Capital, Lido dưới dạng cabaret sẽ đóng cửa vào trung tuần tháng 06/2022. Tính tổng cộng, 157 trên số 184 nhân viên bị ngưng hợp đồng. Đó chủ yếu là đoàn nghệ sĩ, vũ công, biên đạo múa, thợ may, nhà thiết kế trang phục ….. Chỉ có một vài nhân viên làm việc trong các khâu kỹ thuật âm thanh và ánh sáng mới hy vọng được giữ lại, vì công việc của họ vẫn thích hợp với nhu cầu của một nhà hát, thay vì phải tuyển dụng người mới.

Mặc dù ban quản lý đã cam kết tiếp tục trả lương cho các nhân viên từ nay cho tới cuối năm 2022, nhưng thông báo của tập đoàn Accor gây khá nhiều bất ngờ cho phía đại diện công đoàn. Thông qua các tin nhắn trên mạng xã hội, nhà biên đạo múa người Pháp Bruno Vandelli cũng như các vũ công Bluebell Girls (trong đoàn diễn viên múa truyền thống của Lido) đã bày tỏ những cảm xúc lo âu, tiếc nuối của họ về tương lai bấp bênh của đoàn nghệ sĩ nói riêng, của giới nhân viên nói chung, nhất là khi các nghệ sĩ thường có hợp đồng ngắn hạn, ngay cả những người làm việc ở hậu trường, chủ yếu được tuyển thêm vào những mùa cao điểm.

75 năm lịch sử Lido : Những năm tháng huy hoàng

Ngược dòng thời gian lùi về năm 1928, sân khấu Lido ban đầu là một hồ tắm công cộng, có đổ cát trắng ở xung quanh bể bơi như một bãi biển nhân tạo, hầu dựng lại khung cảnh của bãi biển Lido nổi tiếng của thành phố Venise, ở Ý. Vào những ngày cuối tuần, hồ tằm có tổ chức những buổi biểu diễn ảo thuật, mùa ballet hay ca nhạc. Tọa lạc ban đầu ở số 78 trên đại lộ Champs-Élysées (nay là cửa hàng mỹ phẩm Sephora), Lido vào năm 1946 được biến thành một sân khấu cabaret, dời cơ sở hoạt động về số 116bis trên cùng đại lộ, hiện giờ nằm đối diện với cửa hàng Louis Vuitton và nhà hàng Fouquet's.

Ngay từ sau Thế chiến, nhà hát Lido do hai anh em Joseph và Louis Clérico sáng lập đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng trong giới thượng lưu và thành phần có tiền ở Paris. Cũng như Moulin Rouge, sân khấu Lido kết hợp các bữa tiệc tối với sân khấu vũ kịch, trở thành một trong những địa điểm khét tiếng ăn chơi, tiêu biểu cho nhịp sống về đêm cuồng nhiệt tại thủ đô Paris. Năm 1948, Lido tuyển dụng một trong những nghệ sĩ tài ba nhất thời bấy giờ là diễn viên múa người Ireland Margaret Kelly, còn được mệnh danh là ''Miss Bluebell'' do có đôi mắt xanh biếc. Nghệ sĩ Margaret Kelly thành lập đoàn múa Bluebell Girls, chọn vũ công theo một số tiêu chuẩn, cao từ 1 mét 75 trở lên, gương mặt có duyên, vóc dáng thon thả, thời gian đầu thường có mái tóc vàng, óng ánh như bạch kim, rất thịnh hành vào thời của hai thần tượng điện ảnh Jean Harlow và nhất là Marilyn Monroe. Theo chủ trương của Margaret Kelly, đa số các vũ công xinh đẹp quyến rũ đều được đào tạo về múa ballet cổ điển, nhưng vẫn có thể nhảy điệu hất váy xoạc chân ''french cancan'', và như vậy có thể cạnh tranh trực tiếp với sân khấu Moulin Rouge.

Nhờ kết hợp ý tưởng món ăn đẹp mắt trong đĩa đi kèm với biểu diễn ngoạn mục trên sân khấu, Lido hoàn chỉnh công thức ''dîner-spectacle'' mà cho tới bây giờ vẫn còn ăn khách tại các nhà hàng vũ trường nổi tiếng. Các tiết mục ca vũ kịch được liên kết thành một show hoành tráng ngay trên đại lộ Champs-Élysées giúp cho cái tên của Lido đi vào huyền thoại. Trong vòng nhiều thập niên, Lido đã dàn dựng hàng chục show biểu diễn lộng lẫy không kém gì Las Vegas trong cách sử dụng công nghệ hiện đại để phục vụ nghệ thuật sân khấu.

Trải qua bao thời kỳ, Lido đã triệu mời nhiều tên tuổi lớn để củng cố uy tín của mình từ Joséphine Baker cho đến Marlene Dietrich, từ Dalida cho tới Shirley MacLaine hay Elton John đều là những thượng khách từng làm ''guest'' trên sân khấu Lido. Trở thành một trong những tụ điểm giải trí hào nhoáng, thu hút đông đảo các nhân vật nổi tiếng đến tham gia các sự kiện, Lido còn là một sân khấu biểu diễn rực rỡ màu sắc nhộn nhịp quanh năm, biểu diễn liên tục và hầu như không hề có ngày nào được nghỉ show.

Với thời gian, Lido không ngừng được nâng cấp để có thể sử dụng công nghệ mới. Khán phòng rộng đến 900m2 với hơn 1.100 chỗ ngồi trong đó có 900 ghế ngồi dành cho khách dùng bữa tối. Lối trang trí của nhà hát cũng khá sang trọng : đại sảnh treo nhiều đèn chùm pha lê, các lối đi có trải thảm nhung xanh lấp lánh sắc vàng như một bầu trời đêm khảm đầy sao sáng. Ngoài sân khấu và các thiết bị công nghệ, công ty Sodexo (trước khi bán lại toàn bộ cổ phần Lido cho tập đoàn Accor) còn đầu tư khá nhiều vào việc sản xuất show biểu diễn.

25 triệu euro cho show Lido cuối cùng : mối đầu tư rủi ro

Đó là trường hợp của ''Paris Merveilles'' (Paris kỳ diệu) do đạo diễn nhạc kịch Franco Dragone dàn dựng nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của sân khấu Lido. Nổi tiếng trên thế giới nhờ hợp tác với Gánh xiếc Mặt trời ''Cirque du Soleil'' và sau đó nữa là dàn dựng show biểu diễn cho Céline Dion, Franco Dragone đã nghiên cứu nhiều hình thức biểu diễn tại Lido trong những thập niên qua, để rồi đúc kết thành một chương trình tạp kỹ tân kỳ, kết hợp nghệ thuật múa, nhạc pop giao hưởng và các màn đu bay nhào lộn gợi hứng từ các đoàn xiếc.

Khâu thiết kế thời trang đã được giao cho nhà tạo mốt Nicolas Vaudelet, từng làm việc cho các thương hiệu như Louis Vuitton, Christian Lacroix và Jean-Paul Gaultier, để tạo ra 600 bộ trang phục sân khấu đủ loại, trong suốt buổi biểu diễn với rất nhiều hoạt cảnh kết hợp những màn hình khổng lồ với công nghệ chiếu ánh sáng xuyên qua những bức màn nước.

Khi triệu mời Franco Dragone về làm đạo diễn, Lido dĩ nhiên muốn thoát ra khỏi những tiết mục biểu diễn caberet cổ điển, tận dụng công nghệ ánh sáng và âm thanh hiện đại hầu tạo ra những màn trình diễn nghệ thuật tân kỳ và ngoạn mục. Thế nhưng để tạo ra cảm giác khó quên của một ''Paris kỳ diệu'', Lido đã phải đầu tư 25 triệu euro vào một show biểu diễn hoành tráng. Tính toán khá rủi ro của công ty Sodexo, vốn đang gặp khó khăn, lại rơi vào thời điểm của đại dịch Covid-19. Trong năm qua, ngành du lịch vẫn chưa được phục hồi, Paris lúc bấy giờ vẫn còn vắng khách quốc tế, trong khi thành phần này lại là đối tượng chính thường hay đi xem ca vũ kịch.

Theo tuần báo Capital, cũng như Moulin Rouge hay Crazy Horse, sân khấu Lido đã nhận được nhiều khoản tài trợ của chính phủ Pháp, mức thấp nhất là 700.000 cho tới một triệu euro mức tối đa. Thế nhưng, các khoản trợ giúp này dường như vẫn chưa đủ để giúp cho sân khấu Lido nói riêng và nhiều nhà hát nói chung thoát khỏi khủng hoảng trong thời hậu Covid. Sau 10 tháng đóng cửa trải dài trên hai năm, doanh thu chung của các sân khấu cabaret đã giảm gần 80%, từ 220 triệu euro trong năm 2019 xuống còn 45 triệu euro trong năm 2021. Trong bối cảnh đó, Lido dưới dạng cabaret khó thể nào mà hy vọng vào một tương lai tươi sáng, các tiết mục biểu diễn kể từ nay có nguy cơ vĩnh viễn buông màn.


viethoaiphuong
#714 Posted : Friday, May 20, 2022 6:28:28 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Một thế giới ngập tràn sắc màu của Cezanne và Kandinsky qua kết nối giữa nghệ thuật và công nghệ số

20/05/2022 - Thùy Dương / RFI
Triển lãm ánh sáng về thế giới hội họa của hai nghệ sĩ Cezanne và Kandinsky đang diễn ra tại Trung tâm nghệ thuật số Atelier des Lumières, Paris. Bước qua cánh cửa vào phòng triển lãm, du khách sẽ đến với một không gian mờ ảo, lung linh, vẳng bên tai là những điệu nhạc lúc dặt dìu, khi dồn dập.

Sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và công nghệ số, giữa hội họa và âm nhạc tại Atelier des Lumières đưa du khách tạm thoát khỏi những ồn ào xô bồ của cuộc sống ngoài kia. Trước mắt người xem mở ra thế giới sống động, rực rỡ sắc màu trong tranh của Cezanne và Kandinsky.

Sau các danh họa Klimt, Van Gogh, Monet, Renoir, Chagall và Dali, nay đến lượt họa sĩ Pháp Paul Cezanne (1839-1906) và họa sĩ gốc Nga VassilyKandinsky (1866-1906) được Trung tâm nghệ thuật số Atelier des Lumières vinh danh. Triển lãm Cezanne - Kandinsky thực ra gồm hai cuộc triển lãm được trình chiếu liên tục và nối tiếp nhau : « Cezanne - Ánh sáng của vùng Provence » (khoảng 30 phút) và « Kandinsky - chuyến phiêu lưu của sự trừu tượng » (khoảng 10 phút). Nhưng đâu là mối liên hệ giữa Cezanne và Kandinsky ? Trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 24/02/2022, chỉ vài ngày sau khi triển lãm khai mạc, ông Jacques de Tarragon, giám đốc Atelier des Lumières giải thích :

« Cezanne là một nghệ sĩ phi thường. Ông là một tên tuổi lớn trong lịch sử nghệ thuật. Mọi người thường thích tranh của ông. Cezanne có khối tác phẩm đồ sộ. Cezanne đã vẽ 800 bức tranh, 400 tranh màu nước, có nghĩa là rất nhiều tranh, và tôi có thể nói rằng ông như một bảng màu, với rất nhiều màu sắc được phối trên những chất liệu khác nhau. Tất cả những điều đó khiến các tác phẩm của ông ấy nếu được giới thiệu, trong khuôn khổ một cuộc triển lãm kỹ thuật số tại trung tâm nghệ thuật số Atelier des Lumières, thì sẽ tạo nên điều phi thường.

Quả thực, có một cây cầu nối giữa Kandinsky và Cezanne mà chúng tôi đã cố gắng khai thác. Trước tiên, chúng tôi muốn giới thiệu 2 nghệ sĩ. Có một sự khác biệt lớn giữa 2 nghệ sĩ lớn này, nhưng có một sự ngưỡng mộ, đặc biệt là sự ngưỡng mộ của Kandinsky đối với Cezanne. Chắc chị cũng biết, Kandinsky từng nói Cezanne có thể thổi hồn vào một tách trà. Tôi nghĩ rằng 2 cuộc triển lãm có một điểm chung, đó là một vũ trụ, một thế giới ngập tràn sắc màu, nhưng chúng cũng rất khác nhau. Chúng tôi muốn giới thiệu nhiều điều cho khách tham quan và bằng cách này, quý vị được cùng lúc tham gia 2 cuộc triển lãm có sự gắn kết với nhau nhưng cũng là ở hai không gian rất khác nhau ».

Chuyến đi kỳ thú

Hành trình tham quan của du khách sẽ diễn ra như thế nào ? Chắc chắn là không giống một chuyến tham quan như truyền thống ở các bảo tàng nghệ thuật thông thường. Giám đốc trung tâm nghệ thuật số giải thích :

« Chuyến thăm quan của khách diễn ra như sau : khi quý vị bước vào trung tâm, dần dần ánh sáng sẽ giảm đi, không gian tối dần. Rồi quý vị đi vào một phòng kín tối đen. Quý vị sẽ làm quen dần với bóng tối. Phòng lớn đó, vốn là một xưởng đúc có từ năm 1835 và nay được chuyển đổi thành một trung tâm kỹ thuật số. Khi quý vị bước gian phòng triển lãm này, quý vị thực hiện một chuyến du hành, di chuyển bên trong phòng để khám phá, chiêm ngưỡng các tác phẩm được trình chiếu. Phòng triển lãm vẫn còn những thứ của xưởng đúc trước đây, như một bể nước, một bồn chứa, một lò sấy hình tháp mà các hình ảnh được chiếu ở bên trong và phía bên ngoài.

Khách tham quan được khuyến khích đi dạo xung quanh và khám phá nhiều điểm, nhiều góc độ chiêm ngưỡng trong phòng triển lãm. Có một vị trí đặc biệt thú vị ở Atelier des Lumières, đó là gác lửng mà từ đó quý vị có thể có nhiều góc nhìn rất hay. Chỗ này nhô cao lên vài mét nên quý vị sẽ thấy cả phòng triển lãm ngập tràn hình ảnh. Toàn bộ gian phòng triển lãm cực kỳ tráng lệ, hoành tráng ».

Cezanne nổi tiếng với những bức vẽ thiên nhiên, đặc biệt về quê hương Provence, miền nam Pháp, với phong cảnh nông thôn êm đềm, thanh bình, nổi bật là gam màu xanh của trời của biển xen với màu xanh của cây cối, vườn tược. « Nàng thơ » của ông là ngọn núi Sainte-Victoire, khung cảnh đã theo ông đến tận hơi thở cuối cùng. Niềm say mê của ông đã được tái hiện rõ nét trong triển lãm, đỉnh điểm là ở phần kết, khi 80 bức họa núi Sainte-Victoire được vẽ từ nhiều góc độ, vào những thời điểm khác nhau, lần lượt được chiếu trên các bức tường, dưới tiết tấu nhạc sôi động và ngày càng dồn dập … Nhưng thế giới của Cezanne không chỉ có vậy. Trong số khoảng 1000 tác phẩm, ban tổ chức chọn được 500 bức tranh để trình diễn ánh sáng. Ông Jacques de Tarragon giới thiệu khái quát triển lãm :

« Du khách có thể khám phá một phần lớn trong thế giới sáng tạo của Cézanne qua những bức tranh tĩnh vật, tranh thiên nhiên, phong cảnh, những bức chân dung hay tác phẩm tự họa và vô số bức vẽ ngọn núi Sainte-Victoire. Cezanne đã vẽ hơn 80 bức tranh về núi Sainte-Victoire. Cuộc triển lãm được chia thành nhiều chương hồi : có 8 chương. Đây là một cuộc du hành, có một chương mở đầu, một chương rất hoa mỹ, tươi vui mà chúng tôi gọi là Vòm bình yên, rồi một chương nói về nét thầm kín của cơ thể con người, với những tác phẩm nổi tiếng khắc họa những người phụ nữ đang tắm. Cũng có một phần triển lãm về những giai đoạn cuộc đời Cezanne với nhiều nỗi day dứt, toát lên qua những bức tranh chân dung tự họa của ông. Vậy đấy, có thể nói, trong cuộc triển lãm chúng ta như lướt theo nhịp tâm trạng và các giai đoạn chính trong thế giới sáng tạo của Cezanne ».

Thiên nhiên trong tranh Cezanne không tĩnh, mà rất sống động. Thiên nhiên cũng có tâm hồn. Và để làm toát lên cái hồn sống động đó, các nhà tổ chức, với sự trợ giúp đắc lực của công nghệ số, đã tái hiện thiên nhiên trong tranh của Cezanne, để du khách được hòa mình vào thiên nhiên, với tiếng chim lót líu lo, tiếng nước chảy róc rách, tiếng sóng vỗ, tiếng côn trùng rả rích, cả tiếng sấm ran ... chứ không phải chỉ là chắp tay đứng xem. Đến với triển lãm, khách thăm quan sẽ thấy những chiếc lá trong tranh Cezanne rung rinh, những vòm lá cây xao động trong gió, những sóng nước sông Arc lăn tăn mơn man dưới chân. Nổi tiếng với những bức tranh tĩnh vật, đặc biệt là tranh vẽ những trái táo, những tác phẩm này là một phần không thể thiếu trong triển lãm. Nhưng tĩnh mà động, với hiệu ứng ánh sáng, những trái táo lần lượt hiện lên trong từng khung tranh ảo trên tường, rồi lại thoát ra khỏi những khung tranh đó, trôi lơ lửng trước mặt du khách …

