Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

32 Pages«<29303132>
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#601 Posted : Saturday, June 26, 2021 7:29:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Từ Romain Gary đến Émile Ajar: “Tôi cuối cùng đã thể hiện bản thân trọn vẹn”

25/06/2021 - Sơn Ca / RFI
“HẾT RỒI” [...] “Tôi đã từng sống”. Đó là câu mở đầu và kết thúc tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh xuất bản năm 1960 của nhà văn Romain Gary. 15 năm sau, Gary ẩn mình dưới bút danh Émile Ajar viết tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt, trở thành người duy nhất đoạt 2 giải Goncourt.

Trong tiếng Nga, Gary nghĩa là “đốt cháy” và Ajar là “than hồng”. Câu chuyện về nhà văn, nhà ngoại giao, đạo diễn, phi công người Pháp gốc Nga, người sống muôn cuộc đời trong một cuộc đời, trở nên thú vị hơn từ đây.

Gary từng viết trong Lời hứa lúc bình minh: “Đến giờ tôi vẫn coi cuộc sống là một thể loại văn học”, để rồi ông sáng tạo vượt khỏi đường biên của văn chương và biến cuộc đời thành một sân khấu lớn. Từ bút danh Romain Gary đến Émile Ajar là một câu chuyện hấp dẫn mà Gary đã dựng lên, khiến giới văn chương Pháp bị cuốn vào, còn mình, tự do ngồi sau sân khấu viết cuốn nọ nối cuốn kia, tung hỏa mù, khiến họ hoài nghi rồi tin tưởng, giữa thật giả giả thật về Gary và Ajar.

Từ Romain Gary đến Émile Ajar

Romain Gary tên thật là Roman Kacew, đoạt giải Goncourt lần đầu tiên năm 1956 với tiểu thuyết Rễ của trời.Năm 1974, Romain Gary xuất bản 3 tiểu thuyết dưới 3 bút danh khác nhau: Romain Gary, Émile Ajar và Shatan Bogat. Chính xác hơn, một mình Gary phân thân thành 4 người trong 3 cuốn sách. Cuốn La nuit sera calme là một cuộc phỏng vấn hư cấu giữa Romain Gary và François Bondy, một người bạn thời thơ ấu. Thực chất, François Bondy chỉ cho Gary mượn tên còn lại toàn bộ nội dung Gary tự phỏng vấn và tự trả lời. Trong đó, Gary viết: “Khi tôi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết, đó là để đến nơi tôi không hiện hữu, để khám phá những điều diễn ra nơi nội tâm người khác, để rời bỏ tôi, để tái sinh tôi.”

Đây có thể là lời dẫn ngầm ẩn trước văn đàn cho sự xuất hiện lần đầu tiên của bút danh Émile Ajar. Ẩn mình sau bút danh, Romain Gary đã nhờ người cháu họ có tên là Paul Pavlowitch đứng ra đóng thế. Pavlowitch kể:“Vào cuối năm 1972, Romain Gary nói với tôi rằng ông định viết “một cái gì đó khác dưới một cái tên hoàn toàn khác”, bởi vì, ông ấy khăng khăng rằng, “chú không còn có được sự tự do cần thiết nữa”.” (1)

Năm 1975, tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt của Émile Ajar đoạt giải Goncourt. Gary nói Pavlowitch viết thư từ chối giải thưởng, nhưng nguyện vọng bị Hội đồng trao giải bác bỏ. Báo giới bắt đầu nghi ngờ Ajar và Gary liên quan đến nhau khi phát hiện Gary và Pavlowitch là chú cháu. Romain Gary lập tức thanh minh trên Le Monde rằng mình không phải là Ajar, đồng thời vội vàng chạy sang Genève, chui vào một căn hộ yên tĩnh lên kế hoạch “cứu lấy” Émile Ajar trước khi “bị bại lộ”.

Trong 15 ngày, Gary đã viết tiểu thuyết Pseudo và cho xuất bản năm 1976 dưới tên Ajar. Pseudo được viết dưới dạng tiểu thuyết tự truyện. Nhân vật trong tiểu thuyết có tên là Paul Pavlowitch, muốn nói lên sự thật, về bút danh Ajar của mình, về sự đeo đuổi của báo chí, về người chú Gary: “Tôi là Émile Ajar [...] Tôi là tác giả của chính tôi và tôi tự hào về điều đó. Tôi là có thật. Tôi không phải là trò lừa bịp”. Sau đó ông gọi cho Pavlowitch nói rằng bác đã bịa ra cháu một kẻ điên khùng và bịa cả ra bác nữa. “Cháu có đồng ý không?” (2) Người cháu không những vui vẻ chấp nhận mình bị điên mà còn giúp ông bác đánh máy bản thảo. Bằng “thủ thuật chính là không để người ta cảm thấy có thủ thuật”(3) Gary đã dập tan mọi nghi ngờ của báo giới và tiếp tục xuất bản cuốn sách thứ 4 dưới tên Ajar vào năm 1979.

Từ Lời hứa lúc bình minh đến Cuộc sống ở trước mặt

Ajar không thực sự là một cái tôi khác hoàn toàn Gary. Ajar chỉ là một mảnh ghép đủ đầy để Gary trở nên trọn vẹn. Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt là hai tiểu thuyết có liên quan đến nhau mà sợi dây liên kết là tình mẫu tử, là khao khát thêm một lần được có mẹ trong đời.

“Hết rồi. Biển Big Sur không một bóng người, còn tôi, vẫn nằm trên cát, đúng chỗ tôi đã ngã xuống[...]Hết rồi. Biển Big Sur trống vắng hàng trăm cây số, nhưng thỉnh thoảng khi ngẩng đầu lên, tôi lại thấy mấy chú hải cầu trên một mỏm đá trước mặt[...]Thế đấy. Sắp phải rời xa biển, nơi tôi nằm nghe biển khơi đã rất lâu rồi. Tối nay, ở Big Sur, sẽ có sương mù nhẹ, trời sẽ se lạnh, còn tôi, tôi chưa bao giờ học cách nhen lửa để tự sưởi ấm mình. Những chú hải cẩu đã lặng im trên những mỏm đá, và tôi ở đó, nhắm mắt lại, miệng mỉm cười, tôi tưởng tượng một chú hải cẩu nhẹ nhàng đi về phía mình còn mình thì bỗng cảm thấy một chiếc mõm thân thương cà vào má vào vai...Tôi đã từng sống.”

Đó là những câu văn xúc động trong tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh, khi Gary trở về sau chiến tranh mới hay mẹ đã mất. Mẹ Gary, trước khi mất, đã viết sẵn 200 lá thư và nhờ người quen gửi cho con vào chiến trường. Trong những tháng ngày vào sinh ra tử, tuyệt vọng khốn cùng, nhờ những lá thư của mẹ, Gary đã thấy mẹ luôn hiện hữu trong thân xác mình, người ta đã quên cắt dây rốn giữa ông và mẹ.

Làm sao một cuốn sách khiến ta không thể thôi cười ở từng trang mà cuối cùng lại làm ta khóc? Làm sao đằng sau lớp vỏ văn chương hài hước, hài hước trong tất cả mọi nghịch cảnh và bất hạnh của đời sống, vẫn có thể khiến ta cảm được nỗi cô đơn, niềm khao khát yêu thương và tình cảm con người thiết tha, ngậm ngùi đến thế?

“Đối với tôi, trong suốt chặng đường của mình, tính hài hước là một người bạn thân thiết, nhờ nó mà tôi có được những khoảnh khắc chiến thắng nghịch cảnh thực sự.” Gary đã viết như thế trong Lời hứa lúc bình minh, và nét đặc trưng văn chương ấy không hề mất đi khi chuyển sang Cuộc sống ở trước mặt.

Lời hứa lúc bình minh là tự truyện của Gary từ năm 8 tuổi khi sống bên mẹ, người có tình yêu thương khiến Gary “suốt đời phải chết khát bên bờ mỗi con suối.” Mỗi kỷ niệm để Gary nhớ lại luôn là những ký ức được vẽ bằng những bức tranh đậm màu bởi tính chất của nó luôn được đẩy đến đỉnh điểm từ tính cách quyết liệt và mạnh mẽ của người mẹ, và ở đó Gary, Gary đầy cô đơn chui vào trong đống gỗ thèm khát cái liếm mặt của một con mèo xa lạ, Gary yếu đuối nhưng nguyện làm tất cả mọi điều vì mẹ.

Mẹ Gary tuyên bố ông sẽ trở thành đại sứ Pháp, sẽ được tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, sẽ trở thành nhà văn nổi tiếng. Nước Pháp với bà luôn thiêng liêng, bất khả chiến bại, đẹp nhất trần gian. Bà đã “ký hiệp ước với số phận” khẳng định con mình sẽ không chết trong chiến tranh. Đằng sau vẻ cực đoan ấy là sự tần tảo, hy sinh, vật lộn với đời sống mưu sinh để có tương lai tốt đẹp. Về sau, Gary đã thực hiện được tất cả mọi lời tiên tri của mẹ, kể cả sự sống. Với Gary, “dường như thế giới này không đủ rộng lớn để chứa đựng hết tình yêu thương tôi dành cho bà”.

Có lẽ, điều Gary day dứt nhất trong lòng là những ngày cuối đời của mẹ, ông đã không được ở bên khi bà trút những hơi thở cuối cùng. Nên tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt là nơi ông có thể làm được điều đó, hóa thân thành cậu bé Momo dành tình yêu thương cho Madame Rosa và ngược lại.

Cuộc sống ở trước mặt là câu chuyện kể về cậu bé Momo được nuôi dưỡng bởi Madame Rosa, người lập ra "trung tâm chăm sóc trẻ em ngoài giá thú". Trong tiểu thuyết có một đoạn văn mang tính siêu thực khi Momo trò chuyện với ông Hamil:

- Một ngày nào đó cháu sẽ đi Nice, cháu cũng thế, khi nào cháu trẻ.

- Sao cơ, khi nào cháu trẻ? Cháu đã già rồi sao? Cháu mấy tuổi rồi, cháu bé của ta?

Và một cảnh khi quay ngược những thước phim trong phòng lồng tiếng, Momo thấy cuộc đời mình trôi ngược về quá khứ và hình ảnh mẹ sượt qua trong ký ức.

Đây là dấu hiệu chỉ dẫn lối thông nhau giữa tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt. Khi đi sâu hơn vào những điểm tương đồng và trái ngược giữa hai tiểu thuyết, ta có thể thấy Gary tạo ra Ajar đểrời bỏ mình và tái sinh mình.

Họ đều sống trên những căn hộ cao tầng khiến bà Mina và Madame Rosa đều phải lên xuống cực nhọc. Hai cậu bé đều không có tình yêu thương của bố, đều nhận được những tấm ngân phiếu hàng tháng. Cái chết của hai người bố không gây xúc động gì nơi Romain và Momo. Romain rất thích cảm giác được mèo hay sư tử biển liếm mặt, còn Momo tưởng tượng vào buổi tối có sư tử vào liếm mặt và ngủ cạnh mình. Điểm chung đặc biệt lớn nhất là tình mẫu tử của hai cậu bé và hai người phụ nữ, dù Madame Rosa không phải mẹ của Momo thì tác giả cũng đã làm ta tin rằng đó là tình mẫu tử.

Nói về sự khác biệt, ở tiểu thuyết trước, Romain là một cậu bé yếu đuối và được bảo bọc trước mẹ bao nhiêu thì ở tiểu thuyết sau Momo là cậu bé chủ động, phá cách và tự do bấy nhiêu. Cậu xăng xái ra đường kiếm tiền, là chỗ dựa của Madame Rosa. Ở tiểu thuyết trước, tinh thần người mẹ dường như hiện hữu trong thể xác của Romain, hai người như hòa làm một trong những khoảnh khắc mong manh của kiếp người, và cuộc đời Romain đã sống là để dành trọn vẹn cho mọi ước mơ của mẹ; còn ở tiểu thuyết sau, Momo yêu thương Madame Rosa nhưng cậu được là chính mình, nhìn yêu thương trong cuộc đời theo một cách khác, dung dị hơn.

Mẹ Romain trong Lời hứa lúc bình minh lúc nào cũng nhắc nhở con về một nước Pháp tươi đẹp, bất khuất và những ước mơ danh giá, còn Cuộc sống ở trước mặt dựng lên bối cảnh đời sống con người ở đáy tận cùng của nước Pháp với những người sống bằng nghề đĩ điếm, những đứa trẻ sinh ra bị bỏ rơi. Cậu bé Momo nói với ông Hamil rằng "việc trở thành anh hùng chẳng có nghĩa lý gì so với việc có bố". Momo chính là hóa thân của Gary mong ước được thấu hiểu, nên ông xây dựng hình ảnh những người đàn ông tốt bụng luôn luôn nói với Momo rằng cậu là một đứa trẻ nhạy cảm, có tâm hồn đẹp và khác biệt.

Để thực hiện nguyện vọng được chăm sóc mẹ trong những năm tháng cuối đời, tác giả đã cho rất nhiều người đến viếng thăm, chăm sóc và nhảy múa mua vui cho Madame Rosa. Cuối cùng, ông hóa thân thành cậu bé Momo, ở bên Madame Rosa trong tổ Do thái của bà, đổ hàng tá chai nước hoa lên người bà, tô mặt bà đến khi không thể nào tô nổi, và nằm bên cạnh bà đến khi người ta phải phá cửa xông vào vì phát hiện ra những mùi đặc biệt.

Kết

“Tôi đã sinh ra”, là câu văn Gary viết trong Lời hứa trước bình minh nói về cảm giác của mình sau khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay vào năm 1945. Cuốn sách cuối cùng của Gary, cuốn Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, xuất bản một năm sau khi Gary qua đời, tiết lộ sự thật về 4 tiểu thuyết ông viết dưới bút danh Ajar, và Paul Pavlowitch chỉ là người đóng thế,

Ngày 2.12.1980, Gary đã tự sát bằng một khẩu súng. Không ai biết chính xác vì sao Gary quyết định từ giã cõi đời, nhưng trong lá thư để lại ông viết: “Vì sao ư? Có lẽ nên tìm câu trả lời trong tiêu đề cuốn tự truyện La nuit sera calme và câu cuối cùng trong cuốn sách cuối cùng của tôi. “Bởi vì ta không thể nói tốt hơn“. Tôi cuối cùng đã thể hiện mình trọn vẹn.” (4)

“HẾT RỒI”[...]“Tôi đã từng sống”. (5)

*

(1) Người đàn ông mà chúng ta đã tin, Paul Pavlowitch, Fayard, 1981.

(2) và (3): Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, Romain Gary, Gallimard, 1981.

(4) http://www.1-jour.fr/2-d...romain-gary-se-suicide/

(5) Lời hứa lúc bình minh, Romain Gary, Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Văn học và Công ty sách Nhã Nam, năm 2009.


viethoaiphuong
#602 Posted : Tuesday, June 29, 2021 2:17:08 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Frédéric Dard

29/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hôm nay 29/06/2021 đánh dấu đúng 100 năm ngày sinh của nhà văn Frédéric Dard, tác giả của khoảng 400 quyển truyện đủ loại. Sinh thời, nhà văn người Pháp trở nên nổi tiếng nhờ bộ tiểu thuyết ăn khách với nhân vật thám tử Antoine ''San-Antonio''. Được phát hành từ năm 1949 đến năm 2001, bộ tiểu thuyết này gồm 175 tựa sách khác nhau, đã được bán hơn 250 triệu quyển trên thế giới.

Để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Frédéric Dard, thành phố Les Muraux, Yvelines, ngoại ô Paris, khởi động chương trình sinh hoạt ''100 Piges'' (tiếng lóng có nghĩa là 100 tuổi). Ngoài triển lãm và hội thảo xung quanh tác phẩm của nhà văn tại thư viện thành phố, còn có liên hoan phim chiếu lại khoảng 15 tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết trinh thám của Frédéric Dard. Trong số này có các bộ phim "La Vieille qui marchait dans la mer" của đạo diễn Laurent Heynemann, với Jeanne Moreau và Michel Serrault trong vai chính, hay là phim "Toi, le venin" của đạo diễn Robert Hossein với nữ diễn viên Marina Vlady. Các bộ phim này được giới thiệu lại tại rạp chiếu phim ở trung tâm thành phố Les Mureaux, từng được đặt tên Frédéric Dard vào năm 1995.

Bộ tiểu thuyết trinh thám với hơn 250 triệu bản

Nhà văn người Pháp đã từng sống trong vòng hai thập niên tại Les Mureaux (1948-1968), khi ông dời về vùng ngoại ô thủ đô, làm việc cho tờ báo Paris-Soir. Chính tại căn nhà riêng ở số 45 trên đại lộ Foch, mà ông đã viết những quyển tiểu thuyết trinh thám ăn khách đầu tay. Để đặt tên cho nhân vật chính, ông đã nhắm mắt chỉ tay vào bản đồ, ngẫu nhiên rơi vào thành phố San Antonio ở bang Texas, Hoa Kỳ. Nhân vật Antoine San-Antonio được khai sinh và rồi từ đó trở thành một trong những bộ truyện ăn khách nhất của ngành xuất bản tại Pháp. Tiểu thuyết San-Antonio đầu tiên (trong một bộ truyện gồm 175 quyển) được phát hành vào năm 1949. Kể từ những năm 1960 trở đi, nhiều tựa sách đã lập kỷ lục số bán, mức trung bình của mỗi cuốn tiểu thuyết là 300.000 bản.

Sinh năm 1921 trong một gia đình nghèo tại thị trấn Bourgoin Jallieu (tỉnh Isère) cách thành phố Lyon khoảng 40 cây số về phía đông, Frédéric Dard ban đầu tốt nghiệp ngành kế toán rồi sau đó mới chuyển sang ngành báo chí. Tiền nhuận bút thời bấy giờ (đầu những năm 1940) không được là bao nhiêu, cho nên để nuôi gia đình, ngoài công việc thư ký tòa soạn, ông còn buộc phải làm thêm rất nhiều kể cả viết truyện ngắn đăng báo, sáng tác truyện thiếu nhi, sửa kịch bản, viết tin quảng cáo hay lời thoại cho phim … Có lẽ cũng từ hoàn cảnh gia đình mà Frédéric Dard rèn luyện cách viết nhanh và nhiều, ông sáng tác liên tục đều đặn và ít khi nào chịu ngơi nghỉ.

Trả lời phỏng vấn báo chí vào năm 1978, nhân dịp ông nhận giải thưởng của ngành xuất bản sau khi kho tiểu thuyết của ông cán mốc 100 triệu bản, Frédéric Dard cho biết ông là một tác giả may mắn, nhận được sự hưởng ứng của nhiều thành phần độc giả và thói quen ''viết nhiều'' của ông phần lớn xuất phát từ những khó khăn trong bước đầu sự nghiệp. Bà Josiane Gonny, từng là thư ký riêng, đánh máy bản thảo cho nhà văn công nhận rằng ông làm việc rất nhanh, dù chỉ gõ với ba ngón tay. Bà cho biết các quyển tiểu thuyết San-Antonio có độ hấp dẫn cao, đôi khi cuốn hút đến nỗi cô thư ký quên hẳn việc gõ chữ để có thể đọc câu chuyện từ đầu đến cuối.

Hiện tượng xuất bản nhờ chiến lược tiếp thị mạnh mẽ

Theo ông Maxime Gillio, tổng thư ký Câu lạc bộ bạn đọc Frédéric Dard và đồng thời điều hành mạng thông tin ''Thế giới của San-Antonio", nhà văn viết tiểu thuyết như thể bị ''ghiền thuốc'', ngay cả trong những lúc an nhàn nghỉ ngơi. Cứ sau một ngày không được viết là ông lại cảm thấy khó chịu. Dường như sáng tác có tác dụng trấn an một người luôn có tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Trong sự thành công của San-Antonio, ngoài tính miệt mài chăm chỉ của tác giả, còn có tài năng tiếp thị của nhà xuất bản Armand de Caro : tiểu thuyết trinh thám San-Antonio trong vòng nhiều thập niên hầu như được bày bán ở khắp nơi, từ nhà ga tỉnh lẻ cho tới các cửa hàng thuốc lá. Nhà xuất bản chấp nhận tăng số tiền tác quyền cho nhà văn Frédéric Dard, nhưng đổi lại ông phải giao ''sản phẩm'' đúng thời hạn và đôi khi phải viết tới ba quyển theo đơn đặt hàng chỉ trong một năm. Nhờ vào chiến lược tiếp thị mạnh mẽ mà tiểu thuyết San-Antonio trở thành một hiện tượng của ngành xuất bản vào những năm 1980.

Thời nay, ít có tác giả nào, bất kể sức sáng tạo có dồi dào cách mấy, lại có thể sáng tác liên tục mà không ảnh hưởng tới ''chất lượng'' của tác phẩm. Tại Pháp, theo mạng thông tin ActuaLitté hồi đầu tháng 06/2021, nhà văn Amélie Nothomb nổi tiếng là một trong những ngòi bút sáng tác đều đặn nhất, cho biết cô đang viết quyển tiểu thuyết thứ 102, nhưng không phải quyển nào cũng được phát hành và theo hợp đồng Amélie Nothomb mỗi năm chỉ cần giao một tác phẩm cho nhà xuất bản Albin Michel. Theo chủ tịch Liên đoàn quốc gia ngành xuất bản Vincent Montagne, hầu hết các nhà phát hành thời nay đều không xuất bản sách theo kiểu đại trà như vài thập niên trước, để tránh bị quy chụp là coi trọng số lượng hơn chất lượng.

Thời nay, tiểu thuyết của Frédéric Dard vẫn được tái bản nhưng một cách có chọn lọc, hình thức cũng kín đáo hơn chứ không còn được quảng cáo rầm rộ như trước. Để chinh phục thêm độc giả mới, tiểu thuyết San-Antonio được chuyển thể thành truyện tranh, hai tựa tiểu thuyết vừa được phóng tác lại qua ngòi bút của họa sĩ Michael Sanlaville (từng đoạt giải thưởng lớn tại liên hoan truyện tranh Angoulême năm 2015).

Tái bản bộ toàn tập 175 quyển tiểu thuyết San-Antonio

Qua đời vào năm 2000, Frédéric Dard đã để lại một di sản khá đồ sộ, ngoài 400 tác phẩm gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, kịch bản phim còn có 10 vở kịch nguyên tác hay phóng tác. Ngoài ra, ông còn đăng rất nhiều bài viết và sử dụng đến 17 bút danh khác nhau. Nhân kỷ niệm 100 ngày sinh của ông, một tuyển tập dày 600 trang mang tựa đề "Des nouvelles de moi", bao gồm hàng trăm truyện ngắn, sáng tác trong giai đoạn 1940-1985 nay lần đầu tiên được nhà xuất bản Fleuve cho in thành sách. Theo lời nhà phê bình Alexandre Clément, người đã viết lời mở đầu sau khi nghiên cứu tập hợp lại nhiều văn bản rời rạc chưa từng được phổ biến, các mẩu truyện ngắn cho thấy cái tài sáng tác của Frédéric Dard dưới một góc độ khác, trong khi đó nhân vật San-Antonio thu hút thêm khá nhiều người hâm mộ trên thế giới, sách được nhiều nhà sưu tầm tìm mua và các bản in đầu tiên đạt tới giá thật cao trong các cuộc bán đấu giá.

Nối bước nhân vật Jules Maigret (của tác giả Georges Simenon), thám tử Antoine San-Antonio về sau này được đánh giá cao hơn. Văn phong của Frédéric Dard mang nhiều ảnh hưởng của các văn hào Mỹ William Faulkner và John Steinbeck. Thể loại truyện hồi hộp trinh thám của nhà văn Frédéric Dard lại có nhiều nét giống như nhà văn người Anh Peter Cheyney, tác giả đã khai sinh hai nhân vật Slim Callaghan và Lemmy Caution trong loạt tiểu thuyết trinh thám, gián điệp, một số truyện cũng từng được dựng thành phim.

