Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

33 Pages«<2829303132>»
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#581 Posted : Tuesday, April 27, 2021 12:35:31 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Roxette & Marie Fredriksson - Sự bất tử của tư duy pop bảo thủ

Gia Trình - RFI - 24/04/2021
Nàng Marie Fredriksson của ban nhạc Roxette đã vĩnh viễn chia tay khán giả cuối năm 2019. Ký ức người hâm mộ không thể quên giọng hát và phong cách cá tính của Marie. Bộ đôi Marie Fredriksson cùng với Per Gessle đã xây dựng nên tượng đài âm nhạc Roxette, niềm tự hào của đất nước Thụy Điển. Họ chứng minh rằng tư duy pop bảo thủ không bao giờ lỗi thời.

Đôi nét về Roxette

Hai thành viên trụ cột của Roxette là Per Gessle và Marie Fredriksson đều là người Thụy Điển. Cả hai đều hát chính và đồng tác giả những bản hit toàn cầu của nhóm như Listen to your heart, The Look, Joyride. Họ nổi tiếng khắp Thụy Điển và châu Âu suốt 20 năm từ 1986 đến 2006. Xét về độ nổi tiếng và phủ sóng, có lẽ Roxette chỉ thua kém ban nhạc huyền thoại ABBA.

Thời kỳ vàng son nhất của nhóm từ 1989 đến năm 1992, hai album Look Sharp và Joyride lên hạng bạch kim trên xứ sở cờ hoa. Sự nổi tiếng của nhóm lan xa và rộng hơn trên toàn cầu. Họ trình làng tổng cộng 10 album phòng thu, 7 album trong đó đạt hạng bạch kim trên toàn cầu. Các video clip âm nhạc của Roxette thu hút hơn hơn một tỷ lượt xem trên kênh Youtube.

Marie Fredriksson sinh năm 1958 trong một gia đình nghèo túng ở Skane County, miền nam Thụy Điển. Do đam mê ca hát, bà thường đánh thức cha mẹ dậy khi đứng hát opera trước gương mỗi buổi sáng. Per Gessle kém Marie 1 tuổi, anh có thể chơi được nhiều nhạc cụ như guitar, harmonica và keyboard. Marie và Per luôn bị lầm tưởng là một cặp tình nhân, thực tế, họ là những người bạn thân thiết trong âm nhạc. Fredriksson kết hôn với nhà sản xuất âm nhạc Mikael Bolyos khi đi lưu diễn tại Úc vào năm 1990. Chuyện tình sét đánh xảy ra đúng 48 giờ trước khi họ quyết định trao nhẫn cưới. Cuộc hôn nhân kết trái ngọt với hai người con Josefin và Oscar, cũng bền chặt tới khi bà qua đời.

Trước khi gia nhập nhóm, Gessle từng sáng lập nhóm nhạc khác Gyllene Tider với nhiều album lên hạng 1 tại Thụy Điển. Hai thành viên Gessle và Marie gặp nhau do sinh sống cùng thành phố Halmstad, ven biển Thụy Điển. Fredriksson từng hát phụ họa cho nhóm Gyllene Tider khi ban nhạc đi lưu diễn. Ý tưởng 1 bản nhạc Never Ending Love, Gessle đã thuyết phục Marie ghi âm chung ca khúc cho hãng đĩa EMI. Ngay lập tức, bài hát thành công rực rỡ tại đất nước Thụy Điển. Từ điểm khởi đầu này, họ ra mắt nhóm Roxette với LP Pearls of Passion được chào đón nhiệt liệt tại quê nhà nhưng chưa vươn tới toàn cầu.

Thành công bất ngờ trên đất Mỹ

Các nhà phê bình Thụy Điển luôn ngờ vực thành công của nhóm trên đất Mỹ. Fredriksson thổ lộ rằng “Họ hoàn toàn sai lầm, chúng tôi đã làm được điều đó”. Cơ duyên đưa Roxette đến với khán giả nước Mỹ rất tình cờ. Du học sinh người Mỹ, Dean Cushman đã mang về quê nhà một món quà đặc biệt sau chuyến trao đổi học tập tại Thụy Điển. Đó là CD album Look Sharp của nhóm Roxette. Album được phát lần đầu trên radio địa phương của bang Minneapolis. Kênh radio cực kỳ ấn tượng với âm nhạc Roxette, đặc biệt ca khúc The look. Nó trở thành ca khúc ăn khách trên kênh radio này trước khi tiến thẳng lên hạng 1 bảng xếp hạng Billboard.

Hiệu ứng lan truyền xảy ra với cả hãng đĩa EMI. Họ đảo ngược quyết định trước đó, phát hành album nhạc Roxette trên đất Mỹ. Giới phê bình âm nhạc Mỹ không quá thân thiện vì thị trường cạnh tranh khốc liệt. Gessle đã nói “Lý do chúng tôi thành công vì chúng tôi không phải người Anh hay Mỹ, và âm nhạc chúng tôi không giống bất cứ nhạc của nghệ sỹ nào trên bảng xếp hạng lúc đó”. Quả thực là nhạc pop cổ điển như Roxette không thể chết đi. Nhà phê bình Jon Pareles đã viết trên tờ New York Times năm 1992 “Marie Fredrikson là tài sản sáng giá của nhóm, ca sỹ có chất giọng như say xỉn, mái tóc bạch kim và gu thời trang bó sát”.

Sự khác biệt văn hóa có thể truyền tải một hình ảnh lạ lẫm với khán giả Mỹ. Trong vòng hai năm, 3 đĩa đơn của họ leo lên hạng nhất bảng xếp hạng gồm có Listen to your heart, Joyride, It must have been love. Đặc biệt bản hit It must have been love được chọn nhạc phim bộ phim ăn khách thập niên 1990, Pretty Woman do minh tinh Julia Roberts thủ vai. Bài hát còn có tên khác là Christmas for the Broken Hearted (Giáng sinh cho kẻ thất tình). Bài hát được sáng tác năm 1987 để phát trên radio của Đức dịp Giáng Sinh, nhưng lại bị từ chối vào phút chót. Tuy nhiên, ca khúc lại gặt hái thành công lớn tại Thụy Điển và lan sang cả bên bờ Đại Tây Dương.

Tư duy pop bảo thủ

Roxette luôn được so sánh với ABBA hay Ace of Base vì giữa họ đều là các ban nhạc Thụy Điển hát tiếng Anh và gặt hái thành công quốc tế vang dội. Đồng thời, Roxette trung thành với tư duy pop bảo thủ, không lấn sân sang rock, metal. Đối với họ, giai điệu đẹp là yếu tố kiên quyết. Per Gessle từng thổ lộ : “Tôi là người trung thành với chuẩn mực nhạc pop thập niên 1960, 70, giai điệu là Vua. Đó là vừa là điểm mạnh vừa là nhược điểm của tôi. Nếu giai điệu không ra gì, rất khó cho tôi phát huy sáng tạo”.

Hầu hết những ca khúc Roxette đều tuân thủ theo công thức ba hồi. Phần mở bài là nhạc dạo chơi keyboard, piano tạo điểm nhấn dễ chịu. Điệp khúc tạo ấn tượng nhờ giai điệu cực kỳ mạch lạc, rõ nét. Thêm vào đó, chất giọng khỏe, mạnh mẽ của Fredriksson tỏa sáng trên giai điệu đó. Phần kết bài được phối khí trong phần nhạc da diết, kéo dài. Những bản hit thành công như Fading like a flower, Spending my time, Wish I could fly đều chế biến theo motip này.

Tuy nhóm có những ca khúc sôi động, phá cách như Dress for Success, The look, Dangerousnhưng giai điệu vẫn là con át chủ lực. Một tờ báo nhận xét : “Họ sáng tác những ca khúc nhạp pop muốn làm nổ tung lá phổi, ca từ đầy chất thơ mê muội như những giọt mưa”. Điển hình là bản hit Fading like a flower (Tàn úa như bông hoa), giọng ca cháy bỏng của Fredriksson ca ngợi sự chiến thắng của trái tim tan vỡ. Bài hát được dựng trên nền nhạc vững chắc, thiết kế bài bản theo cấu trúc ba hồi. Fredriksson cũng chia sẻ “Nếu tôi hát tiếng Thụy Điển, có lẽ sẽ còn tổn thương hơn thế rất nhiều”.

Sự kết hợp của bộ đôi tài năng Fredriksson và Gessle đo ni đóng giày cho thành công của Roxette. Một người chuyên thiết kế những bản nhạc đẹp, người còn lại khuếch trương vẻ đẹp bằng giọng hát gai góc. Fredriksson thổ lộ bà chịu ảnh hưởng lớn của ngôi sao nhạc jazz kinh điển như Ella Fitzgerald, Billie Holiday và những rocker kỳ cựu như Mick Jagger, Tina Turner.

Tiếng chim hót như bị gai đâm

Năm 2002, Fredriksson được chẩn đoán u ác tính ở não sau khi bị ngã trên sàn nhà tắm. Căn bệnh về não khiến cho bà khó thuộc bài hát mới, mặc dù vẫn nhớ lời bài hát cũ. Năm 2012, bà vẫn đi lưu diễn tái hợp với Gessle và đồng thời cho ra mắt ba album solo trong thời gian điều trị.

Âm nhạc dường như là liều thuốc tinh thần hữu hiệu nhất với Fredriksson trong suốt thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư. Tiếng hát của bà như loài chim bị gai đâm nhưng vẫn cất tiếng hót bừng sáng không gian. Giờ đây, giọng ca Look sharp đã yên nghỉ ở tuổi 61, Fredricksson để lại nhiều nuối tiếc cho hàng triệu trái tim người hâm mộ, gia đình và người bạn tri kỷ âm nhạc. Gessle đã viết : “Cám ơn người bạn đã tô màu rực rỡ nhất cho những ca khúc đen-trắng của tôi. Cô ấy là nghệ sỹ xuất sắc nhất, một giọng ca xuất chúng, một ca sỹ biểu diễn cừ khôi”.

(Theo NY Times, Billboard, The Guardian, Rhino Insider)

viethoaiphuong
#582 Posted : Wednesday, April 28, 2021 7:11:32 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Xuân Tiên và Dân tộc tính trong âm nhạc

Hoàng Hằng - RFI - 28/04/2021
Cuối tháng Giêng năm 2021, cộng đồng người Việt tại Úc nói riêng và giới yêu âm nhạc Việt Nam trên thế giới đã mừng Xuân Tiên – Cây đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam bước qua 100 tuổi. Nền âm nhạc Việt Nam đã vinh danh những đóng góp nổi bật của ông. “Khúc hát ân tình”, “Về dưới mái nhà”, “Hận đồ bàn”, “Duyên tình”, hay “Mong chờ”, v.v... là những bản nhạc chạm tới trái tim người yêu nhạc và sống mãi với dòng thời gian.

Những giai điệu yêu đời

Sinh năm 1921, tại Hà Nội, Xuân Tiên là nhạc sĩ cao tuổi nhất của nền tân nhạc Việt còn tại thế và hiện sống ở Úc châu. Dù đã sống qua hơn một thế kỷ với bao thăng trầm của vận nước, ông vẫn thế, vẫn một Xuân Tiên lịch thiệp, sang trọng, hào hoa, lạc quan và minh mẫn.

Vốn có năng khiếu, 6 tuổi được học kiến thức âm nhạc vỡ lòng từ người cha, cùng khả năng tự mày mò học hỏi, ông tiếp cận hàng loạt các nhạc cụ Tây phương cũng như các nhạc khí dân tộc cổ truyền Việt Nam. Thực tế, hiếm có nhạc sĩ nào như ông đã sử dụng thành thạo đến 25 loại nhạc cụ khác nhau. Từ năm 18 tuổi, ông bắt đầu làm việc trong những ban nhạc của người ngoại quốc và đi trình diễn từ Bắc vào Nam. Dần về sau, ông đi vào sáng tác, rồi điều khiển nhiều dàn nhạc và cộng tác với các đài phát thanh trước năm 1975.

Nét đặc trưng của nhạc Xuân Tiên nằm ở những giai điệu lạc quan yêu đời, yêu người, đầy tình tự quê hương hòa quyện trong âm hưởng dân ca Bắc, Trung, Nam. Ngoài ra, ông cũng có những bản nhạc buồn nhưng chỉ là những chớm buồn thoảng qua, man mác xa vắng chứ không bi thương, sầu lụy.

Có thể nói, chất tinh túy của dân ca miền Bắc đã được ông gói ghém tài tình và duyên dáng qua bài “Duyên tình”. Tuy nhiên, thời gian qua, gia đình nhạc sĩ Y Vân đã có sự tranh luận tác quyền của bản nhạc. Qua truyền thông Úc, Việt Nam, cũng như trong chương trình của Trung tâm Thúy Nga, ông đã khẳng định quyền tác giả đối với bài hát này. Theo đó, Y Vân được xem như là một người em, một đồng nghiệp trẻ thân thiết, được Xuân Tiên ưu ái đồng ý để tên chung vào sáng tác của mình và cũng để tiện Y Vân mang giùm bản nhạc đến bán cho nhà xuất bản thời đó.

Nhân đây, một lần nữa, ông chia sẻ: “Hồi đó, tôi bận công việc nhiều. Tôi có người bạn là nhạc sĩ Y Vân chép nhạc bằng tay rất đẹp và trong đó, có chép bài “Duyên tình” cho tôi. Sau đó, Nhà xuất bản cần mua mà tôi thì lại bận việc nên nhờ Y Vân đem “Duyên Tình” đến cho Nhà xuất bản. Nhưng Y Vân có nói trước với tôi rồi, nếu Y Vân đem bán dùm thì phải có tên Y Vân kèm vào bài đó. Tôi bảo được rồi, bạn bè thì đứng tên với nhau là chuyện thường, không có gì, ký dùm rồi bán cho tôi”.

Đông – Tây hòa điệu

Ngoài tài năng sáng tác, chơi nhuần nhuyễn nhiều loại nhạc cụ, ông còn cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới. Điều thôi thúc ông làm công việc sáng tạo thú vị này là vì: “Nhạc cụ của Việt Nam thiếu thốn và phần nhiều là nhạc cụ của Trung Hoa, chỉ có đàn đáy và đàn bầu là của Việt Nam mà thôi. Các loại nhạc cụ này lại không đủ cung bậc và đúng thanh mẫu để có thể chơi chung với các nhạc cụ Tây phương”.

Trước hết, phải kể đến sáo trúc loại 10 lỗ và loại 13 lỗ thay vì 6 lỗ được trưng bày tại Bảo tàng Con người [Musée de l'Homme], Paris, Pháp.Theo ông “Trước đây, Sáo trúc chỉ có 6 lỗ bấm thôi và chỉ chơi được nhạc ngũ cung, không đủ cung bậc như các loại nhạc cụ Tây Phương. Nên, tôi với ông Xuân Lôi - anh trai tôi đã cải tiến ống sáo đó cho đủ cung bậc. Với lại cho nó đúng thanh mẫu để mà chơi được cùng với nhạc Tây phương”.

Bên cạnh đó, lấy cảm hứng từ thanh âm trong trẻo, ngọt ngào của đàn tranh, ông đã sáng chế ra chiếc đàn dây đặc biệt mang tên “Đàn tranh Xuân Tiên” với 60 dây và chơi bằng hai tay với đủ các cung bậc được nhiều nghệ sĩ cùng thời yêu thích và hiện đang lưu giữ tại Việt Nam.

Ông giải thích thêm: “Đàn tranh thường có 16 dây và chỉ chơi được nhạc ngũ cung Việt Nam. Khi chơi tân nhạc hay nhạc Tây phương thì thiếu cung bậc, cho nên tôi làm cây đàn gãy theo lối đàn tranh nhưng mà chơi bằng 2 tay. Bởi vì, có hai phần dây, phần dây bên tay trái để đệm nhạc và phần dây bên tay phải đàn những giai điệu”.

Ngoài ra, dựa trên hình dáng và cung bậc của đàn bầu, ông sáng chế ra “Đàn bầu Xuân Tiên” đặc biệt làm từ chất liệu giản dị, mộc mạc của thuở ban sơ là trái bầu khô.

Ông lý giải: “Lúc còn nhỏ, tôi thấy mấy người hát chèo, hát xẩm lấy trái bầu khô để làm những thùng đàn và cũng nhằm khuếch đại âm thanh. Về sau, người ta làm đàn bầu bằng gỗ, tôi thấy không đúng ngày xưa. Tôi thấy ở nhà có sẵn những trái bầu khô, tôi lấy làm đàn bầu để người ta gọi là đàn bầu. Chứ nhiều người cứ gọi là đàn độc huyền. Gọi như vậy, tôi nghe không đúng, bởi độc huyền là một dây mà nhiều nước có loại đàn một dây. Trong khi, cây đàn bầu là hoàn toàn của Việt Nam”.

Nỗi trăn trở của người nhạc sĩ

Là một nhạc sĩ sáng tác và chơi nhạc, cải tiến và chế tác nhạc cụ đi qua ngần ấy chiều dài thế kỷ, chứng kiến những đổi thay của lịch sử và con người, ông không hề có những ưu tư vỡ vụn của riêng mình. Thiết nghĩ, những gì ông chia sẻ là những trăn trở mang tính thời đại, đánh động dòng suy tư cho hậu thế, đặc biệt là những người làm công việc sáng tạo âm nhạc và nghệ thuật.

Ông nói: "Tôi mong, thế hệ sau này, các nhạc sĩ nên chú trọng về âm điệu, về giai điệu của những bản nhạc để cho nó thích hợp hơn bây giờ. Vả lại, tôi nghĩ, nền âm nhạc Việt Nam phải mang dân tộc tính. Khi nhạc tấu lên thì người ta biết bản nhạc này là của Việt Nam, bản nhạc kia của nước khác. Tất nhiên, làm nghệ sĩ thì phải biết, phải hiểu rõ và tôn trọng nghệ thuật chứ đừng nghĩ nhiều đến thị hiếu của quần chúng. Người ta thích nhưng nói cho đúng thì trình độ quần chúng không bao giờ bằng trình độ của người làm chuyên môn. Mỗi một sáng tác của cùng một nhạc sĩ đi nữa, cũng không nên lặp lại âm điệu mà mình đã sáng tác rồi".

Cho đến hôm nay, mạch nguồn sáng tạo vẫn không ngừng chảy trong cơ thể, khi mà ông đang thai nghén một số thể loại sáng tác mới. Hy vọng, công chúng mến mộ nhạc sẽ sớm được thưởng thức những tác phẩm mới của ông.

Một lần nữa, RFI Tiếng Việt xin được vinh danh ông, một người nhạc sĩ tao nhã am tường nhạc lý phương Tây lẫn phương Đông. Ông để lại cho hậu thế những bản tình ca sâu đậm về tình yêu quê hương, đất nước, một thứ tình rộng lớn hơn chứ không đơn thuần chỉ gói ghém trong tình yêu lứa đôi. RFI Tiếng Việt kính chúc ông thật nhiều sức khỏe!

viethoaiphuong
#583 Posted : Monday, May 3, 2021 1:37:53 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Diane Warren - Phù thủy của những bản tình ca để đời

Gia Trình - RFI - 01/05/2021
Điểm chung của các bản ballad nổi tiếng thập niên 1990-2000 như Unbreak my heart, How do I live, Because you loved me là gì? Tất cả đều được nhào nặn qua bàn tay vàng của phù thủy âm nhạc - Diane Warren.

Sau 35 năm hợp tác với các ngôi sao ca nhạc sáng giá như Celine Dion, Cher, Whitney Houston, nữ nhạc sỹ Diane Warren sắp trình làng tuyển tập đầu tiên Diane Warren: The Cave Sessions Vol. 1.

Sự nghiệp lừng lẫy trải dài 35 năm

Tên tuổi của Diane Warren tỏa sáng từ đầu thập niên 1980 nhờ bản hit Solitaire. Bản nhạc viết cho nữ ca sỹ Laura Branigan leo lên hạng 7 bảng xếp hạng Billboard. Tính đến hiện tại, nữ nhạc sỹ 65 tuổi có quyền tự hào về những đứa con tinh thần xuất sắc: 9 ca khúc xếp hạng 1, 32 ca khúc nằm trong top 10 bảng xếp hạng Billboard 100.

Hơn thế nữa, Warren rất có duyên sáng tác nhạc cho điện ảnh, với hơn 100 tác phẩm. Nhờ tài nghệ kể chuyện, những bản nhạc phim của Diana Warren nhanh chóng trở thành các hit xuất sắc, có sức sống mãnh liệt. Đơn cử như Music of my heart (Âm nhạc từ trái tim) do N’Sync và Gloria Estefan trình bày, How do I live (Làm sao em sống nổi thiếu anh) trong phim Con Air, I don’t want to miss a thing do Aerosmith thể hiện trong phim Amargeddon (Ngày tận thế), There you’ll be do Faith Hill trình bày trong phim Pearl Habour (Trân Châu Cảng).

Ca khúc Nothing can stop us now (Không gì ngăn cản chúng ta) phim Mannequin (1988) là điểm khởi đầu thuận lợi cho Warren. Bài hát đem lại tiếng vang lớn, giúp bà giành 1 đề cử Grammy đầu tiên. Chín năm sau đó, ca khúc Because you loved me do diva Celine Dion thể hiện mới giúp Warren chạm tay vào giải Grammy duy nhất Ca khúc viết cho phim xuất sắc nhất.

Thế mạnh của bà là những ballad viết về tình yêu có giai điệu nồng cháy, với ca từ hoa mỹ. Bà tiết lộ về album mới nhất: “Tôi sáng tác những bài hát mới liên tục, tôi thực sự nghĩ rằng mình đang viết những ca khúc xuất sắc nhất”. Dàn sao quy tụ trong album mới của Diana bao gồm John Legend, Celine Dion, Mary J. Blige, Jason Derulo, Ty Dolla $ign, Jhené Aiko. Đồng thời, single đầu tiên Times Like This đã được lên sóng vào tháng 11/2020 do danh ca Darius Rucker thể hiện. Đó là một ca khúc pha trộn giữa country và rock, hoàn toàn chinh phục khán giả: “Ca khúc đem đến hy vọng và giúp bạn có tinh thần chiến đấu tốt”.

Những bộc bạch về đứa con tinh thần

Nếu nói Diane Warren là một huyền thoại sống hay "Phù thủy âm nhạc", có lẽ không quá lời. Catalogue âm nhạc của bà gồm hơn 1.000 ca khúc đem cho bà khoản thu nhập 20 triệu đô la bản quyền xuất bản mỗi năm.

Trả lời phỏng vấn tạp chí, Warren tiết lộ về kỹ thuật sáng tác, thường bà bắt nguồn từ ý tưởng, viết nhạc sau đó mới viết lời. Mặc dù có thể xuất phát từ ý thơ hay giai điệu, bà cho rằng viết lời tốn khá nhiều thời gian, đòi hỏi sự cẩn trọng phát triển ý tưởng công phu. Thông thường, Warren chỉ mất 1 tuần để sáng tác xong 1 ca khúc.