Tạm rời thế giới của Cezanne, giờ đây du khách được bước vào một thế giới của những hình khối và sắc màu khác, không kém phần mãn nhãn : thế giới của Kandinsky, một thế giới hội họa đi từ dân gian, bình dân, đến hiện đại, trừu tượng, rực rỡ, vui mắt mà cũng rất kỳ bí … Kandinsky không chỉ là một họa sĩ, mà còn là một nhà lý luận về nghệ thuật, nhà thơ và là một người đi tiên phong về nghệ thuật trừu tượng. Giám đốc Atelier des Lumières cho biết tiếp :

« Đối với các tác phẩm của Kandinsky thì cũng tương tự. Ở đó, chúng ta như đang trong một chuyến du hành xuyên suốt các thể loại tranh của ông ấy. Chúng ta xuất phát từ nước Nga, nơi Kandinsky đã vẽ những thứ rất tượng hình, những cảnh vô cùng tráng lệ, những con ngựa được trang trí tuyệt đẹp, cảnh về các bộ tộc, những quảng trường lớn … Và rồi, rất nhanh chóng, du khách được bước vào thế giới trừu tượng của Kandinsky. Chị biết đấy, ông ấy chuyển hướng sang trường phái trừu tượng khá nhanh. Người xem như đang trong một chuyến du hành với các sắc màu, nghệ thuật kết hợp nhiều vật liệu. Các tác phẩm được trình chiếu rất, rất đẹp, được phối hợp nhịp nhàng. Công chúng mới chỉ bắt đầu được đến thăm triển lãm từ tuần trước nhưng đã hoàn toàn bị chinh phục dù phần triển lãm này chỉ ngắn thôi ».

Thành công ngay từ những ngày đầu

Từ những vị trí khác nhau trong phòng triển lãm, khách tham quan sẽ có những góc nhìn khác nhau về cùng một tác phẩm, thậm chí là chiêm ngưỡng các tác phẩm khác nhau được chiếu lên tường và nền nhà từ 140 máy chiếu.

Triển lãm là sự kết hợp tuyệt vời giữa hình ảnh, ánh sáng và âm nhạc. Những khúc nhạc cổ điển đan xen với những bản nhạc hiện đại, phối theo nội dung, ý nghĩa từng chương đoạn triển lãm, khiến người xem như đang lạc bước vào một thế giới kỳ ảo. Công nghệ số đã giúp hội họa gần hơn với công chúng và dễ cảm hơn. Triển lãm đạt thành công lớn ngay từ những ngày đầu mở cửa, theo khẳng định ngày 24/02 của giám đốc trung tâm :

« Trên thực tế, Covid đã ảnh hưởng một chút đến hoạt động của Atelier des Lumières, chúng tôi đã phải đóng cửa 2 lần, lần đầu trong vòng 2 tháng, sau đó là 5 tháng, cũng khá là lâu. Chúng tôi đã buộc phải áp dụng các quy định đặc biệt về đón tiếp khách, giới hạn số lượng khách … nhưng Atelier des Lumières vẫn giữ nguyên phong cách triển lãm kỹ thuật số, đón tiếp khách tham quan và đưa họ hòa mình, chìm đắm vào thế giới sáng tạo của những tên tuổi lớn trong lịch sử nghệ thuật.

Quả thực, công nghệ của Atelier des Lumières có từ năm 2018, khá là mới và ngày càng tiến bộ, nên triển lãm ngày càng có chất lượng cao hơn, tích hợp được cả các hình ảnh, tài liệu lưu trữ, phim … với độ phân giải rất cao. Mục tiêu của chúng tôi là làm sao để triển lãm có chất lượng rất cao, để khách tham quan thực sự cảm thấy hòa mình, đắm chìm trong một thế giới tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của các nghệ sĩ mà chúng tôi quảng bá ».

« Trong hai ngày nghỉ cuối tuần đầu tiên đã có rất nhiều khách đến xem triển lãm, chúng tôi rất vui mừng vì thấy công chúng hào hứng với triển lãm, mọi người đến rất đông và để lại nhiều bình luận trên mạng Internet, họ nói rằng triển lãm là một thành công lớn. Chúng tôi rất vui mừng với thành công lớn này. Chỉ trong ngày thứ Bảy, đã có gần 5.000 khách đến xem triển lãm. Chị thấy đấy, thực sự đó là một khởi đầu tuyệt vời.

5.000 khách chỉ trong một ngày thứ Bảy, nhưng con số này cũng phù hợp với điều mà chúng tôi vẫn làm ở Atelier des Lumières. Chúng tôi vẫn tính toán khả năng đón tiếp khách, bảo đảm chỉ có 1 khách ở mỗi diện tích khoảng 2m² để họ có điều kiện xem triển lãm thoải mái ở mọi góc độ và có thể di chuyển khắp phòng. Có người thích ở yên một chỗ, ngồi bệt dưới đất để ngắm nhìn, chiêm ngưỡng, nhưng cũng có những người thích di chuyển, đi lại loanh quanh và ngắm nhìn từ nhiều góc khác nhau. Dù sao thì triển lãm cũng được đón nhận rất nồng nhiệt và tôi nghĩ triển lãm năm nay sẽ thành công tốt đẹp ».

Triển lãm về thế giới hội họa của hai nghệ sĩ Cezanne và Kandinsky khai mạc tại Trung tâm nghệ thuật số Atelier des Lumières, Paris, từ ngày 18/02/2022 và sẽ kéo dài đến ngày 02/01/2023.


viethoaiphuong
#715 Posted : Saturday, May 21, 2022 5:41:15 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Những bản nhạc mùa hè đình đám 20 năm qua

21/05/2022 - Gia Trình / RFI
Mùa hè thường đồng nghĩa với những bãi biển nóng bỏng, không khí tiệc tùng, những chuyến dã ngoại. Mùa hè còn là cảm hứng bất tận cho những ca khúc sôi động, có sức lan tỏa mạnh mẽ. RFI điểm lại những bản nhạc mùa hè đình đám trong suốt hai thập niên qua.

1994 : "I Swear" - All-4-One

Nhóm R&B/Pop gồm bốn chàng trai California (Mỹ) All-4-One hâm nóng mùa hè năm 1994 bằng ca khúc lãng mạn I swear (Anh xin thề). Bản hit đầu tay đứng 11 tuần liên tiếp trên Hot 100 Billboard. Ca khúc rất được ưa chuộng trên radio vào mùa hè nhờ giai điệu ngọt ngào. Bản ballad còn đem về cho nhóm giải Grammy Trình diễn Pop theo nhóm xuất sắc nhất. Nhóm All-4-One tiêu thụ hơn 69 triệu đĩa hát khắp toàn cầu nhưng ca khúc nổi tiếng và ưa thích nhất vẫn là I swear. Lời ca bài hát rất ủy mị theo kiểu tình ca thập niên 90. Nhưng kỹ thuật hát bè và giai điệu ngọt ngào ghi điểm tuyệt đối trong lòng người hâm mộ.

I swear / By the moon and stars in the sky / I'll be there/ I swear / Like the shadow that's by your side / I'll be there/ For better or worse/ 'Til death do us part.

Anh xin thề / Có trăng sao làm chứng / Anh sẽ luôn ở đó / Anh xin thề / Như cái bóng bên em / Anh sẽ luôn ở đó / Dù tốt đẹp hay tồi tệ hơn / Cho dù cái chết chia lìa đôi ta.


1996 : "Macarena (Bayside Boys Mix)"- Los Del Rio

Nhóm pop latin Los Del Rio, gồm 2 “bô lão” tuổi U50 có mùa hè năm 1996 vô cùng khó quên. Ca khúc Macarena cùng điệu nhảy thần thánh “làm mưa, làm gió” trên các bảng xếp hạng âm nhạc toàn cầu. Bài hát ra mắt lần đầu vào năm 1993 nhưng không có mấy tiếng tăm ở xứ sở bò tót. Họ vẫn kiên nhẫn sáng tạo các bản remix trên nền nhạc gốc. Ba năm sau, nhóm ra mắt bản remix có sự tham gia của Bayside Boys trên nền nhạc beat tiếng Anh. Rất bất ngờ, ca khúc remix tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ khắp toàn cầu. Bài hát kèm theo điệu nhảy lôi cuốn, điệp khúc đơn giản với vòng lặp dễ nhớ. Ca khúc remix ra mắt năm 1995, leo lên hạng 1 bảng xếp hạng Billboard tháng 8 năm 1996 và trụ hạng trong 14 tuần. Đến giờ, Macarena vẫn là một trong bản hit của dòng nhạc latin pop thành công nhất.

1999 : "Genie in a Bottle" - Christina Aguilera

Mùa hè năm 1999 trở nên rực lửa nhờ bản nhạc ghi dấu ấn riêng của Christina Aguilera. Ca khúc Genie in a bottle (Vị thần trong chai) ra mắt tháng 5 năm 1999 trong album đầu tay của nữ ca sỹ. Bài hát theo thể loại teen-pop/dance-pop, đề cao cái tôi của bản thân (self-respect). Christina gặt hái thành công lớn trong album đầu tay nhờ giọng hát soprano và vẻ sexy của tuổi 18. Video clip được ghi hình trên bãi biển Malibu, California, trở thành video ca nhạc được yêu cầu nhiều nhất trên kênh MTV, VH1. Giai điệu bài hát rất bắt tai nên dễ dàng tiêu thụ hết 1,3 triệu đĩa hát, đứng thứ 2 trong năm 1999, chỉ sau single Believe của Cher. Tuy nhiên, phần ca từ gây tranh cãi vì đề cập tới khám phá sex ở tuổi vị thành niên.

