Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

32 Pages«<2627282930>»
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#541 Posted : Sunday, December 27, 2020 2:32:13 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Những ca khúc Giáng Sinh kinh điển

Gia Trình - RFI - 26/12/2020
Giáng Sinh 2020 trở thành một kỳ nghỉ đáng nhớ khi nhiều nước châu Âu đón chào Noel trong giãn cách xã hội. Không vì thế mà khán thính giả có thể bỏ qua bữa tiệc âm nhạc với các ca khúc Giáng Sinh kinh điển.

Thông điệp tình yêu và sum họp

Kho nhạc Giáng sinh đa dạng phong phú, không chỉ bó hẹp ở những ca khúc phổ thông như Jingle bell, Silent Night, Last Christmas. Vẻ đẹp của lễ Giáng Sinh ẩn chứa những thông điệp tình yêu, sự che chở và lịch sử phía sau từng bài hát.

Nhìn tổng thế, phần lớn các bài hát phản ảnh hình ảnh truyền thống của Giáng Sinh trắng, tuyết rơi, cả gia đình quây quần bên lò sưởi và cây thông. Theo đó, The Christmas Song do Nat King Cole thể hiện chiếm trọn trái tim người hâm mộ. Bài hát được sáng tác trong một ngày hè nóng nực năm 1945, bởi hai nhạc sỹ Robert Wells và Mel Torme. Chất giọng ấm áp của Nat King Cole ăn nhập tuyệt đối với giai điệu lãng mạn mùa đông với “hạt dẻ nướng”, “gà Tây”, “trang phục Eskimos” trong lời bài hát. Nat King Cole ghi âm lần đầu năm 1946. Nhạc phẩm này trở thành ca khúc Giáng Sinh ưa thích nhất.

Tương tự, giai điệu cuốn hút Feliz Navidad do Jose Feliciano, nhạc sỹ Puerto Rico sáng tác là một dấu ấn khó quên của mùa Giáng Sinh. Đây là bài hát gốc bằng tiếng Tây Ban Nha với điệp khúc tiếng Anh được nhạc sỹ tài hoa sáng tác từ nửa thế kỷ trước : “I wanna wish you a merry Christmas from the bottom of my heart'' (Anh muốn chúc em một Giáng Sinh vui vẻ từ đáy lòng mình). Sự đơn giản của giai điệu không đánh mất đi sức hút nam châm của bài hát. Trái lại, Feliz Navidad trở nên siêu phổ cập mùa Noel như bài hát Happy Birthday vang lên dịp sinh nhật.

Thông điệp đoàn tụ và ký ức chiến tranh

Mùa Giáng Sinh không chỉ dành cho gia đình sum họp bên nhau mà còn dành cho gia đình chia xa vì khoảng cách địa lý và xã hội. Chia xa với người mình yêu, bài hát của Darlene Love, Christmas (Baby Please Come Home / Giáng Sinh, hãy về nhà đi anh yêu) là một ca khúc hay về Giáng Sinh có tuổi đời gần 60 năm. Bài hát được tờ Rollingstone đánh giá là “khó ai vượt qua được cảm xúc và nội lực trong giọng hát Darlene”.

Ở bình diện rộng hơn, ca khúc I’ll Be Home for Christmas do nam danh ca Frank Sinatra thể hiện luôn có chỗ đứng trong tim người hâm mộ. Ca khúc được sáng tác dành tặng cho những người lính trong Đại chiến Thế giới thứ Hai. Tác phẩm thể hiện nỗi khắc khoải, man mác cho những trái tim cô đơn. Họ mơ về một kỳ nghỉ Noel đầm ấp bên người thân yêu mà không thể trở về nhà trong thực tại.

Mạnh mẽ hơn thế, ca khúc Happy Xmas (War Is Over / Chúc mừng Giáng Sinh, chiến tranh đã qua đi) của John Lennon năm 1971 xoáy sâu vào khía cạnh chính trị. Cảm hứng được John Lennon và vợ Yoko Ono lồng ghép nhằm phản đối cuộc chiến Mỹ tại Việt Nam thời điểm đó. Đây là ca khúc được cover lại rất nhiều lần bởi Celine Dion, Miley Cyprus hay Jerry Jucker mà không mất đi giá trị nhân văn của tác phẩm. Bài hát có giai điệu đẹp với dàn đồng ca thiếu nhi ngân nga điệp khúc chúc mừng Giáng Sinh.

And so happy Christmas ; For black and for white ; For yellow and red ones ; Let's stop all the fights.

Và chúc mừng lễ Giáng Sinh ; Tới người da đen, da trắng, da vàng và da đỏ ; Hãy cùng chấm dứt chiến tranh.

Màu sắc cảm xúc trái chiều đan xen

Bên cạnh thông điệp truyền tải, màu sắc giai điệu của các ca khúc Giáng Sinh cũng đa dạng không kém. Phần lớn khán giả cho rằng các ca khúc Giáng Sinh phải vui nhộn, hài hước, nhưng thực tế, các ca khúc Giáng Sinh có màu sắc u buồn vẫn được ưa thích.

Bản nhạc nữ minh tinh Judy Garland hát trong phim Meet me in St. Louis là minh chứng rõ nét. Ca khúc Have Yourself a Merry Little Christmas xuất hiện trong cảnh phim cả gia đình Esther, do Judy đóng phải chuyển lên New York bỏ lại quê nhà St. Louis. Bài hát có mục đích khích lệ tinh thần người em 5 tuổi của Esther vượt qua nỗi lo lắng, sợ hãi. Tuy màu sắc hơi đuộm buồn, giai điệu đầy cảm xúc rung lên trên thanh quản Judy Garland khiến cho bài hát trở nên bất tử. Vẻ đẹp của bài hát đã phản ánh trọn vẹn tình cảm của con người với mảnh đất họ gắn bó, lớn lên và từng trải.

Tương tự như minh tinh Judy Garland, ông vua nhạc rock and roll, Elvis Presley, ghi dấu ấn để đời với ca khúc Giáng Sinh buồn Blue Christmas. Đây là một ca khúc pha trộn nhạc country, pop, gospel nằm trong tổng thể album Giáng Sinh cùng tên. Tuy tâm trạng buồn đè nặng lên không khí bài hát, ca từ bài hát phản ánh được tia hy vọng lóe sáng trong cách thể hiện của Elvis. Bản nhạc còn được siêu sao nhạc country, Martina McBride song ca với Elvis Presley với nỗ lực làm mới đáng khen ngợi.

I'll have a blue Christmas without you ; I'll be so blue just thinking about you ; Decorations of red on a green Christmas tree ; Won't be the same dear, if you're not here with me.

Anh có một Giáng Sinh thật buồn vì thiếu vắng em ; Anh buồn vì chỉ nghĩ về em ; Trang trí quả cầu đỏ trên cây thông xanh Giáng Sinh ; Mọi thứ không như cũ nếu em không ở bên anh.

Ở chiều ngược lại, sự kỳ diệu ca khúc Giáng Sinh luôn đưa khán giả chìm đắm trong thế giới cổ tích của tuyết trắng, xe trượt, tuần lộc.

Nữ hoàng nhạc jazz, Ella Fitgerald cũng dẫn dắt thính giả thưởng ngoạn miền đất hứa của ông già Noel trong ca khúc Winter Wonderland. Đặc biệt, các khán giả Nam Bán cầu như Úc hay New Zealand chắc chắn sẽ là người khát khao nhất vì họ phải đón Giáng Sinh trong nắng nóng kỷ lục mùa hè.Sự điêu luyện và tinh tế trong cách thể hiện jazz Ella nuông chiều sự hưng phấn, thích thú trong kỳ nghỉ giống như Bing Crosby. Bản nhạc White Christmas của Bing không bao giờ phai nhòa vì sự tinh tế trong giai điệu và ca từ thổn thức đón chờ Giáng Sinh trắng kể từ năm 1941.

Rất khó khăn để bình chọn ca khúc Giáng Sinh hay nhất vì mỗi ca khúc đều có màu sắc, bối cảnh riêng. Điểm chung lớn nhất của những bài hát Giáng Sinh là kết nối nhân loại và những trái tim hướng về sự đoàn kết, chia sẻ, nhất là trong tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19.

(Theo Esquire, Guardian, Spotify)

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/27/2020(UTC)
viethoaiphuong
#542 Posted : Thursday, January 7, 2021 1:30:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Điểm lại 5 album nhạc xuất sắc năm 2020

Gia Trình - RFI - 02/01/2021
Trong năm 2020, làng âm nhạc thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề do đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, không vì thế mà chất lượng âm nhạc hay số lượng các album xuất sắc giảm sút.

RFI điểm lại 5 album xuất sắc và đáng nghe nhất năm 2020 trong Top 50 album do các tạp chí Rollingstone, New York Times, Guardian bình chọn. Đáng chú ý là số lượng các nghệ sỹ nữ hoàn toàn áp đảo phái mạnh trong danh sách bình chọn.

Dua Lipa - Album “Future Nostalgia”

Dua Lipa là một trong những nghệ sỹ thành công nhất năm 2020 nhờ album mới Future Nostalgia, cũng như nhờ sự kiện biểu diễn trực tuyến vào tháng 11. Đáng chú ý có hơn 5 triệu lượt khán giả truy cập livestream Studio2054 của Lipa để hòa nhịp với vũ đoàn sôi động.

Album mang nặng ảnh hưởng nhạc disco, pop thập niên 70, 80. Có thể liệt kê một số nghệ sỹ mà Dua Lipa chịu ảnh hưởng không nhỏ như Olivia Newton-John, Madonna, INXS, Lily Allen và The WHO. Điểm nhấn của album hình ảnh gợi cảm, giọng hát ngọt ngào nhưng đầy cá tính của ca sỹ gốc Albania-Kosovo.

Mười một ca khúc trong album sẽ luôn sẵn sàng biến ngôi nhà bạn thành một sàn nhẩy disco nhờ tài năng của Dua Lipa. Chắc chắn rằng khi sản xuất album, trong đầu nữ ca sỹ xuất hiện hình ảnh các hộp đêm và sàn nhẩy cuồng nhiệt, gợi nhớ ký ức trước khi đại dịch phủ bóng đêm. Cái tên Dua Lipa trong album mới hoàn toàn lấn lướt các tên tuổi gạo cuội của Lady Gaga hay Kylie Minogue.

Taylor Swift - Album “Folklore”

Không còn nghi ngờ, Folklore được đánh giá là album xuất sắc nhất sự nghiệp Taylor Swift cũng như danh sách album hay nhất năm 2020. Kết quả của việc hủy các tour lưu diễn toàn cầu của Swift không quá tệ hại như khán giả lầm tưởng. Trái lại, album thứ 8, Folklore, là trái ngọt của cô ca sỹ nhờ thứ âm nhạc lãng mạn, đằm thắm và ca từ khúc triết. Đáng nói là trong album này, cô xoay trục chỉ trích các bạn trai cũ sang các nhân vật tưởng tượng. Hơn thế, Taylor còn trải rộng đường biên cảm xúc và kỹ năng sáng tác nhạc.

Nhờ vậy, trong bối cảnh tối tăm của xã hội quay cuồng với đại dịch, người nghe vẫn cảm nhận âm nhạc lóe sáng và tươi đẹp. Cụ thể, cô đã xây một ngôi nhà bị ma ám ở Pennysylvania trong Seven, biến một người phụ nữ khác thành người hùng bi kịch trong August, vinh danh chiến thắng nhỏ nhoi trong thời khủng hoảng trong This Is Me Trying và thú nhận khát vọng được ổn định và làm mẹ trong ca khúc Peace.

Vì thế, Folklore là mũi tên bắn trúng nhiều đích khác nhau của Swift và hơn nữa gây bất ngờ cho khán giả hâm mộ. Ở tuổi 31, công chúa nhạc pop/country Taylor Swift vẫn duy trì được động lực sáng tạo và lao động nghệ thuật bất chấp việc giãn cách xã hội.

Bob Dylan - Album “Rough and Rowdy Ways”

Tên tuổi của nghệ sỹ kỳ cựu Bob Dylan được xướng tên trong năm nay, sau 8 năm vắng bóng. Như châm ngôn “gừng càng già càng cay”, sự chín muồi của Dylan được phản ánh hết trong các ca khúc đầy sự khôn ngoan và nhịp điệu chậm rãi.