Cuối cùng, bộ toàn tập gồm 175 tiểu thuyết của Frédéric Dard cũng được nhà xuất bản "Éditions 12-21" tái phát hành dưới dạng phiên bản điện tử. Các tựa sách ở đây được xếp theo từng thập niên. Theo giới ghiền đọc San-Antonio, bộ truyện trinh thám sáng tác vào những năm 1980 (41 cuốn tiểu thuyết) được xem như là rất ăn khách, nhưng giới hâm mộ vẫn thích nhất hai giai đoạn những năm 1950 (37 quyển) hay là 1960 (35 quyển). Trong hai thập niên này, tính sáng tạo của nhà văn Frédéric Dard chẳng những dồi dào mà còn đạt tới những đỉnh cao táo bạo.
viethoaiphuong
#603 Posted : Friday, July 2, 2021 12:07:56 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf - Chuyện tình của những trái tim tan vỡ

02/07/2021 -Lệ Thu / RFI
Nếu một lúc nào đó, bạn cất công tìm kiếm trên các trang mạng xã hội nổi tiếng để tìm hiểu những bộ phim tuyệt vời về Paris thì chắc hẳn, bạn sẽ không thể bỏ qua tác phẩm hiếm có “Les Amants du Pont Neuf”. Tạm dịch là “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” (tên tiếng Anh là “The lovers on the bridge”), bộ phim của đạo diễn Leos Carax ra mắt lần đầu tiên vào năm 1991.

Chuyện phim kể về Alex, một người biểu diễn đường phố nghiện rượu và thuốc an thần đã phải lòng nàng họa sĩ Michèle đang mang căn bệnh khiến thị giác của cô càng ngày càng giảm sút. Một tình yêu say đắm giữa hai kẻ lang thang tại cây cầu cổ nhất Paris, cầu Pont Neuf, đã diễn ra. Mới nghe qua thì có vẻ đây là một bộ phim tình cảm lãng mạn đơn thuần nhưng nếu chỉ có vậy, “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” đã không lọt vào Top 10 những bộ phim hay nhất về Paris. Dù cho đến nay, tác phẩm đã được 30 năm tuổi nhưng không ai nói đó là một câu chuyện đã cũ.

Do gặp phải nhiều trục trặc khiến cho thời gian hoàn thành bộ phim bị kéo dài hơn so với dự kiến, song sự ra đời của tác phẩm đã nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt từ giới phê bình phim tại Pháp cũng như trên thế giới. Bộ phim được đề cử tại các giải César, giải phim châu Âu xuất sắc, giải BAFTA, đồng thời nhận được các giải thưởng phim châu Âu cho nữ diễn viên xuất sắc và quay phim xuất sắc. Đạo diễn, kiêm biên kịch của phim, Leos Carax vừa là một đạo diễn, là một nhà phê bình lại vừa là một nhà văn. Bởi vậy mà ông được chú ý với phong cách phim rất Thơ cùng những miêu tả đau khổ về tình yêu. Chính vì thế, trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” người ta không chỉ Yêu, mà người ta còn Yêu với những nỗi đau tan vỡ có thật.

Bức tranh tình yêu

Những thước phim đầu tiên của tác phẩm khiến khán giả rùng mình bởi sự thật trần trụi về những người lang thang ở Paris, trong đó có Alex. Vóc người nhỏ bé, xiêu vẹo, rất hiếm khi tỉnh táo bởi tác dụng của rượu và thuốc an thần, Alex được tạo nên là một hình ảnh hoàn toàn không đẹp, thậm chí có thể nói là xấu xí. Anh tự cho rằng mình không thể được sống yên ổn nếu rời khỏi cây cầu Pont Neuf, một trong những cây cầu cổ nhất thành phố, nơi mà người ta đang lập rào chắn để sửa chữa.

Dường như, bạn chỉ bình yên khi bạn ở cái nơi những người khác coi là “Danger” - nguy hiểm - như tấm biển đang giăng ngang chắn đường lên cầu. Nơi ấy, sẽ không ai có thể làm phiền hoặc làm bạn bị tổn thương. Rất nhiều lần trên phim, trong những câu thoại ít ỏi của mình, Alex nhắc đi nhắc lại cụm từ “trở lại cây cầu” như là cảm giác được quay về nhà. Đó là nơi anh gặp Michèle, cũng là lần đầu tiên anh tự nhìn thấy bản thân qua bức phác thảo của cô, với gương mặt kinh hoàng, hoảng loạn và méo mó khi anh bị tai nạn ô tô do quá phê thuốc và Michèle vô tình là nhân chứng. Bản phác thảo khiến anh chạy theo cô, cảm thấy một sự gắn kết kì lạ với người họa sĩ lang thang này.

Rồi, Alex vô tình phát hiện ra bức thư trong người Michèle lúc cô bị ngất đi. Từ đây, anh biết được thân thế, gia đình và cả tình yêu xưa cũ của Michèle là một nghệ sĩ Cello có tên Julien.

Những tan vỡ không tên

Trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf”, người ta thích những cảnh đối lập giữa cây cầu xưa cũ với những tòa nhà rực rỡ ánh sáng sang trọng. Người ta thích cái cách Alex làm việc, trong đêm, không một âm thanh nào ngoài tiếng anh phun dầu từ miệng và tiếng ngọn lửa bùng lên.

Giải thưởng Phim Châu Âu dành cho nữ diễn viên xuất sắc thuộc về Juliette Binoche trong vai Michèle nhưng với nhiều người, Denis Lavant đã biến Alex trở nên thật sống động và tự do. Denis Lavant có thể không phải là một Alex hào hoa, điển trai, hấp dẫn. Hoàn toàn không. Tại sao lại phải là một người với vẻ ngoài ăn hình nếu ẩn sâu bên trong, bạn có một tâm hồn thật đẹp? Những chi tiết nhỏ thôi … khi Alex ăn cắp một con cá để làm cho Michèle món sushi, kiếm tiền để chăm lo cho cô tốt hơn, làm những việc điên rồ để cô vui như là tấn công một nhân viên cảnh sát để lấy được chiếc cano đưa cô lướt sóng giữa đêm hay đơn giản chỉ là dùng khăn bông lau khô tóc cho cô và lời dặn “không nên để đầu ướt khi đi ngủ”.

Từ đầu phim, Alex được xây dựng như một gã tồi, liên tục say xỉn và phê thuốc không ngớt, chỉ đến khi cảnh anh biểu diễn phun lửa diễn ra thì dường như người ta mới thấy một Alex khác. Những cú máy gấp gáp, lia nhanh, những đoạn đặc tả, cận cảnh vào đôi tay nhanh nhẹn, đôi chân mềm mại với cú lộn nhào điêu luyện, tư thế ngã gọn gàng như một chú mèo của Alex cho thấy phẩm chất của một nghệ sĩ biểu diễn thực thụ. Ánh sáng mạnh mẽ, động tác dứt khoát, gương mặt và đôi mắt biết nói khác hẳn một Alex loạng choạng giữa cơn say hay phê thuốc. Nếu với Michèle, việc cô chọn sống lang thang trên cây cầu như là sự trả đũa cho những chán nản vì căn bệnh đang lấy dần đi thị giác của cô thì hoàn toàn không có lời tâm sự nào để lý giải tại sao, cái gì đã đẩy Alex ra đường với biết bao chán chường và tuyệt vọng đến thế. Đó, chỉ là một tan vỡ không thể gọi tên.

Họ đến với nhau tự nhiên như cây cỏ phải mọc lên vào mùa hè mát mẻ, có những quấn quýt, chia sẻ, giận hờn và cả ghen tuông. Hai trái tim tan vỡ hòa vào làm một, bù đắp mất mát của nhau, dù có mặt của người thứ ba, là Hans, người được mệnh danh là Bố già của cây cầu, thì họ vẫn gắn bó không thể tách rời.

Ấn tượng khó phai

Cả bộ phim giống một bản tình ca kỳ lạ với những khúc nhạc vui, buồn, nhanh chậm đan xen lẫn lộn đầy màu sắc và nhịp điệu. Trong đó, có hai trường đoạn để lại những ấn tượng cực mạnh kể cả về hình ảnh, âm nhạc lẫn diễn xuất mà ai đã từng xem phim cũng tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể quên được. Đó là trường đoạn Alex và Michèle nhảy múa trên cây cầu giữa không gian rực sáng pháo hoa ngoạn mục. Cả bầu trời và dòng sông Seine bừng lên đẹp không thể tả. Cú máy dài gói trọn khoảnh khắc quý báu họ dành cho nhau, một là lúc hai người nhảy múa như điên dại và một là lúc họ “du ngoạn” trên sông Seine bằng cano lướt ván vừa đánh cắp được. Nó khiến người xem cảm nhận có vẻ cái hạnh phúc và niềm vui ấy sẽ kéo dài mãi, không bao giờ kết thúc, không ai muốn nó dừng lại. Âm nhạc mạnh mẽ thôi thúc cuồng nhiệt và gương mặt hai người cũng bừng sáng trong nhau.

Vì thế mà trường đoạn ấn tượng thứ hai ở ga tàu điện ngầm lại tạo nên một cảm giác khác hẳn. Hầu hết là những cú máy ngắn, lia nhanh, gây sốc. Đặc biệt, tiếng Cello vừa réo rắt, rạo rực, lại vừa như gấp gáp, đe dọa tạo nên ám ảnh mãnh liệt. Người ta thấy những giây phút cút bắt tình yêu đầy trái ngang khi Michèle đuổi theo tiếng Cello để tìm Julien, nghệ sĩ Cello đã từng yêu và rời bỏ cô, còn Alex thì đuổi theo tiếng Cello vì muốn xua anh ta đi trước khi Michèle xuất hiện, không để hai người gặp nhau.

Vị kỉ, phần tất yếu trong tình yêu

Alex là một kẻ vị kỉ. Tại sao? Chắc chắn là vì anh quá yêu Michèle, muốn giữ cô cho riêng mình mãi mãi. Tình yêu mang đặc tính “chiếm hữu” rất lớn, Alex cũng không phải ngoại lệ, đặc biệt là khi anh cho rằng mình không có gì đủ lớn và đủ mạnh để giữ Michèle lại. Không ít hơn ba lần trong phim, Alex đã làm mọi cách để níu giữ Michèle trước nỗi ám ảnh cô sẽ rời bỏ anh. Lần đầu tiên là khi họ có một khoản tiền cùng nhau. Michèle đã sợ mùa đông sẽ tới trên cây cầu và họ không thể tiếp tục ở đó. Cầm 2000 đồng trong tay, cô toan tính việc sẽ làm gì với nó. Vì cô đã từng nói “tình yêu cần một phòng ngủ chứ không phải nơi có gió lùa” nên Alex càng cảm thấy một sự đe dọa. Anh đã cố tình khiến Michèle tự làm rớt chỗ tiền xuống sông để cô không thể mơ tưởng một nơi nào khác ngoài cây cầu an toàn của anh.

Lần thứ hai, sự ích kỉ trở nên điên rồ hơn khi Alex phát hiện ra gia đình Michèle đã tìm ra người có thể chữa bệnh cho cô và đang tìm kiếm cô. Nỗi sợ hãi cô đơn và bị bỏ rơi xâm chiếm Alex, trong cơn cuồng điên, Alex đã đốt trụi những tấm áp phích dán trong ga tàu điện ngầm, đốt trụi cả chiếc xe tải mini của người thợ được thuê dán áp phích và khiến anh ta bị bỏng nặng. Và lần cuối cùng, ở cuối phim, sau ba năm phải đi tù vì tội đó, Alex gặp lại Michèle, anh cũng sẵn sàng xô cả hai xuống sông Seine giữa cái giá lạnh của Paris chỉ vì cô nói cô đang chết dần. Để rồi ngay sau đó, họ lại hoảng sợ khi không thể nhìn thấy nhau dưới dòng sông tối đen lạnh lẽo kia. Để rồi sau đó, họ lại cùng đứng trước mũi chiếc xà lan chở cát, cùng hướng về tương lai và cười vào mũi khổ đau dù chưa biết cái tương lai kia sẽ có màu gì.

Tình yêu trong sáng, rất Người của Alex và Michèle đã được miêu tả thật vô cùng hoang dại mà có lẽ chưa từng một bộ phim nào có thể làm được như trong “Đôi tình nhân trên cầu”. Cả những đắm say, những điên rồ, những đuổi bắt, những tiếng cười và những giọt nước mắt đều ẩn chứa niềm đam mê và nỗi đau. Nhưng hạnh phúc là một cái gì rất khó để định nghĩa và gọi tên, bởi dù trong nỗi đau nào thì khi con người ta còn cảm thấy hạnh phúc bên nhau, người ta sẽ tìm đến với nhau.


viethoaiphuong
#604 Posted : Saturday, July 3, 2021 1:41:38 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Fleetwood Mac - Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

03/07/2021 - Gia Trình / RFI
Chuyện tình cảm giữa các thành viên trong nhóm Fleetwood Mac luôn tốn giấy mực của báo chí. Sự đổ vỡ, mâu thuẫn tưởng chừng sẽ giết chết ban nhạc năm 1976 và đẩy Fleetwood Mac vào khủng hoảng cuối thập niên 1980. Kỳ lạ thay, càng khủng hoảng, ban nhạc càng thành công hơn. Phần 2 của tạp chí Âm Nhạc về nhóm nhạc Fleetwood Mac dành giải đáp thắc mắc : Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

Stevie Nicks, Linsey Buckingham và Mick Fleetwood

Trước khi gia nhập nhóm, Nicks và Buckingham đã có mối quan hệ sâu sắc từ thập niên 1960. Lúc gia nhập nhóm năm 1974, họ là cặp uyên ương trong âm nhạc, từng phát hành album chung. Chuyện tình cảm của họ không liên tục, xuyên suốt mà đứt quãng khiến Nicks và Buckingham nỗ lực hàn gắn. Đến năm 1976, tình cảm giữa họ đứt vỡ trong quá trình thực hiện album kinh điển Rumours. Có lẽ cá tính quá mạnh khiến cho cả hai nghệ sỹ gặp vấn đề.

Sau khi chia tay Buckingham, Nicks lại có mối quan hệ với tay trống Mick Fleetwood vào năm 1977. Lúc đó, Fleetwood vẫn đang chung sống với người vợ đầu, Jenny Boyd. Cho dù Nicks và Fleetwood đồng ý sớm chấm dứt mối quan hệ, cuộc hôn nhân giữa Fleetwood và Boyd sớm đi vào ngõ cụt.

Năm 1983, Nicks lên xe hoa với Kim Anderson, chồng của bạn thân Robin sau khi người bạn thân qua đời do căn bệnh máu trắng. Nữ ca sỹ sinh năm 1948 chia sẻ : “Lúc đó, tôi quyết định sẽ chăm sóc con của Robin khi cô ấy qua đời. Chúng tôi cưới không phải vì yêu mà vì quá đau khổ”. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân duy nhất của Nicks chỉ tồn tại trong vòng 3 tháng.

Mick Fleetwood và Jenny Boyd

Nhà sáng lập nhóm nhạc kiêm tay trống, Mick Fleetwood kết hôn với người mẫu Jenny Boyd năm 1970 và có hai con gái chung. Không lâu sau, Mick phát hiện vợ mình có quan hệ với tay guitar của nhóm lúc đó là Bob Webston. Mối quan hệ vụng trộm của vợ Mick ảnh hưởng nghiêm trọng tới ban nhạc. Mick đã yêu cầu Bob rời khỏi nhóm năm 1974. Tuy nhiên, Mick cũng ly dị Jenny Boyd một năm sau, 1975. Họ sớm tái hợp ít lâu sau nhưng mối quan hệ tình cảm giữa Fleetwood và Nicks lại giết chết hôn nhân mong manh với Jenny Boyd. Sau đó, Mick hẹn họ với người bạn thân của Stevie Nicks, là Sarah Recor.

John McVie và Christine McVie

Không quá ồn ào như hai cặp đôi kia, chuyện tình giữa John McVie, tay guitar bass và tay keyboard Christine cũng gây xáo trộn ít nhiều. Cặp đôi McVie kết hôn năm 1968. Lúc đó, John McVie là thành viên sáng lập nhóm còn Christine chưa tham gia Fleetwood Mac. Người vợ tham gia nhóm nhạc năm 1970 và lại nảy sinh mối quan hệ với Martin Birch, chuyên gia âm thanh và Curry Grant đạo diễn ánh sáng của Fleetwood. Cặp đôi McVie ly dị năm 1976 nhưng Christine McVie vẫn ở lại nhóm đến tận năm 1998. Sau đó, Christine đính hôn và hủy hôn ước với Dennis Wilson, tay trống nhóm Beach Boys.

Những bản hit sinh ra từ đổ vỡ tình cảm

Khác với nhóm ABBA, tan vỡ tình cảm chưa phải là dấu chấm hết. Tình yêu và sự đổ vỡ là chất xúc tác mạnh mẽ cho những sáng tác đầy rung cảm của Fleetwood Mac. Các thành viên tìm cách gói ghém cảm xúc của họ trong những bản hit như Silver Springs (Dòng suối bạc). Ca khúc được sáng tác và thể hiện qua giọng ca của Stevie Nicks. Nó lột tả nguyên vẹn cảm xúc của Nicks khi tới hồi kết mối quan hệ lãng mạn với Linsey Buckingham.

Bài hát khá dài và có tiết tấu chậm rãi nên không được đưa vào album Rumours (1977). Silver Springs gợi nhớ tới nơi ở cũ của đôi tình nhân Nicks - Buckingham. Nicks thổ lộ “Tôi viết bài này để nói về Linsey. Cái tên Silver Springs khá thú vị đối với tôi. Câu hát “Anh có thể là Dòng suối bạc của tôi, muốn ám chỉ một điều đặc biệt với cuộc đời tôi.” Giai điệu bài hát mộc mạc nhưng ca từ phản ánh sự ghen tuông, hận thù của một người đàn bà sau cuộc chia ly. Kỳ lạ, sau buổi biểu diễn tái hợp The Dance (1997), ban nhạc làm sống lại ký ức âm nhạc đẹp thưở nào. Ca khúc được biết đến rộng rãi sau gần 20 năm ra đời.

So I'll begin not to love you ; Turn around, you'll see me runnin' ; I'll say I loved you years ago ; And tell myself you never loved me no ; Don't say that she's pretty ; And did you say that she loves you? Baby, I don't want to know.

Em sẽ không còn yêu anh nữa ; Quay mặt đi, anh sẽ thấy em chạy trốn ; Em nói rằng em từng yêu anh nhiều năm trước ; Nói với bản thân em rằng anh chưa từng bao giờ yêu em ; Đừng nói với em cô ấy đẹp lắm ; Anh có nói với em rằng cô ấy yêu anh ; Anh yêu, em không muốn biết điều đó.

Chuyện chia ly của Nicks và Buckingham còn ghi dấu ấn trong 2 ca khúc Go Your Own Way (Ra đi theo con đường của em), You make loving fun. Trong Go your own way, Buckingham cũng mô tả trạng thái cảm xúc trái chiều đan xen. Một mặt, ông muốn gạt người tình cũ ra khỏi cuộc đời mình bằng mọi giá. Mặt khác, ông lại hy vọng người tình tìm được bến bờ hạnh phúc mới. Sự mâu thuẫn, đối lập cảm xúc có thể cảm nhận rõ rệt. Buckingham tạo được đối trọng với Nicks trong một vài ca khúc xuất sắc như thế. Họ biến âm nhạc thành cuốn nhật ký để ghi chép mớ cảm xúc hỗn độn. Do vậy, lời ca luôn ám ảnh, hiện thực với tiết tấu nhịp mạnh mẽ.

Đối với Christine McVie, bà ghi dấu ấn chuyện tình tan vỡ với tác phẩm Little Lies (Lời nói dối vô hại). Ca khúc được Christine McVie sáng tác cùng người chồng sau đó Eddy Quintela. Bài hát ra mắt vào năm 1987 trong album Tango in the night của nhóm.

Theo chia sẻ của Christine McVie, ý tưởng của bài hát là “Nếu tôi có cơ hội, chắc chắn tôi sẽ làm khác đi. Nhưng vì không có, tôi phải tiếp tục lừa dối chính mình mặc dù tôi biết anh ấy sẽ nói dối tôi.” Tuy không rõ ràng, nhưng ca khúc ám chỉ tới mối quan hệ tan vỡ của Christine với người chồng cũ John McVie hoặc với Dennis Wilson. So với Stevie Nicks, mối quan hệ của Christine McVie còn phức tạp chằng chịt gấp bội phần. Bài hát nhanh chóng lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard, trở thành một trong 3 ca khúc phát sóng nhiều nhất trên radio Anh, Mỹ cuối thập niên 1980.

Although I'm not making plans ; I hope that you'll understand there's a reason why ; Close your, close your, close your eyes ; No more broken hearts ; We're better off apart, let's give it a try ; Tell me, tell me, tell me lies.

Mặc dù em không lên kế hoạch gì cả ; Em hy vọng anh sẽ hiểu lý do tại sao ; Hãy nhắm mắt lại, nhắm mắt lại ; Không còn trái tim tan vỡ nào hết ; Chúng ta nên chia tay nhau, hãy thử làm điều đó ; Hãy nói dối em, nói dối em.

Rắc rối của ban nhạc hỗn hợp

Nội bộ nhóm Fleetwood Mac có lẽ phức tạp hơn các ban nhạc khác vì có tới hai thành viên nữ. Hơn thế nữa, Nicks và McVie đảm nhận vai trò nòng cốt trong ban nhạc: sáng tác, chơi nhạc cụ và hát chính. Họ tạo được sự đa dạng, bổ trợ nhau về cảm xúc, màu sắc âm nhạc phong phú. Tuy nhiên, sự phức tạp tính cách cũng dễ lan tỏa sang đời sống cá nhân. Có ý kiến cho rằng giữa Nicks và McVie luôn có sự thù địch và mâu thuẫn. Nhưng cả hai nữ nghệ sỹ đều bác bỏ nghi ngờ trên.

Một điểm chung thú vị giữa Nicks và McVie là họ hết lòng hy sinh cho sự nghiệp mà không có con cái. Nicks từng phá thai khi có bầu với Don Henley, ca sỹ chính nhóm The Eagles khi sự nghiệp solo nở rộ. McVie gặp nhiều sóng gió tình trường nhưng chưa bao giờ có ý định sinh con. Cảm xúc đổ vỡ dồn nén như chiếc lò xo khiến những sáng tác của Nicks và McVie có sức bật mạnh mẽ.

Những bản hit nảy nở từ tình yêu và đổ vỡ của Nicks, McVie, Buckingham là đáp án cho câu hỏi lớn. Tình yêu khó lòng giết chết được ban nhạc như Fleetwood Mac nhưng nó gây ra xáo trộn lâu dài. Cách Fleetwood Mac trở nên vĩ đại chính là nhờ việc chèo lái qua khủng hoảng cá nhân. Họ đã gạt bỏ cái tôi, sự ái kỷ để tìm đến liệu pháp tâm hồn và tài chính mang tên ÂM NHẠC.


viethoaiphuong
#605 Posted : Saturday, July 10, 2021 5:28:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Amélie Poulain - Hạnh phúc là những bình dị không tên

09/07/2021 - Lệ Thu /RFI
Trên hầu hết các nền điện ảnh lớn nhỏ của Thế giới, rất hiếm khi người ta có thể tìm thấy những tác phẩm vừa có tính nghệ thuật cao lại vừa đạt được sự thành công về mặt giải trí. Đôi khi, được cái nọ lại mất cái kia. Nhưng, với “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” thì dường như định nghĩa “phim nghệ thuật” và “phim giải trí” đã hòa vào làm một.

Ngay sau khi ra đời, bộ phim đã được 5 đề cử giải Oscar, đoạt nhiều giải thưởng tại các Liên hoan phim châu Âu và gặt hái thành công lớn tại Pháp vào năm 2002 với hàng loạt giải thưởng César, đồng thời, có doanh thu phòng vé lên tới gần 174 triệu đô la, cao gần gấp 20 lần số vốn ban đầu. Không những thế, tác phẩm Tâm lý hài này còn được tờ Thời báo New York đánh giá là một trong “1.000 bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại”.