2003 : "Crazy in Love" - Beyoncé feat. Jay-Z

Mùa hè năm 2003 nổ tung nhờ sự bứt phá của nữ ca sỹ Beyonce Knowles. Ca khúc Crazy in lovetrích trong album đầu tay Dangerously in Love (2003). Diva da màu chính thức tách khỏi nhóm Destiny Child để hoạt động solo. Đây là sản phẩm hợp tác với Jay Z, người chồng hiện tại, người góp phần không nhỏ lăng xê tên tuổi Beyonce. Ca khúc Crazy in love tích hợp pop, hip-hop, soul, funk với tiết tấu khỏe, năng động. Bài hát mô tả sự ám ảnh trong tình yêu tới mức nhân vật nữ hoàn toàn mất kiểm soát. Sức hút bài hát không chỉ riêng ở Mỹ, Anh mà lan khắp toàn cầu. Video ca nhạc của bài hát thu hút lượng người xem khổng lồ nhờ màn vũ đạo bốc lửa khoe thân của nữ ca sỹ. Crazy in love luôn được coi siêu phẩm của mùa hè và ca khúc đinh trong các buổi trình diễn live của Beyonce.

2009 : "I Gotta Feeling" - The Black Eyed Peas

Album thứ 5 của nhóm Black Eyed Peas đã sản sinh bản hit đình đám cho mùa hè 2009. Ca khúc I gotta feeling trình làng vào mùa hè cùng năm và trụ hạng 1 trên bảng xếp hạng Billboard trong suốt 14 tuần liên tiếp. Ca khúc còn nắm giữ kỷ lục tiêu thụ 7 triệu bản ở phiên bản kỹ thuật số, hơn 9 triệu lượt tải về trên iTunes. Bản nhạc được sáng tác bởi 4 thành viên trong nhóm, ghi âm tại Paris (Pháp) và hoàn thiện tại Luân Đôn (Anh Quốc). Ca khúc có độ dài gần 5 phút theo thể loại dance-pop trên nền nhạc điện tử. Âm thanh woo-hoo kéo dài dựa trên ca khúc nổi tiếng của nhóm Police - Every breath you take. Hầu hết các bài hát của nhóm mô tả cuộc sống tiệc tùng triền miên và I gotta feeling là đại diện xuất sắc nhất.

2012 : "Call Me Maybe" - Carly Rae Jepsen

Bản nhạc teen pop Call Me Maybe gây sốt năm 2012 nhờ video ca nhạc vô cùng dễ thương. Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên khiến cho cô gái mong chờ cuộc gọi từ người mình say đắm. Giọng ca người Canada Carly Rae Jepsen cũng là đồng tác giả của bài hát. Mới đầu, bài hát được viết theo giai điệu folk, nhưng được chuyển thành pop trong quá trình sản xuất. Ca khúc lên hạng 1 tại Canada và rất nhiều quốc gia khác. Đĩa đơn này trở thành hiện tượng năm 2012 khi tiêu thụ tới hơn 12 triệu bản, đồng thời single ăn khách nhất trên siêu thị âm nhạc trực tuyến iTunes. Các nhà phê bình cho rằng Call Me Maybe hội tụ đầy đủ “hương vị mùa hè” : nhạc beat tốt, giai điệu dễ nghe, ca từ bắt tai và ngọt ngào. Nó rất phù hợp với những bữa tiệc mùa hè, chuyến đi xa trên xe hơi nhờ chất giọng khàn và quyến rũ của Carly.

2017 : “Despacito” - Luis Fonsi and Daddy Yankee, featuring Justin Bieber

Despacito làm nên hiện tượng của nhạc latin vào mùa hè 2017. Ca sỹ người Puerto Rico, Luis Fonsi và Daddy Yankee thu hút hơn 7 tỷ lượt xem trên kênh Youtube. Kể từ bản hit Macarena (1996), 21 năm sau mới có một ca khúc tiếng Tây Ban Nha khuynh đảo bảng xếp hạng âm nhạc Billboard. Ca khúc leo lên hạng 1 tại 47 quốc gia nhờ giai điệu sexy pha trộn reggae, latin pop. Tựa đề bài hát nghĩa là Slowly (Chậm lại) mô tả mối quan hệ xác thịt nóng bỏng nhưng biểu diễn theo cách lãng mạn, nhẹ nhàng. Giới phê bình và khán giả đón nhận nồng nhiệt ca khúc này như sự pha trộn hoàn hảo giữa dòng nhạc Latin và giai điệu đương đại. Nhà sản xuất cũng khôn khéo khi mời hoàng tử pop Justin Bieber tham dự để tạo được thành công thương mại.

Điểm chung các ca khúc “hương vị mùa hè” là giai điệu trẻ trung, dễ nghe, chủ đề tình yêu, kèm theo vũ đạo cuốn hút. Các nhà sản xuất khéo léo phát hành vào đầu hè để chào đón sự bứt phá trên sóng radio, internet và bảng xếp hạng âm nhạc.

(Theo Insider, Wikipedia, Billboard)


viethoaiphuong
#716 Posted : Monday, May 23, 2022 9:15:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

François Bibonne và nhịp cầu âm nhạc Pháp-Việt

23/05/2022 - Thanh Phương / RFI
Có lẽ không có bộ phim tài liệu nào về Việt Nam mà chỉ trong một thời gian ngắn được quốc tế biết nhiều đến như Once upon a bridge in Vietnam ( Ngày xưa có một nhịp cầu ở Việt Nam ) của François Bibonne. Chính là qua bộ phim này mà khán giả nước ngoài và trong nước khám phá thế giới nhạc cổ điển tại Việt Nam và âm nhạc Việt Nam nói chung.

Tác phẩm của đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt đã đoạt giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan phim Los Angeles LAFA 2022 và Liên hoan phim quốc tế New York NYFA 2022. Phim còn được đề cử tranh giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan phim độc lập Roma Prisma Awards tháng 12/2021, cũng như có tên trong danh sách chính thức tranh giải Liên hoan phim quốc tế Boden ở Thụy Điển, giải Liên hoan phim Hollywood BLVD 2002, và trong danh sách Short to the Point tháng 01/2022.

Once upon a bridge in Vietnam còn đã được trình chiếu tại studio Le Regard du Cygne ở Paris, tại trường Hunter College ở New York và sắp tới đây sẽ được trình chiếu ở Việt Nam trong khuôn khổ Liên hoan Mad Visions Film Fest tại Sài Gòn ( 10-11/06/2022 ).

Trả lời phỏng vấn ban Việt ngữ tại phòng thu của RFI ngày 11/05/2022, François Bibonne cho biết về hình tượng cây cầu trong Once upon a bridge in Vietnam:

“ Đó là một ẩn dụ có nhiều nghĩa. Ban đầu đó là hình ảnh cây cầu Long Biên, một cây cầu do Pháp xây dựng và là biểu tượng cho mối quan hệ thân hữu giữa Pháp và Việt Nam. Nhưng ngoài ý nghĩa này, đó còn là cầu theo nghĩa nhạc cụ, tiếng Anh là Bridge, tức là ngựa đàn, phần đỡ những sợi dây của những nhạc cụ như violon, violoncelle.

Cầu cũng có thể được hiểu theo nghĩa âm nhạc, tức là phần chuyển tiếp hay còn gọi là đoạn cầu giữa phân khúc và điệp phúc.

Ta cũng có thể hiểu đó là nhịp cầu nối giữa nhạc truyền thống Việt Nam với nhạc cổ điển phương Tây, giữa hai nền văn hóa Pháp Việt”.