Trong ca khúc dài nhất album, Murder Most Foul, ông như giãi bày ý nghĩ trên trang Facebook của thế hệ babyboomer: sự nuối tiếc với thập kỷ rock n roll, lịch sử nước Mỹ cũng như các học thuyết âm mưu. Ca khúc này có độ dài đáng kinh ngạc hơn 16 phút, trong đó Bob Dylan đóng vai người kể chuyện lịch sử.

Đặc điểm nổi bật trong âm nhạc của Bob Dylan chính là ca từ khúc triết và nội dung sâu sắc trong từng bài hát. Trong ca khúc Key West (Philosopher Pirate), ông đóng vai một người già ngân nga ca khúc cuối đời tại miền viễn xứ nước Mỹ với ly bia trong tay. Hay ở một góc nhìn khác, ông bị bỏ lại một mình bởi người bạn đã qua đời hoặc người tình (Tôi ước gì được bạn đưa đi cùng tới bất cứ nơi đâu bạn đến) trong ca khúc My Own Version of You. Bước sang tuổi 80 vào năm 2021 nhưng Dylan vẫn thiết lập chuẩn mực sáng tác cho nền âm nhạc xứ sở cờ hoa.

Twas a dark day in Dallas, November '63 ; A day that will live on in infamy ; President Kennedy was a-ridin' high ; Good day to be livin' and a good day to die ; Being led to the slaughter like a sacrificial lamb.

Một ngày đen tối ở Dalas năm 1963 ; Một ngày sẽ như vết nhơ trong lịch sử ; Tổng thống Kennedy rất hạnh phúc và phấn khích ; Một ngày đáng sống và đáng qua đời ; Dẫn tới kẻ sát nhân như một chú cừu tế thần

Fiona Apple - Album “Fetch the Bolt Cutters”

Cùng với Bob Dylan, sự tái xuất của Fiona Apple là điểm sáng cho làng âm nhạc bằng album mới Fetch the Bolt Cutters. Album cho thấy một tài năng bị giằng xé, đau đớn không thể thỏa hiệp. Được ghi âm trong vòng 5 năm tại nhà riêng Apple ở California, album này được giới phê bình đánh giá rất cao, coi nó như một tác phẩm kinh điển của tương lai. Cô đã phá tan sự kìm kẹp, chông gai và lột trần cảm xúc một cách mạnh mẽ để che giấu sự lạm dụng. Cần lưu ý rằng Fiona Apple luôn bị ám ảnh vì bị lạm dụng tình dục từ nhỏ.

Album mới cho thấy sự kết hợp hiếm thấy của những cải tiến, sáng tạo và những cảm xúc sâu thắm. Các nhà phê bình âm nhạc của các tờ báo uy tín như New York Times đã tặng cho album mới của Apple như “sự khôn ngoan”, “không biết sợ hãi”, “hợp tuyển nghệ thuật dễ bị tổn thương”. Tạp chí Rolling Stone nhận định đây là “phát ngôn chiến thắng của sự khám phá bản thân và tính đoàn kết”.

Sau 8 năm vắng bóng trong làng âm nhạc kể từ album The Idler Wheel (2012), album này được đánh giá thành công trong sự nghiệp của cô và có thể tỏa sáng hơn nữa. Âm nhạc của Fiona Apple không dễ nghe vì nó mang tính tự sự, giai điệu trầm bổng, khó đoán. Album này không phải ngoại lệ, không phù hợp để phát trên radio hàng ngày. Bạn không thể hấp thụ nhanh mà nó dành cho nỗi sợ hãi, hoan hỉ và cảm nhận.

Halsey - Album “Manic”

Khá bất ngờ khi Halsey, ngôi sao nhạc pop 26 tuổi người Mỹ, góp mặt trong danh sách bình chọn album hay nhất năm 2020. Album Manic (2020) của Halsey được đánh giá là triển vọng và nỗ lực mạnh mẽ nhất của ca sỹ kiêm nhạc sỹ sáng tác. Không chỉ vậy, tên của Halsey được tạp chí Time bình chọn trong danh sách 100 người ảnh hưởng lớn nhất trong năm 2020.

Trong album này, Halsey chứng tỏ cô sinh ra để viết nhạc với tâm hồn nhà thơ. Cô đã khắc họa chân dung nhiều mặt, đa màu sắc của người phụ nữ hiện đại luôn thay đổi như trong ca khúc mang dấu ấn cá nhân nhất album, 929.

I've got a long way to go until self-preservation ; Think my moral compass is on a vacation ; And I can't believe I still feed my ****ing temptation ; I'm still looking for my salvation.

Tôi phải trải qua một quãng đường dài cho tới khi gìn giữ cái tôi ; Nghĩ rằng la bàn đạo đức đang trong kỳ nghỉ. Tôi không thể tin rằng mình đang tiếp sức cho khát vọng tồi tệ. Tôi vẫn đang tìm kiếm sự giải cứu.

Ở chiều hướng khác, ca khúc You should be sad (Anh nên tỏ ra buồn bã) là một dẫn chứng sinh động để Halsey dọn đến ở Nashville, thủ phủ nhạc đồng quê, bằng chất liệu âm nhạc mộc mạc. Nhìn chung, Halsey dẫn dắt khán giả tới cảm xúc trực diện bằng thú nhận mạnh mẽ, hoặc đối diện với khía cạnh đạo đức trong album này.

(Theo Rolling Stone, Guardian, Billboard)





1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/7/2021(UTC)
viethoaiphuong
#543 Posted : Friday, January 8, 2021 9:34:02 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Phóng viên, tác giả nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam Neil Sheehan qua đời

VOA/AP - 08/01/2021
Neil Sheehan, phóng viên và tác giả từng đoạt giải Pulitzer, người làm cho New York Times trở thành tờ báo đầu tiên đưa tin về Hồ sơ Lầu Năm Góc và cũng là người viết cuốn sách động trời về những dối trá ở ngay tâm điểm của Chiến tranh Việt Nam, vừa qua đời hôm thứ Năm 7/1/2021, thọ 84 tuổi.

Ông Sheehan mất vì biến chứng của bệnh Parkinson, con gái ông, Catherine Sheehan Bruno, cho biết.

Ông đã dành 15 năm để viết cuốn sách về Chiến tranh Việt Nam có tên “Lời nói dối sáng lòa: John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam”. Cuốn sách xuất bản năm 1988 đã giành được giải thưởng Pulitzer cho thể loại phi hư cấu.

Ông Sheehan từng là phóng viên chiến trường của United Press International (UPI) và sau đó là New York Times trong những ngày đầu Hoa Kỳ dính líu vào Chiến tranh Việt Nam hồi những năm 1960. Chính ở đó, ông bắt đầu bị lôi cuốn vào “cuộc chiến vô vọng đầu tiên của chúng ta”, theo cách gọi của ông, là cuộc chiến mà “mọi người chết vô tích sự”.

Là cây bút ở tầm quốc gia của tờ New York Times (NYT) và thường trú ở thủ đô Washington, ông Sheehan là người đầu tiên thu thập được Hồ sơ Lầu Năm Góc, một bộ tài liệu đồ sộ về sự can dự của Hoa Kỳ vào Việt Nam được soạn thảo theo lệnh của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Ông Daniel Ellsberg, một cựu cố vấn của Bộ Quốc phòng, người trước đó đã tuồn ra các tài liệu khác liên quan đến Việt Nam cho Sheehan, đã cho ông Sheehan xem Hồ sơ Lầu Năm Góc.

Các phóng sự của NYT, bắt đầu đăng vào tháng 6/1971, phơi bày những dối trá tràn lan của chính phủ Mỹ khi nói về triển vọng chiến thắng. Ngay sau đó, Washington Post cũng bắt đầu đăng các bài về Hồ sơ Lầu Năm Góc.

Các tài liệu đã soi từng chi tiết về các quyết định và chiến lược của cuộc chiến. Và chúng cho thấy các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự hàng đầu đã đều đặn tăng sự can dự lên ra sao, đó là những người quá tự tin về triển vọng của Hoa Kỳ và lừa dối về những thành tích chống lại Bắc Việt.

Không đâu, Dan, tôi không ăn cắp. Và anh cũng vậy. Những tài liệu đó là tài sản của nhân dân Mỹ ... và họ có quyền được biết.
Ông Neil Sheehan

Ông Sheehan tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn năm 2015 với NYT, và tới hôm 7/1/2021 mới xuất hiện lần đầu vì ông Sheehan yêu cầu không công bố cho đến sau khi ông qua đời, rằng Ellsberg đã không đưa cho ông Hồ sơ Lầu Năm Góc như nhiều người nghĩ. Thật ta, ông đã lừa dối nguồn tin của mình và lấy chúng đi sau khi Ellsberg nói với ông rằng ông có thể xem các tài liệu đó chứ không được mang đi.

"Thực sự khá tức giận" bởi nội dung mà bộ tài liệu tiết lộ, ông Sheehan quyết định "rằng tài liệu này sẽ không bao giờ được cất trở lại trong két sắt của chính phủ nữa".

Ông Sheehan đã lén lút lấy các tài liệu ra khỏi căn hộ ở Massachusetts, nơi Ellsberg đã cất giữ chúng, và sao chép bất hợp pháp hàng nghìn trang và đưa chúng đến NYT.

Ngay sau khi những phóng sự mở đầu được đăng, chính quyền của Tổng thống Nixon ban hành lệnh nói rằng an ninh quốc gia bị đe dọa, và việc đăng bài bị dừng lại. Hành động này làm nổ ra cuộc tranh luận sôi nổi về Tu chính án thứ nhất, vấn đề nhanh chóng được chuyển lên Tòa án Tối cao. Vào ngày 30/6/1971, tòa phán quyết với tỉ lệ phiếu 6-3 ủng hộ việc cho phép đăng bài, và hai tờ New York Times, Washington Post tiếp tục đăng các câu chuyện của họ.

Loạt bài này của NYT giành được giải thưởng Pulitzer về phục vụ công chúng.

Chính quyền Nixon cố làm mất uy tín của ông Ellsberg sau khi bộ tài liệu được công bố. Một số phụ tá của Tổng thống Richard Nixon cố đột nhập vào văn phòng bác sĩ tâm thần của ông Ellsberg ở Beverly Hills để tìm thông tin có thể làm mất uy tín của ông.

Khi hai ông Sheehan và Ellsberg tình cờ gặp nhau ở Manhattan vào năm 1971, Ellsberg buộc tội Sheehan ăn cắp tài liệu, mà thực ra đúng là như vậy.

Trong cuộc phỏng vấn được công bố hôm 7/1/2021, ông Sheehan kể lại ông đã nói: “Không đâu, Dan, tôi không ăn cắp. Và anh cũng vậy. Những tài liệu đó là tài sản của nhân dân Mỹ. Họ đã chi trả cho chúng bằng ngân khố quốc gia của họ và xương máu của các con trai của họ, và họ có quyền được biết".

Vì làm rò rỉ Hồ sơ Lầu Năm Góc, ông Ellsberg bị buộc tội trộm cắp, âm mưu và vi phạm Đạo luật Gián điệp, nhưng vụ án của ông khép lại với kết luận là trình tự pháp lý đã sai khi xuất hiện bằng chứng cho thấy đã xảy ra nghe lén và đột nhập theo lệnh của chính phủ.

Sau khi các bài về Hồ sơ Lầu Năm Góc được đăng, ông Sheehan ngày càng muốn cố nắm bản chất của cuộc chiến phức tạp và đầy mâu thuẫn, vì vậy ông bắt đầu viết sách.

“Mong muốn của tôi là cuốn sách sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về cuộc chiến”, ông nói trong một cuộc phỏng vấn năm 1988 được phát sóng trên C-SPAN. "Việt Nam sẽ chỉ là một cuộc chiến tranh vô ích nếu từ đó chúng ta không rút ra được bài học khôn ngoan nào".

Ở tâm điểm trong câu chuyện của mình, ông Sheehan sử dụng nhân vật điển hình là John Paul Vann, một trung tá lục quân có nhiều sức hút, người từng là cố vấn cấp cao cho quân đội miền Nam Việt Nam vào đầu những năm 1960, hồi hưu khỏi Lục quân với sự thất vọng, sau đó trở lại Việt Nam và tái tham gia vào cuộc chiến, lúc này với tư cách nhân viên dân sự giúp đỡ thực hiện các hoạt động trực tiếp.