Điều gì đã khiến cho đạo diễn kiêm đồng biên kịch của phim, Jean-Pierre Jeunet, lại thành công đến vậy, mặc dù, bộ phim được công chiếu tại Mỹ ngay sau thảm họa 11 tháng 9 năm 2001 và chính Jean-Pierre Jeunet đã phải thốt lên “coi như bộ phim đã chết yểu” trên thị trường phim ảnh lớn nhất thế giới này. Nhưng ngược lại với lo lắng của Jean-Pierre Jeunet, chỉ riêng trên đất Mỹ, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” đã thu về được hơn 30 triệu đô la. Biết đâu, đó lại chính là lúc con người ta cần tới những điều đẹp đẽ, những thứ tưởng như xa vời với thực tại đang đầy biến động và đau khổ, người ta cần một câu chuyện cổ tích.

Paris - thành phố của những chuyện cổ tích

Bộ phim lấy bối cảnh ở Paris, thành phố ấm áp, đẹp mơ màng với ba màu chủ đạo là xanh lá, vàng cam và đỏ chín. Đó là một Paris của những quầy bán báo xinh xẻo, những cửa hàng rau quả tươi rói, những con mèo thích nghe chuyện cổ tích và những người dân hiền lành đáng yêu. Là nơi phép màu ẩn trong từng góc phố và tình yêu ngập trong bầu khí quyển. Là nơi kể câu chuyện về Amélie Poulain, một cô gái làm bồi bàn tại một quán café nhỏ, trong sáng, tốt bụng, với những kế hoạch tuy không lớn lao nhưng lại đem đến những thay đổi to lớn cho mọi người sống quanh cô.

Ngay trong phút đầu tiên, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” mở ra hình ảnh con đường lát đá tưới ánh sáng vàng cam tuyệt đẹp của Paris như cổ tích khiến người ta hình dung ngay lập tức một câu chuyện đẹp với sự chào đời có vẻ đầy ngẫu hứng của Amélie, khi mà những điều tưởng như không ai để ý vẫn đang diễn ra hàng ngày … Đó là tốc độ của một con nhặng đang bay hay một nhà hàng với những chiếc ly đang nhảy múa trên bàn vì gió. Cuộc đời Amélie cũng bắt đầu một cách khác thường bởi điều vô cùng hư cấu, cô bé bị cha cho rằng có bệnh tim, mà thật ra, chỉ vì quá yêu quý cha nên cô đã không thể giữ cho tim mình không nhảy nhót mỗi khi ông kết thúc chuỗi ngày làm việc dài tại bệnh viện để về nhà. Amélie được cha mẹ giữ trong nhà, học tại nhà, không được tiếp xúc nhiều với bên ngoài. Amélie hầu như không có bạn ngoài những người bạn tưởng tượng nào đó và một vài sở thích kì lạ như thọc tay vào túi đậu, dùng thìa gõ vào bánh bọc đường, thích ngắm nhìn gương mặt người khác vào lúc tối trời, chú ý tới các tiểu tiết xung quanh hay ném đá thia lia trên dòng kênh xanh.

Tất cả những chi tiết này được nhà làm phim đưa ra dưới cái nhìn hài hước, chua chát cười ra nước mắt, lại được kể bằng giọng điệu của một người dẫn chuyện khá hùng hồn. Thậm chí, những điều có vẻ tồi tệ đến với tuổi thơ của Amélie, kể cả cái chết của mẹ cô, cũng mang màu sắc trào lộng đậm chất Pháp khiến cho nó trở nên nhẹ nhàng và dễ cảm hơn hẳn. Nó khiến cho khán giả càng thêm tò mò về những thứ sẽ xảy ra sau này với cô gái bé nhỏ có tuổi thơ dữ dội, cuộc sống khép kín và những sở thích khác người kia.

Nàng tiên bé nhỏ

Và rồi, ngày định mệnh đã tới, khi xem bản tin về cái chết của công nương Diana, Amélie vô tình làm rơi nắp lọ kem dưỡng da xuống sàn nhà. Một viên gạch bật ra, để lộ một chiếc hộp “kho báu” được một cậu bé nào đó cất giấu hơn 40 năm trước. Ngỡ ngàng trước phát hiện kỳ diệu ấy, Amélie quyết định tìm và trả lại cho cậu bé - giờ đã là một ông già - kỉ vật quý báu xưa cũ ấy. Bản tính nhút nhát nhưng lại sẵn có trí tưởng tượng phong phú, cô không lộ mặt mà tìm những cách khác nhau để tiếp cận ông. Những giọt nước mắt xúc động của ông Protodeux và cách mà ông gọi người đã mang lại kỉ vật là “Thiên thần hộ mệnh” đã gieo trong lòng Amélie niềm hạnh phúc khôn nguôi. Cô bất thần như hòa nhịp cùng tâm hồn ông già, dấy lên nguyện vọng được cứu giúp cả thế gian. Ngay sau khoảnh khắc ấy, cái cách mà Amélie giúp đưa ông già mù khác qua đường, vừa đi trên phố vừa mô tả phố xá, mô tả mọi người, mọi vật xung quanh như là cách chính cô bắt đầu nhận thức về cuộc sống thật háo hức hăng say.

Bé bỏng, xinh xắn, đôi mắt to tròn vừa ngây thơ vừa đẹp đẽ, Amélie giống như một nàng tiên Tinker Bell bước ra từ cổ tích, luôn sẵn sàng giơ chiếc đũa thần lên để giúp đỡ mọi người, đem điều kỳ diệu tới cho cuộc sống của người khác một cách bí mật. Cô luôn tìm ra những cách kì quái, lạ lùng để đạt được mục đích của mình. Cô khiến cho người xem phải hồi hộp theo dõi, phán đoán cô sẽ làm gì tiếp theo để rồi bật cười thú vị và thật sự “phải lòng” cô không một chút băn khoăn.

Amélie “đánh cắp” thần lùn của cha rồi nhờ một người bạn làm tiếp viên hàng không đưa nó đi khắp nơi, chụp hình gửi về cho cha xem, để giúp cha có động lực thực hiện ước mơ đi du lịch vòng quanh thế giới. Cô giúp cho cô phục vụ trong quán café cùng mình có được tình yêu của một người khách quen. Cô lấy cắp những bức thư cũ của người chồng đã mất của bà dì cùng tòa nhà, chắp ghép nó thành bức thư khác rồi gửi cho bà, làm ra vẻ bức thư bị thất lạc bao năm giờ mới tới tay bà, chỉ để chứng minh ông còn yêu bà mãi đến hơi thở cuối cùng. Cô trừng trị gã chủ tiêm rau chỉ vì gã đã đối xử không ra gì với anh chàng phụ việc tội nghiệp. Cô thu lại tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống trên tivi gửi cho ông họa sĩ già hàng xóm bị bệnh xương thủy tinh và không thể ra ngoài. Tất cả đều xuất phát từ trái tim ấm áp biết yêu của Amélie, để rồi, trên con đường giúp mọi người xung quanh được hạnh phúc, cô, cuối cùng, cũng tìm được hạnh phúc cho mình.

Tình yêu trong chiếc khăn bông mềm mại

Không cần đến những cảnh ân ái hay những nụ hôn cuồng nhiệt để diễn tả một tình yêu mạnh mẽ đầy khao khát trong Amélie. Chỉ là cái cách cô nhìn ngắm Nino - người dường như đã có Duyên với cô từ ngày cả hai còn thơ bé, chỉ là cái cách cô dẫn dắt anh chàng chạy ngược xuôi theo những mũi tên màu xanh, hay chỉ là cái cách cô hôn khẽ lên khóe môi anh, lên mắt anh. Ngay cả lúc Amélie hiểu lầm rằng Nino đã hẹn hò với một người khác thì sự đau đớn, không hiểu sao, cũng có thể ngọt ngào đến thế. Cô định làm bánh nhưng nhà đã hết men nở. Tâm tưởng cô hình dung ngay tới cảnh Nino sẽ đội mưa đi mua men nở cho cô và bí mật mang đến nhà. Tấm rèm lay động. Amélie có thể cảm thấy Nino ngay lúc đó, sau lưng cô. Tiếng piano nhẹ nhàng vang lên, cùng tiếng mưa và chú mèo nhỏ vừa bước qua tấm rèm khiến cho người xem có thể cảm nhận được cả niềm đau và giọt nước mắt của Amélie mặn ngọt đầu môi.

Những điều Amélie cảm nhận thật đẹp. Những rung động của cô thật đẹp. Tình yêu sâu sắc của cô với Nino thật đẹp. Nhưng, nó sẽ không đi tới đâu cả nếu cô giữ nó ở mãi trong lòng, nếu cô, cũng giống như ông họa sĩ già hàng xóm, tiếp tục “ở trong nhà”. Đoạn kết phim như một hồi chuông làm thức tỉnh Amélie, có những điều khiến bạn phải bước ra ngoài để khám phá, để khẳng định mình, để Yêu. “Cháu không bị bệnh xương thủy tinh như ta, nhưng nếu cháu không đuổi theo chàng trai ấy thì trái tim cháu sẽ vỡ vụn như những mẩu xương của ta”. Amélie ngay lập tức tỉnh ngộ. Mơ mộng không có nghĩa là bạn chỉ ở yên trong thế giới riêng của bạn. Mơ mộng là khi bạn thật sự sống với nó và đem nó ra với thế giới, giúp thế giới của bạn đẹp hơn, như bạn đã làm với những người khác.

Bộ phim hấp dẫn khán giả không chỉ ở nhân vật chính mà còn ở tất cả các nhân vật phụ xoay quanh Amélie. Ai cũng lập dị, cũng khác biệt nhưng đều “tốt” theo cách riêng và đem lại màu sắc riêng của họ, hoàn toàn không giống với bất cứ nhân vật nào khác trong một bộ phim nào khác.

Thật khó có thể nói điều gì là đẹp nhất trong “Amélie”. Từ bối cảnh, tới âm nhạc, tới diễn xuất của diễn viên … Có lẽ, cái tuyệt vời chính là cảm giác dễ chịu suốt hai tiếng mà bộ phim mang lại và người xem hoàn toàn không khó để nhận ra rằng “không ngờ mình có thể vui từ những điều giản dị như thế”.



Yann Tiersen - Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain

03/09/2016 - Hoài Dịu / RFI
Ngọt ngào, dịu êm, trong sáng và lãng mạn. Đó là những mỹ từ mà người ta đã trìu mến dành tặng cho dòng suối nhạc tuôn trào từ tâm hồn nhạc sĩ xứ Bretagne,Yann Tiersen. Mặc dù trong khoảng thời gian 1995 -1996, ông đã cho phát hành hai album nhạc không lời khá hay như «La Valse Des Monstres» và « Rue Des Cascades» nhưng tên tuổi Yann Tiersen thực sự được công chúng biết đến nhiều nhất khi đạo diễn Jean-Pierre Jeunet mời ông sáng tác âm nhạc cho bộ phim « Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain» ( tạm dịch là: Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain).

Album nhạc phim «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain» đã thực sự khẳng định tên tuổi Yann Tiersen qua những giải thưởng danh giá như « Victoire de la musique» cho nhạc phim hay nhất, «Word Soudtrack Awards» cho nhạc phim hay nhất của năm và giải Cesar về âm nhạc hay nhất viết cho phim. Hơn 600.000 bản được bán sạch, album đã giữ vị trí quán quân trong nhiều tuần liên tiếp vào năm 2002, cũng như chiếm một lượng thính giả vô cùng đông đảo và rộng khắp.

«Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » mà chúng ta nghe hôm nay, ra đời từ một cuộc gặp gỡ rất tình cờ. Vào một ngày, đạo diễn Jean-Pierre Jeunet nghe thấy giai điệu của Tiersen trên xe ô tô của người phụ tá, lúc ấy Yann Tiersen chưa thực sự có tên tuổi, bị cuốn hút chỉ sau một lần nghe, Jean-Pierre Jeunet đã mời nhạc sĩ hợp tác cho bộ phim cùng tên của mình.

Album bao gồm 20 bài trong đó có hai bản không do Yann Tiersen viết ( đó là « Si tu n’étais pas là» của Fréhel và «Guilty» của Al Bowlly»), số còn lại là những bản nhạc lấy từ những album trước đây của ông và những bản mà ông viết riêng cho bộ phim cùng tên «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain».

Là người gốc Bretagne, Yann Tiersen được sinh ra ở Brest nhưng trải qua phần lớn tuổi thơ ở Rennes. Nơi đây, do niềm say mê âm nhạc của mình, cha ông đã cho cậu bé Yann theo học violon và piano ở nhạc viện. Yann Tiersen không phải là một học sinh giỏi ở trường phổ thông, nhưng đổi lại Yann rất xuất sắc trong những giờ học nhạc. Luôn đắm mình trong không gian tràn ngập âm nhạc chuyên nghiệp đó, Yann Tiersen không ngừng tự làm phong phú bản thân bằng cách học chơi thêm rất nhiều nhạc cụ khác như: accordéon, clavecin, xylophone...

Hơn nữa ông cũng bắt đầu sáng tác nhạc cho nhiều bộ phim ngắn và những tác phẩm sân khấu. Cuối những năm 1980, do không còn hứng thú với những khuôn mẫu, chuẩn mực hàn lâm, Yann Tiersen từ bỏ nhạc viện để tham gia vào các nhóm nhạc rock, và biểu diễn thường xuyên với tư cách là nghệ sĩ ghita.

Thực ra ngay từ album đầu tay «La Valse Des Monstres», phát hành năm 1995, màu sắc âm nhạc của Yann Tiersen đã có một gu rất riêng. Đó là những mảng âm thanh bay bổng chỉ dành riêng cho nhạc cụ, trong đó có sự ưu ái đặc biệt đối với đàn accordéon và piano. Một thứ âm nhạc tinh tế chắc hẳn là dư vị của những năm tháng theo học nhạc cổ điển tại nhạc viện. Một âm hưởng khác nữa, là những giai điệu dàn trải, đôi chút buồn mang mác, hay những điệu valse êm đềm, trong sáng. Tất cả đã tạo nên một phong cách rất Tiersen. Và album « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » không phải là trường hợp cá biệt.

Hẳn nhiên, chúng ta không thể bỏ qua «La Valse d’Amélie» trong album nhạc phim này, đó là bản nhạc được chính tác giả sáng tác và thể hiện. Giai điệu được chơi trên nền điệu valse, quay đều không dứt, đưa ta vào thế giới trẻ thơ với những vòng đu quay rất đỗi lung linh. Từng âm sắc nối tiếp xuất hiện : tiếng phong cầm vui tươi mở màn điệu nhảy, rồi tiếng chuông thánh thót ngân nga nhường đường cho tiếng kèn melodica, tất cả như chìm đắm vào đêm khiêu vũ thần tiên.

Bản valse trong sáng ấy gắn kết với hình ảnh người thiếu nữ Paris tên là Amelie (nhân vật trong phim). Giai điệu chủ đề được tác giả biến tấu bằng nhiều cách khác nhau. Đó là lý do tại sao có đến bốn bản mang tên «La valse d’Amélie» trong cùng một album. Tuy nhiên mỗi bản được chơi bởi những nhạc cụ không giống nhau, được phối khí khác đi, để phù hợp với từng diễn biến tâm lý của cô gái Amélie và từng bối cảnh trong bộ phim.

Đối với Yann Tiersen , « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » là đứa con tinh thần mang lại cho ông sự danh giá đáng kể nhưng cũng tạo ra không ít « hiểu lầm» trong con đường sáng tác của mình. Ở Pháp , Yanne Tiersen luôn chỉ được nhắc đến như tác giả của mỗi album nhạc phim « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain». Ông nói « Điều này có thể là do sự không thấu hiểu từ công chúng. Jean-Pierre Jeunet đã chọn rất nhiều bản valse, những bản viết cho đàn accordéon, những thứ ấy đã được phát hành trong đĩa nhạc «Rue Des Cascade» trước đó của tôi».

Đúng là, Tiersen có nhiều tác phẩm khác đa màu sắc và âm hưởng phong phú như album «Le Phare» hay « Sky Line » mang phong cách rock, chứ không chỉ là valse, không chỉ là âm sắc phong cầm mà thôi. Điều đó vô tình làm thu nhỏ hình ảnh những đứa con mà ông đã sản sinh trên chặng đường sáng tác âm nhạc của đời mình. Tiersen nói tiếp « Về mặt tích cực, đó là cơ hội cho phép công chúng khám phá thế giới âm thanh của album "Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain". Điểm không hay ở đây là nó đã đưa ra một cách nhìn sai lầm và coi tôi như một kẻ lười biếng. Đúng là hơi bực mình ».

Nhắc đến Yann Tiersen là nhắc đến những nét nhạc miên man tâm tình, mỗi giai điệu là mỗi cung bậc cảm xúc. Có khi thì âu yếm thủ thỉ, có khi đầy đam mê, dạt dào. Những bản nhạc không lời trong đĩa nhạc phim đó là dấu ấn một thời của cả thế hệ những năm đầu thập niên 2000. Hầu như tất cả các nghệ sỹ nghiệp dư, ai cũng muốn một lần chơi vài điệu nhạc từ bản balade, valse hay «khúc đồng dao» của khu vườn âm thanh « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain ». Những tiêu đề quen thuộc như «Comptine d’Un Autre Eté», «Le Moulin», «La Dispute» và «La Redécouverte» là những minh chứng trường tồn trước thử thách thời gian, cảm xúc luôn hiện hữu dù cho hơn 15 năm đã đi qua.

Yann Tiersen là một người đàn ông điềm đạm nhưng lại là một nghệ sỹ sống rất «vội». Vốn không thích «chờ đợi» lâu, hầu như mỗi năm ông cho ra đời đều đặn một tới hai đĩa nhạc và có nhiều chuyến lưu diễn trong và ngoài nước Pháp. Khá trung thành với nhạc hòa tấu, nhạc không lời, cộng với bản sắc riêng của cá nhân, số lượng gần 17 album mang nhiều phong thái khác nhau trong đó có cả nhạc rock, đủ để có một chân dung sắc nét về Yanne Tiersen: Dịu dàng, trầm lắng nhưng không kém phần dữ dội và đầy phá cách.

viethoaiphuong
#606 Posted : Sunday, July 11, 2021 2:01:33 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nhạc Pháp : Tình khúc mới khi trời chớm hạ

10/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong số các album tiếng Pháp được cho ra mắt đầu mùa hè năm 2021, đáng chú ý hơn cả là tập nhạc mới của Clara Luciani. Ca sĩ người Pháp xuất hiện trở lại với album thứ nhì tràn đầy khát vọng và sức sống, sau khi đoạt danh hiệu Giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Pháp, Victoires de la Musique, đầu năm 2020.

Mang tựa đề vỏn vẹn một chữ là ''Coeur'' (Tâm), album thứ hai của Clara Luciani bao gồm 11 ca khúc mới. Hầu hết các bài hát ở đây đã được sáng tác rồi ghi âm trong thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa, vì thế Clara Luciani muốn thổ lộ nhắn nhủ, một cách đơn giản gần gũi nhất những lời nói thiết tha, ấp ủ trong ''Trái Tim'' của mình.

Trong số những ca khúc mới sáng tác cho album thứ hai này, có nhạc phẩm ''Sad & Slow'' (Buồn và Chậm) ghi âm với nam danh ca người Pháp Julien Doré. Đây là lần thứ nhì hai nghệ sĩ trẻ này hợp tác với nhau. Trước đó, đã có bản song ca ''L'île au lendemain'' với giai điệu nhẹ nhàng sâu lắng, từng được phát hành trong album thứ 5 của Julien Doré.

''Xin giữ mãi những nụ hôn cháy bỏng

Hương tình yêu đừng phai nhạt sắc hồng

Trên phím ngà, điệu dương cầm buồn chậm

Cầu mưa rơi mắt sa mạc cay nồng''

Bằng những lời lẽ bóng bẩy mà dịu dàng và tựa đề một chữ đơn giản mà không khô khan, Clara Luciani lại tóm tắt được điều thiết yếu đối với nhiều nghệ sĩ trong thời gian qua. Thay vì là khựng lại đà sáng tạo của họ, thời kỳ phong tỏa vừa qua lại càng làm cho các nghệ sĩ có thêm cảm hứng sáng tác. Trong trường hợp của Clara Luciani, cô muốn kết hợp nội dung ca từ đượm buồn chứ không sầu thảm, với những giai điệu trẻ trung yêu đời (theo phong cách của Claude François, Jackson Five hay là Abba).

Barbara Pravi : Ngôi sao chớm mọc trên vòm trời ca nhạc

Phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm ''The Winner takes it all'' từng ăn khách trước đây của nhóm Abba tạo dấu gạch nối với giọng ca mới Barbara Pravi. Ban nhạc Thụy Điển Abba đã từng đoạt giải thưởng ca nhạc truyền hình châu Âu Eurovision vào năm 1974 (với ca khúc Waterloo), còn Barbara Pravi đã về nhì cuộc thi này hồi trung tuần tháng 05/2021. Tuy không đoạt giải nhất nhưng màn biểu diễn đầy ấn tượng của nhạc phẩm ''Voilà'' đã tạo cơ hội cho tác giả kiêm ca sĩ trẻ tuổi này gặt hái thêm nhiều thành công ở nước ngoài. Một tháng sau cuộc thi, hiệu ứng Eurovision giúp cho ca khúc tiếng Pháp này được xếp hạng cao trên các nền tảng trực tuyến hay tại các thị trường châu Âu. Một ngôi sao sáng vừa xuất hiện trên vòm trời ca nhạc.

Lịch biểu diễn của Barbara Pravi cũng đã bắt đầu chật kín kể từ mùa thu trở đi với một vòng lưu diễn nước Pháp và các nước châu Âu như Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Thụy Sĩ. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là tập nhạc đầu tay ''hậu Eurovision'' mà cô phải thực hiện cho xong vào mùa hè này. Bởi vì cho tới nay, cô đã ghi âm nhiều đĩa đơn nhưng vẫn chưa có một album phòng thu xứng đáng, cho thấy tài nghệ của Barbara Pravi cả về mặt diễn xuất lẫn sáng tác. Hy vọng rằng tài năng chớm nở của cô sẽ càng rực rỡ khi trời vào hạ.

''Nous'', chưa mất tất cả khi vẫn còn đôi ta

Cũng như cô bạn đồng nghiệp Clara Luciani, Julien Doré đã lập kỷ lục số bán với album mang tựa đề ''Aimée'' phát hành vào mùa thu năm 2020. Sau khi đạt tới mức 3 lần đĩa bạch kim, tập nhạc này vừa được tái bản với nhiều phiên bản hòa âm mới và bài hát bổ sung, nâng số ca khúc ghi âm lên thành 14 thay vì 11 như ban đầu.

Thành danh nhờ đoạt giải nhất chương trình Nouvelle Star vào năm 2007, Julien Doré sau đó đã không ''biến mất'' như nhiều giọng ca khác xuất thân từ các cuộc thi hát truyền hình, mà lại trụ vững nhờ cái tài diễn đạt của anh cũng như lối hát cực trầm nhưng với nhiều giọng gió.

Nhạc phẩm ''Nous'' (Chúng ta) với cách tạo hình ngộ nghĩnh, qua video clip của một phi hành gia đi tắm biển với hai con khủng long T-Rex tí hon, đã chinh phục đông đảo nhiều người nghe. Giai điệu lạc quan yêu đời này hẳn chắc sẽ là một trong những ca khúc thịnh hành vào mùa hè năm nay.


viethoaiphuong
#607 Posted : Thursday, July 15, 2021 10:33:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Quốc ca Pháp được phóng tác nhân Thế vận hội Paris 2024

13/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Vài hôm trước lễ Quốc khánh Pháp (14/07), Ủy ban Olympic Paris 2024 lại thông báo chọn sáng tác của nghệ sĩ Pháp Woodkid làm ca khúc chính thức nhân kỳ Thế vận hội mùa hè, tổ chức tại Paris trong 3 năm tới. Trên mạng xã hội, Woodkid đã phổ biến trích đoạn đầu tiên trong phần nhạc nền của đoạn phim video ''Made for Sharing'', mời toàn thế giới cùng đến Pháp chia sẻ kỳ Đại hội thể thao.