Chính là vì tò mò muốn tìm hiểu về sinh hoạt của giới âm nhạc cổ điển phương Tây ở Việt Nam, François Bibonne đã đến với quê hương của người bà Việt Nam mà anh rất thương nhớ:

“Tôi rất say mê nhạc cổ điển. Hồi nhỏ tôi chơi piano rất nhiều và tôi đã từng muốn theo nghề nghệ sĩ piano, nhưng cuối cùng tôi là thích ngành thính thị, tôi cũng có bằng thạc sĩ Lịch sử. Tuy vậy, tôi vẫn muốn làm việc trong môi trường âm nhạc cổ điển và tôi đã bắt đầu làm các phỏng vấn cho một tổ chức nghệ thuật chuyên giảng dạy nhạc cổ điển. Tôi rất quan tâm đến chân dung của các nghệ sĩ, đến cuộc sống của họ. Rồi trong thời gian thực tập cho một công ty sản xuất nhạc cổ điển, quản lý các nghệ sĩ tại những nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, tôi tò mò muốn tìm hiểu về nhạc cổ điển ở Việt Nam, không biết ở Việt Nam có dàn nhạc cổ điển không, nhạc cổ điển có một vị trí như thế nào ở nước này. Tôi bèn dùng công cụ Google để tìm thông tin, nhưng chẳng thấy có gì về nhạc cổ điển ở Việt Nam

Rồi vào lúc đó, bà tôi qua đời và lần đầu tiên tôi về Việt Nam với một dự án phim tài liệu. Tôi rất vui vì ở Việt Nam tôi được mọi người đón tiếp niềm nở, nhất là Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Tôi đã được phép theo họ để quay phim trong tất cả các buổi tập dợt, các buổi hòa nhạc và dần dần tôi trở thành giống như là nhà báo của dàn nhạc! Tôi cũng tiếp xúc nhiều với nhạc trưởng là người Nhật và qua đó biết được nhiều điều về lịch sử nhạc cổ điển ở Việt Nam và gặp được những nhân vật chủ chốt của sân khấu âm nhạc cổ điển Việt Nam. Từ đó, tôi ra khỏi khuôn khổ của dàn nhạc giao hưởng, ra khỏi Hà Nội về các miền quê để đưa khán giả đến với nhạc dân tộc, với văn hóa Việt Nam."

Once upon a bridge in Vietnam chính là dự án đầu tiên của studio Thi Koan mà François Bibonne lập ra và đặt theo tên của bà nội Nguyễn Thị Koan. Nhà đạo diễn trẻ đã ở Việt Nam trong suốt 15 tháng giữa đại dịch Covid-19, đến dự những buổi hòa nhạc, biểu diễn âm nhạc truyền thống, những buổi tập luyện của các nghệ sĩ, hay đến thăm làng làm kèn đồng ở Nam Định, làng vĩ cầm ở Bắc Giang, tìm hiểu về việc duy trì dân ca quan họ ở Bắc Ninh, về ca trù tại Hà Nội…

Điều đáng nói ở đây là François Bibonne hầu như chỉ một mình dấn thân vào dự án này, thế mà bộ phim tài liệu của anh đã dần dần chinh phục được khán giả ở Pháp, ở Mỹ:

“Tôi chỉ có một mình để làm công việc quảng bá, tiếp thị cho bộ phim. Nhưng như thế cũng hay, bởi vì nhờ vậy mà tôi đã có dịp gặp các phóng viên, gặp những người làm trong ngành thính thị và cũng nhờ vậy mà học được nhiều điều. Nhưng tôi đã làm theo cách cổ điển sau khi hoàn tất bộ phim tài liệu, đó là gởi phim đến dự các liên hoan điện ảnh và tôi đã nhận được một số giải tại các liên hoan ở Mỹ, ở Ý. Tôi cũng đã tổ chức sự kiện đầu tiên ở Paris để trình chiếu bộ phim, với sự tham gia của các nghệ sĩ, nhạc sĩ Việt Nam để có dịp quảng bá cho họ, vì mục đích bộ phim của tôi cũng chính là nêu bật vai trò của họ.

Phim của tôi cũng đã được chiếu tại trường Hunter College ở New York, một đại học rất lớn, nhờ vào sự trợ giúp của một nghệ sĩ piano người Việt, sau này trở thành bạn của tôi. Qua buổi trình chiếu này mà dự án của tôi được cộng đồng người Việt ở Mỹ biết đến. Tôi cũng đã có dịp gặp các giáo sư người Việt ở đại học Colombia, họ có đề nghị là trong tương lai có thể chiếu bộ phim của tôi trong trường của họ và qua đó nói về tiếng Việt, bởi vì phim của tôi cũng nói về tiếng Việt, một ngôn ngữ rất nhiều âm điệu. Các đại học, các viện cũng đang tìm các công cụ để thu hút giới trẻ học tiếng Việt.

Tôi cũng đang tìm các nhà phát hành phim và cũng vì tôi đã không học làm phim tài liệu một cách có bài bản, nên bây giờ tôi cũng đang cố tạo lập mạng lưới riêng cho mình.”

Dĩ nhiên là đối với những người làm phim độc lập, chưa có tên tuổi trong làng điện ảnh như François Bibonne, tìm được nguồn tài chính để thực hiện bộ phim Once upon a bridge in Vietnam không phải là đơn giản. Nhưng rất may là anh đã có thể huy động được vốn từ cộng đồng dưới hình thức gọi là crowdfunding:

“Tôi có được nguồn tài trợ cho bộ phim huy động vốn trên mạng Indiegogo, nơi mà cộng đồng có thể đóng góp tiền cho các dự án. Mục tiêu mà tôi đề ra ban đầu là 12.000 euro và tôi đã đạt được mục tiêu này và thậm chí cuối cùng đã nhận được nhiều hơn, hình như là hơn 300 euro. Ban đầu, đó là tiền đóng góp của gia đình, bạn bè, sau đó là đóng góp của các hội đoàn ở Paris, rồi có sự hỗ trợ của các nhạc sĩ ở Việt Nam, và chính họ cũng đi vận động cho tôi. Nếu tổng kết lại các nguồn đóng góp, chúng ta có một tam giác với ba góc là Pháp, Việt Nam và Mỹ. Và thành phần khán giả chủ yếu của tôi cũng chính là ở ba quốc gia đó.

Tôi đã bắt đầu quay tiếp, có thể gọi đó là tập hai của bộ phim, về chân dung của các nhạc sĩ người Việt ở nước ngoài, nói về nỗi nhớ quê hương của họ. Tôi không biết có sẽ lại huy động vốn từ cộng đồng hay không. Tôi rất muốn có sự hỗ trợ của nền tảng như Netflix, của các kênh truyền hình sản xuất phim trên mạng, như đài Pháp-Đức Arte, để có được các thiết bị ghi hình, thu âm tốt hơn. Nếu không tìm được nhà phân phối, nhà bảo trợ, thì tôi sẽ lại tìm nguồn tài trợ qua hệ thống crowdfunding, nhất là vì đã có những phản hồi rất tích cực từ những nhà tài trợ của cộng đồng sau khi họ xem phim của tôi.

Tại Pháp, tôi đang liên hệ với các rạp chiếu phim để tìm các đối tác, tiếp tục quảng bá cho bộ phim nhân các sự kiện, có thể là kết hợp với các nhạc sĩ người Việt. Còn tại Việt Nam, phim cũng sẽ được trình chiếu ở Sài Gòn, trong khuôn khổ Liên hoan Mad Visions Film Fest (10-11/06/2022). Tôi cũng cố gắng có được các đối tác như Viện Pháp ở Việt Nam hay sứ quán Pháp ở Việt Nam. Hiện giờ chưa có sự hỗ trợ của họ, nhưng tôi nghĩ là họ sẽ quan tâm đến dự án của tôi.”

Francois Biconne cho biết Việt Nam đã hỗ trợ anh rất nhiều, ngoài các nhạc sĩ, còn có cả một hệ thống báo chí, truyền hình quảng bá cho dự án của anh. Đối với đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt, đó là một sự yểm trợ về tinh thần khích lệ anh rất nhiều và càng làm cho anh thấy nhạc cổ điển ở Việt Nam là một chủ đề thu hút khán giả, nhất là qua cái nhìn của một người Pháp.


viethoaiphuong
#717 Posted : Saturday, May 28, 2022 1:19:09 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Nhạc Pháp lời Việt : ''Đêm huyền diệu'' của hai Lara

28/05/2022 - Tuấn Thảo / RFI
Nhắc đến ''Nuit Magique'' có nghĩa là ''Đêm huyền diệu'', giới yêu nhạc Pháp nghĩ tới ngay tựa đề album nổi tiếng của Catherine Lara. Ca khúc chủ đề trích từ tập nhạc cùng tên đã giúp cho nữ ca sĩ kiêm tác giả ngự trị thị trường Pháp trong vòng 20 tuần liên tục, để rồi trở thành tình khúc ăn khách nhất mùa hè năm 1986.

Nhạc phẩm ''Nuit Magique'' (Đêm huyền diệu) do Catherine Lara cùng sáng tác với Luc Plamondon và Sebastian Santa Maria đã nâng tầm diễn xuất của cô lên một bậc, nhờ giai điệu trữ tình mềm mại mà đem lại một âm sắc mới cho một giọng ca có sở trường hát nhạc rock. Sáng tác của Catherine Lara thường có lối hòa âm phối khí cực kỳ trau chuốt như bàn tay thợ kim hoàn mài dũa cho viên kim cương thêm sắc nét lộng lẫy (La Rockeuse de Diamants). ''Nuit Magique'' trở thành một trong những sáng tác tiêu biểu nhất dòng nhạc Pháp vào những năm 1980 và từng được tác giả Khúc Lan Việt hóa thành nhạc phẩm ''Đêm huyền diệu'' qua phần ghi âm của nam ca sĩ Don Hồ.