Vann tin rằng Hoa Kỳ lẽ ra có thể thắng trong cuộc chiến nếu họ có những quyết định tốt hơn. Đối với Sheehan, Vann đã nhân cách hóa niềm tự hào, thái độ tự tin và ý chí quyết liệt của Hoa Kỳ để giành chiến thắng trong cuộc chiến - những phẩm chất làm mờ đi sự phán xét của một số người về việc liệu có thể thắng được cuộc chiến hay không.

Mong muốn của tôi là cuốn sách sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn về cuộc chiến. Việt Nam sẽ chỉ là một cuộc chiến tranh vô ích nếu từ đó chúng ta không rút ra được bài học khôn ngoan nào.
Ông Neil Sheehan

Cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, một cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam, nói với khán giả tại buổi chiếu một phim tài liệu về Việt Nam năm 2017 rằng ông không hiểu hết vì sao người ta tức giận về cuộc chiến tranh cho đến khi ông đọc cuốn “Lời nói dối sáng lòa”. Cuốn sách cho ông thấy rằng từ thấp đến cao trong bộ máy, “mọi người chỉ nhăm nhăm nạp vào các thông tin ảo diệu và nhiều người mất mạng vì dựa trên những lời nói dối và những thông tin bị bóp méo đó”, theo một bài tường thuật của NYT.

Neil Sheehan sinh ngày 27/10/1936 tại Holyoke, Massachusetts, và lớn lên trong một trang trại bò sữa. Ông tốt nghiệp trường Harvard, và là một nhà báo của Lục quân Mỹ trước khi gia nhập UPI.

Sau khi Sheehan rời Việt Nam, ông làm việc cho tờ New York Times ở thủ đô Washington với tư cách là phóng viên chuyên trách về Lầu Năm Góc và sau đó là về Nhà Trắng, trước khi rời tờ báo để viết sách.

Ông và vợ, bà Susan, một cây viết của tờ The New Yorker, và về sau bà cũng đoạt giải Pulitzer, đôi khi phải chật vật mới kiếm đủ tiền trả các hóa đơn của gia đình trong khi ông tập trung viết sách. Ông phải kết hợp các khoản học bổng và những khoản tiền tạm ứng từ nhà xuất bản để sống qua ngày.

Một khi Sheehan khởi động dự án án, là người đầy đam mê và có mục đích, ông nhận thấy nó chiếm lấy hầu hết cuộc sống của ông.

“Đúng ra là tôi bị mắc kẹt vào trong đó hơn là tôi bị ám ảnh về nó”, ông nói với The Harvard Crimson vào năm 2008. “Tôi cảm thấy rất rõ khi bị mắc kẹt”.

Ông Sheehan đã viết một số cuốn sách khác về Việt Nam, nhưng không cuốn nào bằng cuốn sách đầy tham vọng “Lời nói dối sáng lòa”. Ông cũng viết cuốn “Một nền hòa bình rực lửa trong Chiến tranh Lạnh” nói về những người phát triển hệ thống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa.

Ông Neil và bà Susan Sheehan có hai con gái, Catherine Bruno và Maria Gregory Sheehan, cả hai đều là người Washington, và ông bà có hai cháu trai, Nicholas Sheehan Bruno, 13 tuổi và Andrew Phillip Bruno, 11 tuổi.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/8/2021(UTC)
viethoaiphuong
#544 Posted : Saturday, January 9, 2021 7:25:06 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Khi các bạn nhạc đổi tên

Gia Trình - RFI - 09/01/2021
Hai nhóm nhạc country đình đám Lady Antebellum và Dixie Chicks đồng loạt tuyên bố đổi tên ban nhạc trong năm 2020. Việc đối tên nhưng không thay đổi các thành viên đã hé lộ nhiều chi tiết thú vị. Đó là những thay đổi mạnh mẽ về văn hóa ứng xử trước làn sóng phản đối nạn phân biệt chủng tộc trên xứ sở cờ hoa.

Lady Antebellum - Lady A

Bộ ba nhạc country Lady Antebellum giờ đã thay tên mới, Lady A, ngắn gọn hơn trước rất nhiều. Đồng thời, nhóm chính thức tuyên bố trên phương tiện truyền thông, mạng xã hội, kênh Spotify, Apple Music, về sự thay đổi này. Với cái tên ngắn gọn, dễ nhớ, nhóm nhạc country không chỉ muốn nhấn vào sự đơn giản mà còn ý nghĩa sâu sa khác. “Antebellum” là cụm từ ám chỉ nô lệ, xoáy vào thời kỳ nội chiến nước Mỹ.

Trên Instagram, nhóm tỏ ra tiếc nuối và xin lỗi khán giả vì không cân nhắc tới việc tên gọi này liên quan tới lịch sử đen tối nước Mỹ. Đổi sang tên mới Lady A, nhóm có những thay đổi cần thiết để xóa đi vấn đề phân biệt chủng tộc nhức nhối sau sự kiện Black Lives Matter hồi tháng 5 năm 2020. Hơn thế nữa, nhóm quyên góp vào quỹ từ thiện Equal Justice Initiative như minh chứng nỗ lực bình đẳng xã hội : “Trái tim chúng tôi bị khuấy đảo bởi sự kết tội, đôi mắt chúng tôi mở rộng ra để thấy chân lý, sự bất bình đẳng với phụ nữ và nam giới da đen luôn xảy ra trước mắt và phải đối diện hàng ngày”.

Thành lập từ năm 2006 tại thủ phủ nhạc đồng quê, Nashville, Lady A rất ngẫu nhiên chọn một tên “antebellum” như phản ánh chất liệu âm nhạc quê hương họ. Đó là thứ âm nhạc đậm chất miền Nam: rock, blues, gospel, R&B và không thể thiếu sự cô đặc của country.

Ba thành viên của nhóm gồm giọng nữ chính và bè Hillary Scott, Charles Kelley (giọng nam chính, hát bè và guitar) và Dave Haywood (hát bè, chơi guitar, piano, mandolin). Sức hút của Lady A đến từ những bản ballad dịu ngọt, man mác buồn như Need you now, Just a kiss chinh phục trái tim khán giả. Ca khúc Need You Now được coi là đĩa đơn hạng bạch kim ở Mỹ, lọt top 2 bảng xếp hạng Billboard. Nhóm từng đoạt 5 giải Grammy trong số 10 đề cử.

Với những thành công nhất định, việc thay đổi tên của ban nhạc chắc chắc sẽ tạo được thiện cảm hơn với khán giả. Tuy nhiên, nhóm Lady A dính vào rắc rối không nhỏ với việc trùng nghệ danh ca sỹ nhạc blue/jazz của nữ ca sỹ Anita White. Nữ ca sỹ người Mỹ gốc Phi này khẳng định sử dụng tên Lady A trong 20 năm qua với chất âm nhạc soul, funk, gospel.

Câu chuyện trùng tên kéo theo việc kiện tụng kéo dài về tranh chấp thương hiệu. Anita đòi bồi thường hơn 5 triệu đô la Mỹ kèm theo 5 triệu đô la quyên góp cho quỹ từ thiện Seattle, chuyên bảo vệ pháp lý cho các nghệ sỹ độc lập và Black Lives Matter. Mặc dù hai bên Lady A đã gặp gỡ, trao đổi nhưng không đi đến thống nhất. Nhóm nhạc dành phần thắng pháp lý nhưng ca sỹ Lady A chưa chịu bỏ cuộc. Nữ ca sỹ vẫn tiếp tục kháng cáo yêu cầu bồi thường do mất thu nhập vì bị trùng tên. Xem ra câu chuyện đổi tên có nhiều vướng mắc hơn ý nghĩ tốt đẹp sơ khai của ban nhạc country Lady A.

Dixie Chicks - The Chicks

Tiếp bước Lady A, nhóm nhạc nữ Dixie Chicks cũng tuyên bố đổi tên sang một cái tên đơn giản và dễ nhớ hơn, The Chicks. Họ bỏ đi từ “Dixie” vì nó gắn liền với biệt danh của cuộc nội chiến miền Nam nước Mỹ. The Chicks chính thức phổ cập trên phương tiện truyền thông, video clip mới phát hành, đồng thời người đại diện nhóm chính thức xác nhận thông tin này. Nhóm nhạc nữ từng đoạt 13 giải Grammy này may mắn hơn so với Lady A vì không dính vào nhiều rắc rối pháp lý. Họ cũng dàn xếp với nhóm nhạc pop trùng tên ở New Zealand thập niên 1960 nhưng đạt kết quả êm thấm hơn nhiều.

The Chicks gồm ba thành viên chính Natalie Maines, Emily Strayer và Martie Maguire, từng lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ tổng thống George W. Bush về chiến dịch tấn công Irak năm 2003. So với Lady A, bề dày thành tích và mức độ phủ sóng của The Chicks nổi trội hơn hẳn. Thành lập ở Dallas, Texas từ năm 1989, sự nổi tiếng của nhóm chỉ khởi sắc khi Natalie Maines gia nhập nhóm năm 1995. Giới phê bình đánh giá họ đã đem hơi thở pop sôi động vào dòng nhạc bluegrass hoài cổ.

Nhóm từng đoạt giải Grammy Album xuất sắc nhất năm cho album Taking The Long Way năm 2006. Đây là một album phản đối chiến tranh với thông điệp sắc từ Natalie Maines : “Chúng tôi không muốn cuộc chiến tranh này, bạo lực này, và đáng hổ thẹn và tổng thống nước Mỹ (lúc đó là George W. Bush) cũng đến từ Texas”.

Một thời kỳ vàng son, The Chicks bám trụ trên sóng radio Mỹ với các bản hit xuất sắc như Wide Open Spaces, Without You. Tuy nhiên, sau vụ chỉ trích năm 2006, bộ ba đã hứng chịu sự tẩy chay khá gay gắt từ phía khán giả, gạt bỏ các bản hit lừng lẫy của nhóm ra khỏi danh sách phát nhạc. Hơn thế nữa, hiệu ứng lan truyền của The Chicks còn ảnh hưởng tới các ngôi sao khác như Taylor Swift, vì ca sỹ tóc vàng từng mời nhóm diễn chung trong album Lover. Trong phim tài liệu Miss Americana, Taylor Swift cũng tiết lộ lo lắng bị khán giả quay lưng khi bắt tay hợp tác với nhóm The Chicks.

Rõ ràng, thông điệp phản kháng mạnh mẽ như con dao hai lưỡi. Nó có thể đặt nghệ sỹ lên tầm cao mới nhưng cũng có thể phá bỏ thành quả lao động nghệ thuật của họ bấy lâu nay. Ở góc nhìn khác, tinh thần lao động và sáng tạo không mệt mỏi vẫn tìm được chỗ đứng trong lòng người hâm mộ. Với nghệ danh mới, trong video clip mới phát hành March, March, ban nhạc đến từ bang Texas tái hiện chân thực đầy đủ cuộc phản kháng hiện tại quá khứ về quyền lợi của phụ nữ, của người đồng tính, phá hủy môi trường và Black Lives Matter.

Sự kiện đổi tên này diễn ra trước khi nhóm giới thiệu album mới nhất Gaslighter vào tháng 7 năm 2020. Album mới nhất, Gaslighter của The Chicks được đón nhận và được xếp hạng trong top album xuất sắc nhất năm 2020.

Việc đổi tên ban nhạc cũng như thay đổi nhận thức khán giả không hề dễ dàng vì nghệ sỹ vẫn phải duy trì cả hai tên cũ và mới trên các kênh Youtube hay Spotify. Nhưng đây là ví dụ điển hình nhất của các ban nhạc tầm cỡ phải điều chỉnh hành vi ứng xử trước những biến cố lịch sử và xã hội. Đồng thời, thông điệp đổi tên nói lên sự tôn trọng nét đa dạng của tầng lớp khán giả và nền văn hóa đa sắc tộc Hoa Kỳ.

(Theo Rollingstone, New York Times, The Guardian)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/9/2021(UTC)
viethoaiphuong
#545 Posted : Friday, January 15, 2021 7:34:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

RFI - 15/01/2021

(AFP) – Lady Gaga và Jennifer Lopez sẽ hát trong lễ nhậm chức của Biden. Hai ngôi sao nhạc pop Lady Gaga và Jennifer Lopez sẽ trình diễn trong buổi lễ nhậm chức tổng thống của ông Joe Biden ngày 20/01/2021 tại Washington. Riêng Lady Gaga sẽ hát quốc ca trên các bậc thềm của điện Capitol. Cả hai ca sĩ này đều ủng hộ Joe Biden lúc ông đang vận động tranh cử. Hồi năm 2017 khi Barack Obama tái đắc cử, quốc ca Mỹ được Beyoncé trình diễn.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/15/2021(UTC)
viethoaiphuong
#546 Posted : Saturday, January 16, 2021 9:27:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nghe nhạc trực tuyến (streaming music) hay đĩa Vinyl?