Những sáng tác của phù thủy âm nhạc phá vỡ mọi ranh giới về giới tính, tuổi tác và thể loại. Cùng một bản pop ballad If you asked me to của Celine Dion thể hiện, nữ ca sỹ R&B Patti Labelle thể hiện cũng thành công không kém. Điều đó toát lên sức cuốn hút và độ lan tỏa trong giai điệu, ca từ trong từng bài hát của Diane Warren.

Một điểm thú vị khác là các ca khúc, nếu bị các ca sỹ chê hoặc từ chối, đều thành công rực rỡ ngoài sức tưởng tượng. Trong số đó, có bản hit xuất sắc của Cher hay Toni Braxton.

1. If I Could Turn Back Time - Cher (1989)

Warren cho rằng bài hát quá tuyệt vời với Cher nhưng cô ấy ghét nó. Bà phải đến tận phòng thu, van lạy Cher để thử hát cho đến khi nào cô ấy đồng ý: “Tôi đồng ý sẽ trả tiền cho ca khúc này, nếu nó không hiệu quả, tất cả tiền túi của tôi. Tôi biết rằng nó dành cho cô mà”. Kết cục là Cher đã đồng ý thử hát ca khúc. Dĩ nhiên nó trở thành ca khúc biểu tượng của Diane Warren và vực dậy tên tuổi Cher với dòng nhạc dance.

2. Unbreak my heart - Toni Braxton (1996)

Bà đã nghĩ ra tựa đề bài hát đó, chơi thử điệp khúc với những hợp âm của bài. Một tựa đề khá kỳ lạ, vì bà chỉ dùng một từ “Un-break” thay vì hai từ “Don’t break”. Ông chủ hãng đĩa Columbia, Clive Davis muốn bà thay đổi đổi hai từ vần nhau trong hai câu đầu bài hát “pain” và “rain”, nhưng Warren không đồng ý. Tuy nhiên, cả hai đều nghĩ tới giọng nữ trầm R&B Toni Braxton, ca khúc này đo ni đóng giầy cho Toni: “Cô ấy không thích bài này. Lịch sử lại lặp lại, có thể cô ấy ghét bài này hơn nữa, nghĩa là phải hát nó trong 20 năm tới”.

3. Because you loved me - Celine Dion (1996)

Bài hát được viết cho bộ phim tình cảm lãng mạn Up Close and Personal (1996). Warren từng nói: “Nhưng tôi luôn cảm ơn cha mình luôn tin tưởng âm nhạc của tôi, ủng hộ tôi. Kịch bản phim có thể trở thành đề tài quấy rối tình dục #metoo. Liệu bây giờ họ có thể sản xuất một phim như vậy không?”

4. How Do I Live - LeAnn Rimes/Trisha Yearwood (1997)

Lúc đầu, bà viết cho bộ phim Con Air, nhưng sau đó chơi thử cho nhà sản xuất Jerry Bruckheimer khiến ông ấy thích thú. Warren chợt nghĩ tới LeAnn Rimes, người vừa đoạt giải Grammy Nghệ sỹ mới xuất sắc nhất và mời LeAnn trẻ thể hiện. Họ cùng thu âm, và ghi hình cho video clip ca nhạc và tiêu hết ngân sách.

Tuy nhiên, Jerry đổi ý sau khi nghe ca khúc. Ông muốn Trisha Yearwood hát ca khúc này. Warren từ chối chuyển từ LeAnn sang Trisha, kể cả cho phiên bản nhạc phim Con Air. Giữa họ xảy ra bất đồng, cả LeAnn và Jerry đều nổi khùng với Warren vì sự thay đổi này. Nhưng sau đó mọi chuyện trở lại bình thường. Warren hài hước nói rằng “Đó là tác dụng các bản hit. Mọi người đều yêu quý bạn”.

5. I Don’t Want to Miss A Thing - Aerosmith (1998)

Sau bất đồng với Jerry Bruckheimer, hai người hợp tác trở lại trong bộ phim bom tấn Armageddon (1998) do Jerry đã đổi ý. Warren chưa bao giờ nghĩ sẽ mời nhóm hard rock Aerosmith trình diễn, mà hình dung rằng phải là một giọng nữ thể hiện. Nhưng không ai có chất giọng mạnh mẽ, gây tổn thương như Steven Tyler diễn tả lời bài hát. Warren nói: “Tôi nhớ lần đầu tiên nghe nó, suýt bật ra khỏi ghế ngồi vì mức độ thẩm thấu. Bài hát đó đáng lẽ phải đoạt giải Ghi âm của năm vì nó quá xuất sắc”.

Niềm đam mê âm nhạc không cạn

Một nhạc sỹ chuyên sáng tác bản nhạc tình cảm lãng mạn chưa từng một lần kết hôn. Bà từng có mối quan hệ với nhà sản xuất, sáng tác nhạc Guy Roche nhưng sớm kết thúc vào năm 1992. Dường như sự thiếu vắng đời sống lãng mạn khiến Warren trở thành nghệ sỹ sáng tác đặc biệt nhờ trí tưởng tượng trong sự cô đơn.

Rất hiếm khi bà hợp tác với nghệ sỹ sáng tác nào khác. Warren thích sáng tác độc lập, vì bà không muốn thỏa hiệp nếu xảy ra vấn đề. Ngoài ra, Warren từng đau khổ và trắng tay sau trận động đất phá hủy nhà cửa năm 1994. Nhưng bi kịch của thực tại không thể bóp nghẹt những sáng tác ngọt ngào, đầy hưng phấn của bà. Trái lại, "Phù thủy âm nhạc" coi đó là liệu pháp vực dậy tinh thần, với niềm đam mê âm nhạc. Bà có thể làm việc 12-16 tiếng một ngày.

Một nhạc sỹ tài năng như Diana Warren dường như kém may mắn với giải thưởng âm nhạc lớn. Bà từng được đề cử 11 giải Oscar nhưng đều ra về tay trắng. Lần này, nữ nhạc sỹ đang hào hứng với giải thưởng Bài hát xuất sắc nhất trong phim nhờ hai ứng cử viên sáng giá. Ca khúc Free do Charlie Puth thể hiện cho bộ phim The One and Only Ivan (Ivan người duy nhất) và ca khúc lo Si (Seen) do Laura Pausini thể hiện trong bộ phim hãng Netflix The Life Ahead có siêu sao Sophia Loren thủ vai.

Với bề dày hơn ba thập kỷ sáng tác, hiếm có nhạc sỹ nào nuôi dưỡng được nguồn đam mê bất tận trong âm nhạc như Diane Warren. Bà được coi là nghệ sỹ độc lập, tiên phong trong ngành công nghiệp âm nhạc. Warren còn là chủ nhân duy nhất của hãng đĩa Realsongs, công ty ăn nên làm ra. Bà xứng đáng với danh hiệu “Phù thủy” của các bản tình ca để đời.

(Theo Rollingstone, Variety, NPR, Billboard)


viethoaiphuong
#584 Posted : Saturday, May 8, 2021 4:40:52 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Phóng tác "Game of Thrones" thành kịch sân khấu Broadway

Tuấn Thảo - RFI - 07/05/2021
Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim truyền hình cực kỳ ăn khách, giờ đây bộ truyện "Game of Thrones" (Trò chơi Vương quyền) còn đang được chuyển thể thành kịch. Một khi được hoàn tất, tác phẩm này sẽ được cho ra mắt khán giả Anh, Mỹ trên sân khấu Broadway vào năm 2023. Trong khi đó, 6 dự án khác đã được lên kế hoạch, khai thác cùng một thế giới từ bộ truyện của tác giả George R.R. Martin.

Sau khi ngự trị trên màn ảnh nhỏ trong gần một thập niên, 8 mùa phim "Game of Thrones" đã kết thúc vào tháng 05/2019, đem về hơn một tỷ đô la doanh thu cho các nhà sản xuất và tập đoàn Warner. Sự chấm dứt của các mùa phim "Trò chơi Vương quyền" lại mở ra nhiều chương mới, qua đó kênh truyền hình HBO lao vào khai thác dòng sản phẩm mang thương hiệu "Game of Thrones" kể cả các tuyến tiền truyện, hậu truyện và ngoại truyện.

Vở kịch khai thác cuộc tranh tài vĩ đại Harrenhal

Một trong dự án quan trọng là chuyển thể tiểu thuyết thành tác phẩm dành cho sân khấu kịch nghệ. Trong nhóm điều hành dự án, có hai nhà sản xuất Simon Painter và Tim Lawson, từng thành công với show biểu diễn các màn ảo thuật hoành tráng, tận dụng công nghệ hiện đại và kỹ xảo hình ảnh cũng như âm thanh. Về phần kịch bản, khâu này do Duncan MacMillan đảm nhiệm. Tác giả này đã từng chuyển thể thành công hai tác phẩm "1984" của văn hào George Orwell và "City of Glass" lấy từ bộ truyện "The New York Trilogy" của tiểu thuyết gia Paul Auster.

Trong phiên bản phóng tác, tác giả George R.R. Martin đã chọn khai thác một biến cố quan trọng trong bộ trường thiên tiểu thuyết "Game of Thrones" của ông. Đó là Cuộc tranh tài vĩ đại tại Harrenhal (The Great Tourney at Harrenhal) từng được đề cập đến nhiều lần trong bộ tiểu thuyết nhưng chưa bao giờ được tái tạo trên màn ảnh với các diễn viên thật. Giải thi đấu này tập hợp các hiệp sĩ và kỵ binh thuộc các dòng họ có uy tín nhất đại diện cho bảy vương quốc trên bản đồ Westeros. Giới hâm mộ "Game of Thrones" từng khám phá cuộc tranh tài vĩ đại Harrenhal qua một bộ phim hoạt hình ngắn theo lời kể của Meera Reed (diễn viên Ellie Kendrick) bổ sung cho kỳ phát hành trên bộ đĩa hình DVD mùa thứ sáu.

Về mặt nội dung, cuộc tranh tài Harrenhal là tia lửa châm ngòi cho một chuỗi sự kiện quan trọng dẫn đến các vụ xung đột đẫm máu về sau trong thế giới của "Trò chơi Vương quyền". Nhiều nhân vật nổi tiếng của bộ truyện như Cersei Lannister hay Ned Stark đều có mặt tại giải thi đấu, nhưng họ khó thể hình dung được rằng những sự kiện thắt chặt tại Harrenhal sẽ khó mà tháo gỡ 16 năm sau, để rồi dẫn đến những tai biến, hậu quả khó lường kể cả các vụ giao tranh tàn sát khốc liệt hầu giành lấy ngôi vị bá chủ.

Theo lời tác giả George R.r. Martin, ông đã làm việc một cách bí mật trong vòng hơn một năm qua để tránh rò rỉ thông tin. Tham vọng lớn nhất của nhóm sản xuất là đưa thế giới 7 vương quốc Westeros lên sân khấu Broadway tại New York hay West End tại Luân Đôn. Nếu thành công hẳn chắc sẽ có các phiên bản chuyển ngữ, dịch sang nhiều thứ tiếng khác vì giới hâm mộ "Game of Thrones" là một cộng đồng đông đảo với hàng trăm triệu fan trên toàn cầu.

Sáu dự án phim mang thương hiệu "Game of Thrones"

Hai năm sau khi kết thúc mùa phim thứ 8 của "Game of Thrones", kênh truyền hình HBO đã chuẩn bị nhiều dự án mới lấy cảm hứng từ bộ tiểu thuyết của nhà văn George R. R. Martin. Theo tạp chí Hollywood Reporter, hiện có ít nhất 6 dự án khác nhau đáng được triển khai, đặc biệt là để phục vụ mạng phim trực tuyến HBO Max của tập đoàn Warner.

Kênh truyền hình HBO đã khởi động vào tháng 04/2021 kế hoạch bấm máy quay phim "House of the Dragon", dự trù phát hành vào năm 2022. Đây là phần tiền truyện của "Game of Thrones", kể lại câu chuyện của nhà Targaryen, một trong những dòng họ quan trọng nhất trong saga "Trò chơi Vương quyền". Theo thời báo chuyên ngành sân khấu điện ảnh Variety, sau khi mùa thứ 8 kết thúc trong tranh cãi, khiến cho nhiều người hâm mộ bị hụt hẫng, HBO đã lao vào khai thác các giai thoại xung quanh dòng họ có tài điều khiển rồng lửa. Bao gồm 10 tập, bộ phim tiền truyện này lấy bối cảnh 300 năm trước khi xẩy ra các sự kiện trong "Trò chơi vương quyền", và dựa theo giai thoại “Dance of Dragons” (Điệu vũ rồng thiêng) kể lại cuộc nội chiến của Nhà Targaryen mà thỉnh thoảng có được nhắc đến trong "Game of Thrones".

Có thể nói là năm 2021 mở ra một thời kỳ bận rộn đối với George R.R Martin, tác giả của "Game of Thrones" do có rất nhiều dự án cùng lúc được đưa vào khâu thực hiện. Tập đoàn Warner (sở hữu đài truyền hình HBO) đã ký hợp đồng chuyển thể một số truyện ngắn của George R. R. Martin thành phim hoạt hình. Quan trọng hơn nữa, HBO đang phát triển trong năm nay 3 trên tổng số 6 bộ phim truyền hình nhiều tập mang cùng một thương hiệu, trong đó có dự án nói về lịch sử của vương quốc Dorne cũng như loạt phim nói về thế giới của King's Landing (tiếng Pháp là Port-Réal).

Bộ trường thiên tiểu thuyết chưa có hồi kết

Tập đoàn Warner dường như đang áp dụng một chiến lược phản công tập đoàn Disney. Mạng phim trực tuyến Disney+ tung ra hàng loạt bộ phim xoay quanh Star Wars và thế giới siêu anh hùng Marvel. Còn Warner tận dụng thương hiệu "Game of Thrones" để tung ra dòng sản phẩm có khả năng thu hút thêm người đăng ký các dịch vụ của mạng phim trực tuyến HBO Max.

Ngoài việc hợp tác với HBO, tác giả George R. R. Martin còn đang chuẩn bị một loạt phim cho Netflix. Dự án lần này tập trung vào việc phóng tác lên màn ảnh nhỏ bộ truyện ngắn mang tựa đề "The Sandkings" (Vua bể cát / Les Rois des sables), từng đoạt hai giải thưởng Nebula Awards vào năm 1979 và Hugo Awards vào năm 1980. Hai giải này chủ yếu dành cho dòng tiểu thuyết hay khoa học viễn tưởng. Về mặt viết sách, nhà văn George R. R. Martin còn đang thực hiện dự án sách tham khảo và tài liệu bổ sung cho bộ bách khoa toàn thư về " Game of Thrones", mặc dù việc xuất bản các tập truyện cuối cùng vẫn còn là chuyện xa vời.

8 mùa phim "Games of Thrones" được chuyển thể từ bộ trường thiên tiểu thuyết "A Song of Ice and Fire" gồm tổng cộng là 7 tập. Tập truyện đầu tiên đã được phát hành vào năm 1996 và quyển thứ 5 "A Dance with Dragons" dày tới 1056 trang đã được phát hành vào năm 2011, tức cách đây đúng 10 năm. Vấn đề là giới hâm mộ vẫn chờ đợi tập 6 "The Winds of Winter" và tập 7 "A Dream of Spring" còn chưa được viết xong.

Một thập niên sau khi phát hành tập thứ 5, vẫn chưa có kết thúc cho "A Song of Ice and Fire". Tuy vậy, giới hâm mộ vẫn hy vọng một ngày nào đó biết được hồi kết chính thức của tác phẩm gợi hứng cho loạt phim "Game of Thrones" (Trò chơi Vương quyền). Trên thế giới, có khá nhiều độc giả mong chờ cơ hội đọc chương sách cuối cùng của một trong những bộ trường thiên tiểu thuyết đồ sộ nhất, dày đến hơn 5.000 trang.


viethoaiphuong
#585 Posted : Thursday, May 13, 2021 6:49:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Ba ngôi sao nhạc Pop triển vọng

Gia Trình - RFI - 08/05/2021
Dòng chảy âm nhạc hiện đại không thể thiếu vắng sự đóng góp của các ngôi sao trẻ. Trong đó, ba gương mặt tiêu biểu Billie Eilish, Olivia Rodrigo và Weeknd đang chứng tỏ sức hút mãnh liệt. Khán giả trẻ đón nhận họ nhờ phong cách khác biệt và những bản hit nam châm.

Billie Eilish - Tắc kè hoa nổi loạn tuổi teen

Thành công từ rất sớm của Billie Eilish có thể sánh với danh tiếng ngôi sao nhạc đồng quê LeAnn Rimes 25 năm trước. Nữ ca sỹ sinh năm 2001 từng gây tiếng vang trên Soundcloud năm 2015 với bản hit Ocean Eyes. Billie thậm chỉ vượt trội hơn LeAnn khi nổi tiếng ở tuổi 13.

Năm 2020, ngôi sao người Mỹ đã trở thành hiện tượng âm nhạc của năm. Billie đã ôm trọn 5 Giải Grammy danh giá nhờ album When We All Fall Asleep Where Do We Go (Chúng ta sẽ đi về đâu khi đang ngủ). Thú vị hơn, anh trai của Billie, Finneas là đồng tác giả, nhà sản xuất cho album xuất sắc này. Hai anh em nhà Eilish đều được nuôi dạy tại nhà (home schooling) mà không đến trường như nhóm nhạc Hanson.

Cô gái có mái tóc xanh rêu phả một làn gió mới vào nhạc electro-pop nhờ những giai điệu rất có hồn. Ca khúc Bad Guy (Gã trai tồi) thu hút hơn 1 tỷ lượt xem trên Youtube không kém bản hit Lovely ra mắt năm 2018. Điều gì khiến âm nhạc của Billie Eilish cuốn hút giới trẻ đến vậy? Nhạc pop của cô hơi tối tăm, tự sự, phiêu lưu, hoàn toàn khác biệt với các nghệ sỹ đương thời khác. Chất giọng trong trẻo, mệt mỏi và non nớt của Billie tạo nên cảm xúc thú vị.

Hơn thế, vẻ bề ngoài Billie liên tưởng tới sự pha trộn một thiếu nữ tuổi teen và nhân vật hoạt hình anime. Sự biến hóa phong cách như tắc kè hoa của Billie thu hút lượng fan đông đảo trên Twitter và Youtube. Không quá ngạc nhiên nếu thấy Billie hóa thân thành quả bom sex tóc vàng như minh tinh Marylin Monroe trên tạp chí Vogue.

Khác với nghệ sỹ cùng tuổi, tính cách và tài năng của Billie khá dị biệt. Cô không thích hợp tác với bất cứ nghệ sỹ nào từ Alicia Keys hay BTS. Nữ ca sỹ cho rằng âm nhạc không phải là hàn gắn, chữa lành vết thương mà nó là cần câu kiếm sống. Billie là ngôi sao trẻ nhất từng viết và thể hiện ca khúc chính trong series phim James Bond No Times to Die.

Nói về tính cách và sáng tác của mình, Billie tiết lộ rằng “Tôi luôn tỏ ra điên rồ. Khi bạn phấn khích về điều gì, bạn sẽ quên hết giới hạn, quên sự lịch thiệp và cái được gọi là lịch thiệp”. Có thể tâm lý nổi loạn tuổi dậy thì, sự trỗi dậy của cảm xúc đã lôi kéo được fan khổng lồ tuổi teen. Họ tìm thấy chính mình trong âm nhạc nổi loạn, cá tính nhưng rất có hồn của Billie Eilish.

Olivia Rodrigo - Sự ngọt ngào của teen pop

So với Billie, Olivia Rodrigo đằm thắm và dịu ngọt hơn nhờ vẻ nữ tính của ngôi sao kênh Disney. Ca khúc All of me(Tất cả về em) ghi dấu ấn đầu tiên của ca sỹ, diễn viên sinh năm 2003 này. Olivia từng xuất hiện với vai Nini trong High School Musical - The Series của kênh truyền hình Disney. Thành công của ca khúc dấy lên đồn đoán về cuộc tình tay ba giữa Olivia với Joshua Basset, Sabrina Carpenter khi cả ba đều là ngôi sao kênh Disney.

Nữ ca sỹ trẻ sinh ra ở California (Mỹ) trong gia đình không có truyền thống nghệ thuật. Mẹ Olivia là giáo viên có niềm đam mê rock-punk và alternative nhóm Clash hay Smashing Pumpkins. Cô thổ lộ: “Mẹ tôi thích thứ nhạc hò hét và gào thét nhưng nó lay động trái tim tôi. Đó là kim chỉ nam của âm nhạc”.

Trái ngược gu âm nhạc của mẹ, Rodrigo chọn cho mình con đường biểu diễn với các pop ballad mộc mạc, truyền thống. Cô có năng khiếu biểu diễn từ nhỏ, tham gia mọi hoạt động trong cuộc thi hát địa phương. Cha mẹ cô đã đăng ký luyện giọng với giáo viên địa phương Jennifer Dustman. Dustman đã khuyến khích cha mẹ Olivia cho con học diễn xuất. Sau màn thử vai, Olivia đã tạo cú đột phá đầu tiên trong phimGrace Stir Up Success (2015).

Thành công của bản hit Drivers License(Giấy phép lái xe) khiến cả thế giới phải đổ dồn sự chú ý tới nữ ca sỹ. Một câu chuyện tình buồn, tan vỡ của cô gái tuổi teen được thể hiện khá lôi cuốn và bắt tai. Single nhanh chóng lên hạng 1 Bảng xếp hạng Billboard và phá vỡ kỷ lục trên kênh nghe nhạc streaming Spotify.

Âm nhạc của Olivia thu hút được fan tầm cỡ. Ngôi sao nhạc pop Taylor Swift dành lời khen có cánh cho nữ ca sỹ trẻ. Single ra đời khá ngẫu nhiên trong cuộc lái xe không chủ đích của Oliva. Cô nảy ra ý tưởng viết một bản tình ca buồn, sáng tác 2 khổ thơ và điệp khúc. Nhà sản xuất đã giúp hoàn thiện phần còn lại. Âm nhạc đẹp, nhẹ nhàng nhờ cảm xúc chân thực và hơi thở tươi mới của tuối trẻ.

And I know we weren't perfect but I've never felt this way for no one ; And I just can't imagine how you could be so okay now that I'm gone ; Guess you didn't mean what you wrote in that song about me ; 'Cause you said forever, now I drive alone past your street.

Em biết rằng chúng ta không hoàn hảo nhưng em chưa từng cảm nhận vậy với bất cứ ai ; Em không tưởng tượng anh có thể như vậy nhưng giờ em đã ra đi ; Em đoán rằng anh không có ý định viết bài hát nào cho em ; Vì anh nói rằng mãi mãi ; Giờ em đang cô đơn lái xe qua con phố nơi anh ở.