Đêm huyền diệu của ''hai nghệ sĩ'' có tên Lara

Năm 2022 đánh đấu đúng 50 năm sự nghiệp ca hát của Catherine Lara. Cô thành danh hầu như cùng thời với Véronique Sanson. Cả hai nữ nghệ sĩ đều cho ra mắt album đầu tay vào năm 1972 : ''Amoureuse'' của Véronique Sanson do Michel Berger thực hiện; còn ''Ad Libitum'' do Catherine Lara hợp tác với Daniel Boublil, đồng tác giả của vở nhạc kịch ''Les Misérables'' (Những người khốn khổ) rất ăn khách sau đó trên sân khấu nhạc kịch Anh Mỹ Broadway.

Thật ra, Catherine Lara đã khởi nghiệp khá sớm. Sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Paris năm 21 tuổi (1966) với hai giải thưởng lớn dành cho tài nghệ chơi vĩ cầm và khiếu sáng tác nhạc thính phòng, Catherine Lara đã sáng lập một ban tứ tấu chuyên ghi âm hay đi biểu diễn cùng với các nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, trong đó có Françoise Hardy, Nana Mouskouri, Claude Nougaro, William Sheller hay Maxime Le Forestier. Trong nửa thế kỷ sự nghiệp, Catherine Lara đã ghi âm hơn 40 album đủ loại kể cả rock giao hưởng, bán cổ điển, nhạc dân tộc, nhạc kịch, nhạc phim, nhạc hòa tấu.

Nhân dịp nửa thế kỷ sự nghiệp của Catherine Lara, bộ toàn tập ''Les années magiques'' được tái bản với nhiều ca khúc bổ sung, kể cả những phiên bản ít được phổ biến. Đêm huyền diệu cũng từng được giọng ca thần tượng Lara Fabian ghi âm lại trên album cover phát hành vào năm 2009 (''Toutes les femmes en moi'' gồm các bài hát tiếng Pháp, ''Every woman in Me'' tuyển tập bằng tiếng Anh). Lối diễn đạt điêu luyện của Lara Fabian với lối hoà âm khá mộc cũng gây nhiều ấn tượng và kể từ đó ''Nuit Magique'' được biết đến như ''Đêm huyền diệu'' của hai nghệ sĩ có chữ Lara trong tên và họ (họ của Catherine Lara và tên của Lara Fabian).

50 năm ngày thành lập ban nhạc ''Il était une fois''

Tuy không hẹn nhưng một bản nhạc tình khác cũng đáng được nhắc tới trong tuần này. Đó là nhạc phẩm ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) của ban nhạc Pháp ''Il était une fois'' (hiểu theo nghĩa Ngày xửa ngày xưa). Được thành lập vào năm 1972, tức cách đây đúng nửa thế kỷ, ban nhạc này gồm 5 thành viên (một nữ, bốn nam) nhưng quan trọng nhất vẫn là giọng ca chính Joëlle Morgensen người Mỹ gốc Đan Mạch và tay đàn ghi ta Serge Koolenn có hai dòng máu Pháp-Bỉ. Serge Koolenn thường hay sáng tác chung với tay trống Richard Dewitte, họ quen nhau từ thời còn nhỏ, đôi bạn lớn lên cùng xóm, cả hai đi học cùng trường.

Đến khi trưởng thành, họ là những nghệ sĩ chuyên nghiệp thường đi biểu diễn chung với Michel Polnareff. Bài hát nổi tiếng nhất của nhóm này là bản song ca ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) lập kỷ lục số bán vào mùa hè năm 1975. Bản nhạc được xem như là phần ''hậu truyện'' của hai tình khúc ''Love me, please Love Me'' và nhất là ''L'Amour avec toi'' của Michel Polnareff (hiểu theo nghĩa trần trụi, dung tục nhất). Bản nhạc của Polnareff từng bị kiểm duyệt cho tới đầu những năm 1970, sau đó gợi hứng cho nhiều sáng tác khác : trong đó có ''Pour un Flirt'' của Michel Delpech (hiểu theo nghĩa Cho một lần hẹn hò tán tỉnh) và bài ''J'ai encore rêvé d'elle'' (Ta lại mơ đến nàng) của ban nhạc Il était une fois.

Một trong những phiên bản ghi âm gần đây nhất là của Amaury Vasili hát chung với Barbara Opsomer, với lối diễn đạt khá lãng mạn trữ tình nhưng vẫn chưa nóng bỏng ướt át bằng bản gốc, phần lớn cũng vì Joëlle Morgensen và Serge Koolenn ngoài việc hát chung trên sân khấu, còn là đôi tình nhân sống chung ở ngoài đời. Ban nhạc Il était une fois thành công với 4 album nhưng cuối cùng vẫn tan rã khi cặp nghệ sĩ này quyết định chia tay sau 7 năm hoạt động. Từ năm 1979 trở đi, Serge Koolenn đi hát solo cho tới khi anh nhận tin Joëlle đột ngột qua đời dù chỉ mới 29 tuổi. Năm 2022 đánh đấu cùng lúc hai sự kiện : 50 năm ngày khai sinh nhóm Il était une fois và 40 năm ngày giỗ của cô ca sĩ Joëlle Morgensen.

Nhạc phẩm ''J'ai encore rêvé d'elle'' cho tới giờ vẫn chưa được phóng tác sang tiếng Việt, cho dù giai điệu nghe khá lọt tai. Trong số 5 thành viên ban đầu của nhóm, cả hai giọng ca chính đều đã qua đời (Joëlle Morgensen vào năm 1982, Serge Koolen vào năm 2015) khiến cho nhóm này khó thể nào tái hợp. Tuy phần kết (của ban nhạc Il était une fois) không có hậu như trong chuyện cổ tích đêm mưa, nhưng giai điệu ''thần tiên'' vẫn chưa già từ cái thuở Ngày xửa ngày xưa …..


viethoaiphuong
#718 Posted : Wednesday, June 1, 2022 11:35:05 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Siêu nhóm nhạc K-pop BTS gặp TT Biden và phát biểu tại Nhà Trắng

01/06/2022 - Voa / Reuters
Nhóm nhạc nam Hàn Quốc BTS, một nhóm nhạc gây quỹ cho các hoạt động công bằng xã hội của Hoa Kỳ, vừa gặp Tổng thống Joe Biden tại Nhà Trắng vào ngày 31/5 để thảo luận về tội ác thù hận nhắm vào người châu Á.

Các ngôi sao K-pop đã có những phát biểu ngắn gọn với các phóng viên trước cuộc họp, kêu gọi ngừng các tội ác nhắm vào người Mỹ gốc Á.

“Chúng tôi rất đau buồn vì tình trạng gia tăng tội ác thù hận gần đây, bao gồm cả tội ác thù hận nhắm vào người Mỹ gốc Á”, thành viên ban nhạc Jimin cho biết thông qua một phiên dịch viên. “Để chấm dứt vấn đề này và ủng hộ cho mục tiêu trên, chúng tôi muốn nhân cơ hội này gióng lên tiếng nói một lần nữa”.

Cuộc họp diễn ra vào ngày cuối của tháng 5, là tháng về người Mỹ gốc Á và thổ dân Hawaii / Đảo Thái Bình Dương, sau khi có sự tăng mạnh về tội ác thù hận nhắm vào cộng đồng gốc Á trong năm qua.

Các cuộc tấn công nhằm vào những người gốc Á đã leo thang khi một số chính trị gia và chuyên gia khuyến khích người Mỹ đổ lỗi cho Trung Quốc về dịch COVID-19.

Trong khi cuộc họp không cho phép báo chí tham dự, Nhà Trắng cho biết một mục tiêu là “thảo luận về tầm quan trọng của sự đa dạng và hòa nhập, với nền tảng của BTS trong tư cách là những đại sứ thanh niên, những người truyền bá thông điệp về hy vọng và sự tích cực trên toàn thế giới”.

Nhóm nhạc được biết đến với việc sử dụng lời bài hát và các chiến dịch xã hội nhằm trao quyền cho những người trẻ tuổi kể từ khi ra mắt vào năm 2013. Người hâm mộ của nhóm đã mở rộng đến những người lớn tuổi, liên kết họ với một thế hệ am hiểu về internet biết khai thác sức mạnh của truyền thông xã hội.

Vào tháng 6 năm 2020, người hâm mộ BTS đã quyên góp được khoảng 1 triệu đô la trong một ngày trong chiến dịch trực tuyến #MatchAMillion vì các mục tiêu công bằng xã hội của Hoa Kỳ, cùng với khoản quyên góp tương ứng của ban nhạc cho phong trào “Black Lives Matter”.

Công ty quản lý Big Hit Music của nhóm nói rất vinh dự khi nhóm được mời tới Nhà Trắng.