Gia Trình - RFI - 16/01/2021
Câu chuyện xu hướng nghe nhạc bằng phương tiện gì đang làm dậy sóng truyền thông. Đại dịch Covid-19 khiến cho thị trường streaming music (nghe nhạc trực tuyến) bùng nổ. Tuy nhiên, xu hướng chơi đĩa than (vinyl records) đang âm thầm nóng lên từng ngày. Liệu lối nghe nhạc hiện đại có giết chết được thú chơi tao nhã ngày xưa?

Xu hướng nghe nhạc bằng music-streaming

Không thể phủ nhận được lợi ích và tính năng của kho nhạc trực tuyến của hàng loạt nhà cung cấp tên tuổi như Apple Music, Spotify… Người dùng có thể truy cập hàng triệu bài hát trong vài giây, tất nhiên với khoản phí cố định hàng tháng cho nhà cung cấp. Trước lợi ích tột bậc đó, quả táo khuyết Apple phải khai tử sản phẩm con cưng máy nghe nhạc sau hơn 20 năm ra mắt thị trường. Ipod là sản phẩm đột phá 20 năm trước, thay thế đĩa CD đang thông dụng lúc đó, khi nó có thể chứa hàng nghìn bài hát trong chiếc máy nhỏ gọn. Đi theo cùng năm tháng, sản phẩm Ipod giờ lỗi mốt với kho nhạc khổng lồ streaming music nhờ sự phát triển vũ bão của smart-phones, một biển kho ứng dụng và kết nối Internet 4G và sắp tới là 5G.

Trong thời đại dịch, xu thế streaming music càng như diều gặp gió khi hầu hết các nước đều cách ly xã hội, mọi người tìm thú vui giải trí nghe nhạc trực tuyến. Theo con số mới được tiết lộ, chỉ tính riêng ở Mỹ đã có 872,6 tỷ lượt nghe nhạc bằng streaming music, tăng 17% so với năm trước. Người thắng cuộc năm 2020 thuộc về rapper Lil Baby với album My Turn ra mắt tháng 2 năm 2020. Tính riêng cuối năm, album này đã đón nhận 3,9 tỷ lượt nghe theo yêu cầu trên stream music. Chỉ tính riêng bài hát thì The Box của Roddy Ricch có hơn 1,3 tỷ lượt nghe trên toàn nước Mỹ và trên toàn cầu, vinh dự thuộc về ca khúc WAP của Cardi B với Megan Thee Stallion.

Mặc dù giảm sút vào 2 tháng đầu tiên của lock down, việc sử dụng và truy cập streaming music được duy trì và nở rộ vào các tháng tiếp sau khiến cho tăng trưởng của streaming music vẫn được duy trì ở mức 17%. Và xu hướng này không chỉ diễn ra tại Mỹ mà trên phạm vi toàn cầu. Theo số thống kê của MRC, nhu cầu nghe nhạc trực tuyến đã tăng tới 22,6% trong năm 2020. Đồng thời, MRC, đơn vị nghiên cứu, quy đổi số lượt nghe sang mức tiêu thụ album, thì My turn của Lil Baby vẫn giữ vị trí đầu bảng xếp hạng, tương ứng 2,63 triệu đơn vị album quy đổi. Nối gót là nữ ca sỹ Taylor Swift cùng album xuất sắc Folklore với 2,2 triệu album tương đương.

Sụt giảm của tải nhạc và tiêu thụ nhạc số (digital music)

Sự tiện lợi và đa dạng trong kho nhạc streaming music khiến cho nhu cầu tải nhạc và bán các album nhạc số trở nên khó khăn hơn. Tại Mỹ, số lượng tải nhạc giảm 22,3% xuống còn 301 ca khúc với doanh số 304 triệu đô la. Trong khi đó, mức độ sụt giảm tải nhạc là 19,2%. Xu hướng này tương đồng với công nghệ đám mây (cloud services) mà các hãng phần mềm lớn như IBM, Microsoft triển khai. Thay vì tải các phần mềm về, giờ đây người dùng lưu trữ hết trên các đám mây, tránh tốn kém bộ nhớ thiết bị.

Trong khi lượng tiêu thụ CD giảm rõ nét thì đĩa vinyl (đĩa than) lại có mức độ hấp thụ cao kỷ lục. Tính riêng tại Mỹ, lượng đĩa than tiêu thụ lên đến 27,5 triệu bản, tăng hơn 46,2% so với năm trước. Tại Anh, doanh số đĩa than cũng tăng hơn 10%, đẩy doanh số phá mốc 100 triệu bảng Anh.

Phải chăng đại dịch Covid-19 đã góp phần thay đổi xu hướng tiêu dùng của người nghe nhạc? Cho dù các shop âm nhạc phải đóng cửa vì đại dịch, doanh số bán đĩa than online trên các kênh Amazon hay các hãng bán lẻ vẫn tăng trưởng tốt. Xu hướng nghe đĩa vinyl thực chất đã bén rễ từ vài năm trước. Nhờ có đại dịch, tiêu thụ đĩa than được tiếp thêm động lực nhờ phân khúc khán giả sành sỏi. Đa phần họ hoài cổ, cầu kỳ và đòi hỏi mức độ tinh tế về âm thanh hơn là sự đơn giản, tiện lợi của kho nhạc streaming music.

Chỉ tính riêng tại Anh, album của ngôi sao alternative rock Ireland, Sinead O’Connor và ban nhạc pop thập niên 90, New Kids On The Block nhảy lên thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng âm nhạc. Đồng thời các ngôi sao disco/dance thịnh hành của 20-30 năm trước, Kylie Minogue được tận hưởng dư âm chiến thắng ngọt ngào với sản phẩm đĩa than.

Thú vị hơn nữa, băng cassette giờ cũng được ưa chuộng trở lại, tất nhiên, thị phần thua kém hơn so với đĩa than. Doanh số các album nhạc trên băng cassette đạt mốc 1 triệu bảng tại Anh, tăng hơn 85% so với năm trước. So với băng cassette và đĩa than, đĩa CD lại chứng kiến sự sụt giảm mạnh mẽ tới hơn 30% tại Anh. Theo con số chưa chính thức, doanh số bán CD tại Anh có thể chỉ đạt 150 triệu bảng Anh, mức thấp nhất kể từ năm 1987.

Bức tranh phân hóa thị trường âm nhạc

Nhìn một cách toàn diện, thị trường âm nhạc đang có sự phân hóa rất rõ nét. Trong khi streaming music hoàn toàn áp đảo xu thế nghe nhạc thì làn sóng hoài cổ với đĩa than vẫn trụ vững và tăng trưởng đều. Có vẻ như tiêu thụ đĩa CD hay tải nhạc được coi là kém hấp dẫn, nằm ngoài cuộc chơi giữa hai xu thế đang bùng nổ.

Vậy giữa streaming music và đĩa vinyl, đâu là điểm mấu chốt khiến cho người nghe nhạc phải lựa chọn?

Một bên chắc chắn thuộc về lớp thính giả hiện đại, trẻ trung, còn xu thế còn lại dành cho khán giả kỹ tính và hoài cổ. So với streaming music, chơi đĩa than khá tốn kém, đòi hỏi máy nghe nhạc, đặc biệt không thể nhảy bài tùy tiện như trên Spotify. Chất lượng âm thanh của đĩa vinyl vượt trội về độ trung thực. Độ rè, âm thanh có phần thô mộc hơn là âm nhạc số digital trơn tru. Ngoài ra, câu trả lời có thể nằm ở thể loại âm nhạc và độ tuổi của khán giả khi nhìn vào miếng bánh của từng sản phẩm.

Đối với streaming music, thì rap/hip-hop vẫn là thể loại được ưa thích nhất với gần 1/3 lượt nghe, chiếm 28%. Tiếp theo là rock 19,5% và pop 12,9%. Lát cắt này có thể giúp chúng ta nghĩ rằng thế hệ Z là thượng đế của streaming music vì sự hiện đại, trẻ trung và yếu tố công nghệ luôn là thỏi nam châm thu hút họ.

Chuyển sang thị trường đĩa vinyl, không khỏi ngạc nhiên khi thấy tên các nghệ sỹ lọt trong top 10 album bán chạy nhất. Đó là chủ yếu là các nghệ sỹ pop/rock, jazz kỳ cựu với các album kinh điển đi cùng năm tháng. Ví dụ như nhóm Oasis với album Morning Glory (1995), ban nhạc kỳ cựu Fleetwood Mac với Rumours (1977), Back to Black (2006) của ngôi sao nhạc jazz quá cố Amy Winehouse. Trong top 10 này chỉ có album của Harry Style, ngôi sao trẻ đình đám nhất 2020 với phong cách thời trang ấn tượng trên tờ Vogue.

Khó có thể nói xu thế nào sẽ thắng thế trong 5 năm tới nhưng rõ ràng các nhà sản xuất âm nhạc đang là những người đau đầu nhất. Nếu phỏng vấn nghệ sỹ Don McLean, nối tiếng với ca khúc American Pie (1972), ông sẽ không hoài nghi một ngày âm nhạc thực thụ sẽ chết đi. Giờ đây, các ca khúc bất hủ vẫn được tìm kiếm tích cực trên kho nhạc streaming music hay đĩa vinyl theo phong cách hợp gu khán giả nhất.

(Theo Variety, The Guardian, Rollingstones)

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/16/2021(UTC)
viethoaiphuong
#547 Posted : Saturday, January 23, 2021 8:53:44 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

The Gypsy Queens nổi tiếng nhờ nghề "hát rong"

Tuấn Thảo - RFI
Khi nhắc đến cái tên The Gypsy Queens, hẳn chắc các bạn sẽ nghĩ tới ngay một ban nhạc giống như nhóm Gipsy Kings, với điểm khác biệt là nhóm này chỉ bao gồm các nữ thành viên. Thật ra, về mặt đội hình, ban nhạc Pháp The Gypsy Queens lại giống như một ‘‘boys band’’ đường phố, với các tiết mục biểu diễn đa dạng, có thể hát trong nhiều thể loại và bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.

The Gypsy Queens mới thành danh trong vài năm gần đây nhưng thật ra họ đã có gần 20 năm tay nghề. Nhóm này ban đầu chỉ có hai thành viên (Didier Casnati người Ý và Philip Jones người Mỹ), họ hoạt động như một ban song ca và do nam ca sĩ chính Didier Casnati sáng lập. Sinh trưởng tại Varese (một thị trấn phía bắc thành phố Milano) Didier Casnati sau khi đỗ bằng tú tài rời Ý sang Pháp lập nghiệp. Anh ghi tên vào đại học luật khoa thành phố Nice (nay là trường Sophia Antipolis).

Ngoài giờ học, Didier Casnati đi làm thêm để kiếm tiền trang trải học phí hầu đỡ bớt gánh nặng cho gia đình, nhờ tướng mạo điển trai, anh thường làm người mẫu chụp hình hay đóng phim quảng cáo. Trong suốt những năm tháng đầu đời, Didier Casnati âm thầm đeo đuổi đam mê ca hát, dành dụm tiền để tự ghi âm đĩa nhạc. Bên cạnh đó, anh còn kiếm sống nhờ nghề "hát rong, hát dạo" ở ngoài đường phố, trước các quán cà phê vỉa hè, nhân các buổi tiệc sinh nhật ngoài trời hay trong các buổi dạ tiệc tổ chức ở tư gia.

Chính các buổi private party tổ chức ở nhà riêng ấy đã thúc đẩy Didier Casnati thành lập nhóm The Gypsy Queens (khái niệm Gypsy ở đây gợi lên hình tượng của người chuyên đi hát rong, những nghệ sĩ du ca, chứ không phải là người du mục theo đúng nghĩa của từ, như trong trường hợp của hai nhóm Gipsy Kings và Chico & The Gipsies). Ban đầu là một ban song ca, nhóm này lần lượt tuyển thêm nhạc sĩ để hợp thành một nhóm (tự xưng là ban nhạc Pháp) gồm tới 5 thành viên với 5 quốc tịch khác nhau (Ý, Anh, Mỹ, Na Uy và Mêhicô).