Dòng nhạc của Woodkid mang ảnh hưởng của ca sĩ Björk và của nhóm Kraftwerk, đều được xem là tiên phong trong thể loại nhạc điện tử. Lần này, nghệ sĩ trẻ tuổi đã chọn chủ đề bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' rồi chuyển thể giai điệu này thành một khúc nhạc dồn dập hoành tráng, kết hợp âm thanh cổ vũ cao trào với không khí nhiệt tình trên các sân thể thao. Do tác giả Claude Joseph Rouget de Lisle sáng tác vào năm 1792, bài Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' đã có hàng trăm phiên bản phóng tác khác nhau, trong khá nhiều thể loại, kể cả phiên bản cổ điển của diva người Mỹ Jessye Norman nhân kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, lối chuyển thể sang nhạc jazz của nhạc sĩ Claude Bolling, theo nhạc pop của William Sheller hay điệu reggae của tác giả quá cố Serge Gainsbourg …

Quốc ca Pháp phối theo nhạc điện tử và hòa âm giao hưởng

Nhưng trong trường hợp của Woodkid, có lẽ đây là lần đầu tiên Quốc ca Pháp được chuyển thể thành ca khúc khai mạc Thế vận hội. Được đặt tên là ''Prologue'' (Lời mở đầu), khúc nhạc này đã được ghi âm với Ban hợp ca của Đài phát thanh Radio France và Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia. Dài tổng cộng 12 phút, khúc nhạc được phân chia thành nhiều chương. Theo lời nhạc sĩ Woodkid, giai điệu được gợi cảm hứng từ bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' nhưng về cấu trúc lại mô phỏng theo nghệ thuật xếp giấy origami của Nhật Bản, trong cách cô đọng tiết tấu, sắp đặt gọn lại những nốt nhạc mở đầu, để rồi dàn trải triển khai khi được phối với 100 nghệ sĩ trên cùng một sân khấu bao gồm toàn ban đồng ca cũng như dàn nhạc quốc gia. Phiên bản phóng tác mới của ''La Marseillaise'' kết hợp cùng lúc với lối hòa âm điện tử với bộ đàn dây của ban nhạc giao hưởng.

Bên cạnh việc phát hành trích đoạn đầu tiên gồm khoảng 2 phút trên đoạn video minh họa ngắn ''Made for sharing'', khúc nhạc sẽ chính thức được phát sóng tại Tokyo vào thời điểm rước đuốc Thế vận hội đến Paris vào ngày 08/08/2021. Cũng nhân dịp này, Woodkid sẽ tổ chức một buổi biểu diễn miễn phí dành cho công chúng ngay dưới chân tháp Eiffel. Đây có lẽ là dịp để cho nghệ sĩ người Pháp giới thiệu rộng rãi hơn các sáng tác riêng, song song với việc hợp tác với Ủy ban Olympic Paris 2024.

Woodkid sáng tác cho hiệu thời trang Louis Vuitton

Tuy là một nhân vật khá nổi tiếng trong làng truyền thông cũng như ngành thiết kế thời trang, nhưng cho tới giờ Woodkid vẫn chưa hẳn là một gương mặt quen thuộc với công chúng Pháp. Trong lãnh vực thời trang cao cấp, Woodkid đã làm việc chung trong nhiều năm trời với nhà thiết kế Pháp Nicolas Ghesquiere, giám đốc các bộ sưu tập thời trang phái nữ cho Louis Vuitton. Trong gần một thập niên, Woodkid đã tạo dựng không gian âm thanh với sắc thái riêng biệt cho các đợt biểu diễn thời trang hiệu Vuitton trên sân khấu.

Thế nhưng, Woodkid không tự bó mình vào ngành thời trang y phục mà còn mở rộng hợp tác với nhiều nghệ sĩ trong các lãnh vực khác nhau như nhiếp ảnh (JR Jean René), điện ảnh (Robert de Niro) qua bộ phim ''Ellis Island''. Anh cũng từng làm giám đốc nghệ thuật cho ca sĩ Pharrell Williams, nhưng quan hệ hợp tác đem lại nhiều thành quả nhất vẫn là soạn nhạc cho ngành múa ballet đương đại, kể cả đoàn múa New York City Ballet, hay đoàn ballet của Opéra de Paris dưới sự chỉ đạo của Aurélie Dupont.

Năm nay 38 tuổi, Woodkid tên thật là Yoann Lemoine sinh trưởng ở vùng phụ cận thành phố Lyon, trong một gia đình mà bố là chuyên viên thiết kế quảng cáo. Tuy nổi tiếng từ năm 2015 trong lãnh vực soạn nhạc, nhưng thật ra ban đầu anh đeo đuổi ngành điện ảnh (nhất là trong khâu làm phim hoạt hình 3D), sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng thiết kế đồ họa. Sau một thời gian du học tại Mỹ, Woodkid trở về Paris lập nghiệp, anh bắt đầu làm việc từ năm 2004 trong lãnh vực tranh minh họa trước khi được biết đến nhờ tài thực hiện video clip ca nhạc cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi Pháp cũng như quốc tế.

Thử nghiệm sáng tác trong nhiều môn nghệ thuật

Cho dù trong thời gian đầu anh không kiếm đủ tiền để trang trải toàn bộ chi phí cuộc sống, nhưng Woodkid vẫn nhận lời làm công tác thiện nguyện, hợp tác với các hiệp hội nhằm gây quỹ chống bệnh Aids. Anh trau dồi tay nghề qua việc thực hiện những bộ phim video ngắn trong các chiến dịch vận động thông tin, nhờ sở trường này mà anh đã đoạt khá nhiều giải thưởng vào năm 2009, nhân kỳ liên hoan quốc tế phim quảng cáo. Tài năng của anh lọt vào mắt giới sản xuất ở Mỹ và cũng từ đó, anh được mời sang làm việc tại các phòng thu ở Los Angeles. Woodkid bắt tay thực hiện nhiều video clip cho các ca sĩ nổi tiếng, trong đó có Katy Perry, Rihanna, Drake hay Lana Del Rey …

Có lẽ cũng như nhiều nghệ sĩ đa tài khác, Woodkid thay vì chọn một hình thức nghệ thuật duy nhất, lại thích thử nghiệm nhiều thể loại và bộ môn khác nhau. Sau khi thành danh nhờ video clip, anh lại chuyển qua hợp tác với làng thiết kế thời trang và kể từ năm 2013, anh chọn con đường sáng tác âm nhạc. Dù vậy, anh vẫn không theo mô hình truyền thống của giới ca sĩ Pháp, mà lại thích kết hợp dòng nhạc mang tính ''thử nghiệm'' của mình với nhiều lãnh vực khác nhau, kể cả thời trang, trò chơi điện tử, video quảng cáo hay là múa ballet đương đại… Một trong những sáng tác đầu tay của anh (Iron) đã từng được dùng trong đợt quảng cáo cho trò chơi video ‘‘Assassin Creed Revelations’’, nhờ vậy album đầu tiên của Woodkid đã lập kỷ lục về số bán với gần một triệu bản.

Hiện giờ, Woodkid đang làm việc trên album phòng thu thứ ba và anh tiến hành cùng lúc nhiều dự án khác nhau, kể cả soạn nhạc cho các bộ phim truyện, tác phẩm sân khấu hay phim quảng cáo. Do từ thời nhỏ anh rất hâm mộ các đạo diễn bậc thầy như Stanley Kubrick và Andrei Tarkovski, nên Woodkid vẫn chưa từ bỏ ý định thực hiện ước mơ của mình : Anh muốn, đến một ngày nào đó, viết trọn một kịch bản rồi bấm máy thực hiện thành phim truyện. Anh hy vọng sẽ làm được điều này trước khi anh quá tuổi. Từ nay tới đó, nghệ sĩ người Pháp vẫn đeo đuổi các dự án thử nghiệm để làm giàu ý tưởng. Việc sáng tác cho Thế vận hội Paris 2024, đối với Woodkid, là một chặng đường đem lại nhiều kinh nghiệm cần thiết trong suốt quá trình sáng tạo.


viethoaiphuong
#608 Posted : Saturday, July 17, 2021 8:31:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Những ca khúc tiếng Pháp “hai số phận”

17/07/2021 - Gia Trình / RFI
Nhạc Pháp thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thật. Khi chuyển ngữ sang tiếng Anh, nhiều ca khúc gốc Pháp lại thành công vang dội. Liệu có phải khoác chiếc áo tiếng Anh thay đổi hoàn toàn cục diện ? Tạp chí Âm Nhạc kỳ này điểm lại một số ca khúc nhạc Pháp “hai số phận” như thế.

Charles Aznavour - Tous les visages de l’amour - She - 1974

Ca khúc được Charles Aznavour sáng tác năm 1974. Nhạc sỹ, ca sỹ cũng ghi âm tới bốn phiên bản ngoại ngữ khác nhau Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Đây là nỗ lực đáng khen ngợi nhằm quảng bá tác phẩm rộng rãi đến công chúng. Ca từ đẹp, giai điệu lịch lãm là ấn tượng khó phai về bài hát. Charles Aznavour còn gây bất ngờ hơn khi ông giới thiệu một phiên bản tempo nhanh hơn, hào sảng hơn. Ca khúc từng leo lên hạng 1 ở Anh Quốc nhưng lại khá thất thế tại quê nhà và cả bên bờ Đại Tây Dương.

Hai mươi tư năm sau, năm 1998, bài hát xuất hiện trong diện mạo mới, trang nhã không kém, bằng tiếng Anh. Nam nghệ sỹ Elvis Costello đã hát lại ca khúc bằng phiên bản tiếng Anh có tựa đề She (Cô ấy). Bài hát được chọn làm nhạc nền phim tình cảm lãng mạn Notting Hill có siêu sao Julia Roberts thủ vai. Thành công rực rỡ của bộ phim cùng nụ cười tỏa nắng của Julia khiến cho Cô ấy có bước đại nhẩy vọt. Tác phẩm soán ngôi trên bảng xếp hạng âm nhạc khắp châu Âu.

Ca khúc dễ dàng thoát được cái bóng nhạc Pháp 24 năm trước. Rất nhẹ nhàng, nhà sản xuất Trevor Jones giữ được linh hồn của bài hát đậm chất Pháp: tinh tế, hài hòa nhưng không nhạt nhòa. She là ví dụ khiến cho người nghe bất ngờ tìm lại bản gốc tiếng Pháp (Tous les visages de l’amour). Có lẽ nếu ra đời đúng thời điểm và soundtrack nhạc phim Notting Hill, có thể bản gốc tiếng Pháp đã có số phận khác biệt.

She may be the face I can't forget ; The trace of pleasure or regret ; May be my treasure or the price I have to pay ; She may be the song that summer sings ; Maybe the chill that autumn brings ; Maybe a hundred different things ; Within the measure of a day.

Cô ấy có gương mặt khiến tôi không thể nào quên ; Dấu vết của sự hân hoan hay hối tiếc ; Có thể kho báu hay cái giá mà tôi phải trả ; Cô ấy có thể là bản tình ca mùa hè ; Có thể là chút lạnh giá mùa thu ; Hàng trăm thứ khác nhau trong cùng một ngày.

Les Feuilles Mortes - Autumn Leaves - 1946

Quay ngược về thập niên 1940, bản nhạc Les Feuilles Mortes (Những chiếc lá úa) có lẽ chung một số phận. Ca khúc jazz kinh điển được sáng tác bởi Joseph Kosma, nhạc sỹ gốc Hungary. Phần lời tiếng Pháp do Jacques Prévert sáng tác năm 1946. Tiết tấu nhịp chậm rãi, giai điệu man mác khiến bài hát rất cuốn hút với người nghe. Sản phẩm hợp tác giữa Joseph và Jacques được sáng tác giữa lòng kinh đô ánh sáng Paris.

Ca khúc được chọn lồng trong bộ phim Les Portes de la nuit (Gates of the night). Tuy nhiên, mức độ phổ biến của Les Feuilles Mortes vẫn còn hạn chế cho đến tận 5 năm sau. Nhạc sỹ John Mercer chuyển ngữ Les Feuilles Mortes thành bản nhạc tiếng Anh Autumn Leaves. Kỳ lạ thay, sức sống của “Những chiếc lá úa” như được hồi sinh. Hơn một ngàn bản ghi âm khác nhau của Autumn Leaves ra mắt. Các ngôi sao trứ danh như Nat King Cole (1955), Doris Day (1956) và Frank Sinatra (1957) không thể bỏ qua một giai điệu trữ tình sâu lắng đến vậy.

Hơn thế nữa, mãnh lực của Autumn Leaves còn lan sang nhạc không lời. Nghệ sỹ piano Roger Williams đã lần đầu ghi tên bảng xếp hạng âm nhạc nhờ phần piano của Autumn Leaves. Bài hát tiếng Anh gặp đúng thời kỳ jazz bùng nổ ở thập niên 1940-50. Khi chuyển ngữ, ca khúc đã tiếp cận lượng khán giả trên diện rộng hơn. Sự da diết, nồng nàn trong chất tình ca Pháp tìm đường đến thẳng trái tim khán giả.

Claude François - Comme d’habitude - My way - 1967

Nhắc tới Frank Sinatra, khán giả yêu nhạc đều nhớ tới bản nhạc đỉnh cao My Way. Nhưng ít người biết rằng đó là ca khúc gốc tiếng Pháp. Bản nhạc gốc có tên gọi Comme d'habitude được nhạc sỹ Claude François sáng tác vào năm 1967. Ca khúc trở thành hiện tượng vào thời điểm đó khi leo tới hạng 1 tại Pháp. Mặc dù người yêu nhạc khá ưa thích ca khúc trên sóng radio, sức tiêu thụ lại khá chậm, chỉ được 350 nghìn bản trong vài tuần.

Khi đó, danh ca Paul Anka và nhà xuất bản hãng đĩa của Paul là Gilbert Marouani cùng có mặt tại Paris. Họ vô tình nghe ca khúc trên truyền hình và ngay lập tức “phải lòng” bản nhạc. Thỏi nam châm Comme d’habitude đã dẫn tới đề nghị Anh hóa ca khúc. Paul đã viết lời ca khúc tiếng Anh tựa đề My Way. Frank Sinatra có may mắn ghi âm ca khúc và trình làng đúng một năm sau đó, tháng 12 năm 1968. Bản nhạc có độ lan tỏa mạnh mẽ, đưa tên tuổi Frank Sinatra trở nên vô cùng nổi tiếng.

Cần phải lưu ý vai trò rất lớn của Paul Anka. Ông không dịch sát bản gốc mà sáng tạo một cuộc sống mới cho ca khúc. Bản gốc chỉ đề cập tới thói quen của cặp đôi trong mối quan hệ tình cảm. Trái ngược hẳn, bản nhạc tiếng Anh là trải lòng của một người đàn ông từng trải, đối diện với tử thần nhưng không hối tiếc về cuộc đời trải qua. Tuy dựa trên cùng một nền nhạc và cấu trúc ca từ, Comme d’habitude đã có cuộc sống mới khi được chuyển sang tiếng Anh.

Jacques Brel - Ne me quitte pas - If you go away và Le Moribond - Seasons in the sun

Nhạc sỹ người Bỉ Jacques Brel được ví như một tài năng đặc biệt. Những ca khúc u buồn tiếng Pháp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các ca sỹ. Khi một số bản hit như Ne me quitte pas (If you go away) và Le Moribond (Seasons in the sun) được chuyển ngữ sang tiếng Anh, khán giả gần như quên hẳn bản gốc tiếng Pháp.

Năm 24 tuổi, Jacques Brel chuyển sang sống tại Paris vào năm 1953 sau khi quá chán nản, bế tắc với cuộc sống tại nhà máy sản xuất bìa carton của gia đình ở Bruxelles. Ông bỏ lại người vợ, cả gia đình non trẻ để ký hợp đồng hãng đĩa Philips tại Pháp. Hai ca khúc của ông được biết đến nhiều hơn nhờ hát bằng tiếng Anh. Le Moribond là ca khúc sầu não kể về người đàn ông sắp qua đời. Khi chuyển qua tiếng Anh, Season in the sun (Những mùa đầy nắng), bài hát giũ bỏ màu sắc buồn thảm để thành ca khúc vui nhộn, dí dỏm. Bản gốc “Tôi muốn họ khiêu vũ khi đưa tôi xuống hố” được đổi thành “Chúng tôi vui vẻ, chúng tôi có những mùa đầy nắng”.

Tương tự, bản hit Ne me quitte pas có giai điệu buồn khá ám ảnh, nhưng đã giảm thiểu sức mạnh u buồn trong bản tiếng Anh If you go away. Chính xác hơn phải dịch là “Đừng bỏ anh mà đi”. Nhưng giai điệu buồn ám ảnh của bài hát lại khiến cho hàng loạt ngôi sao tên tuổi muốn ghi dấu ấn riêng như Nana Mouskouri, Frank Sinatra, Barbara Streisand, Glen Campell. Cho dù có nhiều phiên bản cover bằng tiếng Anh, khó ai diễn tả chân thực hơn tác giả sáng tác ra bài hát. Có lẽ Jacques Brel quá nổi tiếng về cảm xúc tuyệt vọng trong những sáng tác thách thức tình yêu và cái chết. Vì thế, khi chuyển sang tiếng Anh, cảm xúc u buồn bị giảm nhẹ tối đa khiến cho bản nhạc “dễ thở” hơn nhiều.

Những bài hát “hai số phận” không chứng minh rằng hát tiếng Anh hấp dẫn hơn hát tiếng Pháp mà chỉ ra rằng sự thành công của một ca khúc cần sự may mắn và tính thời điểm. Ngoài ra, các tác giả chuyển ngữ rất giỏi trong việc gia giảm cảm xúc, ngữ cảnh cho phù hợp với đa số khán giả. Trong âm nhạc, sự phát triển đều có tính kế thừa.

viethoaiphuong
#609 Posted : Saturday, July 24, 2021 8:09:01 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nhạc Pháp song ca, hương xưa sắc mới

24/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Chương trình ''Góc vườn Âm nhạc'' của RFI tuần này được dành để nói về các bản song ca tiếng Pháp thịnh hành trong thời gian qua. Để giữ mối liên lạc với giới hâm mộ, nhiều ca sĩ thường hay thực hiện những phiên bản hòa âm khác lạ của những bài hát mà họ hằng yêu thích như trường hợp của Angèle, Louane, Gims, Slimane hay Christine & the Queens...

Thời kỳ phong tỏa cũng đã cho ra đời nhiều dự án ghi âm mới, tiêu biểu nhất là album song ca của tác giả Grand Corps Malade.

Mang tựa đề đơn giản là ''Mesdames'' (hiểu theo nghĩa Quý cô, Quý bà), tập nhạc này là album phòng thu thứ 7 của Fabien Marsaud, nổi tiếng với nghệ danh Grand Corps Malade và là một trong những tác giả Pháp đầu tiên ăn khách nhờ thể loại thơ nói (slam poetry). Được phát hành vào mùa thu năm 2020, tập nhạc này bao gồm 10 ca khúc trong đó, anh đan xen giọng đọc cực trầm của mình với các giọng ca nữ trẻ tuổi đáng chú ý nhất hiện thời.

Tuyển tập song ca của Grand Corps Malade

Album này từng đoạt giải ca khúc xuất sắc nhất, nhân kỳ trao tặng giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp đầu năm 2021. Trong số các bản song ca mới, đáng ghi nhận hơn cả là tình khúc ''Mais Je t'aime'' với Camille Lellouche và gần đây hơn nữa là nhạc phẩm ''Derrière le Brouillard'' (Đằng sau lớp sương mù) ghi âm với nữ ca sĩ Louane, thành danh tại Pháp cách đây 7 năm, sau khi tham gia chương trình The Voice phiên bản tiếng Pháp.

"Tiếng mông lung che khuất trời hy vọng ; Lớp sương mù phủ bóng khúc dư âm ; Dù trong tim muôn nghiệt ngã âm thầm ; Thà đứng lên từng bước qua vực thẳm ; Thêm một lần đành hứng chịu bão giông".

Năm nay 44 tuổi, Fabien Marseaud thời còn trẻ đã gặp tai nạn nghiêm trọng, bị chấn thương cột sống năm anh tròn 20 tuổi. Sau nhiều tháng điều trị phục hồi chức năng, anh có thể dùng gậy để đi đứng trở lại, nhưng buộc phải từ bỏ giấc mộng trở thành vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp.

Fabien khám phá thể loại thơ nói năm anh 26 tuổi, để rồi trở thành một nghệ sĩ slam nổi tiếng từ năm 2007 trở đi, với nghệ danh Grand Corps Malade, hàm ý một thân xác to lớn nhưng không lành lặn. Bài hát ''Derrière le Brouillard'' mà anh đồng ghi âm với Louane nói về nỗi can đảm cũng như nghị lực để đứng dậy sau nhiều lần bị vấp ngã, điều quan trọng vẫn là thoáng dư âm của niềm hy vọng ''Đằng sau lớp sương mù''...

Bước kế tiếp của Slimane sau tập nhạc song ca với Vitaa

Ca khúc ''Si t'étais là'' (hiểu theo nghĩa Nếu mẹ còn đó) là một ca khúc ăn khách trên album thứ nhì của Louane, phát hành vào năm 2017. Bài hát đã được viết chỉ một thời gian rất ngắn sau khi song thân của cô đều lần lượt qua đời vì bệnh ung thư. Được sáng tác như một lời tâm tình nhắn nhủ với người đã khuất, do bố mẹ của Louane đã ra đi quá sớm để có thể chứng kiến sự thành công của đứa con gái trên đường đời sự nghiệp, và Louane cảm thấy hối tiếc vì đã không thật sự tìm hiểu nỗi khổ của song thân, thời mà cha mẹ cô vẫn còn sống trên đời này.

Dù vậy Louane vẫn chưa đánh mất niềm tin, và nếu như song thân vẫn còn đó, thì có lẽ họ sẽ khuyên con mình nên giữ niềm vui trong cuộc sống. Có lẽ cũng vì thế mà cô chọn ''Joie de Vivre'' (có nghĩa là Sống vui) làm tựa đề album mới (thứ ba) của mình. Còn nhạc phẩm ''Si t'étais là'' do rất cảm động nên trở thành một ca khúc thường được chọn trong các cuộc thi hát. Ban song ca Vitaa & Slimane cũng từng hát lại ca khúc này trên sân khấu sau khi lập kỷ lục số bán trong năm qua với đĩa nhạc Versus, đạt tới mức 6 lần đĩa bạch kim.

Phiên bản 2021 của ca khúc chủ đề nhạc kịch ''Notre Dame de Paris''

Từ song ca đến tam ca, chỉ cần một bước mà thôi. Slimane từng thành danh nhờ về đầu mùa thứ 5 cuộc thi hát The Voice tại Pháp vào giữa năm 2016. Sau khi tham gia khá nhiều dự án ghi âm, nam ca sĩ Slimane lần này xuất hiện trong một ca khúc hợp tác với hai anh em nghệ sĩ nhạc rap Gims và Dadju. Sinh tại Kinhasa, Gims năm nay 35 tuổi từng ăn khách vào đầu năm 2008 khi là thành viên chính của nhóm Sexion d'Assaut. Từ năm 2013 trở đi, Gims hoạt động solo và đã trình làng 4 album phòng thu.

Trên phiên bản bổ sung cho tập nhạc gần đây nhất phát hành trong thời kỳ phong tỏa, vì thế album được đặt tên là ''Le Fléau'' (Tai họa), hai anh em Gims và Dadju đã cùng với Slimane ghi âm lại một bản nhạc từng được công chúng Pháp bình chọn là một trong những tình khúc hay nhất thế kỷ XX. Nhạc phẩm "Belle" (Giai Nhân) là ca khúc chủ đề của vở nhạc kịch ''Nhà thờ Đức Bà Paris''. Hơn hai thập niên sau ngày ra đời, ca khúc này nay lại được phát hành với một phiên bản hòa âm hương xưa sắc mới.

Trước hoàn cảnh khó khăn ràng buộc, cảm hứng sáng tạo lại sinh ra nhiều thành quả, có thể giải tỏa nỗi đau, cho bao vị đắng thăng hoa thành giai điệu ngọt ngào.


viethoaiphuong
#610 Posted : Tuesday, July 27, 2021 6:24:03 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Henri Vernes, tác giả bộ truyện Bob Morane qua đời ở tuổi 102

27/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Lúc sinh tiền, nhà văn người Bỉ Henri Vernes đã viết khoảng 250 quyển tiểu thuyết và truyện ngắn, chủ yếu là truyện trinh thám và gián điệp. Tác phẩm đầu tay của ông được một tủ sách thiếu nhi phát hành ở mức 8.000 quyển, vào cuối năm 1953. Nửa thế kỷ sau, bộ truyện phiêu lưu ''Bob Morane'' của ông đã được bán hơn 40 triệu bản trên toàn thế giới.