Weeknd - Biểu tượng âm nhạc đa văn hóa

Weeknd, ngôi sao R&B Canada không hề thua kém hai ngôi sao nữ. Anh nổi tiếng muộn hơn, ở tuổi 25 nhờ album Beauty Behind the Madness ra mắt năm 2015. Hai single của album Can’t Feel my Face và The Hills tiến thẳng vào bảng xếp hạng Billboard 100.

Weeknd tên thật là Abel Makkonen Tesfaye sinh ra tại Canada và lớn lên cùng bà ngoại và mẹ sau khi cha mẹ ly dị. Tuổi thơ Abel khá dữ dội khi anh đã từng ăn cắp, sử dụng cần sa và các chất kích thích. Tuy nhiên, cơ may mỉm cười với anh khi gặp nhà sản xuất Jeremy Rose năm 2010. Anh đã đổi sang nghệ danh Weeknd để chuyên sâu vào dự án nhạc R&B với màu sắc u tối. Mọi góc khuất cuộc đời Weeknd đều được tìm thấy trong âm nhạc của anh.

Âm nhạc Weeknd đậm chất R&B và pop trên nền nhạc electronic khá dễ nghe. Từ album đầu tay Kiss Land (2013), nam ca sỹ đã trình làng cả thẩy bốn album phòng thu. Album mới nhất Faith của Weeknd với ca từ liên quan tới ma túy, nỗi đau, cầu nguyện, cái chết và tôn giáo đưa ra nhiều câu hỏi thực sự nghiêm túc. Không phải nghệ sỹ nào cũng được công chúng đón nhận và giới phê bình cưng chiều như Weeknd. Anh từng đoạt 3 giải Grammy, 5 giải AMA, từng được đề cử Oscar và đồng thời là nghệ sỹ có số lượng album tiêu thụ trên 75 triệu bản.

Ngoài ra, môi trường đa văn hóa, sắc tộc cũng tạo nên sự khác biệt trong âm nhạc của Weeknd. Anh lớn lên ở ngoại ô Toronto, nuôi dưỡng trong cộng đồng Đông Phi với nhóm người Ấn Độ, Trung Đông và Caribê. Lớn lên cùng bà ngoại, tiếng Ethiopia là ngôn ngữ mẹ đẻ và tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai mà Weeknd tự học khi sống ở Canada.

Âm nhạc của Weeknd chịu ảnh hưởng các nghệ sỹ Ethiopia như Aster Aweke, R&B của Micheal Jackson và R. Kelly. Khá thú vị, anh từng dè dặt và thiếu tự tin để cất giọng hát trước bạn bè, đến khi có người nói với anh: “Giọng hát của cậu khá ổn”.

Có lẽ thứ âm nhạc đời thường, giản dị và xuất phát từ trải nghiệm cá nhân đều được khán giả trẻ đón nhận nhiệt liệt. Lát cắt nguyên bản của ba nghệ sỹ trẻ như Billie Eilish, Olivia Rodrigo và Weeknd đã chỉ ra mẫu số chung như vậy.

(Theo Vanity Fair, Rolling Stone, NPR)


viethoaiphuong
#586 Posted : Sunday, May 16, 2021 9:14:20 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Chicago - Phía sau tấm màn nhung thành công

Gia Trình - RFI - 15/05/2021
Peter Cetera, cây guitar bass, kiêm giọng ca chính luôn được mặc định là linh hồn của ban nhạc Chicago lừng lẫy. Sau khi Cetera tách khỏi nhóm vào năm 1985, Chicago vẫn hoạt động không ngừng nghỉ xuyên suốt nửa thế kỷ. Đồng thời, Cetera từ chối đứng chung trên sân khấu khi Chicago được vinh danh vào Rock and Roll Hall of Fame năm 2016. Chuyện gì diễn ra phía sau tấm màn nhung thành công của Chicago?

Ban nhạc có thâm niên cao nhất

Chicago là một trong những ban nhạc thành công nhất trên nước Mỹ, xét về kỷ lục tiêu thụ các album hay các đĩa đơn. Với tổng số lượng đĩa hát tiêu thụ khoảng 40 triệu đơn vị, họ sở hữu tới 23 album vàng, 18 album bạch kim và 8 album siêu bạch kim. Nhóm nhạc thành lập từ năm 1967 có quyền tự hào về những bản hit xuất sắc đi cùng năm tháng như If you leave me now, Hard to say I am sorry, Look away.

Trải qua hơn một nửa thế kỷ tồn tại, ban nhạc luôn bị giới phê bình đánh giá thấp. Đơn giản vì họ quá tham vọng với số lượng đông đảo nhạc công. Thêm vào đó, ban nhạc theo đuổi quá nhiều dòng nhạc: rock pha trộn với classical, jazz, R&B và pop, mà không có định hướng sắc bén. Hơn thế, họ không lăng xê các cá nhân nổi trội. Tuy nhiên, âm nhạc của nhóm Chicago đủ sức lấp đầy khán giả trên các sân vận động khổng lồ và tiêu thụ số lượng đĩa hát kỷ lục. Họ còn là cái tên quen thuộc trên radio khắp nước Mỹ và hàng triệu fan hâm mộ.

Các nhóm nhạc ra đời cuối thập niên 1960 chịu ảnh hưởng không nhỏ của Bộ Tứ The Beatles về mặt nhân sự. Theo đó, hai người chơi guitar chính, một guitar bass, một tay trống. Chicago không phải ngoại lệ: theo trường phái rock and roll lại có thêm bộ kèn. Đây có thể coi là ảnh hưởng thể nghiệm của The Beatles trong ca khúc Got to get you in my life năm 1966.

Thành viên nòng cốt khi thành lập gồm có Peter Cetera chơi bass, Robert Lamm chơi keyboards, Terry Kath chơi guitar và cùng hát chính. Trong bốn thành viên còn lại, Danny Seraphine chơi trống và ba thành viên khác phụ trách bộ kèn gồm có Lee Loughnane - trumpet, James Pankow - trombone, Walter Parazaider chơi kèn gỗ. Bản hit If you leave me now (Nếu em rời xa tôi) thể hiện rõ nhất sự cộng hưởng của bộ kèn với các nhạc cụ khác của nhóm Chicago.

Peter Cetera, linh hồn một thuở

Trong các thành viên, Peter Cetera là cái tên được chú ý nhiều nhất. Sức hút nam châm của ông là chất giọng tenor cao vút. Độ sáng của Cetera khiến cho các thành viên còn lại bi lu mờ. Ông gắn bó với bạn nhạc trong vòng 17 năm, từ lúc thành lập đến mùa hè năm 1985. Giọng hát của Cetera chiếm sóng trên radio nước Mỹ, nổi tiếng là gương mặt đại diện cho nhóm Chicago từ cuối thấp niên 1970 đến giữa thập niên 1980.

Các bản hit của Chicago gắn với tên tuổi của ông như Hard To Say I’m Sorry, Get away rất được ưa chuộng trên radio khắp nước Mỹ. Đây là kết quả của quá trình hợp tác giữa Cetera và nhà sản xuất tài năng David Foster vào đầu thập niên 1980. Sự bùng nổ của bộ đôi chắc chắn tạo nên những rạn nứt bên trong ban nhạc. Chia sẻ với báo giới, Cetera từng tiết lộ: “Tôi không nhận ra mình là ai cho tới khi thực hiện album solo. Có thể đó là album cuối cùng tôi chơi với nhóm Chicago và album solo đầu tay, nó là chất giọng tôi, vị trí của tôi. Bạn sẽ cảm giác tự tin và thoải mái”.

Cetera tách riêng hát solo vì cái tôi và sức sáng tạo của ông không còn phù hợp với Chicago nữa. Sự nghiệp solo của Peter thành công không kém với nhiều bản ballad song ca với Cher After All, Glory of Love, The next time I fall song ca với Amy Grant. Hiện tại, ở tuổi 76, Peter nghỉ hưu vì mất giọng cũng như áp lực lưu diễn triền miên.

Ban nhạc công nghiệp hóa nhất

Năm 2016, khán giả đổ dồn sự chú ý vào Cetera khi ông từ chối diễn chung với nhóm Chicago. Sự kiện Chicago được vinh danh trong Rock and Roll Hall of Fame đánh dấu mốc 50 năm phát triển. Peter cũng không có ý định tái hợp với ban nhạc và từ chối bình luận về mối quan hệ với các thành viên nhóm: “Đó không phải là nhóm Chicago ngày xưa. Tay trống khác, tay guitar khác, tôi thậm chí không biết nhạc công saxophone còn trụ lại không. Đó là một ban nhạc giống Chicago thôi”.

Sau khi Cetera rời đi, có rất nhiều thay đổi nhân sự tại Chicago trong vòng 36 năm. Khác với nhóm The Rolling Stones, Chicago chỉ có ba thành viên cốt cán trụ lại. Trong đó, Robert Lamm, keyboard kiêm hát chính, giữ vai trò thủ lĩnh ban nhạc, hai thành viên bộ kèn kiêm hát lót khác là Lee Loughnane, trumpet và James Pankow, trombone.

Trung bình 5 năm, ban nhạc lại tuyển dụng thành viên mới thay thế thành viên cũ rời nhóm. Để phục vụ cho cỗ máy lưu diễn hái ra tiền, Chicago mạnh tay tuyển dụng thêm khoảng 5-8 nghệ sỹ theo thời vụ. Xét về mặt quản trị, nhóm nhạc là ví dụ sinh động của nền công nghiệp âm nhạc thương mại hóa. Chicago hoạt động như một công ty thu nhỏ trong lĩnh vực biểu diễn. Chế độ nhân sự như tồn tại song song hợp đồng thời vụ và dài hạn.

Sự luân chuyển nhân sự không gây đổ vỡ như các nhóm khác. Trái lại, nhóm nhạc có thể coi đó là nhân tố mới để phát huy tính sáng tạo. Dường như họ đã biết cách tận dụng tối đa thương hiệu Chicago với logo biểu tượng đặc trưng để thu hút khán giả. Ngoài ra, tên các album của nhóm không mỹ miều mà rất công thức. Họ đánh số tăng dần theo thời gian như Chicago, Chicago III, Chicago 16, 17.

Ban nhạc chú trọng đổi mới nhất

Trong số các album, Chicago 16 và Chicago 17 gặt hái thành công nhất đầu thập niên 1980. Dưới bàn tay vàng của nhà sản xuất David Foster, hai album đạt hạng bạch kim tại Mỹ vào năm 1982 và năm 1984. Foster là người cách tân âm nhạc của nhóm: sử dụng nhạc cụ điện tử synthesizer, hạn chế sử dụng kèn, chuyển hướng sang các ballad mạnh mẽ.

Hai bản hit xuất sắc nhất Hard to say I’m sorry và You’re my inspiration đều là “trái ngọt” hợp tác giữa bộ đôi Peter Cetera và nhà sản xuất Foster. Sự đổi mới này tất nhiên sẽ gây chia rẽ trong ban nhạc. Peter Cetera đã nói rằng “Mọi người mang tới các ca khúc khá yếu kém, bởi vậy David Foster và tôi bắt đầu viết nhạc. Ca sỹ hát chính, diễn viên chính trong các clip âm nhạc đều là tôi. Điều đó gây ra xung đột ban nhạc, họ không thích điều đó. Vậy tôi phải làm gì, ngừng sáng tác nhạc ư? Vấn đề ở chỗ đó”.

Cùng với sự ra đi của Cetera, ban nhạc thay thế Foster bằng nhà sản xuất Ron Nevison, người đem lại thành công cho Rod Stewart và Steve Nicks. Tuy nhiên, di sản pop ballad của Foster và Cetera vẫn còn nguyên giá trị dưới thời kỳ Nevison. Nhóm Chicago tiếp tục khuấy đảo Hạng 1 bảng xếp hạng âm nhạc nhờ các ballad mạnh mẽ, sáng tác của phù thủy âm nhạc Diane Warren Look away và I Don't Wanna Live Without Your Love. Ngoài ra, nhân tố mới, tay guitar bass Jason Scheff thế chân Cetera đem lại chất men thành công mới. Ca khúc What kind of man should I be do Jason sáng tác lọt vào top 5 Billboard.

Bài viết này hé lộ những nhân tố quan trọng phía sau tấm màn nhung của nhóm Chicago. Peter Cetera tài giỏi nhưng thiếu vắng anh, cỗ máy âm nhạc Chicago vẫn chạy tốt. Rõ ràng, đổi mới và đa dạng hóa nhân sự là chiến thuật hiệu quả để ban nhạc phá vỡ thách thức về thời gian.

viethoaiphuong
#587 Posted : Monday, May 17, 2021 12:58:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Gainsbourg - Jane Birkin : tình yêu vượt thời gian

Thanh Hà - RFI - 17/05/2021
1968 phong trào nổi dậy của sinh viên Pháp, Paris như đang có chiến tranh. Lòng dạ nhạc sĩ Serge Gainsbourg như thiêu như đốt sau cuộc chia tay với Brigitte Bardot. Nhạc phẩm Je t’aime moi non plus ngủ yên trong ngăn kéo cho đến khi Gainsbourg tìm được người « chọn mặt gửi vàng » : người đó chính là Jane Birkin.

Đã là « la plus belle chanson d’amour- bản tình ca đẹp nhất », bắt buộc Gainsbourg phải trao tặng ca khúc Je t’aime moi non plus cho người tình và ông đã nhanh chóng tìm thấy nửa còn lại của tâm hồn trong nụ cười, đôi mắt của cô đào Jane Birkin. Serge đã không nhầm, ông đã cùng Jane trải qua 12 năm dài hạnh phúc trong ngôi nhà số 5 đường Verneuil, quận 7 Paris.

Hạnh phúc thuộc về người đến sau

Nhạc sĩ Gainsbourg có với Jane Birkin một cô con gái là Charlotte và họ sống chung cả với Kate, con gái riêng của Jane Birkin.

Birkin không hề mặc cảm là người đến sau, từ nhạc phẩm Je t’aime moi non plus đến ngôi nhà ở quận 7 Paris mà họ đang sống đều là những món quà mà Serge chủ ý dành riêng cho cô đào BB.

Nhiều năm sau ngày Serge Gainsbourg qua đời, Jane Birkin kể lại : « Serge là người rất dễ thẹn thùng, có lẽ đó là lý do ông chọn đặt tên cho bài hát Je t’aime moi non plus. Tất cả mọi người đều nói đến sự nhút nhát của Serge, thậm chí kể cả Bardot. Đó là điểm thú vị khi giao tiếp với những người đàn ông nhút nhát ».

Trong cuộc sống ngoài đời ông thẹn thùng, nhút nhát bao nhiều, thì ngược lại trong sáng tác, Serge Gainsbourg luôn tỏ ra phiêu lưu, mạo hiểm bấy nhiêu.

Histoire de Melody Nelson

Vào đầu thập niên 1970, Pháp dưới thời hai tổng thống Pompidou, rồi Giscard d’Estaing, Serge và Jane thu hút chú ý của công luận do họ đã đưa ra một hình ảnh hoàn toàn mới về tình yêu, về một gia đình với con chung, con riêng … Hơn thế nữa Jane Birkin và Serge Gainsbourg là hai nghệ sĩ đã dung hòa được cuộc sống gia đình và nghệ thuật : Họ thường xuyên đem hai cô con gái còn rất nhỏ đến phim trường, đưa chúng vào thế giới của Paris về đêm. Charlotte và Kate người chị cùng mẹ khác cha thường theo bố mẹ lui tới những phòng trà, hộp đêm, thế giới mà khói thuốc và rượu mạnh ngự trị …

Trong làng giải trí, Jane và Serge rất độc lập với nhau. Gainsbourg tiếp tục khai mở những chân trời mới của nghệ thuật. Ông tìm tòi, thử nghiệm những thể loại âm nhạc mới và năm 1971 cho ra đời đĩa hát Histoire de Melody Nelson mà ở đó mỗi ca khúc đều được gắn liền với nhau bằng một sợi chỉ đỏ vô hình.

Rất hạnh phúc với Jane, người tình trẻ thua ông đến gần 20 tuổi, Serge lại vừa tậu một chiếc Rolls Royce cho dù ông chưa từng có bằng lái xe và cũng chẳng có tài xế phục vụ… Lấy nguồn cảm hứng từ tác phẩm Lolita của nhà văn Nga Vladimir Nabokov, Gainsbourg nhả từng chữ khi kể lại câu chuyện của chính mình hay nói đúng hơn là « Câu chuyện của Melody Nelson », cô thiếu nữ « trải qua 14 mùa thu, 15 mùa hạ » và một người đàn ông đã đứng tuổi.

Còn Jane Birkin khi đó là một nữ diễn viên điện ảnh đang lên. Không đẫy đà, nẩy lửa như Brigitte Bardot, lại có phong thái đôi hơi khô, cứng như nam giới nhưng cô gái xuất sứ từ Anh Quốc này không kém phần khêu gợi. Khuôn mặt dài với đôi gò má hơi cao, đôi môi hơi cong, thân hình mảnh mai, đôi chân hay mái tóc của Jane Birkin cũng đủ để không biết bao anh chàng « lạc lối thiên thai ». Jane thường xuyên chụp ảnh khỏa thân trên các bìa báo thời bấy giờ …

« Một người về đỉnh cao, một người về vực sâu »

Là nhạc sĩ đa tài và đa tình, Serge Gainsbourg khai thác hình ảnh gợi cảm đó của Jane để thổi một làn gió mới vào làng nhạc của Pháp. Sau album Histoire de Melody Nelson, clip và ca khúc Décadanse được trình làng. Tên ca khúc này được tác giả ghép từ hai chữ « décadence – suy đồi » và « danse – vũ điệu » cũng đã bắt công luận thời đó phải suy nghĩ nhiều không kém, tương tự như những Lolita go home, Sea Sexe and Sun… Mỗi tác phẩm ông đều sáng tác đều vì Jane và như để dành riêng cho giọng hát của Birkin.

Nhưng ông biết rõ hơn ai hết « Danh vọng đến với Jane, đó sẽ là thời khắc tôi mất nàng ». Lời nói tiên tri. Jane Birkin trở thành một ngôi sao điện ảnh, một thần tượng của giới trẻ và Serge lún sâu vào ngục tối. Rượu và ma túy trở thành những người bạn đồng hành. Chúng đặt dấu chấm hết cho sau 12 năm Gainsbourg và Birkin tung hoành trên các sân khấu huyền thoại của Paris.

Jane Birkin kể lại : 1980, họ chia tay nhau vào thời điểm đang thực hiện một đĩa hát với ca sĩ Julien Clerc. Sau một buổi thu âm, họ đưa nhau vào quán. Serge gọi rượu champagne đãi mọi người. Jane chán nản, lặng lẽ xách giỏ ra đi ».

Ba năm sau, 1983 Serge Gainsbourg soạn riêng đĩa hát Baby Alone in Babylone, như một món quà muộn, như một lời tạ tội với Jane Birkin.

Để lại hạnh phúc sau lưng
Năm 2020 nhân dịp cho ra mắt cuốn hồi ký, Birkin kể lại : Serge đã soạn những ca khúc trong album này ở một « ton » rất cao như thách thức Jane, bắt bà khai thác đến tận cùng giọng hát. Tiếng hát của Jane Birkin chính là nỗi lòng thổn thức, là những tiếng khóc Serge Gainsbourg phát lên tự đáy lòng.

Trong nhạc phẩm Fuir le Bonheur, Serge Gainsbourg lấy nguồn cảm hứng từ một câu nói của họa sĩ kiêm văn sĩ người Pháp Francis Picabia « hãy trốn chạy để hạnh phúc đừng chắp cánh bay đi » : Serge đã chia tay với Jane để không bao giờ đánh mất những năm tháng hạnh phúc được sống với bà.

Serge Gainsbourg đã hoàn tất album Baby Alone in Babylone trong vỏn vẹn 4 ngày, ông sáng tác thâu đêm. Serge mượn tiếng hát của Jane để nói lên nỗi đau của chính mình. Cũng Jane Birkin kể lại khi bà thu âm đĩa hát này, ở bên kia bức tường kính, Jane trông thấy người tình cũ bật khóc. Bà cũng không khỏi xót xa khi nhận thấy rằng 11 ca khúc trong đĩa hát Đơn côi giữa thành Babylone đều phảng phất lời trách móc người đã rũ áo ra đi.

Cho nhau đến hơi thở cuối cùng

Dù đã chia tay, Jane và Serge ở ngoài đời và trong nghệ thuật vẫn gắn bó với nhau hơn bao giờ hết. Khi đã đi thêm bước nữa, năm 1982, có con với người chồng sau là đạo diễn Jacques Doillon, Birkin mời Gainsbourg làm cha đỡ đầu cho Lou Doillon, cô con gái út của bà. Serge đã cùng Jane nuôi dậy Kate Barry, cô con gái cả bà đã có với nhà soạn nhạc người Anh, John Barry. Họ cùng sát cánh bên con gái Charlotte khi cô bước vào thế giới điện ảnh.

Về phần Serge Gainsbourg gần như cho đến hơi thở cuối cùng ông liên tục sáng tác cho Jane Birkin. Vài tháng trước khi từ trần năm 1991, Gainsbourg và Birkin hoàn tất album cuối cùng Tình chết - Amours des feintes : một lần nữa Serge lại chơi chữ « défuntes » có thể dùng để chỉ những mối tình đã chết, nhưng « des feintes » viết hai chữ rời nhau có nghĩa là những cuộc tình « giả dối » …

Bìa album này là một bức chân dung vẽ bằng mực tàu … tác giả chính là nhạc sĩ Serge Gainsbourg. Ông đã chấp bút trong một phòng điều trị ở bệnh viện… và ở chặng cuối này, người bạn đồng hành của ông là người mẫu Bambou.

Bức chân dung người đàn bà trên bìa Amours des feintes là hình bóng của hai người đàn bà trong trái tim Gainsbourg khi đó : một nửa thuộc về Bambou nửa còn lại vĩnh viễn dành cho Jane.


viethoaiphuong
#588 Posted : Saturday, May 22, 2021 11:53:28 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Shania Twain - Âm nhạc, đỉnh cao và vực sâu

Gia Trình - RFI - 22/05/2021
Nếu không có Shania Twain, chưa chắc công chúa nhạc pop Taylor Swift thành công sáng chói như hôm nay. Cô là người truyền cảm hứng mạnh mẽ cho khán giả, nhờ sự cách tân toàn diện giữa nhạc country với dòng chảy pop/rock sôi động. Từ đỉnh cao cuối thập niên 1990, Shania Twain rơi vào vực sâu khủng hoảng cá nhân gần một thập kỷ.

Thành công nhờ đổi mới hình ảnh

Shania Twain là nữ nghệ sỹ duy nhất có một album nhạc tiêu thụ tới hơn 40 triệu bản khắp toàn cầu. Đây là kỷ lục trong mơ của Come On Over (1997) hợp tác với chồng cũ, nhà sản xuất âm nhạc tài năng Robert “Mutt” Lange. Ông đã giúp thay đổi hình ảnh Twain cả về chất lẫn lượng, nhờ kinh nghiệm lâu năm sản xuất cho các nhóm rock lừng lẫy như AC/DC hay Def Leppard.