Về mặt biểu diễn, The Gypsy Queens thường hát thêm theo yêu cầu của thính giả và khách mời : chính cũng vì thế mà họ buộc phải có nhiều tiết mục ca nhạc khác nhau, các thành viên thường biết chơi nhiều nhạc khí cũng như có sở trường hát đủ mọi thể loại trong nhiều thứ tiếng. Riêng về điểm này, The Gypsy Queens gần giống với ban nhạc Pink Martini, có thể hát nhiều thể loại như pop, jazz, rock, blues, country trong 4 thứ tiếng kể cả tiếng Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha ……

Với hàng trăm buổi trình diễn mỗi năm kể từ năm 2007 trở đi, đa phần là các buổi tiệc nhỏ tại vùng French Riviera (Côtes d’Azur gồm cả Nice, Cannes, Saint-Tropez hay là Monte Carlo) nhưng không phải vì thế mà The Gypsy Queens chơi nhạc theo kiểu văn nghệ nghiệp dư, đổi lại nhóm này chơi rất chuyên nghiệp, với lý do đơn giản là khách hàng của họ thường là những nhân vật nổi tiếng kể cả ngôi sao điện ảnh (Robert De Niro), thể thao (David Beckham), thời trang (Jean Paul Gaultier) và dĩ nhiên trong số đó có cả các nghệ sĩ tên tuổi như Madonna, Elton John, Bono, Rod Stewart, Andrea Bocelli, Quincy Jones ……) Vì thế The Gypsy Queens lại càng không thể múa rìu qua mắt thợ.

Cách đây 5 năm, tài nghệ chơi nhạc của nhóm The Gypsy Queens lọt vào tai nhà sản xuất Nick Raphael, giám đốc nghệ thuật làm việc cho hãng đĩa London Records, chi nhánh của tập đoàn Universal Music. The Gypsy Queens ký hợp đồng ghi âm, nhưng với điều kiện là vẫn giữ cái quyền tự tổ chức các buổi biểu diễn tại Pháp bởi vì đó là nguồn thu nhập chính của nhóm.

Sau một thời gian hoạt động trong ngành giải trí, kể cả hợp tác với nhiều nghệ sĩ quốc tế chẳng hạn như Jaime Cuadra, danh ca người Peru nổi tiếng ở Nam Mỹ, Didier Casnati nhận ra rằng tiền tài, danh vọng rất bấp bênh, phù du. Có lẽ cũng vì thế mà anh và nhóm The Gypsy Queens chọn ăn chắc mặc bền, họ tự quản lý điều hành, hầu giữ nguyên tính độc lập chứ không thông qua các manager hay lệ thuộc vào các nhà đầu tư.

The Gypsy Queens thu hút sự chú ý ngay từ album đầu tay nhờ ghi âm lại (cover) các bản nhạc quen thuộc tiếng Tây Ban Nha như Malagueña, El Cuarto de Tula, tiếng Pháp như Sympathique hay là Aicha, tiếng Anh Take Me Home Country Roads và Ventura Highway, trong tiếng Ý có các bài như Volare và nhất là L’Italiano, nguyên tác của Toto Cutugno, từng ăn khách vào năm 1983. Giới hâm mộ ở Việt Nam biết đến bài này nhờ cả hai phiên bản tiếng Ý và phiên bản chuyển lời tiếng Việt “Say Tình”. Trong tiếng Ý, ngoài tác giả Toto Cutugno còn có lối diễn đạt khá thành công của Patrizio Buanne cũng như của nhóm The Gypsy Queens những năm gần đây.

Sau khi phát hành liên tiếp hai tập nhạc The Debut Album vào năm 2012 và Lost In The Music năm 2014, The Gypsy Queens tiếp tục đi biểu diễn kiếm tiền để nuôi dưỡng và tài trợ các dự án ghi âm trong tương lai. Dòng nhạc của nhóm này càng lúc càng phong phú đa dạng, có thêm nhạc soul và reggae phối với một chút acoustic pop, nhưng thế mạnh của ban nhạc này vẫn là tình ca Ý và các bản nhạc kinh điển La Tinh.

Khác với các thí sinh chuyên tham gia các cuôc thi hát truyền hình, từ chỗ vô danh đột ngột nổi tiếng như sóng cồn để rồi sau đó khó trụ vững được lâu, ban nhạc The Gypsy Queens có quá trình làm việc đầy mồ hôi của những người đam mê biểu diễn, mang nặng nghiệp hát. Cho dù họ không nổi tiếng như các bậc đàn anh như Gipsy Kings hay Pink Martini, nhưng nhóm này vẫn miệt mài đeo đuổi những gì họ đang làm. Về điểm này, ca sĩ chính của nhóm Didier Casnati thường hay nói đùa : trong số các ban nhạc ít được công chúng biết đến, The Gypsy Queens lại là nhóm nổi tiếng nhất.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/23/2021(UTC)
viethoaiphuong
#548 Posted : Sunday, January 24, 2021 9:54:08 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nghệ sĩ và mạng xã hội trong bóng đêm đại dịch

Gia Trình - RFI - 23/01/2021
Năm 2020 là một nốt trầm với làng âm nhạc khi hàng loạt tên tuổi lớn đã ra đi hoặc công bố nhiễm bệnh Covid-19. Nhờ có mạng xã hội, khán giả tiếp cận dễ dàng hơn với thông tin của nghệ sĩ để ý thức được sự nguy hiểm của dịch bệnh. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng gây không ít phiền toái cho nghệ sĩ và khán giả.

Những mất mát do Covid-19

Không gì đau xót hơn khi chứng kiến các ngôi sao chúng ta yêu mến qua đời vì dịch bệnh. Đó là trường hợp của giọng ca vàng nhạc Việt, ca sĩ Lệ Thu vĩnh viễn chia tay khán giả ở tuổi 78. Bà tên thật là Bùi Thị Oanh, đã trút hơi thở cuối cùng khi không qua khỏi chống chọi với bạo bệnh. Giọng hát gắn liền với bản tình ca của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn Như cánh vạc bay xuyên thời gian và không gian.

Để mô tả cuộc đời và sự nghiệp của Lệ Thu, chỉ cần gói ghém một từ duy nhất : Buồn, từ chuyện gia đình, tình cảm và dồn nén trong tiếng hát u sầu trên sân khấu. Bà trải qua ba cuộc hôn nhân đổ vỡ và chọn cuộc sống đơn độc đến cuối đời. Nghệ sĩ Kim Cương chia sẻ “Giọng hát Lệ Thu chất chứa nỗi niềm một trái tim không trọn vẹn trong tình yêu”.

Khác với nghệ sĩ cùng thời như Khánh Ly hay Thái Thanh, tên tuổi của Lệ Thu không đóng đinh với một tác giả nào. Tiếng hát Lệ Thu góp phần kiến tạo sức sống của các nhạc phẩm vượt thời gian như Mùa Thu Chết, Mười năm tình cũ, Xin còn gọi tên nhau, Hạ Trắng, Cát Bụi.

Điểm đặc biệt ở tiếng hát Lệ Thu là sự làm chủ cảm xúc và độ chân thật rung lên trong cuống họng ở từng câu hát. Đại dịch có thể cướp đi sinh mạng ca sĩ tuổi thất thập nhưng không phá bỏ ký ức về giọng ca uẩn ức, buồn man mác trong liên khúc Nắng Thủy Tinh - Nhìn Những Mùa Thu đi.

Ở bình diện rộng hơn, năm 2020 đánh dấu sự mất mát với hàng loạt nghệ sĩ lớn. Charles Pride, nghệ sĩ Mỹ gốc Phi đầu tiên được vinh danh ở Country Hall of Fame qua đời ở tuổi 86. Charles xuất bản nhiều album, tiêu thụ đến 25 triệu album với các ca khúc được yêu thích như Someone loves you honey (Một ai đó yêu em), Kiss an Angel Good Morning, Is Anybody Goin' to San Antone, Mountain of Love.

Nhìn chung, yếu tố tuổi tác cộng thêm bệnh lý nền là nguyên nhân khiến cho các ngôi sao luống tuổi chịu chung số phận với Pride. Ví dụ như nhà soạn nhạc đề cử giải Grammy, William Pursell ở tuổi 94, nhạc công chơi saxophone jazz Lee Konitz 92 tuổi, Ellis Marsalis 85 tuổi, qua đời do biến chứng viêm phổi từ Covid-19. Tuy nhiên, cái chết của những ngôi sao U50 cho thấy biến chứng của dịch bệnh rất khó lường như trường hợp DJ Black N Mild mới 44 tuổi hay ngôi sao rapper đang nổi Fred the Godson mới có 35 tuổi. Theo thống kê, toàn cầu có trên 96 triệu ca nhiễm và hơn 2 triệu ca tử vong tính đến hết ngày 19/1/2021.

Chia sẻ hay bảo vệ sự riêng tư về bệnh dịch?

Bên cạnh nỗi đau mất mát những cây đại thụ âm nhạc, phần lớn các nghệ sĩ muốn cảnh báo việc coi thường tính mạng bản thân và sức khỏe cộng đồng. Nhiều nghệ sĩ chủ động thông báo về tình trạng bản thân.

Pink, nữ ca sĩ R&B/pop, là người đầu tiên lên tiếng về dịch bệnh trên Twitter và Instagram. Sau khi kiểm tra dương tính với virus corona, toàn bộ gia đình ca sĩ đã cách ly tại nhà và tuân thủ nghiêm ngặt theo chỉ dẫn của bác sỹ. Tấm gương của nữ ca sĩ 41 tuổi đáng được khen ngợi vì phát ngôn chuẩn mực, cộng thêm hành động nhân ái quyên góp 1 triệu đô la ủng hộ lực lượng y tế phục vụ cho Covid-19.

Vô hình chung, mạng xã hội Instagram hay Twitter trở thành phương tiện truyền thông để các nghệ sĩ giao lưu với khán giả về triệu chứng và quá trình phục hồi. Pink thẳng thắn chia sẻ : “Mọi người cần biết rằng bệnh dịch ảnh hưởng tới tất cả người già, trẻ em, khỏe mạnh hay ốm yếu, giàu hay nghèo. Chúng ta cần phải được kiểm tra Covid để bảo vệ trẻ em, gia đình, cộng đồng”.

Chung cảnh ngộ với Pink, các ngôi sao khác như Babyface, Gloria Estefan, hay Placido Domingo đều lựa chọn bộc bạch việc nhiễm bệnh trên mạng xã hội với các fan. Trong tháng 12 năm 2020, nữ ca sĩ Gloria Estefan chia sẻ trên mạng xã hội về tình huống cô nhiễm Covid-19. Hơn thế, Estefan nhấn mạnh việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng là rất cần thiết : “Tôi chỉ ra đường vào ngày duy nhất 30 tháng 10, có đeo khẩu trang khi đi ăn tối với gia đình. Tuy nhiên ở nhà hàng, một vài người đến sát bên tôi khi tôi đang ăn và vỗ vào vai tôi. Họ không hề đeo khẩu trang và ở cự ly rất gần”.

Nam danh ca giọng tenor, Placido Domingo nhiễm bệnh sớm hơn, vào tháng 3. Tuy gây lo ngại cho các fan về tuổi tác, ông chứng tỏ là một tấm gương về trách nhiệm xã hội. Domingo chia sẻ : “Tôi cầu xin mọi người cực kỳ thận trọng, tuân thủ hướng dẫn về rửa tay thường xuyên, giữ khoảng cách 6 feet và hãy ở nhà nếu có thể”.

Với Andrea Bocelli, nam danh ca đấu tranh giữa việc bảo vệ quyền riêng tư cho gia đình ông và minh bạch thông tin. Cụ thể, một vài người trong gia đình Bocelli bị nhiễm tháng 3/2020 nhưng đến cuối tháng 5 ông mới chia sẻ trên Facebook. Điều này nói lên mối lo ngại của những nghệ sĩ tên tuổi với phát ngôn về Covid-19. Liệu họ có bị phân biệt đối xử hay nhận được sự cảm thông khi công bố thông tin nhiễm bệnh viêm phổi Vũ Hán?

Mạng xã hội, tin giả và đại dịch Covid-19

Nỗi sợ về dịch bệnh chưa chắc đáng lo như các thông tin thiếu xác thực lan truyền trên mạng xã hội. Oái oăm hơn, thông tin liên quan tới tình hình sức khỏe các nghệ sĩ khiến cho các fan hâm mộ không khỏi phân vân. Ví dụ nữ diễn viên Tanya Roberts, ngôi sao bộ phim James Bond - A view to kill (Tầm sát thương), đã chết đi, sống lại do Covid-19 trong 3 ngày liên tiếp, hồi đầu tháng 1/2021.