Theo nhà xuất bản Ananké, tác giả Henri Vernes đã qua đời hôm 25/07/2021 tại tư gia ở quận Saint Gilles, Bruxelles, hưởng thọ 102 tuổi. Lần cuối ông xuất hiện trước ống kính truyền hình là nhân dịp cuộc triển lãm mừng sinh nhật 100 tuổi tại Viện bảo tàng thành phố Tournai. Hơn một thập niên sau ngày ông giải nghệ, nhà xuất bản Ananké đã chỉ định hai tác giả Gilles Devindilis và Christophe Corthouts làm các ngòi bút kế thừa di sản văn học của Henri Vernes (1918-2021), tiếp tục bộ truyện của ông qua việc sáng tác ''Những chuyến phiêu lưu mới của Bob Morane''.

Bộ truyện phiêu lưu ăn khách với hơn 40 triệu bản

Tên thật là Charles-Henri Dewisme, ông sinh trưởng tại thị trấn Ath, miền Tây nước Bỉ, gần biên giới Pháp. Thời còn trẻ, ông làm đủ mọi nghề để kiếm sống kể cả nghề thợ kim hoàn và viết lách. Do làm việc cùng lúc cho nhiều tờ báo, cho nên ông sử dụng nhiều bút danh. Còn khi sáng tác, ông có đến cả chục tên khác nhau. Trong số này, có "Henri Vernes" sẽ được lưu danh hậu thế. Thật ra, ông chọn bút danh là Henri Vernès, nhưng thời xưa khi in chữ hoa trên bìa sách, tên của ông lại bị mất đi dấu huyền. Cho dù nhà văn này có giàu trí tưởng tượng cách mấy, bản thân ông cũng không hề ngờ rằng bộ truyện với nhân vật Bob Morane lại thành công rực rỡ phi thường đến như vậy.

Giây phút định mệnh đến với tác giả Henri Vernes vào tháng 12/1953. Sau khi thành công với một tập truyện đăng nhiều kỳ trên báo (truyện ''Rendez vous au Pélican vert'' viết cho nhật báo La Dernière Heure phát hành tại Bruxelles), ông được một nhà xuất bản sách thiếu nhi yêu cầu sáng tác thêm một bộ truyện dài. Henri Vernes đặt bút sáng tác ''La Vallée Infernale'' (Thung lũng địa ngục) với cốt truyện diễn ra trên đảo Nouvelle-Calédonie, xung quanh nhân vật Bob Morane, một nhà thám hiểm từng là phi công thuộc lực lượng không quân Anh, đồng thời là một ''thám tử'' giõi võ, một tay súng thiện xạ.

Khi sáng tác truyện theo đơn đặt hàng của tủ sách thiếu nhi Marabout Junior, Henri Vernes không nghĩ rằng tác phẩm này sẽ ăn khách. Ông viết tác phẩm liền một mạch trong vòng 4 tuần lễ, tưởng tượng sao thì cứ viết thẳng ra như vậy lên trang giấy. Đến khi hoàn tất, ông giao lại bản thảo cho nhà xuất bản và đúng ngày hôm sau, ông an tâm lên đường, đi bằng tàu thủy đến Bogota. Cuộc hành trình băng Đại Tây Dương kéo dài đến gần cả tháng.

Đặt chân đến thủ đô Colombia, điều đầu tiên ông nhận được là một bức điện tín từ phía nhà xuất bản thông báo rằng quyển ''tiểu thuyết đầu tiên'' với nhân vật Bob Morane, sau lần tái bản thứ ba đều được bán sạch chỉ trong vài ngày. Nhà xuất bản này hy vọng ông sẽ sớm sáng tác tập truyện thứ nhì. Lúc bấy giờ, Henri Vernes sang Colombia chủ yếu là để khám phá một chân trời mới, rốt cuộc ông tự ''''nhốt mình trong phòng trọ. Chỉ trong một vài đêm, ông viết rất nhanh để không vuột mất cảm hứng. Ông hoàn tất quyển ''La Galère engloutie'' (Bí ẩn vụ đắm thuyền). Tác phẩm này mở đầu cho một cuộc hành trình văn học, liên tục và đều đặn trong hơn nửa thế kỷ.

Hiện tượng ngành xuất bản : nửa thế kỷ ăn khách

Mỗi năm, ông giao cho nhà xuất bản 4 quyển sách, viết nhanh nên cứ hai tháng một quyển. Thời gian còn lại ông chu du bốn bể, đi vòng quanh thế giới, điều mà ông đã từng làm lúc thiếu thời, khi chưa đầy 18 tuổi. Điều đó giải thích phần nào vì sao ông sáng tác dồi dào như vậy. Trong nửa thế kỷ, ông hoàn tất một bộ truyện gồm hơn 200 quyển tiểu thuyết dung hòa nhiều thể loại trinh thám, gián điệp, phiêu lưu …. Từng bước, ông phác họa một thế giới hư cấu mở rộng trong nhiều thập niên liền và trở thành một trong những tác giả tiên phong trong thể loại truyện khoa học viễn tưởng bằng tiếng Pháp. Tiểu thuyết của Henri Vernes chinh phục nhiều độc giả trên thế giới : cả trăm tựa sách của ông được dịch sang 15 ngoại ngữ, kể cả tiếng Nga, tiếng Đức hay tiếng Nhật.

Trong 3 thập niên liền, tiểu thuyết của Henri Vernes trở thành một hiện tượng trong ngành xuất bản, lôi cuốn độc giả nhờ cái tài dẫn dắt câu chuyện, nhiều tình tiết hấp dẫn mà vẫn xuyên suốt mạch lạc. Tính mạo hiểm trong truyện phần lớn bắt nguồn từ dòng máu phiêu lưu của chính tác giả. Năm 17 tuổi, ông đã rời bỏ gia đình ở Bỉ, lên tàu thủy ở bến cảng Marseille để lên đường khám phá thế giới mênh mông, ban đầu là Quảng Châu, (Trung Quốc) rồi sau này là các nước châu Á, châu Phi, các nước Bắc Âu, Nam Mỹ, Haiti hay quần đảo Polynésie.

Trong thời Đệ nhị Thế chiến, ông tham gia lực lượng kháng chiến khi trở về Bỉ đầu những năm 1940. Trong vòng 4 năm, ông làm nhân viên liên lạc cho ngành tình báo Anh và học cách giả mạo giấy tờ căn cước để giúp cho một số người (Bỉ cũng như Pháp) vượt biên trong lúc họ đang bị Gestapo truy tìm. Trong cuộc hành trình xuyên thế kỷ, ông đã gặp gỡ và làm quen với nhiều nghệ sĩ tên tuổi, kể cả ca sĩ Juliette Gréco, nhà văn Blaise Cendrars, kịch tác gia Michel de Ghelderode, nhà khoa học Bernard Heuvelmans hay là danh họa Fernand Léger.

Cuộc đời nhà văn còn ly kỳ hơn tiểu thuyết

Một trong những nhân vật từng để lại cho nhà văn Henri Vernes nhiều kỷ niệm khó quên (như ông ghi chép trong quyển hồi ký của mình) vẫn là Henri Charrière, kể lại những năm tháng ông bị giam cầm trong quyển tự truyện trường thiên ''Papillon'' (Người tù khổ sai) từng được phóng tác nhiều lần thành phim ăn khách trên màn ảnh lớn, kể cả phiên bản xưa với Steve McQueen và Dustin Hoffman, hay là trong phiên bản mới với Charlie Hunnam và Rami Malek trong vai chính. Một trong những điều làm cho Henri Vernes chưa thật sự toại nguyện, đó là truyện Bob Morane chưa được chuyển thể thành phim, cho dù nhân vật này có nhiều tiềm năng không kém gì điệp viên 007 James Bond của tác giả Ian Fleming.

Cả hai tác giả Bỉ và Anh này đều đã từng thu thập thông tin trong thời thế chiến, cho nên các nhân vật do họ sáng tác đều ít nhiều có liên quan đến ngành tình báo (trong làng xuất bản Pháp, hai nhân vật khác là San Antonio và OS117 cũng đều xoay quanh cùng chủ đề). Tuy nhiên, trái với điệp viên James Bond hay San Antonio, thế giới của nhà thám hiểm Bob Morane (mà ban nhạc Pháp Indochine đã từng gợi hứng sáng tác ca khúc ăn khách ''L'Aventurier'') hoàn toàn không có chuyện chăn gối hay những đoạn mô tả gợi tình hay khiêu dâm. Phần lớn cũng vì bộ truyện Bob Morane được sáng tác cho độc giả thiếu nhi và giáo dục sinh lý vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm nếu không nói là cấm kỵ trong các tủ sách dành cho giới trẻ.

Đổi lại, bộ truyện Bob Morane đã có hơn 80 tựa sách được phóng tác thành truyện tranh, dưới ngòi bút chì của các họa sĩ Dino Attanasio, Gérald Forton và nhất là William Vance (tác giả nổi tiếng với bộ truyện tranh ''XIII''). Thể loại này rất thích hợp với các độc giả trẻ tuổi, điều đó giải thích vì sao nhiều thập niên sau ngày ra đời, dòng truyện phiêu lưu của Henri Vernes vẫn khiến cho nhiều bạn đọc mê mẫn. Độc giả cao tuổi hơn thì lại thích thú với quyển hồi ký của Henri Vernes phát hành vào năm 2012 sau khi ông ''rửa tay gác bút'' vì cuộc đời của nhà văn còn ly kỳ hơn cả tiểu thuyết.


viethoaiphuong
#611 Posted : Wednesday, July 28, 2021 8:38:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

100 năm ngày sinh của Jacques Martin, tác giả bộ truyện tranh Alix

26/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong làng truyện tranh Pháp, có hai nhân vật rất nổi tiếng. Trước hết là anh hùng Gaulois Astérix, nhờ thần dược mà đánh bại vạn quân La Mã. Kế đến có các chuyến phiêu lưu của Alix, từ một cậu bé nô lệ xứ Gaule khi lớn lên lại trở thành anh hùng La Mã. Nhân vật này ra đời dưới ngòi bút chì của ông Jacques Martin. Một cuộc triển lãm lớn đang được tổ chức tại Périgueux nhân dịp 100 năm ngày sinh của họa sĩ Pháp.

Mang tựa đề ''Alix - Destination Vesunna'', cuộc triển lãm diễn ra từ đầu tháng 07/2011 đến cuối tháng 11/2011, phác họa lại cuộc hành trình tưởng tượng của nhân vật Alix đến Vesunna. Đây là tên gọi thời xưa của Périgueux (thành phố của thủy thần Vesunna), nay là thủ phủ của vùng Dordogne. Theo bà Élisabeth Penisson, giám đốc Viện bảo tàng Vesunna chuyên về khảo cổ học thời Gaulois-La Mã, thông qua hàng trăm tác phẩm đủ loại, cuộc triển lãm bắt nhịp cầu giữa thế giới truyện tranh và ngành khảo cổ học thời cổ đại.

Triển lãm dựa theo các di tích lịch sử La Mã

Tại các vùng Tây Nam nước Pháp, vẫn còn nhiều di tích lịch sử thời Đế chế La Mã, chẳng hạn như Đấu trường thành phố Nîmes, Nhà hát cổ đại Orange, Cầu dẫn nước Pont du Gard. Theo lời mời của trưởng ban tổ chức Marc Azéma, họa sĩ Marc Jailloux, tác giả của các tập truyện tranh ''Alix'' kể từ năm 2013 cho tới nay, đã gợi hứng từ di tích La Mã Tháp Vesunna (tiếng Pháp là Tour Vésone) để vẽ tranh bìa minh họa cho cuộc triển lãm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của tác giả Jacques Martin (1921-2010).

Dù muốn hay không, sự thành công vượt bực của bộ truyện tranh Astérix của hai tác giả Goscinny và Uderzo, với hơn 380 triệu bản được bán trên toàn thế giới, đã phần nào che khuất tài năng của Jacques Martin và bộ truyện tranh Alix. Tác phẩm này có vẻ như nhắm vào thành phần độc giả trưởng thành nhiều hơn là bạn đọc thiếu nhi. Nhân vật Alix tuy là hư cấu nhưng lại được lồng vào một bối cảnh gần sát với ''thực tế'', dựa theo nghiên cứu các tài liệu lịch sử, lối dựng cốt truyện gần với kịch bản điện ảnh và nội dung đôi khi kết thúc không có hậu, với cái chết của nhiều nhân vật chính trong truyện.

Cùng với một nhân vật khác là thanh niên Ai Cập Enak, anh hùng Alix bắt đầu cuộc hành trình phiêu lưu đi khắp mọi nẻo đường, xuyên qua lãnh thổ Đế chế La Mã. Một trong những nét độc đáo của bộ truyện Alix là cách cài đặt những chi tiết rất thực tế vào trong truyện. Trái với anh hùng Astérix (Uderzo và Goscinny) với nhiều yếu tố huyền ảo thần thoại, Jacques Martin lại muốn đưa người đọc ngược dòng thời gian, trở về với thế giới của Cổ thành La Mã, ở thượng tầng là đền đài vương giả của hoàng đế César, còn phía dưới là cuộc sống lầm than của thành phần dân đen, của những tên nô lệ. Do tình huống đẩy đưa, Alix trở thành ''anh hùng'' khi đứng về phía của những kẻ thấp cổ bé miệng.

Thời kỳ hợp tác với Hergé, tác giả truyện Tintin

Sinh trưởng tại thành phố Strasbourg, miền Đông nước Pháp (Alscace nay thuộc vùng Grand Est), tác giả Jacques Martin ngoài Alix (ra đời vào năm 1948) còn nổi tiếng nhờ bộ truyện tranh phóng viên Lefranc (năm 1952). Ông bắt đầu làm việc cho tạp chí "Journal de Tintin" sau thời Đệ nhị Thế chiến, trở thành đồng nghiệp của hai danh họa Hergé (Georges Remi) tác giả khai sinh nhân vật phóng viên ''Tintin'' và Edgar P. Jacobs, cha đẻ của bộ truyện tranh "Blake và Mortimer". Cả hai họa sĩ này đều lớn hơn Jacques Martin khoảng 10 tuổi và là đồng chủ bút của tuần báo "Journal de Tintin" chuyên về truyện tranh. Cùng với Hergé và Jacobs, ngòi bút của Jacques Martin sau đó trở nên tiêu biểu cho trường phái Bruxelles, lối vẽ truyện tranh thường có những đường viền sắc sảo rõ nét.

Khi tạo ra nhân vật Alix vào năm 1948, Jacques Martin đã gặt hái thành công nhanh chóng, bộ truyện này đã có hàng chục tập khác nhau, được bán hơn 12 triệu bản và được dịch sang 15 thứ tiếng. Ông cố gắng cho ra mắt mỗi năm một tập truyện của anh hùng Alix và một tập truyện của phóng viên Lefranc. Sau ngày ông qua đời, nhân vật Alix sẽ tiếp tục được khai thác qua nhiều ngòi bút khác, trong đó có các họa sĩ như Marc Jailloux hay là Giogio Alkbertini.

Theo đề nghị của đàn anh, Jacques Martin từng hợp tác với danh họa Hergé để thực hiện các album kể lại các chuyến phiêu lưu của phóng viên Tintin. Sự hợp tác này kéo dài trong gần 20 năm, từ 1953 đến 1972. Một cách chính thức, Jacques Martin từng tham gia soạn kịch bản và vẽ tranh cho các tập truyện "Vụ án Tournesol", "Tintin ở Tây Tạng", "Đồ nữ trang của bà Castafiore" hay là "Chuyến bay 714 đến Sydney" …...

Truyện tranh Alix : 12 triệu bản bằng 15 thứ tiếng

Tuy thành công với bộ truyện tranh Alix, cũng có đôi lần Jacques Martin trở thành trọng tâm của các vụ tranh cãi, liên quan tới những ẩn ý về quan hệ đồng tính giữa hai nhân vật Alix và Enak, một số truyện cũng có vẽ phụ nữ hở ngực khỏa thân, khiến ông bị chê là vẽ truyện cho người lớn chứ không phải cho con nít. Một số truyện của ông như ''La Griffe Noire'' hay là "Les Légions perdues" từng bị cấm phát hành một thời gian với lý do kích động thù hận và xúi giục bạo động. Điều đó đã khiến cho tác giả Goscinny (Astérix) bực mình lên tiếng phản đối kiểm duyệt và buộc Bộ Văn hoá phải can thiệp, giúp cho hai tập truyện này được cơ hội ra mắt độc giả.

Tác giả Jacques Martin đã khai sinh Alix trong thời hậu chiến, nên trong nhân vật luôn hàm chứa khát vọng hướng thiện của một tác giả, muốn đứng về phía đòi công lý cho những kẻ yếu. Thời hậu chiến cũng là thời tái thiết châu Âu, không dễ tìm ra tài liệu có sẵn như thời nay với công nghệ internet. Trong thời gian đầu, họa sĩ đã có một số sơ sót khi muốn mô tả lại một cách thực tế mô hình xã hội thời đế chế La Mã. Họa sĩ Jacques Martin đã dựa vào những lời chỉ trích ấy để rồi nhờ đến các nhà khảo cổ học để hoàn thiện bản vẽ, cũng như những chi tiết trong kịch bản của mình. Điều đó giúp cho ông gầy dựng uy tín của mình và từ đó mà tạo được một lượng độc giả hâm mộ trung thành.

Khi qua đời tại Thụy Sĩ vào năm 2010, họa sĩ Jacques Martin đã để lại một di sản khá đồ sộ gồm hàng trăm tựa truyện, trong đó có gần 40 truyện tranh dành riêng cho nhân vật Alix. Bên cạnh đó, còn có các nhân vật khác như Jhen (1978) và Loïs (2000), tiếp tục được nhà xuất bản thường xuyên khai thác qua việc hợp tác với nhiều tài năng mới của làng truyện tranh quốc tế. Sau thành phố Périgueux, Thư viện thành phố Strasbourg, nguyên quán của Jacques Martin, cũng lên kế hoạch kỷ niệm vào mùa thu này, đúng 100 năm ngày sinh của một trong những tác giả tài ba nhất của làng nghệ thuật thứ 9 của Pháp.


viethoaiphuong
#612 Posted : Sunday, August 1, 2021 8:19:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Kelly Clarkson - Quán quân “sống sót” từ cuộc thi âm nhạc

31/07/2021 - Gia Trình / RFI
Sự bùng nổ cuộc thi âm nhạc truyền hình thực tế giới thiệu nhiều gương mặt tài năng đầy triển vọng. Nhưng không phải quán quân nào cũng tỏa sáng và thăng hoa như Kelly Clarkson, một giọng hát nổi tiếng đầy nội lực.

Từ "Thần tượng Mỹ" trở thành ngôi sao nước Mỹ

Trở thành ngôi sao ca nhạc không hề đơn giản và dễ dàng. Trải qua hơn 20 mùa giải, các cuộc thi truyền hình thực tế như The Voice, American Idol (Thần tượng nước Mỹ) đều hé lộ những tài năng mới. Trong số đó, gần như duy nhất Kelly Clarkson trưởng thành và phát triển theo con đường ca hát chuyên nghiệp. Cô không có ngoại hình cuốn hút, càng không có một nhan sắc dễ nhìn. Nhưng giọng hát của Kelly thì thực sự đặc biệt, có chất lửa pop/rock với làn hơi khỏe khoắn. Ngay từ lúc phần thi thử giọng, Kelly đã tỏa ra nguồn năng lượng vô song.

Cuộc thi Thần tượng nước Mỹ giúp cô ký được hợp đồng với hãng ghi âm RCA vào năm 2002. Single đầu tay A moment like this (Giây phút như vậy) nhanh chóng lọt vào top 100 Billboard và trở thành đĩa đơn ăn khách nhất. Cùng với single này, Kelly ra mắt album đầu tay Thankful (Biết ơn, 2003) gây được sự chú ý, nhưng vẫn chưa đủ thuyết phục vì thể loại R&B.

Một năm sau đó, album Breakway (2004) là cú đột phá đầy thuyết phục của Kelly. Cô kết hợp cùng ê-kip của American Idol, hai nhà sản xuất danh tiếng Clive Davis, Dr. Luke. Họ muốn Kelly phải thoát khỏi bóng dáng American Idol để trở thành một ngôi sao độc lập. Do vậy, Dr. Luke đề xuất chiến lược xoáy vào pop/rock, đặc biệt âm hưởng rock trong giọng hát và phong cách trình diễn.

Trong album này, Kelly là đồng tác giả sáng tác 6 trên 12 ca khúc. Điều này có lẽ lý giải thành công không nhỏ trong sự nghiệp của nữ ca sỹ. Đúng như mong đợi, hợp tuyển phòng thu này đoạt hai giải Grammy cho Kelly: Album Pop xuất sắc nhất và Trình diễn pop xuất sắc nhất. Breakaway cũng đạt doanh số tiêu thụ trong mơ, 12 triệu bản. Đáng chú ý là các bản hit như Breakaway, Since you’ve been gone, Because of you đều tái hiện chân thực từ cuộc đời thực tế của Kelly. Những ký ức khó quên khi cha mẹ cô ly dị nhau, mối quan hệ với bạn trai cũ. Các yếu tố tài năng, chiến lược và chất liệu chân thực góp phần tạo nên thành công cho album xuất sắc của nữ ca sỹ lúc đó mới 22 tuổi.

"Giấc mơ kiểu Mỹ" có thật?

Nếu chỉ lướt qua sự nghiệp Kelly Clarkson bằng những con số, hầu hết khán giả đều cho rằng giấc mơ Mỹ có thật. Số lượng album tiêu thụ toàn cầu là 45 triệu album, 11 đĩa đơn lọt vào Top 10 tại Mỹ. Nữ ca sỹ 39 tuổi còn ngồi trên ghế giám khảo The Voice mùa thứ 6 liên tiếp. Cô sở hữu kênh talkshow riêng, The Kelly Clarkson Talkshow, phát sóng lần đầu vào năm 2019.

Xuất phát điểm của cô đều khiến cho mọi người ngạc nhiên. Sinh ra lại miền quê bang Texas, Kelly có mẹ là giáo viên tiếng Anh và cha là kỹ sư. Tuổi thơ cô không suôn sẻ vì cha mẹ ly dị khi mới lên 6 tuổi. Kelly theo ở với mẹ, bà Jeanne Ann nhưng mẹ cô sớm tái hôn. Cuộc hôn nhân không hạnh phúc của cha mẹ ảnh hưởng không nhỏ tới tuổi thơ Kelly. Trong gia đình kiểu mẫu bảo thủ, cô phải đi nhà thờ hai ngày trong tuần vào thứ 4 và Chủ Nhật. Nếp sinh hoạt này lại tạo đòn bẩy cho nữ ca sỹ không được đào tạo bài bản về thanh nhạc. Cô hát phần lớn tại nhà thờ và trong cuộc thi tài năng tại trường phổ thông trung học. Niềm đam mê ca hát và chất giọng trời phú luôn là kim chỉ nam cho cuộc đời Kelly.

Cô từng từ chối suất học bổng vào Đại học Texas và cả trường Cao đẳng Âm nhạc Berklee. Cô “từng sáng tác nhạc và muốn có sự nghiệp cho riêng mình”. Tuy nhiên, hành trình đi kiếm vận may trong âm nhạc không dễ dàng với cô gái trẻ. Hầu hết hãng đĩa đều từ chối ký hợp đồng với Kelly vì cho rằng chất giọng cô giống người da đen. Ngoài ra, “khi 20 tuổi, tôi cân nặng khoảng 56 kg (124 pounds), cao 1,58 m. Họ từng nói với tôi nếu giảm 8-9 kg, họ sẽ ký hợp đồng ghi âm với tôi.” Bất đắc dĩ, cô phải làm việc tại nhà hát, bồi bàn, tiếp thị qua điện thoại cho tới khi chính thức tham gia cuộc thi American Idol.