Không còn là nữ cao bồi với chiếc guitar thùng, Twain trở thành một người đàn bà ăn mặc gợi sexy, đi giày cao gót và hát rock and roll. Trong video clip ca nhạc That Don’t Impress me much, cô đóng vai một người đàn bà đẹp mặc trang phục da báo, đi trên sa mạc. Nhân vật chính từ chối lời mời chào hấp dẫn của cánh mày râu như chứng tỏ sức hút vô đối.

Oh-oo-oh, you think you’re special ; Oh-oo-oh, you think you’re something else ; OK, so you’re Brad Pitt ; That don’t impress me much.

Anh nghĩ mình là người đặc biệt à ; Ok, anh là Brad Pitt hả ; Điều đó không gây ấn tượng với tôi.

Chiến lược của Lange để lăng xê Shania Twain rất bài bản. Các single được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi tung ra để tạo được sự mới mẻ. Phần âm nhạc lẫn video clip khá chỉn chu trong thời kỳ vàng son của kênh MTV. Thực tế, Shania sẽ gặp khó khăn nếu chỉ đơn thuần dựa vào giọng hát. Chất giọng cô không quá đặc biệt, chưa đủ nội lực để cạnh tranh với các diva hàng đầu. Do vậy, chiến lược phù hợp cho Twain là phong cách biểu diễn cách tân và thể loại nhạc country giao thoa.

Trong single ăn khách Man! I feel like a woman (Tôi cảm giác như một người đàn bà!), khán giả khó tìm thấy chất country nguyên bản nào. Ngược lại, cô phả luồng gió mới rock and roll trong video clip như show thời trang. Nhờ thế, Shania Twain được mở rộng được tệp khán giả hâm mộ nhờ khai thác thị trường bỏ ngỏ. Cô phá bỏ thành trì kiên cố của bất bình đẳng giới trong âm nhạc. Shania Twain nổi lên như một biểu tượng của quyền năng nữ giới, vui nhộn, gợi cảm.

Vươn lên tuổi thơ bi kịch

Để gặt hái thành công, tuổi thơ của nữ ca sỹ sinh năm 1965 trải qua cơn ác mộng về thể xác lẫn tinh thần. Lớn lên tại Ontario, Canada, cô chưa từng biết mặt cha ruột. Mẹ cô Sharon bị chứng trầm cảm, cha dượng Jerry bạo hành, nghiên rượu và có triệu chứng tâm thần.

Cuộc hôn nhân của mẹ cô, bà Sharon với Jerry đối mắt với khốn khó về tài chính và đắm chìm trong bạo lực. Bà Sharon phải nuôi nấng ba cô con gái riêng từ cuộc hôn nhân trước, con trai chung với Jerry và cả người cháu của Jerry. Cô từng lo sợ cha dượng có thể giết chết mẹ cô bất cứ lúc nào. Trong cuốn hồi ký, Twain kể lại kỷ niệm đen tối khi cha dượng đánh mẹ cô tới bất tỉnh và ngã gục trong toilet. Khi cô tìm cách tấn công ông để bảo vệ mẹ, cha dương đấm vào hàm cô. Tệ hại hơn, cô còn bị cha dượng lạm dụng tình dục cả thể xác lẫn tinh thần.

Vết đen trong ký ức tuổi thơ khiến cho bản năng tự lập của Shania Twain trỗi dậy sớm. Cô sáng tác nhạc từ rất sớm như khát khao trốn thoát khỏi thực tại. Đó là gia đình bạo lực, căng thăng, túng quẫn không có gì để ăn : “Những đứa trẻ khác chơi với búp bê còn tôi chỉ chơi với ngôn từ và âm thanh”. Lên tám tuổi, Shania đã bắt đầu hát ở quán rượu để trả hóa đơn sinh hoạt gia đình. Cô đến Nashville (Mỹ) để hát nhạc country sau khi tốt nghiệp trung học năm 1983. Bất chấp mọi tiêu cực, cô vẫn là người con hiếu thảo, luôn hỗ trợ gia đình, các em cô về mặt tài chính. Năm 1987, Twain suy sụp tinh thần khi nghe tin mẹ cô và cha dượng đã qua đời trong tai nạn xe hơi.

Nhấn chìm trong bi kịch cá nhân

Vươn lên tuổi thơ gian khó, ánh hào quang của âm nhạc dường như là cứu tinh với Shania Twain. Thời gian đẹp nhất trong sự nghiệp của nữ ca sỹ là từ năm 1995 đến năm 2002 với ba album thành công vang dội. Cô ra mắt album UP (2002) trong thời gian nghỉ ngơi, cân bằng cuộc sống. Mặc dù UP không thành công như 2 album trước, nhưng tạo được hiệu ứng toàn cầu về country pop, rock.

Sau đó, Twain gần như biệt tăm khỏi làng âm nhạc cho đến tận năm 2008. Cô tuyên bố ly dị với với nhà sản xuất Robert Mutt Lange trước bê bối ngoại tình của chồng. Shania đau khổ tột cùng vì sự phản bội của người bạn thân thiết Marie-Anne Thiebaud lẫn người chồng, kiêm đồng nghiệp Mutt Lange. Vụ ly hôn gây tổn thất khối tài sản khổng lồ, ước tính khoảng 350 triệu đô la của nữ ca sỹ. Sau đó, cô đã tìm được chỗ dựa tinh thần với người chồng của Thiebaud. Họ trở thành cặp đôi tri kỷ nhờ sự đồng cảm về cuộc sống sau bi kịch trên.

Trong thời gian vắng bóng, nữ ca sỹ còn mắc chứng bệnh Lyme do loại vi khuẩn Borelia gây ra năm 2003. Sau nhiều lần phẫu thuật, Shania từng đối mặt với nguy cơ nghỉ hát vĩnh viễn do mất giọng. Rất may mắn, cô đã bình phục và có thể hát trở lại sau điều trị. Một biến cố cuộc đời khiến cho ngôi sao nhạc country-pop nhấn chìm trong chuỗi bi kịch kéo dài. Twain không thể hát, không đi lưu diễn, không thu âm, ngừng sáng tác ca khúc mới trong gần một thập kỷ từ năm 2004 đến năm 2012.

Hành trình tìm lại ánh hào quang

Năm 2011, Shania Twain thông báo chương trình biểu diễn định kỳ tại sân khấu Caesar Palace tại Las Vegas kéo dài trong hai năm. Thành công của chương trình từ cuối năm 2012 đem lại cho cô thu nhập 43 triệu đô la. Quan trọng hơn, Twain quay trở lại phòng thu và trình làng album Now (Bây giờ, 2017). Album là câu trả lời của Twain sau chuỗi khủng hoảng cá nhân kéo dài. Ca từ và giai điệu trong album Now ngập trong cảm xúc, như lời thú nhận cô đã thức tỉnh sau bóng đêm dài. Cô như đang ở nhà (Home Now) với Ánh sáng cuộc đời (Light of My Life) và Cuộc sống tốt đẹp dần lên (Life’s about to Get Good).

Không có bàn tay đạo diễn của chồng cũ Lange, liệu ngôi sao Shania Twain sẽ xoay sở ra sao? Tất nhiên không dễ dàng vì Lange là một nhà sản xuất xắn tay vào việc, có giác quan nhạy bén về nhạc cụ và âm thanh. Nhưng Lange chưa bao giờ điều khiển được giọng hát và cá tính của Twain, theo như cô chia sẻ. Với kinh nghiệm người chơi guitar bass, trực giác về nhịp điệu của Lange đã giúp Twain tìm được sở trường với các bản nhạc tiết tấu nhanh, pha đậm rock and roll. Vì vậy, album Now không được đánh giá cao như các album trước. Album thiếu các bản hit nổi trội, giai điệu hơi trầm, ít màu sắc. Phần âm thanh thiếu chau truốt hơn so với thời kỳ Lange.

Sau 15 năm vắng bóng trên thị trường, khoảng trống Shania phải lấp đầy vượt quá sức vóc của cô. Thị hiếu khán giả đã thay đổi, hình ảnh vui tươi, sôi động Shania Twain hơn hai thập kỷ trước cũng khó tìm thấy. Ngôi sao country-pop trở nên đàn bà hơn, cởi mở hơn, trầm lắng hơn. Âm nhạc đối với Twain là phao cứu sinh khỏi vực sâu bi kịch. Đến giờ, cô vẫn là người duy nhất (You’re still the one) cách tân nhạc country theo hướng pop/rock.

(Theo Guardian, AllMusic)


viethoaiphuong
#589 Posted : Sunday, May 23, 2021 1:28:58 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)


(RFI) – Liên hoan sách quốc tế Festival « Etonnants voyageurs » 2021 khai mạc tại thành phố Saint Malo, Bretagne miền tây bắc nước Pháp. Trong ba ngày từ 22 đến 24/05/2021 khách tham quan có dịp trao đổi với trên dưới 40 tác giả, trong số này có hai cây bút gốc Việt là nhà vật lý thiên văn, giáo sư Trịnh Xuân Thuận và nữ văn sĩ Kim Thúy. Bên cạnh những sinh hoạt phục vụ độc giả, Etonnants voyageurs còn dành nhiều chương trình chiếu phim và triển lãm để thu hút khách tham quan./RFI



(AFP) – Liên hoan ca nhạc Vieilles Charrues trở lại với khán giả. Ban tổ chức hôm nay, 21/05/2021, thông báo, sau một năm vắng bóng vì đại dịch, năm nay festival âm nhạc lâu đời này được tổ chức từ ngày 8 đến 18/07/2021 tại Carhaix, miền Tây nước Pháp. Tham gia chương trình lần này có những tên tuổi như Vianney, Yseult, Hervé, Woodkid, The Avener hay Stephan Eicher. Năm 2019, đã có 270.000 khán giả đến dự festival Vieilles Charrues trong vỏn vẹn bốn ngày. Năm nay, ban tổ chức dự trù mở 10 buổi trình diễn, với 5.000 khán giả tối đa mỗi buổi. Số nghệ sĩ được mời tham dự cũng bị giới hạn ở ngưỡng 30, thay vì 80 như thường lệ. / RFI


viethoaiphuong
#590 Posted : Monday, May 24, 2021 12:16:02 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Paris mở lại Viện bảo tàng lịch sử Carnavalet

Tuấn Thảo - RFI - 24/05/2021
Tọa lạc ở trung tâm Paris trong khu vực Marais (quận 4), Viện bảo tàng Carnavalet nằm cách bảo tàng Picasso và quảng trường Place des Vosges chỉ có 300 thước. Sau 4 năm đóng cửa trùng tu, viện bảo tàng này với bộ sưu tập đồ sộ chuyên về lịch sử thủ đô Paris sẽ được mở lại vào ngày 29/05/2021.

Khách tham quan nào tinh ý sẽ nhận thấy bảo tàng Carnavalet có nhiều nét giống như Điện Sully nằm tại Cour Carrée (gọi nôm na là "Sân vuông") ngay giữa lòng bảo tàng Louvre. Cả hai công trình này đều được xây vào giữa thế kỷ XVI tức dưới thời vua Henri Đệ Nhị, kết hợp kiến trúc mặt tiền thời Phục Hưng, với lối thiết kế phong cảnh vườn tược sau này của Le Nôtre và các pho tượng điêu khắc baroque kể từ đầu thế kỷ XVII trở đi. Ban đầu là tư gia của nhà quý tộc Jacques de Ligneris, sau đó là của nữ hầu tước Sévigné (1626-1696), dinh thự đồ sộ này đã được biến thành Viện bảo tàng lịch sử Carnavalet vào năm 1880, tên đường cũng được đổi thành Rue de Sévigné cho dễ nhớ.

Carnavalet, dinh thự sang trọng nhất Paris

Từ khi ra đời cho tới nay, tòa nhà đã trải qua nhiều đợt trùng tu, ngoài gian chính còn sát nhập thêm các toà nhà lân cận. Mỗi tòa nhà đều có cổng vào riêng ở tầng chệt, nhưng lại được nối liền với nhau bằng những hành lang xây thêm ở tầng trên. Trong đợt sửa chữa kỳ này kéo dài trong 4 năm, ban điều hành không những tân trang mặt tiền, mà còn tạo ra một "lộ trình" tham quan dài hơn 1,5 km ở bên trong hai tòa nhà cổ kính, thuộc vào hàng dinh thự sang trọng nhất phố Marais, ở trung tâm Paris. Nhìn vào bản đồ, lộ trình giống như một mê cung bao gồm hàng chục gian phòng triển lãm, cách thiết kế ánh sáng, phối hợp màu sắc không gian cũng được làm mới nhân dịp này, giúp cho khách xem triển lãm đi từ gian phòng này qua gian phòng nọ một cách liên tục, chứ không có cảm tưởng bị gián đoạn.

Theo bà Valérie Guillaume, giám đốc Viện bảo tàng Carnavalet, do ban đầu là nhà ở, dành riêng cho sinh hoạt gia đình, cho nên lối sắp đặt nội thất không hẳn thích hợp với việc trưng bày các tác phẩm nghệ thuật. Gần 150 năm sau khi được biến thành bảo tàng, không gian trưng bày của Carnavalet vẫn thiếu tính nhất quán về trình tự thời gian. Việc đóng cửa 4 năm là cơ hội để nâng cấp toà nhà theo các tiêu chuẩn thời nay, trước hết là về mặt an toàn (các lối thoát và trang thiết bị đề phòng hỏa hoạn), sau đó là cách lắp đặt các thang máy (cho dù tòa nhà không có nhiều tầng) để tiếp đón khách ngồi xe lăn.

Bà giám đốc Valérie Guillaume thừa nhận, trước đây, bảo tàng Carnavalet ít tiếp đón thành phần khách tham quan ngồi xe lăn, do các hành lang quá chật hẹp và không có đủ hệ thống thang máy. Giờ đây, nhờ vào các trang thiết bị mới, khách ngồi xe lăn có thể di chuyển dễ dàng để xem 98% bộ sưu tập. Một điểm mới khác nữa là gợi hứng từ mô hình của các viện bảo tàng ở các nước Bắc Âu, Carnavalet chọn cách trưng bày khá nhiều tác phẩm ở ngang tầm mắt của trẻ em, nhằm mục đích giáo dục, khi các trường lớp tổ chức các buổi tham quan. Đây là trường hợp của bức tranh mang đầy ý nghĩa tượng trưng "Sainte Geneviève" (vị Thánh bảo trợ của Paris), một trong những kiệt tác hội họa Pháp thế kỷ XVII.

Bộ sưu tập khổng lồ với 600.000 tác phẩm

Theo cô Noémie Giard, trưởng ban dịch vụ tiếp đón công chúng, bảo tàng Carnavalet muốn tận dụng ngày mở cửa trở lại để giới thiệu rộng rãi hơn nữa các tác phẩm nổi tiếng cũng như các bảo vật chưa từng được công bố. Bộ sưu tập đồ sộ của Carnavalet phản ánh lịch sử của Paris, từ thời đại đồ đá (mesolithic) cho tới tận ngày nay. Kho lưu trữ của Carnavalet bao gồm 625.000 tác phẩm và cổ vật, bộ sưu tập này được làm giàu trong vòng 140 năm qua nhờ các khoản quyên góp biếu tặng của giới tư nhân, thành phố Paris cũng biến các di sản thừa hưởng thành "của công" và sưu tầm thêm bằng cách trao đổi các hiện vật hay mua lại từ các viện bảo tàng khác.

Nếu thời tiền sử của Paris chủ yếu được nhìn thấy qua các tác phẩm khảo cổ học, tình cờ tìm thấy trong các vụ khai quật, đào đất làm móng xây dựng thành phố, thì bộ sưu tập của Carnavalet còn rất phong phú đa dạng : ngoài các tác phẩm nghệ thuật như tranh tượng, còn bao gồm thêm nhiều vật dụng trang trí nội thất, từ phòng ăn phòng khách đến phòng ngủ, các loại huy hiệu hay tượng khắc treo ở mặt tiền các dinh thự hoặc thậm chí các bảng hiệu trên đường phố hoặc các cửa hàng buôn bán.

Do theo chuyên đề lịch sử nhưng lại không bị ràng buộc bởi bất cứ một lãnh vực chuyên môn nào, cho nên bộ sưu tập của bảo tàng Carnavalet có thể hơi "khó nuốt" đối với nhiều khách tham quan. Tuy các phòng triển lãm chỉ trưng bày một phần tác phẩm sưu tập tương đương với 0,7% bộ toàn tập của Carnavalet, nhưng 3.800 tác phẩm xem trong một ngày đã là quá nhiều.

Để tạo thêm tính nhất quán trong không gian triển lãm, ban điều hành đã thiết lập 184 tủ kính trưng bày dọc theo tuyến tham quan, đồng thời cuộc triển lãm thường trực thay vì bất biến, sẽ được cập nhật thường xuyên. Cách trưng bày luân phiên này giúp phổ biến rộng rãi hơn một số tác phẩm "quý hiếm", do chưa bao giờ hay ít khi nào được rời kho lưu trữ, đồng thời đó là một cách để thu hút sự tò mò của khách tham quan, khi bộ sưu tập thường trực được thay đổi cả về mặt nội dung lẫn hình thức.

Mỗi gian triển lãm, một thuở huy hoàng

Nổi tiếng là một viện bảo tàng phong phú dành riêng cho lịch sử của thành phố Paris, Carnavalet đã tìm cách "đơn giản hóa" cách giới thiệu một nội dung dày đặc. Mỗi giai đoạn quan trọng được giới thiệu qua một sự kiện đầy ý nghĩa hay qua một nhân vật tiêu biểu của lịch sử. Cách dùng biểu tượng ấy giúp cho cách đọc trở nên hấp dẫn hơn trong mắt khách tham quan. Thay vì đơn thuần kể lại lịch sử của Paris qua các triều đại vua chúa, Carnavalet đã từ bỏ phòng triển lãm tranh chân dung của các hoàng gia để thành lập những phòng trưng bày xung quanh các nhân vật nổi tiếng có tên tuổi gắn liền với thủ đô Paris.

Chân dung của Madame de Sévigné, phu nhân của hầu tước cùng tên được trưng bày bên cạnh nhiều vật dụng cá nhân, trở thành biểu tượng văn hóa của thế kỷ 17 qua các "salon" văn học, nơi các nhà trí thức hay giới quý tộc gặp gỡ trao đổi với nhau. Một cách tương tự, chân dung của Voltaire đại diện cho phong trào Thế kỷ ánh sáng và tác phẩm của Beaumarchais (1732-1799) là cửa ngõ dẫn đến thời kỳ Cách mạng Pháp. Còn gian phòng dành riêng cho Marcel Proust, tái tạo khung cảnh từng được mô tả trong tiểu thuyết "Đi tìm thời gian đã mất" đánh dấu một trong những dòng văn học Pháp quan trọng nhất thế kỷ 20.

Cuộc hành trình xuyên thời gian bắt đầu từ thời "tiền sử" kết thúc với xã hội thời nay. Gian phòng cuối cùng của bảo tàng Carnavalet phản ánh cuộc sống của người dân thủ đô Paris thời nay chủ yếu qua nhiếp ảnh, sách báo và tư liệu về vụ cháy Nhà thờ Đức Bà Paris, phong trào áo vàng hay đợt tấn công khủng bố nhà hát Bataclan cuối năm 2015. Theo giám đốc bảo tàng Valérie Guillaume, gian phòng này là một không gian mở, tiếp tục thay đổi tùy theo nhưng diễn biến gần đây nhất kể cả hai đợt phong tỏa trong thời kỳ dịch bệnh. Nhiếp ảnh là nghệ thuật phản ánh sát sườn nhất về thời đại của mạng xã hội và công nghệ số.

Tuy không nổi tiếng bằng các viện bảo tàng lớn ở thủ đô Pháp như Louvre, Orsay hay Grans Palais, nhưng Viện bảo tàng lịch sử Paris Carnavalet cũng như Bảo tàng thời trang Galliera, sau khi tìm lại nét đẹp huy hoàng nhờ được tân trang, còn hứa hẹn tiết lộ nhiều "kho tàng" từng được cất giấu, sau biết bao năm tháng.



viethoaiphuong
#591 Posted : Saturday, May 29, 2021 8:57:01 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Elton John & Bernie Taupin - Sức mạnh vô song của nhạc và thơ

Gia Trình - RFI - 29/05/2021
Elton John và Bernie Taupin chưa bao giờ là một cặp đôi luyến ái, mà là hai người bạn tri kỷ trong âm nhạc. Những giai điệu Elton John khiến chúng ta chìm trong thế giới màu sắc, ca từ của Bernie Taupin sẽ ru khán giả vào giấc mơ siêu thực. Hơn nửa thế kỷ, sự kết hợp của bộ đôi John/Taupin là động lực mạnh mẽ cho kho tàng âm nhạc đồ sộ của Sir Elton John.

Mối lương duyên định mệnh

Sir Elton John và Bernie Taupin không phải là bạn học thời phổ thông mà vô tình quen nhau qua quảng cáo. Thập niên 1960, hãng thu âm Liberty tìm kiếm nhạc sỹ sáng tác nhạc thông qua quảng cáo. Cả John và Taupin cũng nộp hồ sơ nhưng thật tình cờ, hai người không thể làm việc độc lập. Đối với Sir Elton, viết lời quả thực khó nhọc trong khi Bernie xoay sở với việc viết nhạc. Cuối cùng, Elton được gửi một bài thơ do Bernie sáng tác vào năm 1967. Và mối lương duyên âm nhạc của họ bắt đầu từ đấy khi hai tài năng kết hợp sức sáng tạo để sản sinh những tác phẩm xuất sắc.

Taupin gần như là người phiên dịch siêu phàm những ký ức, trạng thái cảm xúc, giấc mơ kỳ ảo của John phản ánh trong âm nhạc. Năm 1997, ông đã chắp bút cho bản nhạc nổi tiếng nhất của John Candle in the wind 1997 (Ngọn nến trước gió) để tưởng nhớ công nương bạc mệnh Diana qua đời. Đĩa đơn thành công ngoài sức tưởng tượng, đạt hạng bạch kim tại Mỹ, được bình chọn ca khúc xuất sắc nhất năm của tạp chí Billboard. Đồng thời, Elton John cũng đoạt giải Grammy 1998 với phần Trình diễn Pop xuất sắc nhất bởi ca khúc nhẹ nhàng chạm vào tim khán giả. Phần nhạc đã quá nổi tiếng vì John tái sử dụng ca khúc Candle in the wind để tưởng nhớ Marilyn Monroe năm 1973. Nhưng cú lội ngược dòng của Taupin mới thực sự bất ngờ. Trong khoảng thời gian rất ngắn, ông đã tái hiện chân thực nhất hình ảnh đóa hồng nước Anh bằng thơ trên nền nhạc từng rất thành công phác họa Monroe.