Việc chặn tin hay dán nhãn mác độc hại của các nhà cung cấp mạng xã hội rất khác biệt. Twitter tỏ ra nhanh nhạy hơn hẳn so với Facebook, Instagram, Youtube. Kể từ tháng 3/2020, Twitter áp dụng dán nhãn cảnh báo về 3 mức độ nguy hiểm : Thông tin sai lệch, Phát ngôn gây tranh cãi, Phát ngôn chưa kiểm chứng.

Ngược lại, Facebook hay Instagram vẫn chậm chạp trong việc kiểm soát các thông tin, mãi đến tháng 7 và tháng 12 mới chính thức áp dụng. Điển hình vào tháng 7/2020, ngôi sao Madonna đã phát ngôn về nhiễm bệnh của cô cũng như vac-xin trên Instagram với hơn 15,4 triệu người theo dõi. Cô chia sẻ vac-xin đã có sẵn trong nhiều tháng nhưng vẫn giữ bí mật. Hơn thế nữa, bà hoàng nhạc pop đính kèm video của nhà vật lý Stella Immanuel khen ngợi sử dụng thuốc hydroxychloroquine như thuốc đặc trị virus corona. Video này lan truyền mạnh và phải ít lâu sau Instagram mới chính thức gỡ bỏ. Đến tháng 8, Facebook tuyên bố đã xóa bỏ 7 triệu bài và dán nhãn hơn 98 triệu bài liên quan tới Covid-19 từ tháng 4 đến tháng 6/2020.

Mạng xã hội dần trở thành con dao hai lưỡi trong đại dịch Covid-19. Nó đóng vai trò phương tiện kiếm tiền lẫn truyền thông cho nghệ sĩ buộc phải giãn cách xã hội. Trái lại, nó có thể là mầm mống lan truyền cho các tin độc hại liên quan tới sức khỏe, tính mạng nghệ sĩ.

Câu chuyện về Covid-19 chưa thực sự hạ màn trong năm 2021 khi xuất hiện nhiều nhân tố mới như biến chủng tại Anh hay lựa chọn vac-xin mang màu sắc chính trị. Điều khán giả cần chính là âm nhạc từ trái tim và trách nhiệm xã hội của nghệ sĩ hơn là phát ngôn mang dấu ấn cá nhân trên Instagram hay Twitter.

(Theo Billboard, Washington Post, Forbes)



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/24/2021(UTC)
viethoaiphuong
#549 Posted : Wednesday, January 27, 2021 6:11:04 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Sealed With a Kiss, phiên bản tiếng Pháp

Tuấn Thảo - RFI
Trong làng nhạc Pháp, tình khúc Derniers Baisers (Những nụ hôn cuối cùng) là một trong những ca khúc hiếm hoi, ba lần lập kỷ lục số bán trên thị trường. Đây là phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm Sealed With A Kiss rất quen thuộc từ những năm 1960. Giới trẻ ở Pháp thời nay biết đến bài này chủ yếu qua phiên bản của Laurent Voulzy, ghi âm vào năm 2006. Thế nhưng ít ai còn nhớ ai là người đầu tiên hát bài này trong tiếng Pháp.

Người từng đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc Sealed With A Kiss là tác giả quá cố Pierre Saka (1921-2010). Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris trong một gia đình nghèo, ông có hai dòng máu : mẹ là người Pháp, bố là một thợ may người Hy Lạp nguyên quán ở đảo Crète, cho nên sau này khi sáng tác ông cũng thường lấy bút danh là Jean Michal Crétois. Thời còn trẻ, ông làm việc cho đài phát thanh (Radio Luxembourg) trước khi chuyển qua sáng tác và viết lách từ những năm 1950.

Pierre Saka thành danh nhờ tài đặt lời, ca từ chẳng những hợp với ngữ điệu tiếng Pháp mà còn gần giống với nội dung nguyên tác. Ông dễ dàng kiếm sống vào cái thời bùng phát phong trào nhạc trẻ những năm 1960. Hầu hết các thần tượng nhạc trẻ thời bấy giờ đều có ghi âm các bản nhạc Pháp phóng tác từ các ca khúc từng ăn khách trên thị trường Anh Mỹ. Trong suốt những năm 1960, Pierre Saka đặt thêm lời Pháp cho các ca sĩ như Sylvie Vartan, Richard Anthony, Eddy Mitchell, Nicoletta, Frank Alamo ……

Trong quyển hồi ký mang tựa đề ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), Pierre Saka kể lại những giai thoại xung quanh ca khúc này. Bản nhạc gốc Sealed With a Kiss do hai tác giả Mỹ Peter Udell và Gary Gell sáng tác vào năm 1960, khai thác dòng nhạc pop dành cho giới trẻ trước khi có hiện tượng The Beatles và làn sóng pop rock từ Anh Quốc đổ ập vào nước Mỹ.

Trong nguyên tác, nhạc phẩm Sealed With A Kiss mang ý nghĩa của một lời tạm biệt với mối tình đầu đời. Một cặp tình nhân phải chia tay sau khi gặp nhau nhân kỳ nghỉ hè, họ hẹn gặp lại vào mùa tựu trường. Chàng trai hứa sẽ viết cho cô gái mỗi ngày một lá thư để thỏa niềm thương nhớ, để khuất lấp nỗi cô đơn. Chàng trai dùng nụ hôn để “dán lại” mỗi bức thư tình.

The Four Voices là nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, phong cách của họ gần giống với bộ tứ The Brothers Four cực kỳ ăn khách thời bấy giờ với nhạc phẩm Greenfields và sau đó là The Green Leaves of Summer. Hai năm sau khi thất bại với Sealed With A Kiss, nhóm The Four Voices rã đám, nhưng bài hát này lại ăn khách nhờ một bản phối mới qua tiếng hát của Brian Hyland, ăn khách tại Hoa Kỳ cũng như tại Anh. Bản nhạc này sau đó đã có hàng trăm phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, Hoa, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha hay tiếng Đức.

Pierre Saka đặt lời tiếng Pháp cho bài này mà ban đầu được dành cho ca sĩ Nancy Holloway. Nhưng rốt cuộc ban nhạc trẻ Les Chats Sauvages lại trở thành nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Vào thời ấy, ca sĩ chính là Dick Rivers vừa mới tách ra khỏi nhóm, điều đó buộc hãng đĩa Pathé Marconi phải tuyển lựa ca sĩ mới để thay thế. Xuất thân từ thành phố Toulouse, ca sĩ Mike Shannon (tên thật là Michel Simonet) trở thành giọng ca chính của nhóm Les Chats Sauvages.

Bản nhạc Derniers Baisers trở thành ca khúc ăn khách nhất của họ với hơn hai triệu bản bán chạy, và trở thành tình khúc mùa hè năm 1963. Thế nhưng, những bất đồng nội bộ khiến cho nhóm Les Chats Sauvages phải chia tay nhau vào năm 1964. Tên tuổi của Mike Shannon hầu như chìm vào quên lãng, và khi nhắc tới bài Derniers Baisers, nhiều người lại tưởng lầm rằng ca khúc này do Dick Rivers ghi âm, do anh là ca sĩ chính đầu tiên của nhóm.

Phiên bản tiếng Pháp của Sealed With A Kiss ba lần lập kỷ lục số bán : sau Mike Shannon vào năm 1963, bài hát ăn khách lần thứ nhì vào năm 1986 với phiên bản của C. Jérôme với lối hoà âm theo kiểu pop ballad những năm 1980. Tới năm 2006, trên album đề tựa ‘‘Làn sóng thứ bảy’’ (La Septième Vague), Laurent Voulzy giành lấy hạng đầu thị trường Pháp, Bỉ, Luxembourg, Thụy Sĩ nhờ một bản phối rất mộc của bài Derniers Baisers theo điệu bossa nova.

Còn trong tiếng Việt, bài Sealed With A Kiss có ít nhất hai lời khác nhau. Lời đầu tiên là của tác giả Trường Hải, việt hóa bài hát tiếng Anh thành Hạ Vàng Biển Xanh : danh ca Khánh Ly từng ghi âm bài này trước năm 1975. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ. Sealed With a Kiss trở thành Tình Yêu Trong Đời, trước đây do ca sĩ Trúc Mai ghi âm, sau đó có thêm nhiều bản cover của Don Hồ hay qua phần song ca của Duy Quang & Như Mai.

Tại Việt Nam, Sealed With a Kiss rất quen thuộc với người nghe, nhờ ca từ mộc mạc dễ thuộc, lời lẽ bình dị dễ nhớ, nên đã trở thành một trong những bài hát dạy học tiếng Anh thông dụng nhất. Về phần Pierrre Saka, trong quyển hồi ký đề tựa ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), tác giả ghi nhận là những ca khúc tuyệt đẹp thường hay lắng đọng trong tiềm thức để rồi bất chợt ùa về với bao kỷ niệm. Tất cả mọi chuyện đến một lúc nào đó đều sẽ qua đi, mong sao những giai điệu đẹp vẫn luôn trẻ mãi, sống hoài theo năm tháng, như thể thời gian tạm dừng chân, giữa một mùa hè bất tận.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/27/2021(UTC)
viethoaiphuong
#550 Posted : Saturday, January 30, 2021 7:36:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Bee Gees : Một trái tim tan vỡ

Gia Trình - RFI - 30/01/2021
Ban nhạc Bee Gees từng làm mưa làm gió thập niên 70 với bản nhạc disco sôi động Staying Alive, You should be dancing, Tragedy. Giờ đây, mọi chuyện chỉ là ký ức vàng son khi ban nhạc gia đình nhà Gibb chỉ còn lại một thành viên duy nhất, người anh cả Barry Gibb.

Bộ phim tài liệu How can You mend a broken heart (Làm sao hàn gắn một trái tim tan vỡ) gây sốt trên kênh HBO cuối tháng 12/2020 về những bí mật của nhóm.

Ban nhạc gia đình không có thủ lĩnh

Bee Gees là nhóm nhạc khá đặc biệt, vì họ gồm ba anh em ruột trong gia đình gốc Anh Quốc, lớn lên tại Úc. Barry Gibb là thành viên lớn tuổi nhất, sinh năm 1946 và hai người em sinh đôi Robin và Maurice Gibb sinh năm 1949. Cả ba thành viên đều sở hữu chất giọng mái đặc biệt, có thể lên những nốt rất cao với kỹ thuật hòa giọng, phối bè điêu luyện.

Họ thành lập nhóm từ năm 1958 và nở rộ cùng thời điểm với The Beatles, The Beach Boy, The Stones, vào đúng điểm rơi của trào lưu British Invasion (Xâm lăng văn hóa Anh). Vậy vị trí của ba chú ong Gibb ở đâu trong thế giới nhạc pop ? Đó vẫn là một câu hỏi khó trả lời. Tuy Bee Gees sáng tác được những bản hit tuyệt vời, nhưng họ không tạo được dấu ấn đột phá như các ban nhạc khác. Họ vẫn là những kẻ ngoại đạo, chệch khỏi làn sóng dữ dội của rock and roll. Âm nhạc Bee Gees pha trộn giữa pop, soul, disco và soft rock, có độ dịu ngọt hơn là mạnh mẽ.

Hình ảnh ba chàng Gibb trong mắt khán giả như một ban nhạc gia đình, cười đùa, chọc ghẹo nhau trước ống kính camera. Quan trọng hơn, họ không có một thủ lĩnh tinh thần, khiến cho hình ảnh ban nhạc mờ nhạt trước đám đông. Barry và Robin Gibb có thể thay phiên nhau hát chính và bè, đổi qua đổi lại trong nhiều hit khác nhau. Trong ban nhạc gia đình “dĩ hòa vi quý”, họ khó lòng có định hướng chiến lược. Nhưng không vì thế mà giới phê bình và các nghệ sỹ đương đại đánh giá thấp tài năng nhóm. Các nhạc sỹ tên tuổi ngưỡng mộ tài năng sáng tác của họ như Chris Martin (nhóm Coldplay), Noel Gallagher (nhóm Oasis), Justin Timberlake. Quả thực, bộ ba họ Gibb có những ballad để đời, với giai điệu bất tử, như To Love Somebody (Để yêu ai), How can you mend a broken heart (Làm sao hàn gắn một trái tim tan vỡ), How deep is your love (Tình em sâu đậm thế nào?)