Để tỏa sáng trong cuộc thi, Kelly chứng tỏ rằng hành trình đam mê âm nhạc không hề suôn sẻ. Thiếu đi nội lực và sự cố gắng không ngừng nghỉ, giọng hát riêng lẻ không thể khiến cho cô bứt phá ngoạn mục.

Thay thế Ellen Degeneres trong talkshow

Chất giọng Kelly Clarkson được xếp vào hàng soprano, giọng nữ cao. Cô từng thổ lộ chịu ảnh hưởng lớn giọng soul của Aretha Franklin, nữ hoàng R&B, của Whitney Houston, âm nhạc của Aerosmith, Radiohead và Garbage. Sở thích nghe nhạc của những thành viên trong gia đình ảnh hưởng đáng kể tới Kelly. Cô thích nhóm rock lừng lẫy Guns N’Roses, Metallica, cả nhạc country của Reba McEntire. Nhờ phổ âm nhạc đa dạng, nữ ca sỹ có thể hát lại các bản hit nổi tiếng các nghệ sỹ khác mà không bị chệch hướng thể loại. Talkshow Kelly Clarkson phản ánh rõ nét vì chính cô làm MC, biên tập, trò chuyện với khán giả. Từ các bản hit của Cher, Adele, Whitney Houston, Lady Gaga, cái tên Kelly Clarkson đôi khi nghĩa là vượt qua mọi thử thách hiểm trở nhất trong âm nhạc.

Mới đây, trong chương trình vinh danh ca sỹ nhạc đồng quê Garth Brooks, Kelly Clarkson ghi điểm ngoạn mục nhờ cover bản hit The Dance. Bài hát gắn với tên tuổi của Garth nói về sự đánh đổi trong cuộc sống vì chúng ta không thể biết trước tương lai ra sao. Kelly lấy đi nước mắt khán giả khi nói rằng thà mình sẽ chọn khiêu vũ với người mình yêu, bất chấp thực tế là người tình đó có thể bỏ rơi mình trong tương lai.

Năm 2021, Kelly Clarkson chính thức được chọn là MC từ năm 2022 thay thế cho talkshow của Ellen Degeneres. Kênh NBC chính thức bình luận về Kelly: “Đội ngũ sản xuất và Kelly luôn chứng tỏ tâm huyết, sự chuyên nghiệp của họ để phù hợp với mọi lựa tuổi và văn hóa”. Phổ âm nhạc rộng và giọng hát nội lực chắc chắn là yếu tố bản lề cho sự lựa chọn mang tên Kelly Clarkson. Hơn thế nữa, nữ ca sỹ có thể chia sẻ kinh nghiệm sống qua nhiều thử thách: Ly dị với người chồng cũ, quản lý Brandon Blackstock, Kelly giành quyền nuôi hai con chung, con gái River 7 tuổi, con trai Remy 5 tuổi ; cô còn đối mặt với các vấn đề sức khỏe như bệnh tuyến giáp, rối loạn ăn uống và thừa cân.

Sự thân thiện, cởi mở và đam mê âm nhạc của Kelly chắc hẳn là nguồn năng lượng tích cực cho khán giả theo dõi. Hơn thế nữa, Kelly Clarkson là quán quân “sống sót” sau các cuộc thi truyền hình thực tế nở rộ như nấm sau mưa. Cô chứng minh rằng giấc mơ Mỹ thiếu bột “nội lực” không bao giờ gột thành hồ.


viethoaiphuong
#613 Posted : Saturday, August 14, 2021 11:31:10 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Dấu ấn của Mai Thứ tại nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon

13/08/2021 - Thanh Phương - RFI
Trong phần tạp chí Người Pháp, Nước Pháp hôm nay, RFI xin mời quý vị đến thăm nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon, vì đây chính là nơi mang dấu ấn của cố danh họa Việt Nam Mai Trung Thứ trong thời gian ông sống tại thành phố này.

Mâcon là một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Saône-et-Loire, miền trung nước Pháp, chỉ cách thành phố Lyon khoảng 60 cây số về phía bắc. Vào thế kỷ 19, chính quyền thành phố Mâcon tính đến việc xây một nhà thờ mới, được đặt tên là nhà thờ Thánh Phêrô, để thay thế cho nhà thờ cũ. Kiến trúc sư André Berthier, học trò của một trong những kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp Eugène Viollet-le-Duc, được giao nhiệm vụ thiết kế ngôi nhà thờ này. Ông đã chọn lối kiến trúc La Mã pha lẫn kiến trúc gothique để xây ngôi nhà thờ nằm đối diện với tòa thị chính Mâcon, như biểu tượng của sự liên hệ giữa giáo quyền và thần quyền.

Nhưng giai đoạn cuối của công trình xây dựng nhà thờ thánh Phêrô cũng là lúc mà thành phố Mâcon gặp những khó khăn về tài chính. Ngày 24/08/1860, nhân lúc hoàng đế Napoléon đệ tam đến thăm Mâcon, Jean-Claude Naulin, cha xứ của giáo xứ Saint- Pierre, là một trong những người được hoàng đế trao tặng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Với hỗ trợ của nam tước Ponsard, tỉnh trưởng Saône-et-Loire, cha Naulin mới mạnh dạn thỉnh cầu hoàng đế giúp huy động 200.000 franc cần để hoàn tất công trình và đã được toại nguyện.

Cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa, cha xứ của Saint-Vincent de Paul, một giáo xứ trong vùng và cũng là cha tuyên úy của cộng đồng Công Giáo người Việt của vùng Lyon, mà chúng tôi có dịp gặp ở Mâcon vào cuối tháng 7, cho biết vài nét tiêu biểu của công trình kiến trúc này:

"Nhà thờ Thánh Phêrô được xây vào khoảng năm 1862-1865 do một kiến trúc sư khi đó làm việc cho giáo phận Autun thiết kế. Khi giới thiệu nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon, người ta luôn luôn nói đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, xem nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là bản sao gần như hoàn chỉnh của nhà thờ này. Nhà thờ Thánh Phêrô nằm trong một thành phố nhỏ, nhưng bao quanh là rất nhiều cánh đồng nho. Người dân ở đây thì rất thân thiện.

Trước đó tại đây đã có một nhà thờ khác rồi. Mâcon có đặc điểm là người Công Giáo đến đây từ rất sớm, vì vậy còn rất nhiều vết tích của người Công Giáo trong thành phố này. "

Nhà thờ thánh Phêrô có mặt tiền gồm ba tầng, và bên trên là hai tháp chuông có đường nét rất thanh thoát, hiếm thấy. Trong nhà thờ còn có một số tác phẩm nghệ thuật đáng chú ý, trong đó có bức tranh tường nổi tiếng của danh họa Việt Nam Mai Trung Thứ, bên cạnh bức tranh vẽ thánh Vincent de Paul, theo lời cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa:

" Trong nhà thờ Thánh Phêrô có một bức tranh rất nổi tiếng, nói đến sự hiện diện của thánh Vincent de Paul ở Mâcon, tả lại cảnh ngài đang giảng trong một thánh lễ. Điểm thứ hai đối với người Việt chúng ta đó là bức tranh tường của họa sĩ Mai Trung Thứ do thành phố đặt. Bức tranh vẽ hình ảnh Đức Mẹ đang giơ tay để chỉ tới trái tim Chúa và ở dưới là những lính, có những người chết và có những người bị thương, nhìn lên theo hướng tay Đức Mẹ chỉ trái tim Chúa. Đó là bức tranh rất nổi tiếng và rất đẹp tại nhà thờ này.

Sau chiến tranh, Mai Trung Thứ có đến sống ở Mâcon trong vài năm, và đã được một số gia đình Công Giáo trong thành phố này đón tiếp. Ông đã vẽ tranh cho các gia đình đó để kiếm sống trong thời gian đầu và đặc biệt là ông đã giữ được những tình bạn rất sâu sắc với những gia đình đó. Hôm rồi, trong buổi khai mạc triển lãm tranh của ông, những người con của những gia đình mà ông đã được đón tiếp đã đến dự. Có những bức tranh Mai Thứ vẽ về họ khi họ chỉ mới, 4 tuổi 5 tuổi, 7 tuổi và bây giờ thường đã trên 80 tuổi"

Cố họa sĩ Mai Trung Thứ(1906-1980) hay Mai Thứ là một trong nhóm « tứ kiệt trời Âu » của nền hội họa Việt Nam (Lê Phổ - Mai Trung Thứ - Lê Thị Lựu - Vũ Cao Đàm), một họa sĩ nổi tiếng của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Ông là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1930). Phần lớn cuộc đời ông sống và hoạt động nghệ thuật tại nước Pháp. Tên tuổi của ông gắn liền với những tác phẩm tranh lụa về đề tài phụ nữ, trẻ em, cuộc sống thường ngày dưới cái nhìn mang đầy màu sắc văn hóa Á Đông.

Rất nhiều tác phẩm của Mai Thứ đã được ông vẽ ở thành phố Mâcon, cho nên thành phố này hiện đang có một cuộc triển lãm mang tên “Mai Thứ ( 1906-1980 ) - Tiếng vọng từ một Việt Nam trong mơ” / (Mai Thu ( 1906-1980 ) – Écho d’un Vietnam rêvé) tại viện bảo tàng Ursulines.

Nhưng tác phẩm mà ông để lại cho thành phố Mâcon chính là bức tranh tường trong nhà thờ Thánh Phêrô, được thực hiện năm 1941, trên tường của nhà nguyện đầu tiên phía bên phải của nhà thờ. Hướng dẫn chúng tôi đến xem bức tranh này, bà Claire Santoni-Magnien, phụ trách truyền thông của viện bảo tàng Ursulines, cho biết:

“ Mai Thứ đã vẽ bức tranh này trong thời gian ông giải ngũ ở Mâcon vào đầu thập niên 1940. Chắc là các gia đình người dân Mâcon mà ông quen biết đã giới thiệu ông cho cha xứ nhà thờ Thánh Phêrô, không biết chính xác là gia đình nào.

Ông đã thực hiện bức tranh này để vinh danh những người lính Pháp tham gia Thế chiến thứ nhất. Phải nói đây là dấu ấn lớn nhất của họa sĩ Mai Thứ ở Mâcon, vì tác phẩm này nhằm tưởng niệm một thời điểm lịch sử rất quan trọng đối với phương Tây, đó là Thế chiến thứ nhất và nó cũng thể hiện sự kết hợp giữa hai nền văn hóa, bởi vì Đức Mẹ trong bức tranh có nét của người châu Á.

Mai Thứ vẽ bức tranh chủ đề người lính vì bản thân ông cũng từng tham chiến. Chúng ta biết là Mai Thứ đã tình nguyện nhập ngũ để tham gia Thế chiến thứ hai. Bức tranh này cũng nhằm thể hiện sự tôn trọng của ông đối với quá khứ, đối với những vị anh hùng của một quốc gia. Đó cũng là những giá trị mà Mai Thứ cũng rất gắn bó do nguồn gốc văn hóa của ông. Nhưng những người lính ngày đang hướng về trái tim Chúa, thể hiện đức tin và chắc là nhờ có đức tin mạnh mẽ như vậy mà họ đã có thể giữ vững tinh thần trong suốt cuộc chiến. Đây cũng là một cách để tuyên dương sự dũng cảm của những vị anh hùng đó, mà đa số đã có sự hỗ trợ của tôn giáo trong cuộc sống hàng ngày.”

Có thể nói bức tranh trường của danh họa Mai Thứ trong nhà thờ Thánh Phêrô chính là dấu tích vĩnh viễn về sự sự hiện diện của họa sĩ Mai Thứ ở Mâcon, theo lời bà Claire Santoni-Magnien:

“ Những người sống ở Macon từ lâu đều biết đến bức tranh, nhưng những ai chưa biết thì rất ngạc nhiên khi nhìn thấy. Rõ ràng đây là chứng tích duy nhất còn lại của sự hiện diện của Mai Thứ ở Mâcon vào những năm 1940, tiêu biểu cho những sự giao lưu giữa các gia đình ở Mâcon với nghệ sĩ đến từ một nơi rất xa như thế.

Mai Thứ đã mất rất nhiều tháng để thực hiện bức tranh này. Nhiều bản thảo do chính tay Mai Thứ vẽ đang được trưng bày ở Viện Bảo Tàng Ursulines trong khuôn khổ cuộc triển lãm tranh của ông. Nói chung vẽ một bức tranh tường mất rất nhiều thời gian. Có một bức ảnh chụp Mai Thứ trước bức tranh, kế bên cái thang mà ông dùng để làm việc. Bức ảnh được chụp từ năm 1941, cho thấy phải mất nhiều tháng sau đó ông mới hoàn thành bức tranh.”

Ngoài việc là nơi lưu giữ dấu tích của cố danh họa Mai Trung Thứ, như cha Đa Minh Nguyễn Xuân Nghĩa có nói ở trên, nhà thờ Thánh Phêrô còn khiến chúng ta liên tưởng ngay đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, được xây từ năm 1877 và được khánh thành năm 1880, vì hai công trình này có lối kiến trúc rất giống nhau.

viethoaiphuong
#614 Posted : Friday, August 20, 2021 12:44:03 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Pháp : Triển lãm nhân 100 năm ngày sinh của Yves Montand

17/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Lâu đài Buzine ở phía Đông Marseille tổ chức cho tới ngày 31/12/2021 một cuộc triển lãm lớn về Yves Montand, sau khi đã tổ chức triển lãm về các nghệ sĩ quá cố Johnny Hallyday và Charles Aznavour. Cả ba nghệ sĩ Pháp có một điểm chung : Họ đều thành công trong hai lãnh vực ca nhạc và điện ảnh. Cuộc triển lãm này đánh dấu cùng lúc hai sự kiện quan trọng : 100 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của Yves Montand (1921-1991).

Tọa lạc ở vùng ngoại ô, cách trung tâm thành phố Marseille khoảng 15 km, Château de la Buzine (xây vào năm 1867) là Trung tâm các nền Điện ảnh Địa Trung Hải (Maison des Cinématographies de la Méditerranée), do Viện lưu trữ phim ảnh Marseille quản lý. Khi xưa, lâu đài này thuộc quyền sở hữu của nhà văn kiêm đạo diễn trứ danh Marcel Pagnol (1895-1974). Cũng tại nơi này, ông đã đặt ống kính quay phim, chuyển thể một số tiểu thuyết của ông thành phim truyện chiếu trên màn ảnh lớn. Sau một thời gian dài đóng cửa, lâu đài Buzine đã được khai trương lại vào năm 2011, sau khi được chuyển đổi thành một trung tâm văn hóa với phòng triển lãm và rạp chiếu phim.

Khi đem ra trưng bày hàng trăm tác phẩm đủ loại về Yves Montand (ảnh chụp, bản thảo, áp phích, tư liệu, trang phục sân khấu ….), Trung tâm Điện ảnh Địa Trung Hải cũng chọn mối quan hệ khá thân thiết giữa hai nghệ sĩ Montand-Pagnol làm điểm nhấn. Trong số các bộ phim ăn khách của Yves Montand, có hai tác phẩm ''Jean de Florette'' và ''Manon des Sources'' do đạo diễn Claude Berri phóng tác từ bộ tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Marcel Pagnol. Tại cuộc triển lãm, có trưng bày những quyển sách với chữ ký của tác giả tặng riêng cho Yves Montand.

Tình bạn giữa Marcel Pagnol và Yves Montand

Trong quyển ''Từ điển Điện ảnh'' (Dictionnaire du Cinéma), tác giả Jean Tulard ghi nhận là Yves Montand từng gặp đạo diễn Marcel Pagnol năm ông mới 17 tuổi, lúc tập tễnh vào nghề còn chưa nổi tiếng. Yves Montand tập đóng phim, xuất hiện trong một số cảnh quay của Marcel Pagnol, nhưng đến khi dựng phim, các cảnh này đều đã bị cắt bỏ. Một thập niên sau đó, khi Yves Montand rời miền Nam lên Paris lập nghiệp và trở nên nổi tiếng, ông mới trở thành bạn thân của Marcel Pagnol qua lời giới thiệu của thi hào Jacques Prévert (1900-1977). Trong bức ảnh chụp vào năm 1951 nhân ngày cưới của hai thần tượng điện ảnh Simone Signoret và Yves Montand tại ngôi làng Saint-Paul-de-Vence, cả hai tác giả đàn anh Jacques Prévert và Marcel Pagnol đều là khách mời danh dự.

Cả hai nghệ sĩ này đều có quan hệ gắn bó với Marseille. Tuy sinh trưởng tại Aubagne nhưng thời còn trẻ, tác giả Marcel Pagnol từng là giáo viên Anh văn tại trường trung học Saint Charles và sau đó ông đã gợi hứng sáng tác bộ tác phẩm ''Trilogie Marseillaise'', gồm 3 vở bi kịch chọn thành phố Marseille làm bối cảnh. Về phần mình, Yves Montand, tên thật là Ivo Livi, theo bố mẹ di cư từ Ý đến Marseille năm ông lên 4 tuổi. Gia đình ông chọn định cư ở khu phố nghèo phía bắc, đường sá lúc ấy còn đầy bùn lầy, chưa được rải nhựa.

Trong suốt tuổi thơ hàn vi, chính những năm tháng gian khổ nhọc nhằn nhất lại trở thành một động lực lớn, không ngừng thôi thúc Yves Montand đi tìm bằng mọi giá sự thành công trên đường đời sự nghiệp. Theo lời kể của nam nghệ sĩ, bố mẹ ông nghèo đến nổi trong nhà không có phòng tắm, phòng vệ sinh nằm ở ngoài hành lang, khi còn nhỏ ông chỉ được tắm mỗi tuần một lần trong các nhà tắm công cộng. Nhưng khó khăn nhất vẫn là hình ảnh của người Ý trong mắt người dân thành phố Marseille. Dân nhập cư bị cho là những kẻ ăn bám, thành phần thấp hèn nhất trong tầng lớp dân nghèo thời bấy giờ.

Yves Montand, những mối tình đẹp nhất trong đời

Vì gia đình quá nghèo,cậu bé Ivo Livi phải bỏ học năm 11 tuổi, bắt đầu làm đủ mọi nghề để kiếm sống, kể cả làm phu khuân vác từ năm 15 tuổi tại bến cảng thành phố Marseille. Chính tại khu phố này, ông khám phá các bộ phim ca nhạc đầu tiên của Mỹ trong đó có ''Carioca'' (Thẳng đường đến Rio - 1933), cũng từ đó mà Ivo nuôi mộng trở thành một ngôi sao sân khấu. Cậu thiếu niên bắt chước các bước nhảy nhuần nhuyễn điêu luyện của ông vua thiết hài Fred Astaire, ông học cách nháy mắt mỉm cười như Gary Cooper, hay Jamerss Stewart trong phim cao bồi.

Khi lớn lên và bắt đầu làm việc cho các quán rượu gần bến cảng, Ivo lấy nghệ danh là Yves Montand, chọn những bài ca của Charles Trenet và bắt chước cách hát của vua hề Fernandel, pha trò dí dỏm cho tiết mục biểu diễn thêm hài hước vui nhộn. Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu viết nhật ký và ghi chép những điều đáng nhớ, cần được rèn luyện, trau dồi thêm trước khi lên sân khấu. Quyển nhật ký được trưng bày trên một giá vẽ họa sĩ, phản ánh những bước đầu trên con đường sân khấu.

Đến Paris lập nghiệp từ năm 23 tuổi (năm 1944), Yves Montand thành danh vài năm sau đó nhờ vào sự dìu dắt của nữ danh ca Édith Piaf. Bản nhạc bất tử ''La vie en Rose'' được hai đồng tác giả Louiguy và Piaf viết ra để nói về quan hệ say đắm giữa đôi tình nhân này. Quan hệ ngắn ngủi (1944-1946) nhưng quan trọng giữa Piaf và Montand mở ra chương triển lãm về các mối tình trong đời của nam nghệ sĩ, từ Simone Signoret (1951-1985), Marilyn Monroe (1960), Shirley MacLaine (1962) cho đến Carole Amiel, người vợ cuối cùng, không phải là nghệ sĩ, đã sinh cho ông đứa con trai duy nhất (Valentin Montand).

Quan hệ ngoại tình của Yvers Montand với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực của báo chí thời bấy giờ, nhưng hầu như mọi người đều đồng ý là thần thánh còn phải xiêu lòng huống chi là người phàm trước một ngôi sao màn bạc từng được mệnh danh là ''người đàn bà đẹp nhất hành tinh'', ban đêm không hề mặc gì cả ngoại trừ vài giọt nước hoa Chanel số 5.

Dù vậy, về mặt tình nghĩa, quan hệ chung sống với nữ diễn viên Simone Signoret vẫn quan trọng hơn hết, có lẽ cũng vì cặp vợ chồng nghệ sĩ này trong 3 thập niên liền đã bổ sung cho nhau trên nhiều phương diện, về mặt nghệ thuật cũng như sự dấn thân chính trị. Tuy không hề có thẻ đảng viên, nhưng cặp bài trùng Signoret-Montand (cũng như ca sĩ kiêm tác giả Jean Ferrat) đã sát cánh đồng hành với đảng Cộng Sản Pháp (PCF), cả hai nghệ sĩ từng đi thăm Liên Xô vào năm 1956, để rồi xa lánh và đoạn tuyệt với ý thức hệ cộng sản từ năm 1968 trở đi, sau vụ đàn áp ''Mùa xuân Praha''. Bộ phim tiêu biểu cho giai đoạn này là tác phẩm ''L'Aveu'' (Lời thú tội) của đạo diễn Costa Gavras nói về số phận của các tù nhân Tiệp Khắc bị giam do bất đồng chính kiến.

Bộ phim tài liệu về di sản nghệ thuật của Yves Montand

Lúc sinh tiền, Yves Montand trong nửa thế kỷ sự nghiệp đã ghi âm khoảng 25 album ca nhạc và đóng vai chính trong khoảng 60 bộ phim. Trong làng nhạc, ông nổi tiếng nhờ chất giọng biểu cảm trung trầm, một crooner theo kiểu Pháp với lối vuốt chữ mượt mà nồng ấm, nhất là khi hát các bản tình ca Pháp. Còn trong làng phim, ông là một trong những diễn viên ''ruột'' do tâm đầu ý hợp với các đạo diễn Pháp nổi tiếng từ những năm 1970 như Claude Sautet, Alain Corneau, Jean Paul Rappeneau hay là Costa-Gavras. Đối với một người dành trọn cuộc đời cho nghệ thuật, thì ông lại đột ngột ra đi vì cơn đau tim vào năm 1991, đúng một ngày trước khi đạo diễn Jean-Jacques Beineix hoàn tất bộ phim ''IP5''.

Ra đi khá sớm ở tuổi 70, Yves Montand để lại một số dự án dang dở, kể cả một bộ phim ca nhạc và vòng lưu diễn nước Pháp dự trù vào tháng 04/1992. Cuộc triển lãm lớn tại Marseille là dịp để tưởng nhớ một người nghệ sĩ đa tài. Chương trình kỷ niệm gồm nhiều sinh hoạt quan trọng, trong đó có các buổi chiếu phim tại Viện lưu trữ phim ảnh Pháp Cinémathèque Française, ngày phát hành một quyển tiểu sử mới của nhà xuất bản La Martinière.

Chương trình sẽ đạt đến đỉnh điểm vào mùa thu năm nay, với ngày ra mắt khán giả bộ phim tài liệu mang tựa đề ''Montand est à nous'' do hai đạo diễn Yves Jeuland và Vincent Josse thực hiện nói về di sản nghệ thuật của Yves Montand. Bộ phim này từng được giới thiệu trong khuôn khổ liên hoan Cannes, theo lời mời của giám đốc ban tuyển phim Thierry Frémaux. Mãi đến ngày 13/10/2021, phim này mới được phổ biến rộng rãi : một món quà có giá trị tình cảm đối với giới hâm mộ do bộ phim sẽ được công chiếu đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 100 của Yves Montand.



viethoaiphuong
#615 Posted : Saturday, August 21, 2021 1:02:52 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Danh họa Mai Thứ và duyên nợ với Mâcon

20/08/2021 - Thanh Phương / RFI
Trong mùa hè này, nền hội họa Việt Nam đang được vinh danh tại Pháp với cuộc triển lãm đặc biệt các tác phẩm của cố họa sĩ Mai Trung Thứ tại Viện bảo tàng Ursulines của thành phố Mâcon, miền trung nước Pháp, một thành phố mà nhà danh họa đã có nhiều duyên nợ.