Goodbye England's rose ; May you ever grow in our hearts ; You were the grace that placed itself ; Where lives were torn apart ; You called out to our country ; And you whispered to those in pain ; Now you belong to heaven ; And the stars spell out your name ; And it seems to me you lived your life ; Like a candle in the wind ; Never fading with the sunset ; When the rain set in.

Tạm biệt đóa hồng nước Anh ; Người luôn sống mãi trong trái tim chúng tôi ; Sự duyên dáng của người luôn hiện hữu ; Nơi những cuộc sống bị giằng xé ; Người luôn kêu gọi cả đất nước này ; Thì thầm với những nỗi khổ đau ; Giờ người đã thuộc về thiên đàng ; Và những ngôi sao đánh vần tên người ; Dường như đối với tôi ; Người đã sống một cuộc đời ; Như ngọn nến trước gió ; Không bao giờ tàn phai cùng ánh mặt trời ; Kể cả khi mưa ập đến.

Sự hòa quyện giữa nhạc và lời

Nếu liệt kê hết các bản hit của Elton John mà ca từ của Taupin thì không đếm xuể. Họ kế thừa tinh thần hợp tác từ bộ đôi huyền thoại Lennon/McCartney của nhóm The Beatles trong các album Elton John (1970), Goodbye Yellow Brick Road (Tạm biệt con đường lát gạch vàng, 1973), Too Low for Zero (Quá thấp ngưỡng số Không, 1983), The One (1992). Khác với Lennon/McCartney, khán giả biết rõ vai trò John/Taupin trong các ca khúc kinh điển như Your Song (Bài hát cho em) thập niên 1970, Nikita thập niên 80 và The One thập niên 90. Thành công của John và Taupin luôn đặt ra câu hỏi muôn thuở: Nhạc hay lời, cái nào quan trọng hơn?

Mặc dù Taupin khá chìm và đứng lùi vào hậu trường so với John, giới phê bình và khán giả yêu nhạc luôn đề cao giá trị thơ ca trong âm nhạc Elton John. Không dễ để tách riêng giá trị đơn lẻ của nhạc và lời trong những bản nhạc như Don’t let the sun go down on me (Đừng để mặt trời lặn trong mắt em) hay Sorry seems to be hardest words (Xin lỗi là ngôn từ khó khăn nhất).

Sự cộng hưởng giữa nhạc sỹ và thi sỹ tài năng luôn vượt mọi toan tính. Ngạc nhiên hơn, họ làm việc khá độc lập để hoàn thiện tác phẩm. Phim tài liệu Two Rooms (Hai căn phòng, 1991) đã mô tả cách nhạc sỹ và thi sỹ John và Taupin. Theo đó, Taupin tự sáng tác lời theo ý mình, sau đó John sẽ ghép lời thơ vào nhạc. Tương tự, John sáng tác nhạc dựa trên ý thơ của Taupin nhưng cả hai cùng phối hợp chặt chẽ hơn. Taupin cùng xuất hiện với John trong studio khi ca khúc được viết và ghi âm. Nhờ sự kết hợp tinh tế vậy, bản nhạc Your Song (Bài hát cho em) vẫn có sức sống bất tận xuyên thời gian gần 50 năm.

I sat on the roof and kicked off the moss ; Well, a few of the verses, well, they've got me quite cross ; But the sun's been quite kind while I wrote this song ; It's for people like you that keep it turned on ; So excuse me forgetting, but these things I do ; You see I've forgotten if they're green or they're blue ; Anyway the thing is what I really mean ; Yours are the sweetest eyes I've ever seen.

Anh ngồi trên mái nhà, giẫm lên rêu phong ; Một vài khổ thơ khiến anh nhầm lẫn ; Mặt trời khá tử tế khi anh viết bài ca này ; Bởi vì nó dành cho em, người luôn giữ cho ánh nắng tràn ngập ; Xin lỗi em nếu anh đã quên nhưng không thể quên những gì anh làm ; Vì em sẽ hiểu anh chỉ quên màu sắc là xanh lá cây hay xanh dương ; Dẫu sao anh chỉ muốn nói rằng Đôi mắt em là đôi mắt ngọt ngào nhất anh từng thấy.

Câu chuyện dài kỳ về hợp tác nửa thế kỷ

Cả hai nghệ sỹ giờ đều ở tuổi thất thập: Taupin tuổi 71 và John đã sang tuổi 74. Nhìn lại quãng đường hợp tác của họ như một cuốn truyện dài kỳ bất chấp khoảng cách về giáo dục, địa lý, tính cách. Taupin sinh ra trong gia đình nông dân ở ngoại ô Lincolnshire, trong khi John nuôi dưỡng trong gia đình danh giá, có truyền thống âm nhạc. Bố John là người chơi kèn trumpet cho Không lực Hoàng Gia (Royal Air Force). Một điểm thú vị khác là bảng điểm môn văn kém ấn tượng của Taupin dường như không liên quan tới những áng thơ xuất sắc của ông. Chuyển sang nghề báo không thành công, cuối cùng Taupin lại bén duyên với âm nhạc của John.

Thành công đến với John/Taupin từ năm 1970 ở độ tuổi trẻ sung sức nhờ các ballad Your Song, Tiny Dancer, Rocket Man, Crocodile Rock. Năm 1977, bộ đôi ngừng hợp tác vì áp lực biểu diễn và các vấn đề nghiện ngập của John. Taupin cũng trải qua cuộc sống ăn chơi, sa đọa mặc dù lui vào ở ẩn. Ông sớm chuyển tới California sau cuộc hôn nhân đổ vỡ và sống ở đó đến tận bây giờ. Khoảng cách địa lý không thể chia rẽ cái duyên âm nhạc giữa họ. Taupin cố gắng ra mắt album riêng năm 1980 và viết nhạc cho các nghệ sỹ khác như Starship. Nhưng ông không trốn thoát được cái bóng khổng lồ của Sir Elton John. Taupin và John nối lại hợp tác vào năm 1983 và sau đó các album thập niên 1990s như The One. Điểm chung giữa họ là không bao giờ muốn sáng tác bản nhạc hit lừng lẫy mà phải là câu chuyện xứng tầm. Ngoại trừ việc gợi ý tựa đề, họ thỏa sức vẫy vùng trong vùng đất sáng tạo của riêng mình, thơ ca hoặc âm nhạc. Quy luật bù trừ được áp dụng vì mỗi người tìm thấy nhạc trong thơ và ngược lại.

I saw you dancing out the ocean ; Running fast along the sand ; A spirit born of earth and water ; Fire flying from your hands ; In the instant that you love someone ; In the second that the hammer hits ; Reality runs up your spine ; And the pieces finally fit ; And all I ever needed was the one ; Like freedom fields where wild horses run ; When stars collide like you and I ; No shadows block the sun ; You're all I've ever needed ; Baby you're the one.

Anh thấy em khiêu vũ trên đại dương ; Lướt nhanh trên mặt cát ; Tinh thần như trộn lẫn đất và lửa ; Ngọn lửa bốc cháy từ bàn tay em ; Như em đang yêu anh đó ; Trong giây phút búa gõ xuống ; Thực tại chạy trong từng đốt xương sống ; Từng mảnh khớp lại với nhau ; Đó là tất cả những gì anh cần ; Như cánh đồng tự do nơi những chú ngựa hoang dã chạy ; Khi những vì sao va chạm nhau khi anh gặp em ; Bóng đêm không thể che khuất ánh mặt trời ; Em là tất cả những gì anh cần ; Em là người duy nhất.

Có ý kiến cho rằng lời thơ của Taupin đã biến John thành một siêu sao nhưng ông chưa bao giờ được đền bù xứng đáng với tài năng. Đáp trả điều này, John cho rằng hai người luôn đọc được thông điệp sáng tạo của nhau. Trong album Captain Fantastic and the Brown Dirt Cowboy (1975), John ca ngợi hết lời về Taupin: “Mọi ca từ trong album đều nói về Taupin và tôi, những trải nghiệm sáng tác để biến chúng thành những bài hát đáng nhớ. Tôi khóc khi hát chúng. Tôi thực sự “yêu” Taupin, không phải theo nghĩa dục tính. Đó là người tôi tìm kiếm cả đời, người bạn tri kỷ âm nhạc (soul mate)”.

Trái ngược với John,Taupin lựa chọn một cuộc sống âm nhạc pop/rock kín tiếng, ẩn mình sau cánh gà hơn là phô diễn trên sâu khấu. Trải qua bốn lần kết hôn, ông cũng từng sa vào nghiện ngập cocaine, rượu như John. Tuy nhiên, Taupin chỉ sáng tác khi hoàn toàn tỉnh táo. Bộ đôi Taupin/John cho thấy không bao giờ đánh giá thấp con người nếu chỉ nhìn vào bảng điểm hay bề nổi. Khi nhà thơ và nhạc sỹ tâm đầu ý hợp, họ tạo nên một sức mạnh không ngờ.

(Theo Time, AllMusic, The Guardian, Rollingstone, Biography)

viethoaiphuong
#592 Posted : Wednesday, June 2, 2021 1:34:26 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Danh ca Mỹ BJ Thomas qua đời ở tuổi 78

Tuấn Thảo - RFI- 31/05/2021
Có những giọng ca mà khán thính giả không nhớ rõ gương mặt nhưng bài hát nghe lại rất quen thuộc, do giai điệu thường xuyên được khai thác nhiều trong dòng văn hóa đại chúng. Ca sĩ người Mỹ BJ Thomas thuộc vào thành phần này. Ông qua đời tối hôm 29/05/2021 vừa qua vì bệnh ung thư tại Arlington, bang Texas, hưởng thọ 78 tuổi.

Theo tuần báo chuyên ngành Variety, BJ Thomas rốt cuộc đã qua đời sau nhiều tháng chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo. Hồi tháng 03/2021, ông đã chính thức loan tin nhắn trên mạng xã hội rằng ông mắc bệnh ung thư phổi. Đỉnh cao sự nghiệp của BJ Thomas là vào cuối những năm 1970, chỉ trong vòng 4 năm từ năm 1977 đến năm 1981, ông đoạt 5 giải Grammy dành cho giọng ca xuất sắc nhất trong thể loại gospel và nhạc tôn giáo.

Tên thật là Billy Joe Thomas, ông sinh năm 1942 tại bang Oklahoma và lớn lên tại vùng ngoại ô thành phố Houston, bang Texas. Thời niên thiếu, ông thường tham gia vào các dàn đồng ca chuyên hát trong các thánh lễ nhà thờ, điều đó giải thích vì sao ông giành được sau đó nhiều giải thưởng âm nhạc, khi ông rời dòng nhạc country và pop để tìm lại niềm đam mê hát thánh ca trong những năm tháng đầu đời.

Giọng ca đoạt một giải Oscar và 5 giải Grammy

Khi mới vào nghề ca hát, BJ Thomas tham gia vào ban nhạc trẻ Thomas & The Triumphs. Cùng với nhóm này, ông gặt hái thành công đầu tiên vào năm 1966 nhờ cover lại tình khúc "I'm so lonesome I could cry" của ca sĩ country Hank Williams. Phiên bản của BJ Thomas mang sắc thái của nhạc folk nhiều hơn là nhạc đồng quê, nhờ vậy mà đạt tới mức một triệu bản. Hai năm sau, BJ Thomas lặp lại thành tích này với ca khúc ''Hooked on a Feeling'' năm 1968. Nhưng giai điệu ăn khách nhất của giọng ca này khi ông bắt đầu sự nghiệp hát solo vẫn là nhạc phẩm ''Raindrops Keep Fallin' on My Head''.

Bài hát này do cặp bài trùng Burt Bacharach và Hal David sáng tác vào năm 1969. Hai tác giả này gặp BJ Thomas qua lời giới thiệu của cô bạn đồng nghiệp Dionne Warwick, cả hai ca sĩ đều ký hợp đồng ghi âm với cùng một hãng đĩa Scepter Records. Hai tác giả Burt Bacharach và Hal David lúc bấy giờ đang ở trong giai đoạn soạn nhạc cho bộ phim "Butch Cassidy and the Sundance Kid" với hai ngôi sao màn bạc Paul Newman và Robert Redford trong vai chính. Vấn đề là ca khúc chủ đề bộ phim tuy được viết xong, nhưng đã bị hai danh ca thời bấy giờ là Bob Dylan và Ray Stevens từ chối. Thời hạn phát hành khá gấp rút khiến cho hai đồng tác giả tính đến chuyện ghi âm giai điệu thành một bản nhạc hòa tấu không lời, thay vì phải nhờ đến ca sĩ. Cũng may cho hai nghệ sĩ này là họ không bị khước từ thêm một lần nữa. Phiên bản của BJ Thomas lập kỷ lục số bán sau khi bộ phim thành công rực rỡ trên màn ảnh lớn.

Nhân kỳ trao giải Oscar, bộ phim "Butch Cassidy and the Sundance Kid" sẽ đoạt 4 giải thưởng quan trọng trong đó có Oscar dành cho kịch bản và Oscar dành cho ca khúc nguyên tác xuất sắc nhất. Nhờ vào sự hợp tác ấy mà hai tác giả Burt Bacharach và Hal David lần đầu tiên có ca khúc cán mốc một triệu bản chỉ trong tháng đầu tiên phát hành trên thị trường. Về phía BJ Thomas, giọng ca này được nâng thêm một bậc, tên tuổi của ông vượt ra ngoài biên giới Hoa Kỳ. Đầu năm 1970, ca khúc chủ đề ''Raindrops Keep Fallin' on My Head'' nhờ giai điệu lạc quan yêu đời, đã giành lấy vị trí quán quân trên thị trường Mỹ, Canada, Na Uy, Hà Lan ….. Bài hát này sau đó cũng được dịch sang nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Đức, Ý, Tây Ban Nha hay là Pháp. Khán thính giả ở Pháp chủ yếu biết đến ca khúc này nhờ phiên bản ''Toute la pluie tombe sur moi'' ăn khách qua giọng ca crooner của Sacha Distel.

Đức tin xuyên suốt trong giai đoạn nhì sự nghiệp

Đỉnh cao sự nghiệp của BJ Thomas chỉ kéo dài trong vòng một thập niên. Vầng hào quang của giọng hát này bắt đầu lu mờ từ những năm 1980 trở đi trong làng nhạc pop. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục đi hát và chuyển sang hoạt động từ thiện, BJ Thomas ít còn xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu ca nhạc hay truyền hình, ngược lại trong giai đoạn nhì của sự nghiệp, ông lại khá tích cực trong các sinh hoạt văn hóa của hội truyền giáo phúc âm. Bên cạnh đó, ông cũng thường xuyên đi biểu diễn cùng với nhóm Roy Head &The Traits. Trong khuôn khổ các vòng lưu diễn, BJ Thomas đã có dịp tái hợp trên sân khấu với các bạn cũ là nhóm The Triumphs.

Lúc sinh tiền, BJ Thomas đã ghi âm trên dưới 40 album trong khá nhiều thể loại kể cả pop, folk, country hay gospel. Sau khi bán hơn 70 triệu đĩa hát, BJ Thomas để lại dấu ấn sâu đậm trong làng nhạc quốc tế chủ yếu nhờ vào các ca khúc ghi âm vào những năm 1970. Giới trẻ thời nay ít biết BJ Thomas là ai nhưng hẳn chắc các bạn đã từng nghe qua các giai điệu của ông ít nhất một lần trong đời. Ca khúc của BJ Thomas thường hay được khai thác qua phim ảnh hay quảng cáo, và nhờ vậy mà dễ đi vào dòng văn hóa đại chúng.

Tình khúc "Hooked On A Feeling" là một trường hợp tiêu biểu, bài hát này lần đầu tiên ăn khách với giọng ca của BJ Thomas năm 1968 và sau đó lại thành công một lần nữa qua nhiều phiên bản cover, trong đó có ban nhạc Thụy Điển Blue Swede giành hạng đầu thị trường Hoa Kỳ vào năm 1974. Bài hát này từng được khai thác trong bộ phim "Reservois Dogs" (1992) của đạo diễn Quentin Tarantino và nhất là trong tập nhì của "Vệ Binh dải Ngân hà" (Guardians of the Galaxy II) của đạo diễn James Gunn, với những bước nhảy khôi hài quái chiêu của nhân vật Star-Lord, đã giúp cho các ca khúc xưa (old school) từ thế kỷ trước, nay thịnh hành trở lại.

BJ Thomas trên danh sách 100 nhạc phim hay nhất

Còn nhạc phẩm ''Raindrops Keep Fallin' on My Head'' liên tục xuất hiện trong nhiều lãnh vực khác nhau, chẳng hạn như trong phần nhạc nền minh họa một tập phim hoạt hình "The Simpsons" của tác giả Matt Groening. Giai điệu này cũng xuất hiện trong bộ phim "Forrest Gump" hoặc là "Spider-Man 2" phiên bản với Tobey Maguire trong vai chính trước ống kính của đạo diễn Mỹ Sam Raimi.

Sau khi giành được giải Oscar năm 1970 dành cho ca khúc hay nhất ghi âm cho bộ phim "Butch Cassidy & the Sundance Kid", nhạc phẩm ''Raindrops Keep Fallin' on My Head'' vào năm 2004 lại được bình chọn làm một trong những ca khúc nhạc phim hay nhất thế kỷ. Theo bảng xếp hạng ''100 Years ..... 100 Songs'' của Viện phim ảnh Hoa Kỳ AFI (American Film Institute), nhạc phim này đứng hạng 24 trên số 100 bộ phim Mỹ trong vòng một thế kỷ qua.

Nửa thế kỷ sau ngày ra đời, bản nhạc ''Raindrops Keep Fallin' on My Head'' đã có hàng trăm phiên bản khác nhau và đến năm 2013 trên album studio "The Living Room Sessions", BJ Thomas đã ghi âm lại ca khúc này với một lối hoà âm phối khí mộc mạc khác thường. Người nghệ sĩ ra đi thảnh thơi, nhẹ nhàng lìa xa cõi đời, mặc cho trên mái đầu bao hạt mưa cứ rơi.


viethoaiphuong
#593 Posted : Saturday, June 5, 2021 7:39:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Madonna - Madam X, hay bà ngoại nhạc Pop

Gia Trình - RFI - 05/06/2021
Madonna không phải là cái tên xa lạ trong làng âm nhạc. Thập niên 1980, cô được gọi là công chúa nhạc pop, và giờ công chúa nhạc pop bước sang tuổi bà ngoại. Tên tuổi Madonna luôn gắn với hỉ, nộ, ái, ố xuyên suốt sự nghiệp. Nhưng bà hoàng nhạc pop luôn đưa khán giả từ bất ngờ này sang bất ngờ khác.

Truyền thông scandal

Nếu nói Madonna là một biểu tượng quyền lực nhạc pop thì không hề phóng đại. Số lượng đĩa hát tiêu thụ hơn 300 triệu bản, đồng thời cô là cỗ máy kiếm tiền kỷ lục, hơn 1,5 tỷ đô la nhờ các tour lưu diễn. Khác với ngôi sao cùng thời Micheal Jackson, Madonna không bị nhấn chìm trong các scandal cá nhân phức tạp. Được coi là biểu tượng sex phóng túng, cô không bị quật ngã bởi đại dịch AIDS như Freddie Mercury nhóm Queen. Trái lại, bà hoàng nhạc pop luôn làm chủ cuộc chơi đầy tính toán với scandal, biểu tượng sex hơn là thú tiêu khiển.

Không có Madonna, chưa chắc chúng ta có thể thấy Beyonce, Lady Gaga, Britney Spears làm mưa làm gió trên sân khấu ca nhạc như hôm nay. Cách Madonna phô diễn cơ thể kết hợp thời trang dị hợm vẫn là sách giáo khoa cho Beyonce hay Lady Gaga. Đối với Madonna, cô bị ám ảnh nhất bởi hai yếu tố: sex và tôn giáo. Đây là hai mũi nhọn scandal để nữ hoàng nhạp pop khai thác triệt để nhằm quảng bá tên tuổi của cô.

Album Erotica (1992) là album trực diện nhất khai thác đề tài tình dục Madonna tấn công làng giải trí. Cho đến giờ, đây vẫn là album đầy tính cách mạng mà chưa nghệ sỹ nào dám thực hiện. Cô đã dũng cảm biến thứ hàng hóa cấm kỵ gói ghém trong âm nhạc thành món ăn lạ gu nhất. Quan trọng hơn, những tầng lớp khán giả bị bỏ quên như người da đen, da màu, đồng tính đều trở thành fan cuồng của Madonna.

Về góc độ tôn giáo, cô thách thức khán giả bằng album Like A Prayer (1989). Hình ảnh cô mặc quần áo ngủ, nhảy nhót giữa rừng thánh giá đốt cháy như châm ngòi nổ với các tín đồ Thiên Chúa giáo. Hơn thế nữa, trong video clip, hình ảnh bức tượng Chúa da màu nhỏ lệ trước sắc đẹp của Madonna như đổ thêm dầu vào lửa. Album Like A Prayer được đánh giá là album xuất sắc của cô trên nhiều khía cạnh: âm nhạc, nội dung. Hợp tuyển âm nhạc xoáy vào chủ đề tôn giáo mà hầu hết các nghệ sỹ đều né tránh. Có lẽ Madonna học hỏi được sự kiêu ngạo và bản lĩnh của John Lennon khi ông từng tuyên bố “The Beatles còn nổi tiếng hơn cả Chúa Jesus”.

Dẫn đầu xu thế thay đổi trước một thập kỷ

Bà ngoại nhạc pop là một khối đa diện khổng lồ vì tốc độ biến hóa không ngừng. Một trinh nữ, một vũ công, một người đàn bà vật chất, một thứ đồ chơi cho nam giới, một nữ hoàng sàn nhẩy, một người mẹ hiền thục, ngôi sao yoga. Madonna biết cách gây bất ngờ cho khán giả bằng sản phẩm mới mẻ, ý tưởng lạ do không ngừng thay đổi và học hỏi. Đó là khí chất nổi bật nhất trong suốt sự nghiệp tỷ đô la của cô. Vì vậy, nhàm chán và lặp lại bản thân có lẽ không có trong từ điển bộ não cô. Về mặt âm nhạc, Madonna không ngừng thử nghiệm nhiều thể loại mới mẻ: từ pop, dance, R&B, funk, rock, electronica, techno. Nhưng thế mạnh chủ đạo là dance/pop vì khắc phục điểm yếu giọng hát và làn hơi ngắn.

Cô hợp tác nhiều nhà sản xuất để khai phá những chất liệu mới, từ chất pop ngọt ngào của Patrick Leonard đến chất electro-pop của William Orbit. Quả thực, Madonna luôn đi trước xu thế bùng nổ ít nhất khoảng 10 năm.

Năm 1998, Latin Pop sáng chói sau cơn bão mà Ricky Martin tạo ra hiệu ứng bằng bản hit tiếng Tây Ban Nha Living Da Vida loca. Mười hai năm trước, Madonna từng khám phá giai điệu tuyệt đẹp của latin bằng ca khúc La Isla Bonita trong album True Blue (1986). Năm 2005, cô là người tiên phong làm mới nhạc ABBA bằng thể loại dance, disco, electronica trước cơn sốt từ bộ phim bom tấn Mamma Mia (2008). Theo gót Madonna, Cher cũng thực hiện album cover nhạc ABBA, Dancing Queen 13 năm sau đó.