“Khi chúng tôi đến thăm với tư cách là nghệ sĩ đại diện cho Hàn Quốc, chúng tôi mong muốn thảo luận về các chủ đề khác nhau bao gồm sự hòa nhập, đa dạng, tội phạm hận thù chống lại người châu Á, văn hóa và nghệ thuật”, Big Hit Music cho biết.


viethoaiphuong
#719 Posted : Tuesday, June 7, 2022 6:10:08 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Micheal Bolton - “Ông ngoại” hát tình ca

04/06/2022 - Gia Trình / RFI
Hiếm có giọng ca vẫn miệt mài những bản tình ca ở tuổi U70 như Michael Bolton. Giọng tenor của thể loại soul, pop ballad từng suýt bỏ nghề do cuộc sống quá bấp bênh. Tuy nhiên, bản nhạc cover của nữ ca sỹ Laura Branigan hoàn toàn thay đổi cuộc đời Micheal.

Bài hát thay đổi cuộc đời

Micheal Bolton đã phải làm việc cật lực để trở thành ngôi sao ca nhạc. Ngôi sao sinh năm 1953 lớn lên tại bang Connecticut, Mỹ, biểu diễn từ năm 16 tuổi trên sân khấu với phong cách soft-rock. Song song với biểu diễn, ông cũng sáng tác khá nhiều cho các ca sỹ khác. Thời trẻ, Micheal rất nghèo túng, một vợ 3 con nhưng không thể xoay sở tiền mua thực phẩm và thuê nhà. Người vợ lúc đó hiểu tình cảnh nhưng Micheal không hề tiết lộ cho ba cô con gái về gánh nặng của cuộc sống mưu sinh. Nam nghệ sỹ sinh năm 1953 từng nghĩ tới việc từ bỏ con đường âm nhạc.

Tuy nhiên, quyết định cover lại ca khúc đinh của Laura Branigan đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông. Bản nhạc gốc nằm trong album Branigan 2 sản xuất năm 1983 của nữ ca sỹ. Ông mua lại bản quyền thuộc về hãng BMI để hát lại. Không lâu sau, ông phát hành bản thu âm How am I supposed to live without you (Làm sao anh có thể sống thiếu em) dưới dạng đĩa đơn. Bài hát nhanh chóng lọt vào Top 100 Billboard và trụ hạng trong 23 tuần. Ca khúc trích trong album Soul Provider (1989) cũng lọt hạng 3 bảng xếp hạng và nằm trong Top 200 hơn 200 tuần liên tiếp. Bản nhạc như ngôi sao may mắn chiếu mệnh, giúp ông trở thành siêu sao ca nhạc, thoát khỏi cảnh khó khăn kéo dài. Hơn thế, nam nghệ sỹ giành được giải Grammy đầu tiên cho trình diễn pop xuất sắc nhất.

Người tài trợ tâm hồn

Thành công của How am I supposed to live without you tạo nên sự bứt phá ngoạn mục của Micheal trong cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Album Soul Provider ra mắt năm 1989 thành công ngoài mong đợi. Các ca khúc trong album đồng sáng tác với nhà soạn nhạc tài ba Dianne Warren và Desmond Child.

Trong tâm trí khán giả, hình ảnh Micheal Bolton luôn đóng đinh với trang phục quần jeans, mái tóc dài và xù mỳ. Chất giọng không thể lẫn với các giọng nam khác nhờ độ cao, độ khàn và đặc biệt tràn đầy năng lượng. Chùm ca khúc như How can we be lovers, When I am back on feet again lọt vào Top 40 ca khúc được ưa thích. Hai năm sau, Micheal còn nổi tiếng hơn nhờ album Time, Love and Tenderness đạt thành công lớn về thương mại. Album tiêu thụ tới hơn 8 triệu bản tính riêng tại Mỹ. Thêm 1 lần nữa, ca khúc When a man loves a woman (Khi người đàn ông yêu một người đàn bà) cover lại bản nhạc của Percy Sledge lại đem đến tiếng tăm cho nghệ sỹ. Bản cover của Micheal còn nổi tiếng hơn cả bản gốc. Ca khúc nằm trong top ca khúc ưa thích nhất trong năm và đem lại thêm giải Grammy thứ hai cho nam ca sỹ. Tuy nhiên, ông cũng gặp rắc rối với vụ kiện tụng của nhóm Isley Brothers đối với ca khúc Love is a wonderful thing. Kết quả là đồng tác giả và hãng SONY phải trả hơn 5 triệu đô la từ lợi nhuận ca khúc do Micheal thể hiện cho nhóm Isley Brothers. Cho đến giờ, đây cũng là vụ kiện tai tiếng và số tiền phạt lớn nhất trong lịch sử âm nhạc.

Một điều khá thú vị là Micheal không được lòng giới phê bình cho dù thành công về thương mại. Họ cho rằng Micheal không đủ thuyết phục để tái hiện tên tuổi nhạc soul tầm cỡ như Redding, Ray Charles hay Sledge. Nam nghệ sỹ ngay lập tức đáp trả bằng album Timeless : Classics gồm các bản hit nổi tiếng một thời. Album này lên hạng nhất Billboard nhờ tài năng chinh phục khán giả.

Một lần nữa, Micheal gây tiếng tăm nhờ bản cover của ca khúc gắn với nhóm Bee Gees, To Love Somebody (Để yêu ai đó). Dường như càng đi ngược với giới phê bình, Michael Bolton càng thành công hơn về thương mại. Các ca khúc hát lại (cover) những tên tuổi khác lại mang tới may mắn cho sự nghiệp của Michael. Album The one thing (1993) tiếp tục khai thác ballad tình yêu với chất giọng tenor khỏe khoắn. Ca khúc đinh Said I loved you but I lied (Nói anh yêu em chỉ là lời nói dối) trở thành ca khúc biểu tượng. Bài hát nói về cảm xúc mạnh mẽ hơn cả tình yêu. Chất giọng có lửa và thép của Michael làm nên sức cuốn hút vượt thời gian của bản ballad.

Tình bạn lớn với nhạc sỹ tài ba Diane Warren

Thành công của Micheal Bolton không thể nhắc tới người bạn tri kỷ trong âm nhạc, Diana Warren. Nữ nhạc sỹ chính là tác giả bản nhiều hit gây dựng tên tuổi của Michael Bolton. Số lượng các sáng tác của Diane Warren mà Micheal Bolton thể hiện trên 30 ca khúc. Trong đó có các bản hit xuất sắc như Time, Love and Tenderness (Thời gian, tình yêu và sự dịu dàng), How can we be lover (Làm sao chúng ta có thể tiếp tục làm người tình), Completely (Trọn vẹn), This river (Con sông).

“Khi Diana viết một bản nhạc tầm cỡ, cô ấy rất quan tâm, chăm chút tới nó. Cô ấy tìm cách nói chuyện với các nhà sản xuất để họ ghi âm cẩn thận, để họ biết chắc chắn bài đó sẽ là một bản hit”. Micheal Bolton luôn ghi nhận đóng góp của Diane cho sáng tác, tiếp thị sản phẩm âm nhạc trước khi có sự ra đời của mạng xã hội. Thú vị hơn nữa, Diane là người giúp Micheal Bolton biết cách tiếp thị và khuyếch trương tầm ảnh hưởng của mình.

Cảm hứng cho thế hệ trẻ

Micheal Bolton chính thức lên chức ông ngoại kể từ năm 2010. Hiện giờ là ông của 6 đứa trẻ, biểu tượng âm nhạc thập niên 1980-90 vẫn đầy nhiệt huyết với ca hát cũng như sáng tác. Tuy không còn mái tóc dài quen thuộc, hình ảnh Micheal Bolton với mái tóc ngắn bạch kim phản ánh được sự năng động của nghệ sỹ. Ông tham gia cuộc thi sáng tác nhạc American Song Contest năm 2022, đại điện cho quê hương bang Connnecticut với ca khúc Beautiful World (Thế giới tươi đẹp).

Trước đó, giọng tenor còn kết hợp nhóm rap/hiphop Lonely Island cho ra mắt bản hit Jack Sparrow trong phim bom tấn Pirates of Caribbean (Cướp biển vùng Caribê). Bản nhạc có hơn 225 triệu lượt xem trên kênh Youtube. Bất ngờ hơn, Micheal từng hợp tác với nhiều nghệ sỹ trẻ, trong đó có Lady Gaga, người đồng sáng tác ca khúc Murder My Heart của ông.

Giọng ca của Micheal Bolton chưa có dấu hiệu xuống dốc ở độ tuổi U70. Ông tìm kiếm sự hoài cổ cũng như yếu tố mới mẻ khác. Các dự án âm nhạc gần đây Michael quay trở lại với chất nhạc soul/R&B, những ca khúc nổi tiếng trong phim. Ngoài ra, Michael đã trình làng album nhạc kết hợp dàn nhạc giao hưởng vào năm 2019. Sức cuốn hút của nam nghệ sỹ trên sân khấu cũng không mấy thuyên giảm. Bất chấp đánh giá của giới phê bình, khán giả trung thành vẫn là ưu tiên hàng đầu của ngôi sao âm nhạc U70.