Là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1930 ), Mai Thứ là một họa sĩ nổi tiếng của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20, đặc biệt là những tác phẩm tranh lụa. Ông là một trong bốn họa sĩ được mệnh danh là nhóm « tứ kiệt trời Âu » của nền hội họa Việt Nam (Lê Phổ - Mai Trung Thứ - Lê Thị Lựu - Vũ Cao Đàm). Ngay khi bước vào phòng triển lãm tranh Mai Thứ, ta có thể nhìn thấy bức hình thật lớn chụp họa sĩ Mai Thứ và một số bạn đồng khóa ( Lê Phổ, Georges Khánh, Nguyễn Phan Chánh, Công Văn Trung , Lê Văn Đệ, chụp với họa sĩ Pháp Victor Tardieu, đồng sáng lập viên và là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Tốt nghiệp ở Việt Nam, nhưng phần lớn cuộc đời của ông, Mai Thứ sống và làm việc ở Pháp, trong đó có hai năm sống tại thành phố nhỏ Mâcon. Ông đã để lại đây nhiều dấu ấn, cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thành phố này đứng ra tổ chức một cuộc triển lãm đặc biệt mang tên « Mai-Thu (1906-1980) écho d'un Vietnam rêvé » (“Mai Thứ (1906-1980) tiếng vọng từ một Việt Nam trong mơ”).

Tổng cộng 140 tác phẩm của nhà danh họa được trưng bày tại cuộc triển lãm kéo dài từ ngày 16/6 đến ngày 24/10 tại Bảo tàng Ursulines ở Mâcon với sự hợp tác của Bảo tàng Cernuschi (Bảo tàng Nghệ thuật châu Á của Paris), cùng sự hỗ trợ và tham gia của bà Mai Lan Phương, con gái của danh họa Mai Trung Thứ.

Đây là lần đầu tiên có một cuộc triển lãm nhiều tác phẩm của Mai Thứ như thế, Cho nên sự kiện này thu hút rất nhiều khách đến xem, đặc biệt là người dân thành phố Mâcon, vốn xem danh họa Việt Nam như là một người của họ.

Điều đáng nói là trước khi được bổ nhiệm làm giám đốc Viện bảo tàng Ursulines, nơi trước đây là một tu viện thế kỷ 17, bà Michèle Moyne Charlet không hề biết đến tranh của Mai Thứ, nhưng ngay từ khi khám phá các tác phẩm của danh họa Việt Nam, bà đã nghĩ ngay đến chuyện tổ chức cuộc triển lãm này. Trả lời RFI Việt ngữ, bà cho biết:

“Tôi đã có ý định tổ chức cuộc triển lãm này ngay từ khi tôi đến làm việc ở Mâcon vào cuối năm 2017. Tình cờ tôi phát hiện trong nhà thờ Thánh Phêrô một bức tranh tường rất lạ, vì đó là bức vẽ để tuyên dương những người lính thời Thế chiến thứ nhất. Hiếm có một tác phẩm như vậy trong một nhà thờ. Hơn nữa, cùng với những người lính là hình ảnh Đức Mẹ với những nét châu Á.

Bức tranh đặc biệt đó đã gợi lên sự tò mò của tôi. Sau đó, tôi đã liên lạc với con gái của họa sĩ Mai Thứ. Bà ấy đã giúp tôi rất nhiều, vì lúc ấy bà cũng đang thực hiện một bộ toàn tập các tác phẩm của cha, cho nên quan hệ rất nhiều với các nhà sưu tập khác . Bà ấy đã cho chúng tôi mượn một phần trong bộ sưu tập và giúp tôi liên lạc với các nhà sưu tập khác. Nhờ vậy mà chúng tôi đã có thể quy tụ được 140 tác phẩm cho cuộc triển lãm này.”

Các tác phẩm được trưng bày tại Mâcon tiêu biểu cho sự nghiệp của danh họa từ đầu thập niên 1930 cho đến thập niên 1970, phản ánh những chuyển biến về phong cách của nhà doanh họa Việt Nam.

Trong những năm học ở trường Mỹ Thuật, lúc đầu Mai Thứ vẽ tranh sơn dầu mô tả cảnh sinh hoạt của nông thôn Việt Nam thời đó, về sau ông chuyển sang vẽ tranh lụa, chất liệu tranh đã tạo nên tên tuổi ông sau này mà trong đó thời gian ở Mâcon là một dấu mốc quan trọng. Bà Michèle Moyne Charlet, giám đốc Viện bảo tàng Ursulines, nêu bật mối liên hệ giữa Mai Thứ với Mâcon:

“Mối liên hệ giữa Mai Thứ với Mâcon rất quan trọng, vì nghệ sĩ đã đến thành phố này vào năm 1940, lúc ấy ông là quân nhân phục vụ trong quân đội Pháp. Tại sao ông lại đến Mâcon? Là bởi vì thành phố này là trung tâm giải ngũ rất lớn, và cũng nơi trú đóng của một trung đoàn bộ binh. Thật ra thì chúng tôi không có nhiều tư liệu để giải thích về việc Mai Thứ được giải ngũ ở đây. Nhưng rõ ràng là ông đã được các gia đình ở Mâcon chú ý ngay khi vừa đến thành phố.

Tại Mâcon thời đó có một phụ nữ hoạt động rất tích cực, bà đã lập ra một tòa nhà dành cho các binh lính giải ngũ để họ có nơi thư giãn, đọc sách, hội họp với nhau. Tòa nhà này nằm ở số 31 đường Dufour, trung tâm Mâcon, được khánh thành tháng 02/1940. Bà cũng đã lập ra một ủy ban để quản lý trung tâm, quy tụ những nhân vật có ảnh hưởng trong thành phố. Chính tại tòa nhà này mà bà đã gặp họa sĩ Mai Thứ, đến đây để vẽ tranh, rồi giới thiệu cho những người bạn. Từ đó mà họa sĩ lập các mối quan hệ với Mâcon, nhất là với một nhân vật quan trọng là ông Louis Combeau, lúc ấy vừa là dược sĩ, vừa là nghị viên hội đồng thành phố và là thành viên của phòng thương mại thành phố.

Ông Combeau đã đặt Mai Thứ vẽ nhiều tranh, độc đáo nhất là các bức chân dung. Cậu bé mà ông thấy trong bức tranh này chính là Pierre Combeau, con trai của ông Louis Combeau. Đó là những bức chân dung vẽ theo phong cách phương Tây, như bức tranh trên lụa này, chân dung một phụ nữ trẻ với đứa con, được vẽ vào năm 1941. Phụ nữ này là vợ của một bác sĩ, là con dâu của người sáng lập bệnh viên tư ở Mâcon, Jean-Baptiste Denis, một gia đình cũng rất quan trọng ở thành phố này.”

Tại triển lãm, chúng ta thể thấy một số bức chân dung mà Mai Thứ đã vẽ cho một số người dân thành phố Mâcon, với những đường nét rất sắc sảo, và với chất liệu màu khá đặc biệt, tuy là chân dung người phương Tây, nhưng cũng phản phất một nét Á đông nào đó. Cũng chính là qua họa sĩ Mai Thứ mà người dân ở thành phố Mâcon nói riêng và công chúng ở Pháp nói chung khám phá kỹ thuật vẽ tranh lụa, theo lời giám đốc Viện bảo tàng Ursulines:

“Ngay từ khi ở Mâcon, ông đã thật sự phát triển kỹ thuật vẽ tranh trên lụa, tuy rằng ông đã bắt đầu vẽ tranh trên vật liệu này khi còn ở Việt Nam. Để vẽ các bức tranh trên lụa đó, Mai Thứ đã vẽ nhiều bức họa nháp. Người ta thấy ngay ảnh hưởng của truyền thống văn hóa Việt Nam trong các bức tranh của ông.

Có một giai thoại có ý nghĩa về các bức tranh này của Mai Thứ, đó là bảng vẽ mà ông thấy ở đây đã được tìm thấy trong gác xép của một cửa hàng vào năm 2014 khi cửa hàng này được bán. Cùng với bảng vẽ là một bức tranh vẽ nháp nhà thờ Thánh Phêrô ở Mâcon. Đó là những thứ mà Mai Thứ đã để lại trong cửa hàng của một người thợ làm khung và cũng là một nhà sưu tầm nghệ thuật, luôn hỗ trợ các nghệ sĩ và chắc là có mối quan hệ đặc biệt với Mai Thứ. Cửa hàng này được bán vào năm 1960, khi chủ cửa hàng về hưu, nhưng những người chủ mới vẫn giữ các bức tranh trên gác xép và chỉ đến tận năm 2014 mới được tìm thấy trở lại. Triển lãm tranh Mai Thứ được tổ chức tại Mâcon chính là vì những mối quan hệ đặc biệt đó.”

Không có gì đáng ngạc nhiên khi rất đông đảo công chúng tại Mâcon đã đến thưởng lãm các bức tranh của nhà danh họa, mà đối với họ giống như một người thân quen, đặc biệt là những người đã từng được Mai Thứ vẽ chân dung lúc còn nhỏ, hoặc con cháu của những người này. Bà Michèle Moyne Charlet cho biết:

“ Ai cũng rất hào hứng, triển lãm đạt rất nhiều thành công ở địa phương. Đối với người dân thành phố, nhất là vị khách đã nhận ra mình trên bức tranh này, có rất nhiều cảm xúc. Nhiều người trong số họ đã rất muốn triển lãm tranh Mai Thứ được tổ chức ở Mâcon. Đây là một dự án đã có từ lâu và nay đã được thực hiện tốt đẹp. Ví dụ như người phụ nữ trong bức tranh lụa này chính là một nhân viên trong hiệu thuốc của ông Louis Combeau. Có một mối liên hệ giữa những người đã từng được Mai Thứ vẽ chân dung.

Tôi cũng muốn nói thêm một điều là khi trong thời gian ở Mâcon, Mai Thứ cũng đã đem tranh đến Lyon để triển lãm tại Galerie Bellecourt. Và khi đã nổi tiếng ở Pháp rồi, ông có trở lại Mâcon vào năm 1954 để triển lãm các bức tranh lụa của ông. Như ông thấy, ở đây chúng tôi có trưng bày tấm áp phích quảng cáo cuộc triển lãm ấy tại trụ sở hiện nay của Phòng thương mại Mâcon. Cuộc triển lãm được tổ chức theo sáng kiến của ông Louis Combeau. Chính ông Combeau đã mời Mai Thứ trở về Mâcon. Tại triển lãm, họa sĩ có cho chiếu một bộ phim về kỹ thuật vẽ tranh trên lụa mà ông thực hiện vào năm 1948. Phim này đã gây ấn tượng mạnh cho người dân thành phố Mâcon vào thời ấy. Báo chí đã đưa tin nhiều về cuộc triển lãm này.”

Có thể nói thời gian sống tại thành phố Mâcon tuy chỉ có khoảng hai năm, nhưng thành phố này như là một bệ phóng đưa Mai Thứ đến một chân trời xa hơn là Paris, nơi mà ông đã thật sự tạo danh tiếng, đến mức trở một trong những họa sĩ Việt Nam đắt giá nhất, với bức tranh "Chân dung Madam Phương" của họa sĩ Mai Trung Thứ đạt mức giá kỷ lục 3,1 triệu đôla, trở thành bức tranh cao nhất có giá công khai của mỹ thuật Việt Nam tại Sotheby's Hong Kong ngày 18/04 năm nay, gây xôn xao trong giới mỹ thuật.


viethoaiphuong
#616 Posted : Wednesday, August 25, 2021 10:12:05 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nghệ sĩ Joséphine Baker sẽ được vinh danh tại Điện Pantheon

23/08/2021 - Trọng Nghĩa / RFI
Ca sĩ, diễn viên múa người Pháp gốc Mỹ da đen Joséphine Baker (1906-1975), nổi tiếng với ca khúc J’ai deux amours – Tôi có hai tình yêu – sẽ được đưa vào điện Panthéon Paris vào ngày 30/11 tới đây. Theo nhật báo Pháp Le Parisien vào hôm qua, 22/08/2021, tổng thống Pháp Macron đã đáp ứng một bản kiến nghị có 38.000 chữ ký để vinh danh nữ nghệ sĩ, đồng thời là một nhân vật nổi bật trong cuộc kháng chiến chống Đức Quốc Xã và sau đó trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc.

Theo Le Parisien, chính tổng thống Pháp hôm 21/07 vừa qua đã chấp thuận việc đưa tro cốt của Joséphine Baker vào điện Panthéon ở Paris, nơi vinh danh các “vĩ nhân” của nước Pháp.

Sau một cuộc tiếp xúc tại điện Elysée với một nhóm nhân vật đã đến để thuyết phục ông vinh danh Joséphine Baker, ông Macron đã tuyên bố chấp thuận đề nghị này. Trong số những người đến thuyết phục tổng thống Pháp, có tiểu thuyết gia Pascal Bruckner, ca sĩ Laurent Voulzy, nữ doanh nhân Jennifer Guesdon, nhà viết tiểu luận Laurent Kupferman và đặc biệt là Brian Bouillon-Baker, một trong những người con trai nuôi của Joséphine Baker.

Hồ sơ đề nghị đưa Joséphine Baker vào điện Panthéon đã được điện Élysée xem xét lần đầu tiên vào cuối tháng 6. Trước đó một bản kiến nghị ủng hộ việc này, được Laurent Kupferman đưa ra cách đây hai năm, đã thu thập được 38.000 chữ ký.

Bản kiến nghị đã nói như sau về người được biết đến nhiều nhất nhờ ca khúc J’ai deux amours (Mon pays et Paris): “Nghệ sĩ, ngôi sao quốc tế da đen đầu tiên, nàng thơ của những người theo chủ nghĩa lập thể, kháng chiến quân trong Thế Chiến Thứ Hai trong Quân Đội Pháp, nhà hoạt động cùng với Martin Luther King vì dân quyền ở Hoa Kỳ và ở Pháp cùng với Lica (Liên Đoàn Quốc Tế chống chủ nghĩa bài Do Thái), bây giờ là Licra, tức là Liên Đoàn Quốc Tế chống Phân Biệt Chủng Tộc và chủ nghĩa Bài Do Thái”.

Từ hơn một thế kỷ nay, điện Pantheon ở trung tâm Paris là nơi vinh danh những "vĩ nhân" của Pháp, được “tổ quốc tri ân”. Trong số 80 người được vào Pantheon, có các chính trị gia, nhà văn, nhà khoa học, nhân vật tôn giáo và rất nhiều quân nhân. Chỉ có 5 người phụ nữ tôn vinh ở đó, trong đó có nhà bác học Marie Curie. Người gần đây nhất mới được đưa vào điện Panthéon là nữ chính khách Simone Veil, vào năm 2018.



Pháp : Hỏi ý dân về những danh nhân sẽ đưa vào điện Pantheon

RFI - 05/09/2013
Điện Pantheon ở Paris là nơi nước Pháp ghi ơn và tưởng niệm những danh nhân. Vậy sắp tới, ai sẽ được đưa vào đây ? Kể từ ngày 02/09/2013, Trung tâm các công trình quốc gia Pháp - CMN - tiến hành tham khảo ý kiến của người dân trên internet.

Câu hỏi được đưa ra trên internet để tham khảo người dân Pháp và kể cả người nước ngoài : Ai xứng đáng sắp tới được đưa vào thờ phụng, tưởng niệm tại điện Pantheon và vì sao ?

Theo ông Philippe Belaval, Giám đốc Trung tâm các công trình quốc gia muốn có sự đóng góp của những người sử dụng internet để có thể xác định rõ nhất những danh nhân nào mà người dân Pháp mong muốn được đưa vào điện Pantheon nổi tiếng, yên nghỉ bên cạnh Jean Moulin, Pierre và Marie Curie, cho dù đây không phải là một cuộc trưng cầu dân ý hoặc thăm dò dư luận.

Tiêu chí để lựa chọn : Đó là những người có các hoạt động chính trị, thành tích thể thao, dấn thân tranh đấu vì hòa bình hoặc bình đẳng, có các phát hiện khoa học, các tài năng nghệ thuật hoặc bảo vệ môi trường...

Cuộc tham khảo trên internet sẽ chấm dứt vào ngày 22/09. Tổng thống là người quyết định cuối cùng.

Nhân dịp này, trên itnernet, các tổ chức tranh đấu cho quyền bình đẳng của phụ nữ đã tham gia rất tích cực. Ngày 30/08 vừa qua, một số tổ chức còn đưa ra kiến nghị gửi tới Tổng thống François Hollande để có thêm nhiều nữ danh nhân được đưa vào nơi tưởng niệm các vĩ nhân của nước Pháp.

Bởi vì hiện nay, trong số 71 người được tưởng niệm tại Pantheon, chỉ có hai phụ nữ : Marie Curie, hai lần đoạt giải Nobel về vật lý và hóa học và Sophie Bertholot, được đưa vào đây vì tôn trọng ý nguyện của bà muốn được ở bên cạnh người chồng, nhà hóa học nổi tiếng Marcellin Bertholot.

Tổ chức « Tập thể ủng hộ đưa phụ nữ vào Pantheon », đã tổ chức bỏ phiếu trên Facebook và đưa ra danh sách bao gồm 5 phụ nữ cần ưu tiên đưa vào tưởng niệm tại điện Pantheon, trong số này có Louise Michel (giáo viên, tranh đấu cho các ý tưởng vì quyền lợi của phụ nữ và là một trong những guơng mặt tiêu biểu của Công Xã Paris), Simone de Beauvoir (Nhà văn, triết gia), Germaine Tillion (kháng chiến quân, nhà dân tộc học), Olympe de Gouges (Văn sĩ, một trong những người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh bình quyền)…

Dường như kiến nghị đã được lắng nghe. Ngày mai, 06/09, Giám đốc Trung tâm các công trình quốc gia tiếp đại diện tổ chức này.

viethoaiphuong
#617 Posted : Friday, August 27, 2021 12:28:58 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Thành viên cuối của nhóm Everly Brothers từ trần ở tuổi 84

24/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Bảy năm sau ngày người em ruột Phil Everly qua đời, đến phiên người anh trai Don Everly vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 84 tuổi. Hai anh em Don & Phil từng đi hát với nghệ danh The Everly Brothers, ăn khách trên thị trường quốc tế trong suốt những năm 1960. Theo thông cáo hôm 22/08/2021 của Country Music Hall of Fame (Đại sảnh Danh vọng nhạc Đồng quê), ban song ca này là một trong những nghệ sĩ tài ba và có nhiều ảnh hưởng nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng.

Khi hay tin Don Everly qua đời tại Nashville, chiếc nôi của dòng nhạc country ở bang Tennessee, nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Carole King, Tim Rice, Dave Davies, Julian Lennon hoặc Roy Orbison Jr ….. đều đã nhắn tin chia buồn với gia đình và đồng thời vinh danh tài nghệ chơi đàn, cũng như biểu diễn trên sân khấu, thời ông đi hát solo hay hát cùng với người em trai Phil trong nhóm The Everly Brothers. Trong ban song ca này, Phil Everly có một giọng nam cao (tenor) chủ yếu hát phần điệp khúc, các phân đoạn với những nốt cao nhất. Còn Don Everly ngoài cái tài chơi đàn guitar điện, còn hát với giọng nam trung (baryton), thường là hát những câu mở đầu hay hát bè trong điệp khúc.

Tầm ảnh hưởng của ban song ca cho cả một thế hệ

Sở dĩ giới nghệ sĩ quốc tế ngợi ca The Everly Brothers là vì nhóm này đã đi tiên phong trong lãnh vực nhạc rock, thời kỳ huy hoàng của họ là từ cuối thập niên 1950 cho tới đầu những năm 1970. Hai anh em đi hát rất sớm, từ thuở thiếu thời (năm 12 tuổi), trước khi họ được phát hiện bởi Chet Arkins, nhạc sĩ đàn ghi ta kiêm nhà sản xuất có uy tín thời bấy giờ. Những bản song ca ghi âm đầu tiên của The Everly Brothers được phát hành vào năm 1957, phối hợp nhạc rock với các luồng ảnh hưởng của dòng nhạc country đặc trưng của Hoa Kỳ.

Trong các bản ghi âm cuối thập niên 1950, đầu những năm 1960, hai anh em nhà Everly đã tạo ra một khối âm thanh đặc thù, ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ cùng thời hay thế hệ đi sau họ. Trong số này, có các tên tuổi huyền thoại nổi tiếng từ những năm 1960, kể cả John Lennon và Paul McCartney thuộc nhóm ''Tứ Quái'' The Beatles. Khi khởi đầu sự nghiệp của mình, ban nhạc The Fab Four còn được mệnh danh là "ForEverly Brothers", do gợi hứng từ các bậc đàn anh.

Trong cách hát bè, thuận hay nghịch, cách phân đoạn ca khúc để rồi hòa quyện tài tình hai giọng ca, nhóm The Everly Brothers đã ảnh hưởng nhiều đến các ban nhạc khác như The Beach Boys hoặc The Byrds và rõ rệt nhất là ban song ca Simon và Garfunkel. Tầm ảnh hưởng ấy đã khiến cho tác giả Paul Simon viết bài phê bình trong tạp chí Rolling Stone, nâng hai anh em nhà Everly lên hàng nghệ sĩ tiên phong, những cánh chim đầu đàn trong lịch sử nhạc rock. Chính cũng vì thế mà vào năm 1986, The Everly Brothers nằm trong số 10 nghệ sĩ và ban nhạc đầu tiên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng nhạc Rock (Rock and Roll Hall of Fame). Đến năm 2001, một lần nữa hai anh em lại được đưa vào Đại sảnh Danh vọng nhạc Đồng quê (Country Musis Hall of Fame).

Hàng loạt ca khúc ăn khách trong giai đoạn huy hoàng

The Everly Brothers ngự trị trên đỉnh cao những năm 1957-1968, trước khi thoái trào, nhường chỗ lại cho nhiều ban nhạc trẻ đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của rock and roll trong đó có The Beatles, The Animals hay The Rolling Stones. Ban song ca này tiếp tục hoạt động cho tới năm 1973, ghi âm hàng loạt ca khúc ăn khách như ''Bye Bye Love, Made to Love, Cathy's Clown, Crying in the Rain, Devoted to You, Love Hurts, Always It's You'' hay là ''Let it be Me'' (phiên bản phóng tác tiếng Anh của bài ''Je t'appartiens'' ăn khách qua giọng ca Gilbert Bécaud). Còn trong tiếng Việt, bản nhạc nổi tiếng nhất của ban song ca này vẫn là bài ''Khi ta hai mươi'' do tác giả Trường Kỳ phóng tác từ nhạc phẩm tiếng Anh ''All I have to do …. is dream''.

Vào giữa những năm 1960, vầng hào quang của ban song ca bị lu mờ trước đà thẳng tiến của làn sóng rock đến từ Anh Quốc ''British Invasion''. Sự thất bại về mặt số bán tạo thêm những mối bất đồng sâu rộng giữa hai anh em Don và Phil. Cho đến năm 1973, sau một đợt biểu diễn ở miền Nam Hoa Kỳ, Phil Everly đập vỡ cây đàn của mình trên sân khấu và thề rằng ông sẽ không bao giờ hợp tác nữa với người anh trai là Don. Từ đó trở đi, hai nghệ sĩ này hoạt động solo, họ chỉ tái hợp đúng một thập niên sau vào năm 1983 trên sân khấu nhà hát Royal Albert Hall tại Luân Đôn.

Nam nghệ sĩ Paul McCartney, một trong những thành viên sáng lập bộ tứ The Beatles, do ngưỡng mộ hai anh em Don và Phil Everly, cho nên ông đã sáng tác cho họ một bài hát mới vào năm 1984. Bản nhạc "On the Wings of a Nightingale" (Trên Đôi cánh Sơn ca) cũng là nhạc phẩm ăn khách cuối cùng của cặp bài trùng này, mở ra giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp của hai anh em nghệ sĩ người Mỹ.