Theo xu thế dẫn đường của Madonna, cơn sốt disco đã quay trở lại vào 15 năm sau nhờ các ngôi sao trẻ như Dua Lipa. Xét một cách tổng quan, bà ngoại nhạc pop có giác quan cực nhạy bén phát hiện những mảnh đất màu mỡ nhất mà hiếm nghệ sỹ nào nhận ra.

Biểu tượng nhạc pop bền vững

Không chỉ dẫn đầu xu thế, Madonna chứng minh cho khán giả sự bền vững của âm nhạc của cô theo năm tháng. Ở tuổi 54, màn trình diễn của Madonna đủ sức đốt cháy khán đài SuperBowl vào năm 2012 nhờ các bản hit trải qua hơn bốn thập kỷ. Những ngôi sao cùng thời với Madonna như Mariah Carey, hầu hết lặng sóng hoặc không còn giữ phong độ đỉnh cao nữa. Trái lại, Madonna vẫn ngập sức sáng tạo. Yếu tố thời gian khiến người nghe nhận ra giá trị tiên phong trong âm nhạc của Madonna. Cô là người dự báo xu thế nhờ bản năng và nhạc cảm tuyệt vời. Tuy nhiên, Madonna lại bị giới phê bình thờ ơ, đánh giá thấp trong thời gian dài. Trong các album như nhạc phim Evita (1996), I’m Breathless (1990), cô khai phá và thể nghiệm thể loại nhạc kịch Broadway đều chỉ xếp hạng giải trí đơn thuần.

Phải đến album Ray of Light (1998) thì tài năng của Madonna mới được giới phê bình đón nhận. Với tâm điểm nhạc điện tử, electronica, chất liệu âm nhạc lôi cuốn với nhiều ballad đẹp, ca từ ý nghĩa như Frozen, Drowned World, The power of goodbye. Album được đánh giá cao về chất lượng cũng như nội dung mới mẻ mà Madonna đem lại, đặc biệt trải nghiệm khi trở thành mẹ. Giới phê bình suy nghĩ nghiêm túc hơn về vai trò của nữ hoàng nhạc pop. Không có Madonna, thể loại funk, dance của bản nhạc Vogue hay Secrets sẽ mãi chìm trong bóng tối, chỉ dành cho người da đen ở khu ổ chuột. Biểu tượng sex đã biết kết hợp hình ảnh scandal và âm nhạc để khai phá khoảng trống tiềm năng của thị trường âm nhạc.

Madam X hay nhân tố bí ẩn X

Bản thân Madonna có thể tự sáng tác, chơi guitar, tham gia sản xuất. Do vâỵ, chất lượng album nhạc của cô không phó mặc toàn bộ cho nhà sản xuất. Không quá ngạc nhiên nếu Madonna biến hình từ Evita Peron thành Madam X trong album mới nhất 2019. Một Madam X đa nhân cách, tắc kè hoa, một vũ công, giáo sư, người đứng đầu nhà nước, một quản gia.

Trong album, Madonna không chỉ hát tiếng Anh mà còn tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha do hợp tác với nhạc sỹ, ca sỹ Maluma người Colombia. Cô muốn nhấn mạnh vào môi trường đa văn hóa, sắc tộc trong cuộc sống hiện tại ở Lisbon. Ngoài Maluma, cô còn hợp tác với nhiều nghệ sỹ Brazil khác như Swae Lee, Quavo.

Thế giới nhạc pop đã thay đổi chóng mặt theo công nghệ. KPop lên ngôi, đe dọa sự thống trị của pop Anh, Mỹ, streaming music soán ngôi của đĩa CD. Vậy bà ngoại nhạc pop đang ở đâu trong cơn bão dịch chuyển đó ? Madonna vẫn mãi là ẩn số X, vì cô là người am hiểu thị trường hơn bất cứ tân binh nào.

(Theo AllMusic, Rollingstone, The Guardian)


viethoaiphuong
#594 Posted : Tuesday, June 8, 2021 2:04:23 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Trung tâm Pompidou của Pháp mở chi nhánh gần New York

Tuấn Thảo - RFI - 08/06/2021
Trung tâm Pompidou của Pháp sẽ mở chi nhánh gần New York. Nói cho chính xác hơn là bảo tàng này sẽ được khánh thành tại Jersey City, nằm đối diện với Lower Manhattan, cách phía nam thành phố New York chỉ khoảng 6 cây số. Đây là lần thứ năm, theo thông báo hôm 04/06 của ban giám đốc, Trung tâm Pompidou hợp tác với nước ngoài, nhưng đây lại là lần đầu tiên trung tâm văn hoá này của Pháp mở ''chi nhánh'' tại châu Mỹ.

Trung tâm văn hóa Pompidou tiếp tục chính sách ''xuất khẩu'' thương hiệu của mình. Sau khi hợp tác với các thành phố Metz (Pháp), Malaga (Tây Ban Nha), Bruxelles (Bỉ), hay Thượng Hải (Trung Quốc), Bảo tàng nghệ thuật hiện đại của Paris trực thuộc Trung tâm Pompidou, còn được gọi là Beaubourg, sẽ khai trương vào năm 2024 một khu vực triển lãm tại thành phố Jersey, được xem như là vùng phụ cận New York.Thành phố ngoại ô này nằm trên bờ phía tây của dòng sông Hudson và ở phía nam thị trấn Hoboken (nguyên quán của Frank Sinatra).

Cuộc phiêu lưu mới tại một thành phố đầy tiềm năng

Theo lời ông Serge Lasvignes, giám đốc Trung tâm Pompidou, trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại, nước Mỹ đóng một vai trò chủ chốt, về mặt tầm cỡ thị trường cũng như uy tín quốc tế của các bảo tàng và phòng triển lãm. Đã từ lâu, Trung tâm Pompidou đi tìm đối tác địa phương để du nhập vào nước Mỹ. Về điểm này, Jersey City trước kia là một thành phố công nghiệp, bắt đầu chuyển mình từ những năm 1980 và nay đang nhắm tới việc phát triển thêm du lịch văn hóa. Sau khi tiếp xúc với hội đồng thành phố Jersey, theo giới thiệu của văn phòng kiến trúc OMA, ban giám đốc đã ký thỏa thuận hợp tác với Jersey City, một thành phố đầy tiềm năng, nhưng hiện vẫn chưa có viện bảo tàng nổi tiếng, tựa như một trang giấy trắng chờ đón những dòng chữ ghi khắc mới, hay các dấu ấn sáng tạo quan trọng.

Sự lựa chọn của Trung tâm Pompidou khá táo bạo, nhưng cũng đầy rủi ro. Về mặt địa lý, thành phố New York (Manhattan) vẫn thuận lợi hơn, dễ kết nối vận chuyển cho dù trên lãnh vực triển lãm nghệ thuật đã có khá nhiều bảo tàng danh tiếng. Ngoài hai cơ sở lớn về nghệ thuật đương đại là viện bảo tàng MoMA và Whitney, thành phố New York còn có thêm bộ sưu tập đương đại của Bảo tàng Metropolitan và bảo tàng Guggenheim. Như vậy, dù muốn hay không, Trung tâm Pompidou của Pháp, một khi đặt chân lên đất Mỹ, sẽ phải lấn sân các bảo tàng này.

Trong khi đó, thành phố Jersey thu hút ngày càng nhiều nghệ sĩ đến lập nghiệp trong những năm gần đây, trước tình trạng giá thuê nhà không ngừng tăng vọt ở New York. Đổi lại, khi chọn một thành phố ít có cơ sở nghệ thuật như Jersey City, Trung tâm Pompidou chẳng những phải khai thác uy tín của mình, mà còn tạo dựng nhiều cuộc triển lãm có sức thu hút cao. Theo thỏa thuận hợp tác, phía thành phố Jersey sẽ chịu trách nhiệm về việc thành lập địa điểm, quản lý cơ sở hạ tầng và chịu các chi phí hoạt động. Còn phía Trung tâm Pompidou cung cấp các kỹ năng chuyên môn, cho mượn các bộ sưu tập nghệ thuật và quảng bá thương hiệu.

Dự án trùng tu nhà ga hơn 100 tuổi thành bảo tàng

Theo dự kiến, thành phố Jersey sẽ thiết lập một không gian mới qua việc tái tạo thay vì xây dựng từ đầu. Không gian triển lãm này sẽ được dành cho các bộ môn nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, thiết kế và biểu diễn sân khấu. Trung tâm Pathside, một tòa nhà rộng khoảng 5.400 mét vuông trước đây là một nhà ga xe điện, từng được xây cất vào năm 1912. Theo thống đốc bang New Jersey, ông Phil Murphy, trung tâm triển lãm này có tham vọng trở thành một trong những tụ điểm văn hóa quan trọng nhất ở Bắc Mỹ. Nếu thành công, trung tâm sẽ giúp nâng cao uy tín của Jersey City và đồng thời là một đòn bẩy kinh tế bằng cách tạo thêm việc làm và phát triển ngành du lịch.

Với khoảng 3,5 triệu lượt khách tham quan hàng năm, Trung tâm văn hóa Pompidou hiện đứng hàng thứ ba trên danh sách các bảo tàng có uy tín nhất tại Pháp, chỉ sau hai Viện bảo tàng Louvre và bảo tàng Orsay. Được khánh thành vào năm 1977, Trung tâm Pompidou (còn được gọi là Beaubourg) nổi tiếng nhờ bộ sưu tập nghệ thuật đương đại nhất nhì ở châu Âu, gồm hơn 120.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó chỉ có 6.000 tức 5% được trưng bày thường trực và khoảng 8.000 tác phẩm khác được cho mượn theo hợp đồng tại các cuộc triển lãm ở nước ngoài.

Do chỉ khai thác một phần rất nhỏ trong bộ sưu tập quý giá của mình cho nên trong những năm gần đây, các bảo tàng lớn của Pháp như Louvre hay Pompidou bắt đầu khai thác một số tác phẩm ''tồn kho'' thông qua hình thức hợp tác hay xuất khẩu thương hiệu. Việc khai thác uy tín và hình ảnh để sinh lợi cũng được Bộ Văn hóa Pháp khuyến khích trong khoảng hai thập niên gần đây.

Pompidou hợp tác thêm với nước ngoài trong thời gian đóng cửa

Theo lời cô Cécile Anger, chuyên gia nghiên cứu về luật tại đại học Sorbonne và đồng thời là trưởng ban quản lý thương hiệu của lâu đài Chambord, do nhà nước ngày càng cắt giảm các khoảng trợ cấp văn hóa, các viện bảo tàng, cũng như các lâu đài, hay di sản kiến trúc Pháp phải tìm cách hợp tác với các vùng miền địa phương, hay với nước ngoài để tăng thêm nguồn doanh thu.

Tuy nhiên, chỉ có các cơ sở văn hoá lớn, chẳng những nổi tiếng ở cấp quốc tế, mà còn có những bộ sưu tập tác phẩm nghệ thuật đa dạng phong phú, mới hy vọng dễ tìm thấy nhiều đối tác ở nước ngoài. Trong trường hợp của Trung tâm Pompidou, thỏa thuận hợp tác với Jersey City là một thành quả sau nhiều năm thăm dò thị trường và tính khả thi của dự án. Cho dù hợp tác thương hiệu cũng gặp phải một số giới hạn rõ ràng : việc cho mượn tác phẩm để trưng bày tại những nơi khác hay cho mượn tên (hay thương hiệu) chủ yếu để quảng cáo bán hàng, cũng thường bị chỉ trích và đôi khi đặt ra vấn đề : tác phẩm có còn phục vụ nghệ thuật (Ars Gratia Artis), hay đã được biến thành một sản phẩm kinh doanh.

Thỏa thuận hợp tác giữa Pompidou và Jersey City cũng rơi vào một thời điểm khá quan trọng. Trung tâm văn hóa Pompidou chuẩn bị đóng cửa toàn bộ cơ sở tại Paris trong 3 năm để trùng tu, và như vậy chủ yếu tiếp tục làm việc thông qua hợp tác với các dự án ở nước ngoài. Chi nhánh Pompidou ở thành phố Jersey, Hoa Kỳ, sẽ được đưa vào hoạt động đầu năm 2024, trong khi Trung tâm Pompidou tại Paris sẽ được mở lại vào năm 2027, đúng vào thời điểm kỷ niệm 50 năm ngày được thành lập.


viethoaiphuong
#595 Posted : Monday, June 14, 2021 12:34:13 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)


Bộ truyện tranh Astérix ra mắt phần tiền truyện Idéfix

Tuấn Thảo - RFI - 14/06/2021
Giới ghiền đọc truyện tranh, còn được người Pháp gọi là nghệ thuật thứ 9, đều ít nhiều biết đến chú chó láu lỉnh Idéfix, người bạn đồng hành trung thành nhất của hai anh hùng gô loa Astérix và Obélix. Kể từ ngày 16/06/2021, chú chó con màu trắng có đốm đen trên tai sẽ trở thành một nhân vật chính hẳn hoi trong một bộ truyện mới.

Mang tựa đề ''Idéfix et les Irréductibles'' (tạm dịch Idéfix và những kẻ bất khuất), tác phẩm này sẽ là tập đầu tiên được phát hành trong một bộ truyện dài gồm nhiều tập, theo thông báo chính thức hôm 10/06 vừa qua của nhà xuất bản Albert-René. Nhà xuất bản này do hai tác giả quá cố Albert Uderzo và René Goscinny đồng sáng lập. Hai họa sĩ nổi tiếng từng khai sinh nhân vật anh hùng gô loa Astérix vào năm 1959 qua một bộ truyện dài đăng nhiều kỳ trên tuần báo Pilote, phát hành tại hai nước Bỉ và Pháp, dành riêng cho giới hâm mộ thế giới truyện tranh.

Chuyến phiêu lưu đầu tiên của chú chó tí hon

Do hai tác giả Jean Bastide và Philippe Fenech thực hiện, cả kịch bản lẫn hội họa, tuyến truyện với nhân vật Idéfix diễn ra vào năm 52 trước Công nguyên, khi quân đội La Mã của hoàng đế César chinh phục xứ Gaule và chiếm đóng Lutèce (Lutetia), tên gọi thời xưa của Paris, khi thành phố hoa lệ còn là một hòn đảo tí hon, giữa chốn đầm lầy chưa được khai hoang. Vào lúc các tộc trưởng đua nhau hàng phục Đế chế La Mã, thì chú chó láu lĩnh nhanh nhẹn Idéfix cùng với một nhóm bạn ''bốn chân'' ở làng Lutèce vẫn không chịu khuất phục trước ách cai trị của đoàn quân hùng mạnh.

Hầu như vào cùng một thời điểm, một ngôi làng ở mũi cực tây vùng Bretagne, nguyên quán của hai anh hùng Astérix và Obélix, cũng kháng cự lại thế mạnh áp đảo đội quân xâm chiếm. Để bảo vệ ngôi làng trước đà thẳng tiến của ngàn quân La Mã, pháp sư Panoramix (một dạng thầy phù thủy theo truyền thống dân gian celtic) đã chế ra một loại thần dược mà người gô loa chỉ cần uống một ngụm thôi, là cũng đủ sức quật ngã vạn quân, đánh bay ''mất dép''. Nhờ thần dược ban sức mạnh vô song ấy mà Astérix (cũng như nhân vật Obélix từng té ngã vào nồi thuốc thần từ khi còn bé) trở nên ''hung thần'' áp đảo phe tà, gây khiếp đảm cho binh đoàn La Mã.

Khai thác nhân vật mới trên cùng một công thức

Tuy diễn ra hầu như vào cùng một thời, nhưng tuyến truyện của nhân vật Idéfix vẫn kết hợp hai yếu tố tiền truyện và ngoại truyện. Tiền truyện vì cuộc phiêu lưu của chú chó Idéfix diễn ra vài năm trước khi nhân vật này trở thành người bạn trung thành nhất của Obélix và sau đó nữa mới cất bước đồng hành với anh hùng Astérix. Đối với các độc giả am tường thế giới truyện tranh Astérix, chú chó chỉ xuất hiện trong tập thứ 5 của bộ truyện dài nhiều tập này, khi Astérix và Obélix mạo hiểm phiêu lưu vòng quanh xứ Gaule. Tính tổng cộng, đã có 38 truyện tranh được phát hành và tập thứ 39 của Astérix sẽ được cho ra mắt vào mùa thu năm nay.

Ngoại truyện vì khai thác nhiều nhân vật mới, chủ yếu là các loài thú bốn chân ''biết nói'', giúp cho chú chó trắng nhỏ con nhưng đầy gan dạ, liều lĩnh nhưng khôn ngoan, hứa hẹn nhiều chuyến phiêu lưu thú vị, đầy khám phá bất ngờ, nhờ tình bạn mà vượt qua thử thách gian nan. Khi sáng tác tập truyện này, hai tác giả Jean Bastide và Philippe Fenech đã cố gắng giữ tính trung thành với tư tưởng của hai bậc thầy Albert Uderzo & René Goscinny. Tình huống khôi hài, cách chơi chữ dí dỏm, với nhiều ngụ ý dành cho nhiều đối tượng kể cả độc giả nhỏ tuổi cũng như lớn tuổi.

Giới ghiền truyện tranh Astérix lần này được dịp làm quen với nhiều nhân vật mới, những người xem trẻ tuổi sẽ làm quen với mèo Baratine bên cạnh nhân vật nữ quen thuộc Bonemine, ngoài ra còn có các chú chó Padgachix, chim bồ câu Asmatix bên cạnh các nhân vật như Goudurix, Amérix và nhất là tộc trưởng gô loa Abraracourcix, từng ra đời trước đó từ trí tưởng tượng của Albert Uderzo và René Goscinny.

Truyện Idéfix sẽ có thêm phiên bản hoạt hình

Tập truyện Idéfix chẳng những ra mắt độc giả vào ngày 19/06 là còn được chuyển thể thành phim hoạt hình nhiều tập sắp được phát sóng vào tháng 09/2021 trên kênh truyền hình quốc gia France Télévisions. Loạt phim hoạt hình này có lẽ là để thỏa mãn cơn ghiền của giới hâm mộ Astérix, và như vậy chuẩn bị cho ngày phát hành chính thức vào ngày 21/10/2021 tập thứ 39 với tựa đề ''Astérix et le Griffon''. Với lượng phát hành đầu tiên với 5 triệu bản, tập truyện này sẽ được phát hành toàn cầu trong hơn 20 thứ tiếng khác nhau. Tập truyện này do Jean-Yves Ferri soạn kịch bản, còn Didier Conrad thực hiện các bản vẽ. Tuy hiện giờ nội dung tập truyện vẫn được giữ kín và như vậy độc giả không thể biết được cuộc phiêu lưu diễn ra ở xứ nào.

Ngược lại trên màn ảnh lớn, phim truyện mới sẽ diễn ra tại Trung Quốc. Bộ truyện Astérix đã nhiều lần được chuyển thể thành nhiều bộ phim chiếu rạp, Alain Delon từng vào vai hoàng đế César và Monica Belucci trong vai nữ hoàng Cléopâtre. Lần này phiên bản điện ảnh sẽ kết hợp ba diễn viên nổi tiếng của Pháp Marion Cotillard, Guillaume Canet và Gilles Lellouche trong phim Astérix lạc vào Đế chế Trung Hoa, cho dù theo những nguồn tin gần đây nhất đoàn phim trong lúc vẫn còn có dịch Covid-19 đã gặp phải khá nhiều vấn đề trong khâu bấm máy quay phim tại Trung Quốc.

Sau ngày qua đời của hai đồng tác giả René Goscinny (1926-1977) và Albert Uderzo (1927-2020), Astérix trong những tập kế tiếp vẫn là bộ truyện tranh thành công nhất trên thị trường sách ở Pháp. Trong số các tựa sách ăn khách nhất trong hai thập niên qua, Astérix có đến 4 tập truyện lập kỷ lục số bán, mỗi tập vượt qua ngưỡng 1,5 triệu bản trong những tháng đầu phát hành, theo thăm dò của Viện nghệ cứu thị trường văn hoá phẩm GfK. Với tổng cộng 380 triệu bản bán chạy tên toàn thế giới, bộ truyện Asterix đã vượt qua doanh thu của truyện tranh phóng viên Tintin với 240 triệu bản. Hàng năm, có ít nhất ba triệu quyển Astérix được bán, điều đó giải thích vì sao các nhà xuất bản tiếp tục khai thác mỏ vàng này khi cho ra đời thêm các tuyến tiền và ngoại truyện, trong đó có Idéfix là một trường hợp điển hình.

viethoaiphuong
#596 Posted : Tuesday, June 15, 2021 1:43:46 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Pink - Tài năng bị đánh giá thấp hơn vẻ ngoài

Gia Trình - RFI - 12/06/2021
Trong thế giới nhạc pop, có lẽ Pink luôn bị đánh giá thấp hơn tài năng thực thụ của cô. Giọng ca rực lửa và khả năng biểu diễn điêu luyện của Pink không có gì bàn cãi. Điểm trừ duy nhất chỉ là vấn đề ngoại hình và tin đồn giới tính.

Ngọn lửa đam mê trên sân khấu

Đối với khán giả thị trường Mỹ, khả năng trình diễn quan trọng không kém giọng hát. Đó là cách nghệ sỹ giao tiếp và hấp dẫn khán giả tốt nhất bằng thị giác lẫn thính giác. Nữ ca sỹ Pink hội tụ đủ cả hai yếu tố trên: giọng hát rực lửa và màn trình diễn mạo hiểm nhất.

Vừa qua, màn trình diễn của Pink thắp sáng sân khấu lễ trao giải Billboard Music Awards tháng 5/2021. Nữ ca sỹ sinh năm 1979 có thể hát, biểu diễn nhào lộn, đu mình trên dây như nghệ sỹ xiếc đích thực. Trong nhiều năm qua, cô “được chọn mặt gửi vàng” cho tiết mục mở màn các lễ giao giải âm nhạc ghi hình trực tiếp nhờ tài năng biểu diễn. Để quảng bá cho ca khúc mới nhất All I know so far, Pink đưa cô con gái 9 tuổi cùng biểu diễn trên sân khấu. Màn trình diễn của hai mẹ con Pink đốn tim khán giả và “cướp” sạch toàn bộ show diễn. Cô đã truyền ngọn lửa đam mê cho cô con gái và khán giả trên toàn cầu.

Bốn năm trước, năm 2017, Pink gây sửng sốt với màn trình diễn ca khúc Beautiful Trauma. Cô thả mình trên dây, nhảy múa với vũ đoàn phía ngoài mặt tiền khách sạn JW Marriott, ở độ cao chóng mặt. Pink chưa bao giờ làm khán giả thất vọng về kỹ năng trình diễn bậc thầy. Cô là biểu tượng sức mạnh nữ giới trong âm nhạc. Tương tự như diễn viên Tom Cruise, cô có thể thực hiện nhiều vai trò khác nhau mà không cần cascadeur. Khả năng thăng bằng kết hợp giọng hát là một điểm cộng rất lớn của Pink.