Bi kịch của sự nổi tiếng quá sớm

Lớn trên trong nghèo khổ tại thành phố Brisbane Úc, Barry Gibb thổ lộ : “Chúng tôi là một gia đình nghèo túng, chúng tôi có thể kiếm đươc 10 đô la từ một suất diễn. Chúng tôi buộc phải kiếm tiền để sống. Từng phải thuê tới 20 căn nhà trên khắp nước Úc, cha tôi không thể trả nổi tiền thuê nhà. Chúng tôi là gia đình luôn rời đi lúc nửa đêm với đống hành lý”.

Sau khi rời Úc đến Anh, nhóm tam ca sáng tác được những bản hit thành công rực rỡ như New York Mining Disaster năm 1961, To Love Somebody, Words năm 1967. Ánh hào quang ập đến với họ sau chuỗi ngày thơ ấu cơ cực khiến ba anh em thực sự choáng ngợp. Maurice Gibb sở hữu tới 6 chiếc xe siêu sang Rolls-Royces ở độ tuổi 21. Thế nhưng, sự nổi tiếng phải đánh đổi với những bi kịch cá nhân. Maurice nghiện rượu từ rất sớm, Robin cũng nghiện chất kích thích amphetamine.

Người em khác trong gia đình, Andy, cũng qua đời vì nghiện cocaine khi mới 30 tuổi. Không tham gia nhóm Bee Gees, Andy tách ra hát solo dựa vào danh tiếng các anh trai. Thành viên hiện tại của nhóm, Barry Gibb 74 tuổi, cũng từng dính líu với ma túy. May mắn hơn các em trai, người bạn đời của Barry, Linda, cựu hoa khôi thành phố Edinburgh, Scotland một thời, đã giúp ông vượt qua khủng hoảng nghiện ngập. Ông kể lại : “Tôi có thể mang ma túy vào nhà, nhưng cuối cùng đã vất bỏ trong toilet. Cô ấy không bao giờ muốn tôi sa vào vũng lầy đó. Tôi có thể đã giống như các em trai của mình, nhưng tôi thực sự may mắn”.

Hơn thế nữa, không phải cứ là ban nhạc gia đình thì mọi việc đều suôn sẻ. Nhóm từng phải chia tay năm 1969 do Robin tách ra hát solo, hai thành viên còn lại cũng muốn phát triển sự nghiệp riêng. Nhưng họ lại sớm tái hợp vào giữa năm 1970. Bộ phim tài liệu How Can You Mend a Broken Heart còn chia sẻ kỹ hơn về sự đối đầu giữa hai anh em Barry và Robin khi họ va chạm với nhau trong âm nhạc.

Thành công nhờ khủng hoảng

Khả năng sáng tác và chất lượng các ballad Bee Gees thai nghén đều có giai điệu sắc nét. Tuy nhiên, ít người biết rằng, đến tận năm 1972 họ vẫn chưa định hướng được phân khúc khán giả cũng như dòng nhạc họ theo đuổi.

Album To Whom May It Concern ra đời cùng năm, không mấy thành công, đã khiến họ bay qua bên kia bờ Đại Tây Dương. Lúc này, trong đầu ba anh em nhà Gibb mới định hướng “thứ âm nhạc vui vẻ, ca khúc dance, để có thể tự tận hưởng” để làm mới mình. Soundtrack bộ phim ca nhạc disco Saturday night fever năm 1977 với bộ ba ca khúc do Bee Gees sáng tác trở thành hiện tượng hiếm có. Đó là một trong những album ăn khách nhất mọi thời đại, có mức tiêu thụ 45 triệu bản. Chiếm sóng hầu hết radio và bảng xếp hạng âm nhạc tại Mỹ là các bản nhạc Bee Gees sáng tác và biểu diễn : Jive Talking, You should be dancing, Staying Alive, More than a woman.

Thành công với nhạc disco không trải thảm đỏ cho sự nghiệp Bee Gees trên nước Mỹ. Họ bị đe dọa đánh bom, chịu làn sóng tẩy chay của các đài phát thanh vì hình ảnh phục trang dị hợm disco. Sự kiện này đẩy họ sang một chuỗi khủng hoảng cá nhân: nghiện ngập của Maurice, ly hôn của Robin, Barry đổi giọng falseto.

Tuy nhiên, họ tìm cách vượt qua biến cố này để bước sang một chương mới, đầy tính sáng tạo. Thay vì xuất hiện trên sân khấu, Bee Gees trở thành tác giả các bản hit để đời cho các ngôi sao hàng đầu như Woman in love của Barbara Streisand. Đáng chú ý, album Guilty (Tội lỗi), hợp tác với Barbara Streisand, đã đạt mốc kỷ lục 15 triệu bản.

Ngoài ra, ba anh em còn gột nên hồ cho thành công của Heartbreaker cho Dionne Warwick, Island in the stream của Kenny Rogers và Dolly Parton, Chain Reaction do Diana Ross thể hiện. Sự sáng tạo đột phá ở thập niên 80, được giới phê bình đánh giá cao, khiến chính ban nhạc phải rùng mình. Barry thổ lộ : “Bạn không biết điều gì sẽ xảy ra. Bạn chỉ biết hy vọng và cầu nguyện nó sẽ như vậy”. Cho dù giọng mái đặc trưng của ba anh em bị khóa sóng trên radio, những ca khúc họ sáng tác vẫn phản ánh nguyên vẹn nét đặc trưng nhất của âm nhạc Bee Gees.

Thành viên đơn độc còn lại

Danh tiếng của Bee Gees gần như chìm hẳn sau cái chết của Maurice do cơn đau tim năm 2003, Robin cảm giác tuyệt vọng để tiếp tục. Barry nói rằng “Bee Gees không còn là Bee Gees nếu thiếu vắng Maurice”. Tin buồn tiếp tục ập đến khi Robin Gibb phát hiện ung thư gan năm 2011 năm 61 tuổi và qua đời một năm sau đó.

Mặc dù nghĩ đến chuyện nghỉ hưu sau khi hai người em qua đời, Barry phải nghĩ lại về sứ mệnh âm nhạc của mình : “Tôi luôn quan tâm tới sự sống của âm nhạc, tôi làm đủ mọi cách để duy trì năng lượng cho âm nhạc”. Trải lòng của Barry, thành viên đơn độc của Bee Gees có thể hàn gắn hàng triệu con tim tan vỡ bằng bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn nhất. Vì đó thứ âm nhạc họ trải nghiệm bằng nụ cười, nước mắt, đắng cay suốt cả cuộc đời thăng trầm.

(Theo Variety, New York Post, The Guardian)



viethoaiphuong
#551 Posted : Sunday, January 31, 2021 6:21:14 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Chuyện tình Love Story, phiên bản mới

Tuấn Thảo - RFI
Accomplice là tựa đề album thứ nhì của cặp bài trùng Amy McConnell và William Sperandei, hai nghệ sĩ người Canada chuyên ghi âm trong cả hai thứ tiếng Anh và Pháp. Ngay từ album đầu tay, Amy và William đã gây ngạc nhiên với phong cách điêu luyện, nhờ vậy mà vào năm 2014 họ nhận đề cử tập nhạc vocal jazz xuất sắc nhất nhân kỳ tranh giải thưởng âm nhạc Juno của Canada. Năm nay, cặp bài trùng này xuất hiện trở lại với một bản phối mới của bài Chuyện Tình Love Story.

Tập nhạc thứ nhì tiếp tục kết hợp giọng ca đầy sinh khí và nội lực của Amy McConnell với tiếng kèn bay bổng phiêu diêu của William Sperandei. Cả hai tuy còn trẻ nhưng đã có nhiều năm tay nghề, nếu như William chọn đi đúng hướng ngay từ khi anh còn học trung học, thì ngược lại Amy vào nghề ca hát chuyên nghiệp sau nhiều năm loay hoay tìm tòi. Nói cách khác, trên con đường sự nghiệp, William thẳng tiến còn Amy thì lại đi ngả vòng.

Amy xuất hiện trong làng giải trí từ thời cô còn rất bé. Mới có 9 tháng tuổi, cô đã được chọn để ‘‘đóng phim’’ quảng cáo. Những năm tháng đầu đời, Amy tham gia khá nhiều vào các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi cũng như các vở nhạc kịch. Sau tú tài, cô nhận được học bổng theo học khoa thanh nhạc và kịch nghệ tại một trường cao đẳng ở Manhattan, New York (American Academy of Musical & Dramatic Arts). Sau khi tốt nghiệp, cô trở về Toronto, ghi tên vào đại học (trường Ryerson Polytechnic University) nhưng lần này cô lại theo học chuyên khoa điện ảnh.

Amy thành công nhờ nghề sản xuất và quay phim quảng cáo, bên cạnh đó cô còn dùng giọng nói của mình trong việc thu thanh lồng tiếng. Nhờ chất giọng đặc biệt ấy, cô có thể hát nhạc pop, jazz, nhạc kịch hay là rock. Nhưng mãi tới khi gặp William Sperandei, Amy mới chọn nhạc jazz. Thế giới âm nhạc của cặp bài trùng này là những tình khúc xưa, lẫy lừng vang bóng một thời nhưng với những bản phối hoàn toàn mới, phá cách những vẫn giữ được cái hồn cái cốt. Trên hai album của Amy và William, người nghe tìm lại Elvis Presley, George Harisson, Jacques Brel hay Edith Piaf bên cạnh nhóm The Carpenters qua bản nhạc Close To You.

Về phần mình, William Sperandei nổi tiếng là một tác giả kiêm nghệ sĩ nhạc jazz. Nhạc khí sở trường của anh là kèn đồng (trumpet) và dương cầm. Anh học chơi kèn từ thời niên thiếu với nhiều thầy khác nhau. Nhưng William chỉ có đủ sự tự tin trong sáng tác sau gần ba năm đào tạo khoa âm nhạc cổ điển tại trường cao đẳng Wilfrid Laurier University ở bang Ontario. Sau khi ra trường, anh đi tu nghiệp thêm ở đại học New Orleans, và cũng từ đó anh bắt đầu chơi nhạc với nhiều nghệ sĩ tên tuổi kể cả Nicholas Payton, Ellis Marsalis, Harold Battiste, Charmaine Neville, Andrea Bocelli hay là Harry Connick Jr.

Thời còn là nghệ sĩ chơi kèn trumpet, William Sperandei đã tham gia ghi âm hơn 100 bản nhạc cho nhiều nghệ sĩ khác nhau. Mãi tới những năm gần đây anh mới tính tới chuyện thực hiện album solo xen kẽ sáng tác mới và tình khúc xưa, sau hai album độc tấu, William mở rộng sân chơi kết hợp tiếng kèn ‘‘liêu trai’’ của anh với chất giọng khá độc đáo của Amy McConnell.

Cả hai cùng ghi âm nhiều bản nhạc nổi tiếng nhưng nổi trội hơn cả là ca khúc chủ đề bộ phim Love Story của tác giả Francis Lai trong cả hai thứ tiếng (tiếng Anh là bài Where Do I Begin, tiếng Pháp là bài Une Histoire d’Amour). Bản phối mới của bài Love Story đầy tính sáng tạo xen kẽ một khúc solo bằng ghi ta điện đặc chất jazz rock với phần nhạc nền đậm nét bossa nova.

Tiếng kèn phiêu diêu của William Sperandei càng làm tăng thêm nét quyến rũ trong giọng ca của Amy McConnell khoẻ khoắn tràn đầy sức sống khi dùng giọng ngực, và nhờ có cột hơi đầy đặn, tiếng hát này vẫn không kém phần tinh tế biểu cảm khi phải dùng giọng gió.

Trong hơn bốn thập niên qua, bản nhạc Love Story đã được rất nhiều nghệ sĩ thu đi thu lại, một trong những phiên bản gần đây nhất theo làn điệu bossa nova là của Andrea Bocelli hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Bản phối của Amy và William, trong tiếng Anh hay tiếng Pháp, có phần vượt trội so với phiên bản của bậc đàn anh. Tựa đề Accomplice trong nghĩa đen có thể hiểu là đồng lõa, nhưng ở đây có thể gọi hai nghệ sĩ này là tri âm, tri kỷ.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 1/31/2021(UTC)
viethoaiphuong
#552 Posted : Tuesday, February 2, 2021 9:36:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Covid-19 : Pháp lập kênh truyền hình văn hóa miễn phí Culturebox

Tuấn Thảo - RFI - 02/02/2021
Trong mùa dịch Covid-19, các hộ gia đình tại Pháp có thể nghe nhạc hay xem phim thoải mái ở nhà, nhờ có khá nhiều mạng phát hành trực tuyến (Netflix, Disney+, Salto ... ). Còn đối với những người thích xem opéra, múa ballet, kịch nói, trò xiếc hoặc biểu diễn trực tiếp thì sao ? Trả lời câu hỏi này, đài truyền hình Pháp France Télévisions vừa thành lập kênh văn hóa Culturebox miễn phí 100%.