Một trong những ban nhạc xuất sắc nhất mọi thời đại

Lần xuất hiện cuối cùng trước công của hai anh em Don và Phil là vào năm 2003, khi The Everly Brothers đảm nhận phần mở đầu trong đợt biểu diễn kéo dài trong gần hai năm của ban song ca huyền thoại Simon & Garfunkel. Lúc sinh tiền, nhóm The Everly Brothers đã ghi âm khoảng 30 album và phát hành 75 đĩa đơn, trong đó có 3 tập nhạc trong thời kỳ đi hát solo và 3 tập nhạc khác thực hiện trong giai đoạn tái hợp từ năm 1983 đến năm 1988.

Sau khi đi biểu diễn chung với hai nghệ sĩ trứ danh Simon & Garfunkel, Don và Phil Everly coi như đã giải nghệ từ năm 2004 trở đi. Cũng vào năm ấy, hai anh em đã nhận được nhiều danh hiệu cao quý lẫy lừng, trong đó có lễ khánh thành Ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng (Hollywood Walk of Fame). The Everly Brothers cũng được tạp chí Rolling Stone bình chọn ở hạng 33 trên danh sách 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại.

Mãi cho tới cuối năm 2013, nam ca sĩ Billie Joe Armstrong, thành viên sáng lập của ban nhạc rock Green Day, đã hợp tác với nữ danh ca nhạc jazz Norah Jones để cùng ghi âm tuyển tập mang tựa đề "ForEverly". Hai nghệ sĩ này lấy lại toàn bộ các bài hát ''Songs Our Dady Taught Us'' do ban song ca The Everly Brothers thực hiện vào cuối năm 1958). Tập nhạc này từng được xem như một trong những đỉnh cao nghệ thuật của ban song ca trong cách phối hợp nhạc rock với country và folk. Hai anh em nhà Everly giờ đây đều đã thành người thiên cổ, nhưng giai điệu của họ lại có dư âm bất tận nơi cõi thiên thu.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Khánh Linh on 8/28/2021(UTC)
viethoaiphuong
#618 Posted : Sunday, August 29, 2021 5:45:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Frédéric Chopin : Những bản Etude nên thơ

28/08/2021 - Hoài Dịu / RFI
27 bản Etude viết cho đàn piano của Chopin nhắm vào một hay nhiều mức độ khó của nhạc cụ. Tuy nhiên đối với những nghệ sỹ dương cầm có tài thời đó, việc kiểm soát kỹ thuật ngón tay không bao giờ là mục đích để chơi tác phẩm của Chopin. Nó chỉ là cái cớ, hay nói đúng hơn là phương tiện biểu đạt những dòng thơ âm nhạc.

Bộ Etude này được chia làm hai tập, opus.10 và opus.25, trong đó kèm thêm 3 bản Etude Mới được viết riêng cho giáo trình piano. Mỗi tập Opus bao gồm 12 bài. Một phần không nhỏ trong opus.10 được sáng tác trước thời gian Chopin chuyển đến ở Paris. Là một giáo sư dương cầm có tiếng, đôi khi Chopin sử dụng tác phẩm của mình để dạy học sinh. Vì thế không có gì lạ khi ông viết nhiều Etude như vậy cho piano.

Mười hai Etude trong tập op.10 của Chopin không chỉ là những bài tập luyện ngón đơn thuần dành cho một điểm kỹ thuật cụ thể, mà còn là mười hai bức họa âm thanh tuyệt trác.

Bản N°4 (op.10), mệnh danh « Thác lũ » tập trung vào kỹ thuật di chuyển ngón cái trên phím đen, cũng như sự nhanh nhạy của các ngón tay ở tốc độ cực nhanh. Bài này nằm trong tập đầu tiên mà Chopin đề tặng Liszt, nghệ sỹ piano người Hungari nổi tiếng, đang làm mưa làm gió thời bấy giờ. Giai điệu « Thác lũ » cuồn cuộn được chơi luân phiên từ tay phải sang tay trái, thể như một sự đối đầu không ngừng nghỉ giữa lửa-nước , giữa sáng-tối, và giữa cái thiện-cái ác.

Nếu như bản số 4 là dòng thác dữ dội thì Etude số 5 (Op.10) lại là con suối loang loáng ánh nắng. Với tiêu đề « Trên phím đen », tác phẩm này là một « thách đố » với các nghệ sỹ : tay phải chỉ được chơi trên phím đen (ngoại trừ 1 nốt trên phím trắng ở ô nhịp 66), bởi Chopin đã viết nó ở giọng sol giáng trưởng (6 dấu giáng), chạy trên nền hợp âm ở tay trái. Đây là một trong những « trang sức » yêu thích của hầu hết nghệ sỹ piano chuyên và không chuyên. Món đồ này khiến họ quên đi cảm giác phải chinh phục kỹ thuật chạy ngón, mà đơn giản chỉ như trò chơi con trẻ chạy theo những nét lướt thoăn thoắt, tinh nghịch của mười ngón tay .

Một trong hai Etude chậm duy nhất của Chopin, không thể không nhắc tới giai điệu đẹp sâu thẳm trong bài số 3 (opus.10) hay còn gọi là Etude « Nỗi Buồn ». Tiêu đề này được đặt tên bởi một trong những nhà xuất bản thời bấy giờ. Khi những nốt nhạc đầu tiên của « Nỗi buồn » vang lên, hiếm ai nghĩ rằng trước tiên hết nó là một bài tập luyện ngón : ưu tiên rèn luyện sự độc lập của từng ngón tay, mỗi tay chơi hai bè khác nhau. « Nỗi buồn » được viết ở thể ba đoạn : đoạn 1 và 3 là phần ballad trữ tình, mang nặng u sầu, đoạn 2 là phần phát triển về giai điệu cũng như kỹ thuật, nơi mà cảm xúc ngày càng đầy hơn, day dứt hơn và màu hòa thanh thì dữ dội, thôi thúc hơn.

Và những dòng tự sự « Nỗi Buồn » ấy đã chạm thấu tâm hồn của biết bao thế hệ , vậy nên về sau giai điệu được nhiều nghệ sỹ đặt lời và chuyển thể cho thanh nhạc. Ví dụ như : Albert Valentin đã viết lời bằng tiếng Pháp mang tên « Mon cœur vous dédie sa mélodie » cho bộ phim « La Chanson de l'adieu ». Năm 1939, ca sỹ Tino Rossi đã trình bày nó với bài hát cùng tên « Nỗi Buồn », lời Loysel/Marcuse. Trong điện ảnh, nhiều bộ phim cũng sử dụng giai điệu này như : « La Chanson du souvenir » (1945) , « Un été italien » (2008) và « The Master » (2012)…

Etude « Cách Mạng » số 12 (op.10) là một trong những tác phẩm dương cầm nổi tiếng của mọi thời đại. Bởi một phần, bản nhạc gắn liền với sự kiện lịch sử : đó là sự thất bại của nhân dân Ba Lan chống thế lực xâm lược Nga tháng 11 năm 1831. Do điều kiện sức khỏe không tốt, Chopin đã không thể tham gia cuộc chiến này. Thất vọng, cô đơn và bất lực, ông đã dùng âm nhạc làm vũ khí, dốc trọn cảm xúc của mình vào những đường chạy đầy bão tố (phần này do tay trái đảm nhiệm).

Giữa cảnh tượng khốc liệt của chiến tranh, giữa những tiếng ầm ì bom đạn, những tiếng người hỗn loạn, la ó, là bài ca yêu nước, vang lên, hiên ngang và bất chấp. Giai điệu bi tráng ấy được Chopin đặt trọn tình yêu, thêu vào chuỗi các hợp âm ở phần tay phải. Bản Etude « Cách Mạng » là cơn bão nội tâm và âm nhạc là người bạn tâm giao duy nhất giúp Chopin vợi đi nỗi đau mất mát quê hương.

Độ khó đáng gờm ở những bản Etude, mà Chopin đã gửi gắm vào tay những người trò giỏi của mình, không thể cản trở âm nhạc vang lên. Chúng được biết đến như một kiệt tác nghệ thuật nhiều hơn là bài luyện ngón thông thường. Mỗi Etude là một bài thơ, một bức họa, một câu chuyện được tạo nên bởi những nốt nhạc từ trái tim. Đó là thứ âm nhạc thuần khiết vượt ra ngoài những ràng buộc của kỹ thuật điêu luyện đơn thuần.


viethoaiphuong
#619 Posted : Monday, August 30, 2021 7:15:52 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Françoise Hardy, tình ca tái bản muôn thuở lãng mạn

07/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Một trong những ca khúc thịnh hành tại Pháp vào mùa hè năm 2021 chính là ca khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) của nữ danh ca Françoise Hardy, qua cái tài hòa âm của nhóm nhạc điện tử Bon Entendeur. Được thành lập cách đây gần một thập niên (vào năm 2012) ban nhạc trẻ người Pháp này chuyên thực hiện nhiều bản phối mới cho những tình khúc vang bóng một thời.

Mang tựa đề là ''Minuit'' (Nửa đêm), album mới và cũng là tập nhạc phòng thu thứ nhì của nhóm Bon Entendeur bao gồm 16 ca khúc, chủ yếu là những bài hát thịnh hành từ vài thập niên trước. Được phát hành vào những ngày đầu tiên của mùa hè tại Pháp, album này đã công bố nhạc phẩm trích đoạn đầu tiên kèm với video clip (với đề tài đồng tính nữ) cho tình khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) do ca sĩ kiêm tác giả Jacques Dutronc sáng tác vào đầu những năm 1960. Tình khúc này lập kỷ lục số bán khi được thần tượng nhạc trẻ Pháp Françoise Hardy ghi âm vào mùa thu năm 1962. Tình khúc ''Le Temps de l'Amour'' từng được nhạc sĩ Trường Kỳ đặt lời Việt trước năm 1975 với tựa đề ''Mùa tình yêu''.



Mùa tình yêu đã đến

Cho tình bạn thêm bền

Cho phiêu lưu một chuyến

Nhiều kỷ niệm khó quên



Mùa tình yêu ngây dại

Phút chốc hay lâu dài

Con tim bỗng nhớ mãi

Ký ức vẫn chưa phai



Tự nhủ tuổi hai mươi

Làm vua một cõi đời

Sao thiên thu sáng ngời

Đọng lại trong đôi ngươi



Dù chữ yêu phai nhòa

Bao mộng ước sẽ qua

Muôn thuở tình nhàn hạ

Vẫn sống mãi trong ta

Khi thực hiện bản hòa âm mới cho nhạc phẩm ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu), ba thành viên của ban nhạc trẻ Bon Entendeur đã đem lại một chút phong cách điện tử theo kiểu Pháp ''french touch'', nhưng tuyệt đối giữ nguyên cốt cách của giai điệu và nhất là ''linh hồn'' của ca khúc khi không bóp méo chỉnh sửa (qua việc sử dụng phần mềm âm thanh) giọng ca của Françoise Hardy, tiếng hát này giữ được một phong cách hồn nhiên nhẹ nhàng, mà dường như lúc nào cũng man mác một nỗi đau dịu dàng.

Giai thoại kể rằng chính cũng vì hợp tác với nhau trên ca khúc ''Le Temps de l'Amour'' (Mùa tình yêu) mà cặp nghệ sĩ Françoise Hardy và Jacques Dutronc mới trở nên vợ chồng. Nhưng thực tế không hẳn đơn giản như vậy. Theo lời kể của Françoise Hardy (trong chương trình truyền hình Pháp ''Le Divan''), bản nhạc này ban đầu là một khúc nhạc hòa tấu không lời. Tác giả Jacques Dutronc gợi hứng từ thành công của khúc đàn ghi ta ''Apache'' của nhóm The Shadows để sáng tác một giai điệu rất lọt tai cho ban nhạc Pháp Les Fantômes. Tác giả người Pháp André Salvet là nhạc sĩ đầu tiên đặt lời cho ca khúc này. Khi gặp nhau vào năm 1962 để ghi âm ca khúc, Françoise Hardy cho biết không có nhiều thiện cảm với nhạc sĩ Jacques Dutronc, thời bấy giờ đeo kính cận thật dày, cách ăn mặc cẩu thả nhếch nhác.

Khi gặp lại nhau vào năm 1967, Françoise Hardy lúc ấy mới thật tình để ý tới Jacques Dutronc, khi ấy đã có tướng mạo chải chuốt bảnh bao hơn. Sau 6 năm quan hệ, cặp nghệ sĩ này cho ra đời một đứa con trai vào năm 1973 (sau này là ca sĩ nổi tiếng Thomas Dutronc), họ chỉ chính thức thành hôn vào năm 1981 tại làng Monticello trên đảo Corse. Đây là một trong những cặp vợ chồng nghệ sĩ nổi tiếng nhất tại Pháp, cho dù quan hệ đời tư của họ rất phức tạp chứ không lý tưởng như trong bài hát ''Mùa tình yêu''.

Trong thời gian gần đây, nhiều tin đồn về sức khỏe của Françoise Hardy đã gây hoang mang cho giới hâm mộ, nhất là trong bối cảnh nữ danh ca không hề che giấu về việc cô điều trị ung thư sau khi căn bệnh này tái phát. Tờ báo Le Dauphiné Libéré đã bị hớ khi loan tin sai lệch (hôm 19/06/2021) là thần tượng nhạc trẻ những năm 1960 đã ''từ trần''. Điều đó đã buộc con trai (Thomas Dutronc) của nữ danh ca phải lên tiếng đính chính rằng mẹ anh là Françoise Hardy vẫn còn sống.

Giới trẻ thời này quan tâm trở lại về cuộc đời và sự nghiệp của Françoise Hardy có lẽ cũng vì có nhiều bài hát của nữ danh ca tiếp tục được khai thác qua phim truyện dành cho màn ảnh lớn, phim truyền hình nhiều tập hay phim ngắn quảng cáo. Đó là trường hợp của các bài như ''Le Premier Bonheur du Jour'' (Hạnh phúc đầu ngày), ''Comment te dire Adieu'' (Sao đành vĩnh biệt) hay là ''Tous les Garçons et les Filles'' (từng được tác giả Phạm Duy đặt lời Việt thành nhạc phẩm ''Những nụ tình xanh''). Các tình khúc này thường được giới nghệ sĩ hát tiếng Pháp hay quốc tế sau này khoác thêm áo mới, kể cả Vanessa Paradis, Isabelle Boulay, Jimmy Sommerville (nhóm Bronski Beat) hay là Annie Lennox (ca sĩ chính nhóm Eurythmics)..... Giọng ca Françoise Hardy nay có thể đã già đi, nhưng tình yêu vẫn trẻ mãi nhờ những giai điệu ''thần y''.


viethoaiphuong
#620 Posted : Thursday, September 2, 2021 8:33:29 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,568
Points: 14,862

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)


Boyband thập niên 1990 - Bao giờ cho đến ngày xưa

14/08/2021 - Gia Trình / RFI
Thập niên 1990 được coi là thời kỳ hoàng kim của các boyband, nhóm nhạc gồm các chàng trai. Không chỉ hấp dẫn về ngoại hình, các boyband đều khai thác triệt để các ballad dễ nghe, vũ đạo trau chuốt để đốn tim giới trẻ một thời. Họ để lại những ký ức âm nhạc đẹp đẽ nhất trên hai phương diện: nghe và nhìn.

Bàn tay các ông bầu âm nhạc

Thập niên 1960, có lẽ nhóm The Beatles đặt khái niệm nền móng cho các boyband và các sáng tác cho giới trẻ (teen pop). Những sáng tác đầu tay của nhóm rất trẻ trung, tươi sáng, sôi động về tình yêu như She loves you, I want to hold your hands. Theo thời gian, bốn chàng trai The Beatles trưởng thành, đi theo pop-rock có độ chín và bỏ lại mảnh đất teen-pop trống trải trong thời gian dài.

Đến cuối thập niên 1980, nhóm nhạc New Kids On The Block (NKOTB, Những chú nhóc trên khu nhà) làm mưa làm gió trên sân chơi teen-pop. Họ mê hoặc giới trẻ, đặc biệt các thiếu nữ nhờ các bản hit pop-dance, R&B phong cách đường phố như I’ll be loving you (forever), Step by Step. Trên đỉnh vinh quang, ban nhạc 5 chàng trai này có lúc kiếm tới 1 triệu đô la/tuần. Mặc dù nhóm NKOTB chưa châm ngòi cho làn sóng boyband bùng lên, thành công của nhóm lọt vào mắt xanh của ông bầu, doanh nhân Lou Pearlman. Đáng tiếc là nhóm nhạc này đã tan rã sau năm 1994 khi ra mắt album Face the Music (Đối diện âm nhạc).

Đầu thập niên 1990, một số nhóm boyband cũng khá thành công như Boyz II Men hay All 4 One. Nhưng các thành viên các nhóm là người da màu, chủ yếu tập trung nhạc R&B nên không tạo được hiệu ứng lan tỏa lớn. Vấn đề phân biệt chủng tộc và giới tính trong âm nhạc vẫn còn nặng nề.

Ông bầu Lou Pearlman sớm nhận ra vấn đề, chắt lọc thành công của nhóm NKOTB để tạo ra sản phẩm âm nhạc mới mẻ. Cuối năm 1993, Lou hợp tác với Johnny Wright, cựu quản lý nhóm NKOTB, để đầu tư lớn vào âm nhạc. Họ tổ chức casting trên quy mô lớn, chiêu mộ nhân tài để tạo được cơn sốt New Kids thuở nào. Không phụ lòng nhà tài phiệt âm nhạc, nhóm Backstreet Boys gồm 5 chàng trai Kevin, Nick, Bryan, AJ, Howie đã ra đời. Cuối năm 1996, Backstreet Boys (BSB) tạo được cú đột phá đầu tiên nhờ bản hit Quit Playing Games with my hearts (Đừng đùa với trái tim). Bài hát nhanh chóng đạt hạng bạch kim tại Mỹ, chiếm thiện cảm giới trẻ tại Bắc Mỹ, Canada và lan ra toàn cầu. Đến giờ, BSB vẫn là hiện tượng sang trấn làng âm nhạc với hơn 100 triệu album được tiêu thụ, phát sóng rộng rãi trên hơn 45 nước.

Ngay sau quả trứng vàng BSB, Lou cũng bắt tay êkip để nhân đôi thành công bằng cách lập ra nhóm NSYNC. Nhóm NSYNC thành lập năm 1996 tại Orlando, Florida gồm 2 thành viên cốt cán, Justin Timberlake và JC Chasez. Nhóm chiêu mộ thêm 3 thành viên khác Chris Kirkpatrick, Joey Fatone, Lance Bass. So với Backstreet Boys, NSYNC phải mất một thời gian mới nổi tiếng. Các album của NSYNC được quảng bá tại châu Âu trước khi phổ cập tại Mỹ. Có lẽ đây là chiến thuật của nhà tài phiệt và êkip sản xuất để giảm cạnh tranh của “đàn gà nhà”. Cùng với BSB và NSYNC tại thị trường Bắc Mỹ, các nhóm nhạc Take That, Westlife và Boyzone góp phần kiến tạo đỉnh sóng của các nhóm boyband tại thị trường Anh, Ailen từ nửa cuối thập niên 1990.

Những nhân tố thành công của làn sóng boyband

Đến giờ phút này, nếu các boyband tái hợp chưa chắc họ đạt được thành công rực rỡ như cuối thập niên 1990. Vậy yếu tố nào tạo nên cơn sóng thần như Backstreet Boys hay NSYNC ?

Thứ nhất, yếu tố kiên quyết là đội ngũ thanh niên trẻ trung, vũ đạo sôi nổi (và đừng quên phải là da trắng). Đối với các nhóm boyband, vũ đạo gần như kỹ năng bắt buộc khi âm nhạc thời kỳ này mang đậm ảnh hưởng kênh truyền hình MTV. Thứ hai, họ có khả năng hòa thanh, phối bè khá ăn ý, tạo được hiệu ứng đồng đều. Thứ ba, các nhà sản xuất khai thác triệt để thể loại âm nhạc teen-pop dễ nghe: dance-pop, R&B, hip-hop. Hơn thế, ca từ ủy mị, vô cùng hấp dẫn giới trẻ lúc đó nhờ các ballad ngọt ngào về tình yêu. Điển hình như ca khúc As long as you love me của nhóm BSB với phần lời “Anh không quan tâm em là ai, em đến từ đâu. Chỉ cần em yêu anh. Cuộc đời anh do em định đoạt”.

Cuối cùng, điều rất quan trọng phải khẳng định rằng các boyband gặp thời. “Thiên thời”: Ở thập niên 1990, kinh tế hưng thịnh nhất trên toàn cầu, đặc biệt hai cường quốc Anh, Mỹ không lún sâu vào khủng hoảng và bệnh dịch. “Địa lợi”: Mảnh đất teen-pop còn quá màu mỡ, bị bỏ ngỏ nhiều năm kể từ thời The Beatles hay NKOTB. Khoảng trống đó được New Kids on The Block phủ sóng ở thập niên 1980 và phải đợi đến cuối thập niên 1990 mới có thể bùng nổ. “Nhân hòa”: Thế hệ Millenials (Thiên niên kỷ), sinh từ năm 1981 đến 1996 với thói quen sử dụng internet, điện thoại di động và mạng xã hội. Họ dường như thích những ca khúc dễ nghe, trữ tình, tiết tấu nhanh gọn. Đồng thời, giáo dục và chất lượng sống cải thiện tại các nước phát triển cũng ảnh hưởng lớn tới gu nghe nhạc.

Sự ra đời các boyband như BSB, NSYNC đáp ứng gu văn hóa của thế hệ Thiên niên kỷ. Cơn sóng teen-pop được hậu thuẫn bởi nhiều yếu tố thuận lợi nên có sức tấn công mạnh mẽ trên diện rộng khắp toàn cầu.

Sự thoái trào, tan rã và sự nghiệp solo

Ngạn ngữ Anh - Mỹ có câu Easy come, easy go (Dễ đến thì dễ đi). Sau 5 năm hưng thịnh của các boyband từ 1995 đến 2000, làn sóng boyband nhanh chóng thoái trào. Không chỉ vậy, các ông bầu, trong đó có Lou Pearlman, dính phải tranh chấp bản quyền và pháp lý với các nhóm boyband. Về phương diện âm nhạc, giới phê bình cho rằng các boyband không có nhiều nét mới mẻ và giữa các nhóm có sự cạnh tranh gắt gao.

Cũng có ý kiến cho rằng nhóm boyband tan rã vì các thành viên chủ chốt theo đuổi sự nghiệp solo. Đơn cử, “gã trai hư” Robbie Williams lại làm nên chuyện khi tách khỏi nhóm Take That. Hay Justin Timberlake hoàn toàn vùng vẫy solo khi tách khỏi NSYNC. Tuy nhiên, các boyband như Backstreet Boys, 98 Degrees, Westlife đều không sản sinh các ngôi sao solo xuất sắc. Do đó, sau nhiều năm, các nhóm lại tìm cách tái hợp, nhằm khôi phục ánh hào quang năm nào. Đơn cử, như Take That hay Westlife đều đoàn tụ sau nhiều nỗ lực solo không thành công.

Gần đây nhất, năm 2021, nhóm BackStreet Boys và NSYNC ra tuyên bố sẽ biểu diễn chung tại Los Angeles với tên gọi Back-Sync. Đây hứa hẹn là trải nghiệm mới mẻ cho khán giả muốn thưởng thức “lẩu thập cẩm” boyband. Dự án này gợi nhớ tới các siêu phẩm bom tấn của hãng Marvel Studio vì họ tập hợp hết các siêu anh hùng trong cùng một bộ phim.

Sau 20 năm, thị hiếu khán giả đã hoàn toàn thay đổi. Thời gian sẽ trả lời liệu dự án hợp tác các boyband có thành công như mong đợi không. Ít nhất các khán giả trung thành sẽ có món ăn mới mẻ hơn là nghiền ngẫm những ký ức âm nhạc một thời.

(Theo All Music, Rollingstone)



Users browsing this topic
Guest
32 Pages«<29303132>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.