Âm nhạc luôn đề cao sự khác biệt

Âm nhạc Pink tràn ngập năng lượng như các màn trình diễn của cô. Ngoài khả năng biểu diễn và ca hát, Pink sáng tác nhiều bản nhạc trong các album của cô. Trung thành R&B, pop/rock, các ca khúc Pink do sáng tác và thể hiện luôn có chất lửa rất mãnh liệt. Cho dù là ballad dịu ngọt Give Me A Reason hay Try, Beautiful Trauma, chỉ cần chất giọng cô cất lên là người nghe ngấm được sự mạnh mẽ đến đó.

Kỳ lạ, âm nhạc Pink không nhàm chán, tẻ nhạt. Các bài hát rất khác biệt khi xếp chúng đứng cạnh nhau mặc dù đều có chung nhiệt huyết không thuyên giảm. Thông thường, R&B kết hợp với pop thường bị mặc định là cảm giác buồn, khá tẻ nhạt. Trái lại, Pink đem tới một cuộc sống khác cho R&B và pop: rực lửa và sôi động hơn nhiều. Sự sáng tạo của Pink đem đến cảm xúc và trải nghiệm mới mẻ cho người nghe. Để làm được điều này, cô không ngừng mở rộng hợp tác với nhiều nhạc sỹ và nhà sản xuất tên tuổi, và cả nghệ sỹ khác như Eminem, Cher.

Hơn thế, cô truyền tải kinh nghiệm sống của chính mình trong từng bài hát. Trong ca khúc mới trình làng All I Know So far, Pink đóng vai một người mẹ kể chuyện cho con gái trước giờ đi ngủ. Không phải chuyện thần thoại cổ tích, Pink kể về cuộc đời cô trải qua như bức thư tâm huyết. Hành trình Pink bỏ nhà ra đi từ nhỏ khi tức giận với người mẹ nghiện rượu. Cô lạc trong hoang đảo, sớm trốn thoát và gặp người chồng Hart xuất hiện trong clip. Bài hát được phản hồi tích cực của khán giả trên kênh Youtube. Nó gợi nhớ nhiều bộ phim kinh điển như Titanic, Lord of the Rings (Chúa tể những chiếc nhẫn).

You throw your head back, and you spit in the wind ; Let the walls crack, 'cause it lets the light in ; Let 'em drag you through hell ; They can't tell you to change who you are ; That's all I know so far ; And when the storm's out, you run in the rain ; Put your sword down, dive right into the pain ; Stay unfiltered and loud, you'll be proud of that skin full of scars.

Hãy ngoảnh đầu nhìn lại, nhổ nước bọt vào cơn gió ; Hãy để kẽ nứt từ bức tường choánh sáng lọt qua ; Hãy để chúng kéo con tới tận địa ngục ; Họ không thể nói rằng họ sẽ thay đổi được con người con ; Đó là tất cả những gì mẹ biết ; Khi bão tố nổ qua, con sẽ chạy trong mưa ; Buông kiếm xuống, lặn ngụp trong nỗi đau ; Hãy vững vàng, con sẽ hãnh diện về làn da đầy những vết sẹo.

Ảnh hưởng của Madonna và Janis Joplin

Pink tên thật là Alecia Moore, từng là thành viên nhóm nhạc nữ Choice. Năm 1995, hãng LaFace phát hiện ra tài năng của Pink sớm ký hợp đồng ghi âm solo. Album đầu tay Can’t Take Me Home ra mắt năm 2000 nhanh chóng leo hạng nhất. Hai ca khúc đậm chất R&B/pop, rất được ưa thích là Most Girls, There you go.

Đến thời điểm hiện tại, nữ ca sỹ tiêu thụ hơn 90 triệu đĩa hát và giành 3 giải Grammy trong sự nghiệp. Tại Anh Quốc, các ca khúc của Pink chỉ đứng thứ hai, sau Madonna về tần suất phát sóng. Nữ ca sỹ thừa nhận mình chịu ảnh hưởng lớn của đàn chị, “tắc kè hoa” Madonna và nữ rocker Janis Joplin thập niên 1960-70. Quả thực, chất giọng và phong cách biểu diễn của cô phản ánh đậm nét tầm ảnh hưởng hai ngôi sao kể trên. Chất giọng Pink cũng đặc biệt. Nó khàn đục với làn hơi khỏe, có độ vừa chín tới của cảm xúc. Các cơ quan truyền thông lớn như Guardian, CNN, Los Angeles Times đều tặng cô những lời có cánh về giọng hát mạnh mẽ như có lửa.

Đáng chú ý, cha của Pink là cựu chiến binh Việt Nam, người luôn dạy cô phải chiến đấu vì lẽ phải. Có lẽ vì thế, cô từng sáng tác ballad phản chiến mạnh mẽ, chĩa thẳng vào tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là George W. Bush. Thừa nhận mình rất nhạy cảm, Pink còn được coi là biểu tượng pha trộn giữa sự cảm thông và nữ quyền.

Cuộc sống hạnh phúc viên mãn với âm nhạc

Phía sau sàn diễn, nữ ca sỹ 42 tuổi có cuộc hôn nhân 19 năm qua với tay đua Carey Hart. Cô gặp người chồng Carey Hart năm 2002 và chung sống hạnh phúc từ đó đến giờ. Họ mô tả cuộc hôn nhân monogamy (chung thủy một vợ một chồng) hoàn toàn tồn tại.

Phim tài liệu All I Know So far chia sẻ tỉ mỉ hơn về đời sống cá nhân của Pink. Nữ ca sỹ luôn làm tròn vai người mẹ chăm sóc hai người con gái Willow 9 tuổi và con trai Jameson 4 tuổi. Đạo diễn Micheal Gracey chia sẻ: “Có nhiều nữ nghệ sỹ có hai đêm diễn ở sân vận động Wembley cùng gia đình. Nhưng tôi chưa thấy ai thay tã cho con khi đang họp cả đoàn lưu diễn, như cuộc sống vĩ đại giao thoa với cuộc sống gia đình bận rộn như Pink”. Ca sỹ R&B/pop làm điều gần như không tưởng, đi lưu diễn với cả gia đình. Cô không tổ chức tiệc tùng sau khi biểu diễn, mà dẫn các con cô và cả đoàn đi thăm quan công viên và bảo tàng.

Pink luôn cân bằng giữa các vai trò người mẹ, người vợ, bà chủ, nghệ sỹ biểu diễn. Tour lưu diễn Beautiful Trauma năm 2019 gặt hái thành công rực rỡ. Bán được 3 triệu vé, Pink diễn tổng cộng 156 live concert tại 18 quốc gia. Tổng số tiền thu về tour diễn đứng thứ 10 trong số các tour lưu diễn có doanh thu cao nhất, đặc biệt của nữ nghệ sỹ. Hơn thế, Pink cởi mở và thẳng thắn chia sẻ mọi vấn đề trong cuộc sống của cô. Đó là điều hiếm thấy của nữ ca sỹ luôn bị khán giả lầm tưởng thuộc giới LGBT. Tạp chí LGBT Advocate từng phỏng vấn Pink về lời đồn về giới tính. Cô mô tả bản thân là cái túi hỗn độn (mixed-bag) khi nói mình thực sự thích gì.

Có lẽ ngoại hình và tin đồn giới tính khiến cho Pink chưa bao giờ được coi là một sao sáng chói trong thế giới nhạc pop. Với người yêu nhạc, Pink là một tài năng thực thụ vì âm nhạc của cô chinh phục được những đôi tai khó tính nhất.


viethoaiphuong
#597 Posted : Thursday, June 17, 2021 1:48:15 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Triển lãm nhiếp ảnh Cartier-Bresson tại Thư viện Quốc gia Pháp

17/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Sau khi thành công vào mùa thu năm ngoái tại Palazzo Grassi ở Venise, cuộc triển lãm với các tác phẩm nhiếp ảnh của Henri Cartier-Bresson là một trong những sự kiện văn hóa nổi bật tại Paris vào mùa hè 2021. 50 bức ảnh được chọn lọc, trích từ bộ sưu tập chủ ‘‘Master Collection’’ được trưng bày từ đây cho tới ngày 22/08/2021 tại Thư viện Quốc gia Pháp (BnF François Mitterrand).

Nổi tiếng lúc sinh tiền nhờ tài quan sát và khả năng phi thường để nắm bắt khoảnh khắc ''quyết định'', ông Henri Cartier-Bresson quan sát thế giới để rồi đưa ra một cách nhìn riêng biệt tự nhiên, dung hòa trong cùng một khung ảnh nhiều bộ mặt cuộc sống lắm khi tương phản đối nghịch. Đó là nhãn quan của một phóng viên nhiếp ảnh, có tầm nhìn xa và kiến thức sâu rộng. Từ cuộc cách mạng Trung Quốc thời Mao Trạch Đông đến Tây Ban Nha đắm chìm trong nội chiến, từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba cho tới xã hội Liên Xô thời hậu Staline, ông là một trong những nhà nhiếp ảnh Tây phương đầu tiên nhờ tài chụp hình phóng sự mà ghi lại nhiều khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử.

Vai trò quan trọng của hai nhà sưu tầm Pháp

Đến cuối đời, Henri Cartier-Bresson (1908-2004) đã trở thành một huyền thoại sinh động của làng nhiếp ảnh quốc tế, cuộc hành trình của ông đã xuyên qua thế kỷ XX, phản ánh nhiều biến đổi của thế giới qua hàng chục ngàn bức ảnh chụp. Vào năm 1973, nhà nhiếp ảnh lúc đó đã ngoài 65 tuổi, từ kho ảnh đồ sộ của mình đã tạo ra bộ sưu tập chủ bao gồm 385 bức ảnh chính gốc, theo lời khuyến khích của hai vợ chồng nhà sưu tầm người Pháp mang quốc tịch Mỹ Dominique và Jean de Ménil, từng sáng lập phòng triển lãm đương đại tại Houston, bang Texas.

Bộ sưu tập chủ này (Master Collection trong tiếng Pháp gọi là ''Le Grand Jeu'') phản ánh cuộc rong chơi trong thế giới lớn rộng mênh mông của nhà nhiếp ảnh Henri Cartier-Bresson. Khi chọn ra 385 bức ảnh chụp có thể gọi là ưng ý nhất, nhà nhiếp ảnh đã thực hiện một bộ sưu tập để đời, ghi chép lại những kinh nghiệm sống đáng ghi nhớ nhất.

Các bức ảnh nhỏ sau đó được tập hợp lại dựng cùng trên một bức toàn cảnh khổ rộng, như thể đó là một tấm chân dung tự phác họa về sự nghiệp và cuộc đời. Tính tổng cộng có 6 phiên bản của bức tranh toàn cảnh này, được cất giữ tại Quỹ Menil (Houston), Bảo tàng Victoria & Albert (Luân Đôn), Đại học Mỹ thuật Osaka (Nhật Bản), tại Thư Viện Quốc gia Pháp BnF, tại Bộ sưu tập François Pinault sau khi khai trương Phòng triển lãm mới tại khu vực Les Halles và nhất là tại Quỹ Cartier-Bresson, cả ba đều nằm tại Paris.

Bộ sưu tập ảnh chụp của Henri Cartier-Bresson xen kẽ những hình ảnh đời thường với chân dung những nhân vật nổi tiếng, điển hình là ảnh chụp hai khách bộ hành đội mũ quả dưa tại Bỉ (năm 1921) hay chân dung của nhà văn Mỹ William Faulkner (1947), lễ đăng quang Quốc Vương Anh George VI (1938) hay chân dung của hai nhà vật lý Irène Curie và Frédéric Joliot tại Paris (1944) …..

Cartier- Bresson, cuộc phiêu lưu xuyên thế kỷ

Bộ ảnh chụp phong phú này cho thấy là bố cục và bối cảnh quan trọng không kém gì các nhân vật chính, một số gương mặt nổi tiếng không dễ gì nhận ra được ngay như trường hợp tấm ảnh chụp nhà điêu khắc Alberto Giacometti gần xưởng sáng tác của ông tại Paris (1961). Chỉ trong giai đoạn cuối đời, Cartier-Bresson mới chuyển từ nhiếp ảnh phóng sự sang nhiếp ảnh nghệ thuật và phát huy thêm các khái niệm trừu tượng trong thể loại tượng hình.

Xuất thân từ một gia đình thương gia giàu có ở vùng Normandie, Henri Cartier-Bresson từ thuở thiếu thời đã sớm bộc lộ năng khiếu về nghệ thuật hình ảnh. Vào cuối những năm 1930, ông từng làm trợ lý trong vòng 4 năm cho đạo diễn Jean Renoir, nhất là trong hai bộ phim ''Une partie de campagne'' (Một chuyến về quê - 1936) và ''La Règle du Jeu'' (Luật chơi - 1939) rồi sau đó chuyển sang nhiếp ảnh phóng sự khi ông đồng thành lập hãng Magnum với nhiều bạn đồng hành là Robert Capa và David Seymour vào năm 1947.

Sau khi ông qua đời vào năm 2004, Trung tâm văn hóa Pompidou đã tổ chức một cuộc triển lãm lớn về Henri Cartier-Bresson, cho thấy nhà nhiếp ảnh có nhiều lối tiếp cận khác nhau, ông có thể chụp theo nhiều cách, để rồi như chuyên gia kiêm nhà phê bình Clément Chéroux từng nhận xét, Henri Cartier-Bresson tìm ra được một góc nhìn độc đáo, một chữ ký riêng biệt trong cách dựng khung hình để rồi thu vào đó những khoảnh khắc ''quyết định''. Hàng ngàn bức ảnh cho thấy Cartier-Bresson không chỉ chụp theo cùng một thể loại, mà là nhà nhiếp ảnh nắm bắt muôn đề tài.

Cartier-Bresson trong mắt 5 nhân vật nổi tiếng

Nhân cuộc triển lãm lần này tại Thư viện Quốc gia Pháp BnF, ban điều hành Quỹ Cartier-Bresson tiếp tục đối chiếu tác phẩm của nhà nhiếp ảnh bậc thầy người Pháp với góc nhìn của 5 nhân vật nổi tiếng gồm nhiếp ảnh gia kỳ cựu người Mỹ Annie Leibovitz, đạo diễn nổi tiếng người Đức Wim Wenders, nhà văn Tây Ban Nha Javier Cercas, giám đốc Cục Nhiếp ảnh tại Thư viện Quốc gia Pháp Sylvie Aubenas và nhà sưu tầm François Pinault, vốn là chủ nhân của Palazzo Grassi, từng thực hiện cuộc triển lãm trên cùng chủ đề hồi mùa thu năm 2020 tại Venise.

Mỗi người một cảm nhận riêng trong lãnh vực chuyên môn của họ, các vị khách mời ở đây đã chọn ra 10 tấm hình được cho là tiêu biểu nhất. Nhà nhiếp ảnh Mỹ Annie Leibovitz chủ yếu chọn các tấm hình có bố cục mạnh mẽ trong cách sắp đặt các khối đen trắng, ánh sáng và bóng tối được khai thác như cách dàn dựng phim truyện, nơi mà những anh hùng đời thường bất chợt xuất hiện trong khung hình. Đạo diễn Đức Wim Wenders lại tập trung vào yếu tố con người, làm nẩy sinh những mô típ gần như là siêu thực, ảnh chụp thực tế những chi tiết lạ như thể được cắt ghép thêm. Nhà văn Tây Ban Nha Javier Cercas lại rất quan tâm đến các bức chân dung của các văn hào và những người chuyên cầm bút.

Nhà sưu tầm François Pinault chọn những hình ảnh gợi lên hạnh phúc đời thường, còn cô Sylvie Aubenas, giám đốc Cục Nhiếp ảnh tại Thư viện Quốc gia Pháp chọn những ảnh chụp gợi lên những khung cảnh đã biến mất thời nay trước đà hiện đại hóa của nhịp sống thành thị. Năm nhãn quan bổ sung cho nhau, nhưng khi ghép lại giống như một quyển truyện phiêu lưu dày 5 chương, được minh họa bằng hình ảnh của người từng được mệnh danh là ''Con mắt của thế kỷ''. Gần hai thập niên sau ngày qua đời, Henri Cartier-Bresson đã để lại một di sản đồ sộ như một ngọn núi, nơi vẫn còn cất giữ nhiều viên ngọc quý.


viethoaiphuong
#598 Posted : Friday, June 18, 2021 11:36:09 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

David Foster - “Bàn tay vàng” trong làng âm nhạc

19/06/2021 - Gia Trình / RFI
David Foster, nhà sản xuất âm nhạc người Canada, luôn được mệnh danh là kiến trúc sư tài ba cho những bản hit lừng lẫy của Micheal Buble, Céline Dion, Andrea Bocelli. Sự nghiệp âm nhạc của Foster thành công trên cả hai khía cạnh: thương mại và nghệ thuật. Sở hữu tới 16 giải Grammy, ông là “bùa hộ mệnh” cho các live concert của các nghệ sĩ lớn.

Thương hiệu Foster - Lá bùa hộ mệnh cho các live convert

Phần lớn khán giả chỉ cảm nhận được màn trình diễn xuất sắc của các ngôi sao ca nhạc như Céline Dion, Whitney Houston, Beyonce, Katty Perry. Tuy nhiên, ít người nhận ra thành công của ngôi sao nhạc pop luôn cần tới các “kiến trúc sư” âm nhạc để biên tập, dàn dựng, phối khí. Đó là những nhà sản xuất âm nhạc tài năng mà David Foster là một ví dụ điển hình. Nghệ sĩ sinh năm 1949 là người hùng thầm lặng, hiếm khi cất giọng trong các bản nhạc hit. Ông đã chuyển hóa tiếng hát ngôi sao thành một sản phẩm nghe-nhìn tầm cỡ.

Khởi nghiệp là nhạc công trong nhóm Stranger, David Foster đến Anh sinh sống và biểu diễn phụ trợ cho ngôi sao Chuck Berry ở tuổi 16. Sau khi trở lại Canada và định cư tại Los Angeles, ông thành lập nhóm Skylark và bắt đầu viết nhạc. Bản nhạc Wild Flower (Hoa dại) thành công đánh dấu tên tuổi Foster trong vai trò nhạc sĩ khi lọt vào top 10. Ông khá thành công trong vai trò nhạc sĩ khi cộng tác với nhóm Earth, Wind, Fire. Ca khúc After the love has gone giúp Foster giành giải Grammy đầu tiên năm 1980.

Nhờ sự đa dạng trong các vai trò, Foster gây dựng được thương hiệu cho các chương trình biểu diễn ông sản xuất. Ông là người thích những thử thách mới mẻ và có tố chất kiên trì, học hỏi không ngừng. Chuỗi concert David Foster and Friends từ năm 2008 thành công mỹ mãn khi quy tụ được dàn sao tên tuổi với các bản hit để đời.

Không chỉ thế, ông còn kiến tạo thành công cho chuỗi concert Giáng sinh cho các ngôi sao Rod Stewart, Micheal Buble, Andrea Bocelli. Nhờ vậy, tên tuổi Foster đủ sức hạ gục trái tim người đẹp, ca sĩ Katherine McPhee, kém ông 35 tuổi. Họ kết hôn năm 2019 và sinh hạ một bé trai vào tháng 02/2021. Các ngôi sao và khán giả thường gọi Foster là “Hit Man” (Người kiến tạo bản nhạc thành công) trong làng âm nhạc.

Chuyên gia đọc được thị hiếu khán giả

Đối với Foster, một tác phẩm hay phải có sự mới mẻ trong cách thể hiện và khai thác tối đa thế mạnh của ca sĩ. Foster đọc được thị hiếu khán giả nhờ nhạc cảm vô cùng nhạy bén. Từ một bản gốc nhạc đồng quê buồn và chậm rãi của Dolly Parton, Foster đã pop hóa toàn diện ca khúc cổ điển I will always love you.Ông đẩy được cao trào Whitney Houston thể hiện lên mức tối đa nhưng không mất đi sự ngọt ngào, mãnh liệt. Cái tài của Foster ru ngủ khán giả trong tiềm thức rằng bài hát chỉ đo ni đóng giầy cho một ca sỹ duy nhất.

Trong album soundtrack The bodyguard (Vệ sĩ), ông và người vợ lúc đó, Linda Thompson cùng sáng tác bản hit thành công không khác I have nothing. Đến giờ, chưa có nhà sản xuất nào vượt được phiên bản xuất sắc I will always love you của Foster. Và chưa có nghệ sĩ nào đủ sức gánh được độ khó như Houston trong hai bài đinh nói trên. Chỉ có thể là Foster mới khai thác thế mạnh tối đa của giọng ca đẹp như Houston.

Hơn thế, ông dẫn người nghe khám phá những miền đất mới lạ, hơn là những ký ức nhạc xưa. Bản ghi âm song ca lừng lẫy Unforgettable(1991)do Foster sản xuất đã chinh phục tuyệt đối Hội đồng chấm giải Grammy. Ca khúc đoạt giải Ghi âm của năm, Bài hát của năm nhờ “bàn tay vàng” của Foster. Album cùng tên của Natalie Cole cũng ẵm luôn giải quan trọng nhất, Album xuất sắc nhất năm 1992. Ca khúc này gắn bó với tên tuổi của Nat King Cole, người cha Natalie Cole khi ông còn sống.

Tại thời điểm năm 1992, hai ngôi sao song ca mà không thu thanh trực tiếp vẫn còn rất mới mẻ. Ý tưởng lạ lẫm của Foster ghi điểm một cách thuyết phục. Lần đầu tiên, một ngôi sao quá cố hòa giọng mượt mà với ca sỹ đương thời trong một tuyệt tác jazz xuất sắc. Foster không chỉ phục hưng lại ánh hào quang của người cha, mà còn tạo bệ phóng cho tiếng hát của cô con gái rượu.

Phổ âm nhạc của Foster khá rộng và phong phú. Ông có thể thỏa sức vẫy vùng trong pop/rock, gospel, jazz, R&B hay cổ điển. Quan trọng hơn cả, Foster biết cách tạo điểm nhấn, nét mới mẻ cho tác phẩm để chào bán nhanh nhất và hấp dẫn nhất với người nghe.

Bậc thầy đào tạo ngôi sao

Ngoài việc sản xuất, David Foster còn biết đến là người khám phá, ươm mầm tài năng cho Josh Groban, Micheal Buble, Jackie Evancho. Trước đó, ông từng góp phần tạo nên thành công vang dội của nhóm nhạc rock Chicago trong thập niên 1980. Đối với Foster, việc phát hiện tài năng không khó. Nhưng để những ngôi sao nảy nở trong tương lai phải có chiến lược bài bản.