(Theo Wikipedia, AllMusic)


viethoaiphuong
#720 Posted : Thursday, June 9, 2022 5:32:47 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 11,189
Points: 16,728

Thanks: 861 times
Was thanked: 707 time(s) in 705 post(s)

Roy Orbinson, kẻ si tình mộng mơ

Gia Trình / RFI
Một người đàn ông bước lên sân khấu với bộ vest đen, đeo kính đen, cất tiếng hát những bản nhạc buồn làm tan vỡ triệu con tim và ra đi đột ngột trong cơn đau tim ở tuổi 52. Đó là chính là Roy Orbison, người được Elvis Presley nhận xét là ca sỹ suất sắc nhất hành tinh.

Ngôi sao pop/rock chinh phục trái tim người nghe bởi chất giọng truyền cảm với những bản nhạc melancholy (đa sầu, đa cảm) như Only The Lonely, In Dreams, Crying.

Album vinh danh sự nghiệp

Gần ba mươi năm sau khi ông qua đời, năm 2017, dàn nhạc giao hưởng danh tiếng nhất London, Royal Philharmonic hồi sinh ký ức âm nhạc đẹp nhất khi kết hợp với gia đình ông biểu diễn các bài hát để đời của Roy Orbinson. Tạp chí âm nhạc uy tín Rolling Stone đã bình chọn cố nghệ sỹ (sinh năm 1936 - mất năm 1988) vào top 100 nghệ sỹ biểu diễn xuất sắc nhất mọi thời đại. Dàn nhạc giao hưởng thu âm tại studio nổi tiếng Abbey Road, các con trai của Orbison ghi âm tại Black River Studios, tại Nashville, một studio mà cha họ từng sở hữu.

Album ghi nhận đóng góp không nhỏ từ những người con của Roy Orbison trong vai trò nhạc sỹ: Wesley và Roy Jr cùng chơi guitar, Alex chơi trống và thậm chí cả cháu nội Roy III, chơi tambourine trong bản hit nổi tiếng Oh Pretty Woman (Ôi, người đàn bà đẹp).

Bản ghi âm mới không đánh mất đi kho cảm xúc của bản hát gốc, diễn tả sự mê hoặc trước người phụ nữ đẹp. Giai điệu không buồn bã, nhưng bài hát vẫn có nét ưu tư, phiền muộn của Roy trong sự theo đuổi của kẻ si tình cho đến khi người phụ nữ tìm đến bên anh.

Album A Love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp, 2017) là hợp tuyển các bản nhạc gắn với tên tuổi của Roy Orbison xuyên suốt sự nghiệp sáng tác và biểu diễn từ thập niên 60 và cuối thập niên 80. Dưới bản phối khí dàn nhạc giao hưởng, người nghe được thưởng thức bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn: chất giọng truyền cảm lồng trong tầng lớp âm thanh trầm bổng.

Đầu thập niên 1960, Roy Orbison đã từng dội bom liên tiếp bảng xếp hạng Billboard Top 10 với 9 ca khúc kinh điển như Oh Pretty Woman, In dreams, Only the lonely, Crying. Sau đó, tên tuổi của Roy chìm xuống trước làn sóng British Invasion (Cuộc xâm lăng của văn hóa Anh Quốc) điển hình như nhóm The Beatles hay The Rolling Stones trên xứ sở cờ hoa. Mặc dù ông vẫn tổ chức nhiều live concert suốt thập niên 70, nhưng không có bản hit xuất sắc, nổi trội như thập niên 1960.

Thập niên 1980 chứng kiến sự trở lại đầy thăng hoa của ông khi bản nhạc lừng lẫy một thời In dreams (Trong những giấc mơ) được chọn làm nhạc phim Blue Velvet (Màn nhung xanh, 1986) do nữ minh tinh Isabella Rosellini thủ vai.

Ca khúc ru khán giả trong mộng mị, lạc vào hồi ức cuộc tình tan vỡ. Kỳ lạ thay, nó rất khớp với nội dung bộ phim thriller bí ẩn, bi kịch mà đạo diễn David Lynch “mát tay” lựa chọn. Thành công của soundtrack phim Blue Velvet tạo nên đòn bẩy mạnh mẽ cho sự trỗi dậy của âm nhạc Roy với công chúng.

In dreams I walk with you, in dreams I talk to you ; In dreams you're mine, all of the time ; We're together in dreams, in dreams.

Trong những giấc mơ, anh đi dạo và nói chuyện cùng em ; Trong mơ, em thuộc về anh mọi lúc ; Chúng ta luôn bên nhau trong giấc mơ.

Âm nhạc buồn và bi kịch cuộc đời

Cho dù nhịp điệu bài hát nhanh hay chậm, hầu hết khán giả và thậm chí chính Roy Orbinson đều phải lòng chất giọng truyền cảm của ông. Một giọng nam không dày, không ấm, nhưng lại có độ rung tạo được thiện cảm đến không ngờ. Ca từ và giai điệu những bài hát ông đa phần đề cập tới nỗi buồn, sự cô đơn, sự tan vỡ tình cảm trong tiết tấu nhịp chậm rãi.

Phải chăng những bi kịch lặp lại trong cuộc đời của Roy đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới những sáng tác của ông? Người vợ đầu Claudette đã qua đời trong tai nạn xe phân khối năm 1966. Hai năm sau, hai trong số ba con trai của Orbison cũng qua đời vì hỏa hoạn năm 1968. Trong một cuộc phỏng vấn, Roy thổ lộ rằng “Để trở thành một nhạc sỹ kiêm ca sỹ biểu diễn, mỗi ca khúc phải đến từ sâu thẳm bên trong bạn, và bạn phải đối xử, tôn trọng nó như những nghệ sỹ thực thụ”. Vì thế, khán giả luôn mặc định tên tuổi của ông luôn gắn bó với những bản nhạc nói về sự cô đơn hay mất mát trong tình yêu.

Đáng chú ý, Billy Steinberg và Tom Kelly, hai tác giả của ca khúc I drove all night (Anh đã lái xe cả đêm) đo ni đóng giày cho Roy Orbison thể hiện. Ông ghi âm ca khúc này năm 1987, một năm trước khi qua đời, nhưng bản nhạc chỉ được phát hành 5 năm sau đó.

Với nhịp điệu nhanh, tác phẩm khơi gợi lại bi kịch đời tư của Roy Orbison khi nhân vật chính phải chạy đua với thời gian, khát khao gặp được người tình như trong một giấc mơ. Bản ballad Roy thể hiện tạo được sự bùng nổ của cảm xúc, sự đè nén của cô đơn trong ca từ và nhịp điệu thôi thúc.

What in this world keeps us from falling apart? No matter where I go ; I hear the beating of our one heart ; I think about you when the night is cold and dark ; Uh-huh, yeah ; No one can move me the way that you do ; Nothing erases this feeling between me and you.

Điều gì trên thế giới này khiến chúng ta phải chia xa ; Cho dù bất cứ nơi đâu ; Anh vẫn nghe thấy nhịp đập một con tim giữa đôi ta ; Anh nghĩ về em giữa màn đêm tối tăm và lạnh giá ; Không ai có thể lay động anh như cách em từng làm ; Không gì xóa nhòa cảm xúc giữa anh và em.

Cơn đau tim đột ngột đã cướp đi hơi thở cuối cùng của Roy ngày 6 tháng 12 năm 1988 tại nhà mẹ ông tại Nashville, Mỹ, trong khi còn rất nhiều kế hoạch dang dở. Album riêng đã ghi âm xong vào tháng 11, tham gia siêu nhóm nhạc Traveling Wilbury, xuất hiện trên hàng loạt chương trình truyền hình.

Một năm sau đó, album Mystery Girl (Cô gái bí ẩn, 1989) chính thức ra mắt, được giới phê bình và khán giả đánh giá cao, gồm các ca khúc xuất sắc như California Blue, You got it và nổi bật nhất A love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp). Không phải ngẫu nhiên mà dàn nhạc Royal Philhamonic chọn tên ca khúc này làm tiêu đề cho album vinh danh Roy Orbinson. Nhắc đến ông, thứ âm nhạc buồn bã và giọng hát trữ tình đó, bất cứ nỗi đau nào đều thua xa nỗi đau Roy Orbison gây ra cho hàng triệu con tim vì khán thính giả phải nghe đi nghe lại Một tình yêu rất đẹp.

We were too young to understand, to ever know that lovers drift apart ; And that's the way love goes ; A love so beautiful ; A love so free ; A love so beautiful ; A love for you and me ; And when I think of you ; I fall in love again.

Chúng ta còn quá trẻ nên không thể hiểu, không biết rằng những người tình thường trôi xa ; Đó là cách tình yêu đến ; Một tình yêu rất đẹp ; Một tình yêu tự do ; Một tình yêu giữa anh và em. Khi anh nghĩ về em, anh muốn yêu em trở lại.

(Nguồn: Theo Rolling Stone, The Guardian, AllMusic)

Users browsing this topic
Guest (10)
37 Pages«<34353637>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.