Hãy nhìn vào Micheal Buble, Foster chứng minh đó không phải ngôi sao “sớm nở, tối tàn” với một bản hit duy nhất cả cuộc đời như Feeling Good. Chất giọng nam tính và phong lịch lãm của danh ca Canada được Foster đo ni đóng giầy cho những bản nhạc jazz kinh điển. Trong ba album đầu tay của Buble: Micheal Buble (2003), It’s Time (2005), Call Me Irresponsible (2007), gần như không có bài hát mới. Buble được giao vai chính - thợ hát chuyên cover, tập trung sâu vào nhạc lounge (thư giãn) các bản nhạc xưa.

Chiến lược của Foster hiệu quả để xây dựng thần tượng nhạc jazz, giao thoa với pop. Sức hút nam châm của Buble đem lại diện mạo mới cho jazz, pop, lounge music nhờ sự tiết chế và nắn nót nhẹ nhàng. Khi khán giả bắt đầu quen thuộc gần gũi hơn với Buble, các album sau đó mới tung ra các bài hát mới như Haven’t met you yet, Home. Đến giờ, các album Buble vẫn áp dụng chiến lược ghi điểm của Foster để chinh phục khán giả.

Một ví dụ thành công của Foster là đưa giọng ca tenor truyền cảm Andrea Bocelli đến khán giả Bắc Mỹ. Trước đó, tên tuổi Bocelli đã nổi tiếng khắp nước Ý và châu Âu nhờ bản hit Time to say goodbye song ca với Sarah Brightman năm 1997. Tuy nhiên, đối tượng khán giả Bocelli chủ yếu nằm ở phân khúc nhạc cổ điển. Hơn thế, ông chủ yếu hát tiếng Ý nên độ lan tỏa sẽ hạn chế hơn các ngôi sao hát tiếng Anh. Đơn cử như Céline Dion phải học tiếng Anh, để vươn xa khỏi quê hương Québec để tỏa sáng trên sân khấu Las Vegas.

Khi hợp tác với David Foster, Bocelli cũng chuyển mình khá rõ nét. Từ album Amore (2006), ngôn ngữ âm nhạc vô cùng đa dạng từ Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ý để phù hợp với môi trường đa văn hóa tại Bắc Mỹ. Số lượng các ca khúc trữ tình thiên hướng pop, latin, jazz lấn lướt nhạc cổ điển. Dường như Foster muốn Bocelli trở nên đường mật, gần gũi với khán giả bằng nhạc trữ tình hơn là nhạc cổ điển. Để khắc phục yếu tố tuổi tác, song ca với các ngôi sao trẻ sẽ có hấp lực mạnh mẽ hơn với chất giọng solo của Bocelli. Các ngôi sao trẻ từng được Foster mời làm việc chung với Bocelli gồm có Ariana Grande, Dua Lipa, Ed Sheeran, Christina Aguilera.Nhờ vậy, các live concert của Bocelli tại New York hay Las Vegas luôn chật kín nhờ “bàn tay vàng” của Foster.

Hơn ai hết, Foster hiểu rõ để tồn tại môi trường cạnh tranh khốc liệt như Bắc Mỹ cần những yếu tố nào. Gu thẩm mỹ và nhạc cảm được tôi luyện qua rất nhiều vai trò: nhạc sĩ, ca sĩ, chơi piano, nhà sản xuất, phối khí, ban giam khảo truyền hình. Nếu trong điện ảnh người ta luôn nhắc tới “bố già” Clint Eastwood, David Foster xứng đáng gọi là “bố già” có bàn tay vàng trong làng âm nhạc.

viethoaiphuong
#599 Posted : Tuesday, June 22, 2021 7:29:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Pháp : Lorient duy trì Liên hoan Interceltique lần thứ 50

22/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Sau khi bị hủy bỏ hồi năm ngoái do dịch Covid-19, Liên hoan âm nhạc dân gian Interceltique sẽ diễn ra từ ngày 06/08 đến 15/08/2021, theo thông báo của Hội đồng thành phố Lorient. Đây sẽ một sự kiện quan trọng đối với người dân Lorient, vì 2021 vừa là ''Năm văn hóa của vùng Bretagne'', vừa đánh dấu phiên bản lần thứ 50 của Liên hoan Interceltique.

Được tổ chức lần đầu tiên trong ba ngày hè năm 1971 tại Lorient, ở tỉnh Morbihan phía nam vùng Bretagne, tiền thân liên hoan này có tên ban đầu là liên hoan kèn túi (bagpipes trong tiếng Anh, cornemuse trong tiếng Pháp) một loại nhạc khí cổ truyền phổ biến tại nhiều quốc gia và châu lục, từ Tây Âu cho tới vùng vịnh Ba Tư. Nhân liên hoan này, một cuộc tranh tài đã được tổ chức giữa các dàn nhạc ''bagadoù'', mỗi nhóm gồm hàng chục nghệ sĩ chơi kèn túi và bộ gõ.

Ngày hội Celtique hình thành từ liên hoan kèn túi

Vòng chung kết cuộc thi đấu giữa các bộ kèn túi nhân kỳ liên hoan tổ chức vào mùa hè năm 1971 đã thu hút hơn 30.000 khán giả cùng đến xem phần biểu diễn của 15 ban nhạc truyền thống. Sự thành công đó cho ra đời đúng một năm sau (1972) Liên hoan Interceltique tại thành phố Lorient, hiểu theo nghĩa Ngày hội liên văn hóa Celtique, với mục tiêu đề cao các luồng ảnh hưởng Celtic qua nghi lễ trang phục, âm nhạc truyền thống hay các điệu múa dân gian.

Truyền thống văn hóa Celtic ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm cả Ireland, Scotland, Wales, Cornwall, đảo Isle of Man, vùng Bretagne tại Pháp (kể cả tỉnh Loire Atlantique) cũng như ba miền Galicia, Asturias và Cantabria tại Tây Ban Nha. Đỉnh điểm của Liên hoan Interceltique chính là cuộc tuần hành đầy âm thanh và màu sắc trên đường phố của tất cả các ban nhạc và đoàn múa dân gian.

Các nghệ sĩ thường mặc các bộ y phục truyền thống như bộ váy kilt ngang đầu gối dành cho phái nam, các loại váy dài may bằng vải tartan dành cho phụ nữ. Hình ảnh đó đã trở thành biểu tượng đáng ghi nhớ nhất của Liên hoan Interceltique tại thành phố Lorient. Hồi năm ngoái, lý do dẫn đến việc hủy bỏ tổ chức chính là sự vắng mặt của các đoàn nghệ sĩ đến từ các nước bạn, khi việc di chuyển đi lại trong khối các nước Liên hiệp châu Âu vẫn còn nhiều hạn chế.

Di sản Trung Cổ trong nhạc Celtic và múa dân gian

Năm nay, việc mở lại các biên giới (ít ra trong khối các nước Schengen) tạo điều kiện dễ dàng hơn cho ban tổ chức. Tuy phiên bản lần thứ 50 được duy trì, nhưng Liên hoan Interceltique tại Lorient vẫn có một số thay đổi, hầu bảo đảm các quy định giãn cách xã hội cũng như việc kiểm soát giấy chứng nhận chích ngừa tại những địa điểm có đông người tụ tập. Thay vì trải rộng ra khắp thành phố, chương trình Liên hoan Interceltique năm 2021 sẽ được rút gọn lại và tập trung tại 3 địa điểm chính : sân vận động Moustoir, sân khấu Marine nằm gần Cung triển lãm Thuyền Buồm (Cité de la Voile Éric Tabarly) và sân khấu Bretagne nằm ở phía sau Cung hội nghị (Palais des Congrès).

Thay đổi quan trọng nhất liên quan tới sự kiện ''La Grande Parade'' : thay vì diễn ra như mọi năm ở khu vực trung tâm thành phố, cuộc tuần hành của các ban nhạc dân gian (bagadoù) sẽ được tổ chức hôm 08/08 trên sân vận động thành phố Moustoir. Tính tổng cộng sẽ có 60 ban nhạc đến từ nhiều vùng miền khác nhau lần lượt xuất hiện để biểu diễn trên sân cỏ. Vào buổi chiều, chương trình được dành riêng cho các điệu vũ celtic và các đoàn múa truyền thống vùng Bretagne trên những giai điệu cổ xưa, một số được truyền khẩu từ thời Trung Cổ, một số được ghi chép, cải biên để rồi hình thành dòng nhạc Celtic từ đầu thế kỷ XIX trở đi .

Vào mỗi chiều tối, các buổi biểu diễn ca nhạc chủ yếu diễn ra tại hai sân khấu Marine và Bretagne, triệu mời nhiều nghệ sĩ nổi tiếng dòng nhạc celtic như Gilles Servat, Alan Stivell, Denez Prigent hay là Carlos Núñez. Về phía các nghệ sĩ trẻ tuổi, rất nhiều gương mặt mới như Krismenn, Brieg Guerveno, Djibou, Startijenn, Spontus, Annie Ebrel, Barba Loutig ….. trong số 70 ban nhạc đến từ Anh quốc, Ai Len, Scotland hay Cornwall lần lượt xuất hiện trong 10 đêm liên hoan.

Bản giao hưởng 5 chương nhân kỳ liên hoan thứ 50

Do năm nay đánh dấu lần thứ 50 của liên hoan Interceltique, một tác phẩm hoàn toàn mới đã được sáng tác trong khuôn khổ chương trình kỷ niệm với hơn 100 nghệ sĩ cùng biểu diễn trên sân khấu. Đây là thành quả của 6 năm hợp tác giữa đoàn thể ''Finisterres Celtiques'' với dàn nhạc giao hưởng vùng Bretagne. Bản giao hưởng gồm 5 chương, mỗi chương được sáng tác bởi một nhà soạn nhạc đại diện cho một xứ : Ramon Prada (Asturias), Frédérique Lory (Bretagne), Paul Leonard Morgan (Scotland), Sir Karl Jenkins (Wales) và Bill Whelan (Ai Len). Trên sân khấu, nhạc trưởng Grant Llewellyn sẽ điều khiển dàn nhạc và ban hợp ca để biểu diễn cùng với các nghệ sĩ nổi tiếng trong làng nhạc cổ điển như Ross Ainslie, Abraham Cupeiro, Catrin Finch, Anxo Lorenzo, Marthe Vassallo, Fiona Monbet ...

Trong vòng 10 ngày, hầu hết các buổi biểu diễn trong khuôn khổ liên hoan đều được tổ chức đúng theo quy định hiện thời. Trước mắt, khán giả được ngồi xem biểu diễn, đeo khẩu trang và ngồi không quá gần nhau. Các điều kiện này có khả năng sẽ thay đổi nếu như từ đây cho tới đầu tháng 08/2021, tình hình dịch Covid-19 được cải thiện đáng kể, việc tiếp đón khán giả vì thế sẽ bớt khắt khe hơn. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, khán giả được yêu cầu trình giấy chứng nhận chích ngừa, hay xét nghiệm âm tính PCR, để có thể vào cửa xem biểu diễn.

Một địa điểm quan trọng khác là Ngôi Chợ Interceltique được thành lập nhằm tiếp đón công phúng miễn phí trong 10 ngày liên tục. Với hơn 100 gian hàng, phiên chợ này tập hợp nhiều hàng quán nhằm phục vụ các thực khách cũng như là điểm buôn bán các đặc sản thủ công vùng Bretagne. Trước khi có dịch Covid-19, Liên hoan Interceltique là một trong những sự kiện văn hóa quan trọng nhất các vùng phía Tây nước Pháp, hàng năm thu hút gần 800.000 người tham gia, trong đó có hơn 75.000 khách chủ yếu đến xem cuộc tuần hành. Đối với hội đồng thành phố và các ngành nhà hàng khách sạn, liên hoan này đem lại một nguồn doanh thu quan trọng cho người dân thành phố, xấp xỉ 25-30 triệu euro cho mỗi kỳ. Mặc dù phiên bản năm nay được rút gọn, nhưng Liên hoan Interceltique tuyển dụng 15 nhân viên thường trực và hơn 1.600 tình nguyện viên, để tiếp đón công chúng cũng như các đoàn nghệ sĩ từ nhiều nơi đổ về.

viethoaiphuong
#600 Posted : Friday, June 25, 2021 1:03:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,756
Points: 15,426

Thanks: 855 times
Was thanked: 698 time(s) in 696 post(s)

Viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp tôn vinh nhiếp ảnh gia Annie Leibovitz

25/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Năm 2021 là năm công nhận tài năng của giới nữ nghệ sĩ. Hôm 23/06 vừa qua, Viện Hàn lâm Mỹ thuật Pháp đã thông báo trao tặng một trong giải thưởng quan trọng nhất cho nhà nhiếp ảnh người Mỹ Annie Leibovitz. Đồng thời, Viện Mỹ thuật cũng đã bỏ phiếu chọn 3 phụ nữ Pháp làm thành viên trong các ban điêu khắc, kiến trúc và nhiếp ảnh.

Giải thưởng của Viện Hàn lâm Mỹ thuật, một trong 5 cơ quan trực thuộc Hàn Lâm Viện của nước Pháp không những công nhận tài năng của một nghệ sĩ trong lãnh vực chuyên môn của họ, mà còn đánh dấu thành tựu của cả một sự nghiệp. Cách đây hai năm, Viện Mỹ thuật đã thành lập giải thưởng William Klein, nhân danh nghệ sĩ người Mỹ gốc Do Thái đa tài, giỏi trong nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau (đạo diễn, biên kịch, họa sĩ, nhà tạo hình, video thử nghiệm, thiết kế đồ họa ….)

Nổi tiếng trong làng nhiếp ảnh quốc tế nhờ bộ sưu tập ảnh chụp New York 1954-1955, William Klein được giới chuyên nghiệp công nhận như một bậc thầy, tiên phong sáng tạo trong lãnh vực nhiếp ảnh đường phố. Cứ hai năm được trao một lần, giải William Klein không chỉ đơn thuần là một danh hiệu cao quý mà còn đi kèm với một phần thưởng bằng hiện kim trị giá 120.000 euro. Vào năm 2019, người đầu tiên đoạt giải này là nhà nhiếp ảnh người Ấn Độ Raghu Rai. Hai năm sau, đến phiên nữ nhiếp ảnh gia Mỹ Annie Leibovitz được xướng tên trên bảng vàng.

Bức ảnh chụp John Lennon và Yoko Ono : định mệnh trớ trêu

Sinh năm 1949 tại bang Connecticut, Hoa Kỳ, Annie Leibovitz thời còn trẻ theo học Trường cao đẳng Nghệ thuật San Francisco Art Institute. Lúc đầu bà chọn học nghề vẽ nhưng sau đó lại chuyển qua nghề nhiếp ảnh, sau khi được thầy cô khuyến khích nhờ có một nhãn quan khác lạ nhân các khóa thực tập sáng tác. Thành danh khi mới vào nghề nhờ chụp ảnh phóng sự cho "Rolling Stone", Annie Leibovitz trở thành cộng tác viên thường trực của tạp chí này trong vòng hơn một thập niên. Vào năm 1972, một tấm hình của bà đã đi vòng quanh thế giới sau khi được nhiều tờ báo lần lượt đăng lại. Đó là bức ảnh chụp Tổng thống Nixon lên trực thăng rời khỏi Nhà Trắng sau khi buộc phải từ chức do vụ Watergate.

Đến mùa đông năm 1980, Annie Leibovitz đã thực hiện điều mà bà gọi là một trong những phiên chụp ảnh quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình : loạt ảnh chụp cặp vợ chồng nghệ sĩ Yoko Ono và John Lennon. Bức ảnh đăng trên trang bìa tạp chí Rolling Stone cho thấy một John Lennon trần như nhộng, trong tư thế nằm nghiêng, đang cuộn mình lại để ôm trọn Yoko trong vòng tay của mình. Phiên chụp ảnh này lại vô tình trở thành một khoảnh khắc định mệnh ''trớ trêu'', bởi vì đó lại là những tấm hình cuối cùng của nhạc sĩ kiêm thành viên sáng lập nhóm Tứ Quái The Beatles, mà không ai có thể biết trước. Đằng sau vòng tay tha thiết quấn quýt thương yêu, lại xuất hiện tiếng gọi oan nghiệt, ngàn thu vĩnh biệt. Chỉ vài giờ sau đó, tối hôm 08/12/1980, John Lennon bị bắn chết ngay trước cổng nhà. Ảnh chụp hai vợ chồng John và Yoko qua ống kính của Annie Leibovitz một lần nữa lại đi vòng quanh thế giới, tấm hình ''di chúc'' này được báo Rolling Stone đăng tải, sau ngày John Lennon bị sát hại.

Sau 13 năm hợp tác (từ 1970 đến 1983), Annie Leibovitz rời Rolling Stone về làm việc cho tuần báo Vanity Fair. Bà phát huy sở trường chụp ảnh chân dung các thần tượng điện ảnh và sân khấu. Một trong những cú đột phá ngoạn mục nhất vẫn là bức ảnh chụp đăng trên trang bìa Vanity Fair tháng 8 năm 1991, cho thấy ngôi sao màn bạc Demi Moore, khỏa thân và đang có bầu. Bức ảnh này cũng trở nên rất nổi tiếng, gợi hứng cho nhiều tác giả và nghệ sĩ khác sau này, trong đó có Banksy vào năm 2006.

Hai vế nổi bật trong sự nghiệp sáng tác nhiếp ảnh

Kể từ năm 1998 trở đi, Annie Leibovitz chuyển sang ngành nhiếp ảnh thời trang, nhưng trong suốt sự nghiệp của bà vẫn tồn tại hai xu hướng nổi bật : người phác họa chân dung các nhân vật nổi tiếng thời đại và đồng thời nhà nhiếp ảnh chuyên nắm bắt những khoảnh khắc riêng tư thân mật. Trong vế thứ nhất, Annie Leibovitz đã chụp chân dung của nhiều nhân vật nổi tiếng khác nhau, từ nữ hoàng Elisabeth Đệ Nhị đến tổng thống Pháp Emmanuel Macron, từ gia đình tổng thống Mỹ Barack Obama đến các nhân vật như ông hoàng nhạc pop Michael Jackson, vô địch quần vợt Serena Williams…

Những bức ảnh chụp chân dung (thường là theo ''đơn đặt hàng'') lại có những yếu tố ''đột xuất'', ngoạn mục nên dễ gây bất ngờ chẳng hạn như vô địch điền kinh nam Carl Lewis đi giầy cao gót, ngôi sao màn bạc da màu Whoopi Goldberg lại tắm trong bồn sữa trắng, như thể nhà nhiếp ảnh dùng chi tiết nghịch dụ để khuynh đảo bố cục hài hòa, nhưng đồng thời dùng góc nhìn để nhấn mạnh cá tính của nhân vật trong ảnh.

Còn trong vế thứ nhì, Annie Leibovitz có một lối tiếp cận phóng khoáng, đơn giản và tự nhiên hơn. Ảnh chụp (dù có chuẩn bị từ trước) vẫn không cho thấy một sự sắp đặt nào cả. Annie Leibovitz phát huy thêm loại ảnh chụp phản ánh thực tế thường ngày, kể cả những tấm hình chụp cuộc sống riêng tư của bà với người bạn đời là nữ tác giả Susan Sontag. Lấy cảm hứng từ thể loại nhiếp ảnh ''nhật ký'' này, Annie Leibovitz lại hoàn tất một tác phẩm để đời. Bộ ảnh chụp ''Women'' (Phụ nữ) tập hợp chân dung và hình ảnh của hàng trăm phụ nữ đời thường xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, sợi chỉ đỏ xuyên suốt vẫn là nghị lực vươn lên trong cuộc sống, dù họ ở bất kỳ nơi đâu, trải qua bất cứ hoàn cảnh nào

Công nhận sự đóng góp của phụ nữ trên mọi phương diện

Bản thân nghệ sĩ Annie Leibovitz rất hãnh diện khi được trao giải William Klein, vì thời còn trẻ bà ngưỡng mộ ông cũng như các bậc đàn anh lẫy lừng khác là hai nhiếp ảnh gia Robert Frank (người Mỹ gốc Thụy Sĩ) và Henri Cartier-Bresson (người Pháp). Một cuộc triển lãm ''toàn tập'' bao gồm nhiều bức ảnh chụp tiêu biểu cho các thời kỳ của Annie Leibovitz sẽ được tổ chức tại trung tâm Paris trong khuôn viên Hàn Lâm Viện từ ngày 27/10 đến 28/11/2021.

Qua việc trao giải thưởng này cho nhà nhiếp ảnh người Mỹ Annie Leibovitz và đồng thời bầu 3 phụ nữ Pháp làm thành viên, trong đó có cô Anne Poirier vào trong ban Điêu khắc, Anne Demogian trong ban Kiến trúc và Dominique Issermann ban nhiếp ảnh, Viện Hàn lâm Mỹ thuật đã tham gia vào một xu hướng thịnh hành trong những năm gần đây.

Đã đến lúc các định chế văn hóa công nhận đứng mức sự đóng góp của phụ nữ trên mọi phương diện của cuộc sống, kể cả sáng tác nghệ thuật. Các bảo tàng lớn như Louvre, Orsay hay Trung tâm Pompidou đều đã có nỗ lực đề cao vai trò của phụ nữ trong các bộ môn văn hóa. Một cách để nhắc nhở rằng mãi cho đến năm 1897, tức là hơn mọt thế kỷ sau cuộc Cách mạng Pháp, Trường Mỹ thuật quốc gia mới chịu mở cửa đón nhận nữ sinh.



AFP đoạt giải báo chí châu Á về việc đưa tin những khoảnh khắc đầu tiên về Covid-19 tại Vũ Hán

25/06/2021 - Thùy Dương / RFI
Hãng tin Pháp AFP hôm qua 24/06/2021 đoạt giải trong cuộc thi danh giá nhất châu Á dành cho báo chí về hoạt động đưa tin về những khoảnh khắc đầu tiên đại dịch Covid-19, bùng lên ở trung tâm thành phố Vũ Hán, Trung Quốc hồi tháng 01/2020.

AFP hôm nay 25/06 cho biết nhiếp ảnh gia người Chilê Hector Retamal, văn phòng Thượng Hải, đã giành giải xuất sắc nhất về nhiếp ảnh của Hiệp hội các nhà xuất bản báo chí ở châu Á (SOPA). Nhiếp ảnh gia người Venezuela, Leo Ramirez, văn phòng Bắc Kinh, đã giành giải nhì ở hạng mục "Phóng sự video xuất sắc".

Cùng với phóng viên người Pháp Sébastien Ricci, hai nhiếp ảnh gia nói trên đã đến Vũ Hán, Trung Quốc vào ngày 23/01/2020, đúng ngày thành phố miền trung Trung Quốc bị phong tỏa và khép kín hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Trong 8 ngày, họ là nhóm nhà báo của cơ quan truyền thông quốc tế duy nhất có thể đưa tin về tình hình đại dịch ở thành phố 11 triệu dân, với rất nhiều bức ảnh và video gây ấn tượng trong bối cảnh dịch bệnh đe dọa.


Users browsing this topic
Guest
33 Pages«<2829303132>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.