Tối hôm qua 01/02/2021, buổi lễ khánh thành kênh truyền hình Culturebox đã được tổ chức trực tiếp tại nhà hát Mogador ở Paris. Đêm khai mạc đã xen kẻ các phần biểu diễn hoành tráng của thế hệ nghệ sĩ trẻ tuổi từng được vinh danh nhân các kỳ trao giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique trước đây. Trong số này, các gương mặt nổi bật nhất vẫn là Yseult, Pomme, Terrenoire, Noë Preszow, Lous and the Yakuza ...

Kênh truyền hình miễn phí thứ nhì

Mặc dù vẫn còn nhiều quy định ràng buộc để phòng chống dịch bệnh, nhưng đối với các tài năng mới đã ngưng hoạt động từ gần một năm nay do các nhà hát hay sân khấu đều bị đóng cửa, đêm biểu diễn này vẫn là một luồng dưỡng khí cần thiết. Ban tổ chức cũng đã huy động nhiều nhân viên kỹ thuật (tương tự như chương trình tuyển chọn giọng ca Barbara Pravi đại diện cho nước Pháp đi tranh giải Eurovision) và có thể gợi hứng cho các nhà hát thực hiện những liveshow tương tự.

Đây là lần thứ nhì Pháp lập kênh truyền hình miễn phí. Lần đầu tiên là hồi tháng 04/2020 nhân đợt phong tỏa đầu tiên, các tập đoàn truyền thông TF1, M6 và France Télévisions đã gạt những mối bất đồng qua một bên, hợp sức thành lập một kênh truyền hình miễn phí mang tên là #ÀlaMaison được phát sóng khắp nước Pháp trong suốt thời kỳ phong tỏa. Còn lần này, đài truyền hình quốc gia France Télévisions gồm tổng cộng là 5 kênh khác nhau phối hợp chương trình để cung cấp cho kênh truyền hình Culturebox. Điểm mới ở đây là toàn bộ kênh này xoay quanh các chủ đề văn hóa và sẽ có khá nhiều biểu diễn trực tiếp hoặc chương trình chưa từng được phổ biến, thay vì đơn thuần phát lại những chương trình đã thu sẵn.

Được thành lập kể từ năm 2008, thương hiệu Culturebox (có nghĩa là "Chiếc hộp Văn hóa" ban đầu là một mạng thông tin và lưu trữ các chương tình văn hóa của đài truyền hình quốc gia France Télévisions. Trong những năm gần đây, ngoài các chương trình truyền hình nổi tiếng như La Grande Librairie (giới thiệu sách và ngành xuất bản), Le Grand Échiquier (show biểu diễn trực tiếp), Le Concert de Paris (hoà nhạc cổ điển) và nhất là Prodiges (cuộc thi tuyển lựa mầm non trong các bộ môn như hát kịch opéra, múa ballet hay nhạc cụ thính phòng), Culturebox còn đã mở thêm hồi mùa hè năm 2020 ngay giữa mùa dịch với 11 buổi biểu diễn phát sóng trực tuyến, hợp tác với sân khấu La Cigale và sau đó nữa là chương trình Basique Concert được thu hình tại nhà hát Casino de Paris.

Nội dung Culturebox thay đổi mỗi ngày

Với sự bảo trợ của Bộ Văn hóa Pháp, mạng văn hóa Culturebox được biến đổi thành một kênh truyền hình hẳn hoi, nhằm mở "sân chơi" cho đủ mọi thành phần nghệ sĩ vào lúc các nhà hát, các rạp chiếu phim, các sân khấu, viện bảo tàng hay các tụ điểm văn hóa đều bị đóng cửa và chưa có dấu hiệu nào cho thấy các cơ sở này sẽ sớm được mở lại. Toàn bộ chi phí của Culturebox sẽ do tập đoàn France Télévisions tài trợ, chương trình đầu tiên được phát sóng kể từ ngày 01/02/2021 vào lúc 8 giờ rưỡi tối trên kênh số 19, vốn là kênh phát sóng trước đây của đài France Ô dành để nói về các lãnh thổ hải ngoại của Pháp. Kênh 19 bị bỏ trống kể từ khi đài France Ô ngưng luôn mọi hoạt động vào cuối tháng 08/2020.

Pop rock, nhạc cổ điển, hip hop, múa ballet, opéra hay kịch nói ... tất cả các loại hình biểu diễn và nghệ thuật sân khấu đều hiện diện trên kênh Culturebox. Với kinh phí tài trợ ban đầu hơn 5 triệu euro, chương tình này sẽ giới thiệu xen kẻ các bộ phim tài liệu chưa được phát hành cũng như hàng chục liveshow mới hay từng được thu hình gần đây nhưng chưa phổ biến. Theo ông Michel Field, giám đốc chương trình văn hóa của France Télévisions, vào mỗi buổi sáng kênh này sẽ chiếu phim tài liệu và các chương tình với nội dung giải trí, rồi kể từ 8g30 đêm trở đi, kênh này vào mỗi buổi tối sẽ cố gắng đưa tới khán giả Pháp những sự kiện trực tiếp hay những chương trình biểu diễn chưa từng được phát sóng trên tivi hay trên mạng trực tuyến.

Để đáp ứng nhu cầu của nhiều thành phần khán giả, chương trình phát sóng sẽ liên tục thay đổi chủ đề vào mỗi buổi tối. Thứ hai dành cho sân khấu biểu diễn bao gồm cả kịch nói và nhạc kịch. Thứ ba dành cho nhạc cổ điển, kể cả opéra, múa ballet, độc tấu thính phòng hay hòa nhạc giao hưởng. Thứ tư được dành cho âm nhạc đại chúng kể cả pop rock, blues jazz, French Touch hay âm nhạc thế giới. Thứ năm được dành cho các thể loại âm thanh thành thị (urban sound) bao gồm nhạc rap, hip hop, afrobeat kết hợp với múa và thi đấu. Thứ sáu được dành cho hài kịch nói chung dưới dạng độc diễn (one man show hay là stand up) cũng như các cuộc thi ứng tấu tự do hoặc theo chủ đề. Thứ bảy được dành cho các buổi hòa nhạc trong khuôn khổ các liên hoan lớn. Còn chủ nhật được dành riêng để giới thiệu với khán giả các viện bảo tàng nổi tiếng nhất nước Pháp.

"Hộp Văn hóa" giới thiệu những sự kiện lớn

Một cách cụ thể, nội trong tuần này, khán giả có thể theo dõi trực tiếp trên kênh số 19 đồng thời trên mạng france.tv nhiều sự kiện nổi bật. Chẳng hạn như tối nay 02/02 có phát chương trình "Nuit Magique" (Đêm huyền diệu) trích từ liên hoan nhạc cổ điển Chorégies d'Orange. Mặc dù tất cả các buổi biểu diễn đều đã bị hủy bỏ, các sân khấu ngoài trời đóng cửa không tiếp đón công chúng, nhưng các giọng ca opéra nổi tiếng nhất, trong đó có các diva Cecilia Bartoli, Karine Deshayes, Aleksandra Kurzak và các giọng ca tenor trứ danh Roberto Alagna, Javier Camarena hay là Artur Ruciński đã tề tựu với nhau biểu diễn các đoản khúc cổ điển quen thuộc nhất của dòng nhạc lãng mạn trữ tình của Ý và Pháp.

Ngày hôm sau 03/02 là hai sự kiện lớn của làng nhạc phổ thông, nữ danh ca Catherine Ringer trình diễn tại rừng Vincennes nhân 40 năm thành lập ban nhạc rock Pháp Rita Mitsouko. Quan trọng không kém là liveshow của ca sĩ Mika tại nhà hát hoàng gia Opéra Royal với màn bắn pháo hoa muôn màu rực rỡ tại lâu đài Versailles, cung điện của Vua Mặt trời. Không hẹn mà gặp, vài ngày sau buổi biểu diễn của Mika, đến phiên nhạc trưởng Sébastien Daucé điều khiển dàn nhạc Ensemble Correspondances trình bày trực tiếp các điệu "nhạc cung đình" dưới thời vua Louis XIV, đã góp phần không nhỏ trong việc phát huy múa ballet và nhạc thính phòng tại các triều đại châu âu thời bấy giờ. Chương trình hôm 06/02 diễn ra tại nhà hát lớn thành phố Caen và lần đầu tiên được giới thiệu với giới yêu nhạc.

Còn tối chủ nhật 07/02, khán giả có sự chọn lựa giữa hai viện bảo tàng theo sự dẫn dắt của hai diễn viên điện ảnh nổi tiếng. Ngôi sao màn bạc Carole Bouquet đưa người xem khám phá các bộ sưu tập nghệ thuật nguyên thủy trong chương trình "Một đêm tại Viện bảo tàng Quai-Branly". Còn nam diễn viên François Berléand thì giới thiệu những kiệt tác đương đại và hiện đại của Georges Braque, Salvador Dali, Yves Klein, Andy Warhol hay là Louise Bourgeois, trong chương trình khám phá các tác phẩm nghệ thuật quý giá nhất của Trung tâm văn hóa Pompidou.

Nếu như các mạng nghe nhạc hay xem phim trực tuyến như Netflix, Disney+, Salto, Deezer, Spotify ... đều có tính thêm phí và buộc người tiêu dùng phải đăng ký dịch vụ, thì kênh truyền hình văn hóa Culturebox hoàn toàn miễn phí (trong suốt mùa dịch) và hy vọng rằng chương tình truyền hình này sẽ tiếp tục kéo dài trên mạng công cộng TNT, cho dù kênh 19 chỉ bổ sung chứ không thể nào thay thế cho nhu cầu của người Pháp, muốn xem các loại hình diễn biểu trong tương lai, một khi các nhà hát hay sân khấu lớn đều được mở lại.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/2/2021(UTC)
viethoaiphuong
#553 Posted : Wednesday, February 3, 2021 5:42:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Những giai thoại đằng sau ca khúc "Joe, le taxi"

Hoài Dịu - RFI
Bao đời nay, Paris hoa lệ luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong âm nhạc, thơ ca … Paris muôn màu và muôn mặt. Sẽ thiếu sót lớn khi không nhắc đến cuộc sống về đêm nơi đây, người Paris hẹn hò trong những quán bar hay bên bờ sông Seine. Đâu đó, tiếng nói cười quyện hòa vào điệu rock xưa cũ …

Ngoài kia, nhộn nhịp người qua lại, còi xe đông đúc. Thoảng nghe đâu đây lời hát « … Và sông Seine, và những nhịp cầu lấp lánh ,. .., là điệu nhảy rumba, nhạc rock xưa và điệu mambo… », ta chợt nhận ra rằng, nét giai điệu quen thuộc trong ca khúc « Joe le Taxi » ấy, cũng là một phần của cuộc sống Paris đầy quyến rũ.

Ba triệu hai trăm nghìn bản thu âm được bán hết sau ba tháng phát hành, ca khúc « Joe le taxi » do ca sĩ Vanessa Paradis trình bày đã giành vị trí quán quân trong top 50 những bài hát bán chạy nhất nước Pháp năm 1987. Vanessa Paradis trở thành một hiện tượng âm nhạc khi tròn 14 tuổi sau thành công vang dội của ca khúc « Joe le taxi ».

Bài hát này không những được yêu thích trong cộng đồng Pháp ngữ mà còn tạo nên làn sóng hâm mộ ở Đức, Đan Mạch, Na uy…, đặc biệt lọt vào top 3 trong số những ca khúc bán chạy nhất ở Anh, vượt qua « Isla Bonita » của Madona lúc bấy giờ. Giới âm nhạc đánh giá hiện tượng này là khá hiếm đối với nhạc phẩm hát bằng tiếng Pháp, kể từ sau sự ra đời của ca khúc « Je t’aime, moi non plus » của nhạc sỹ Serge Gainsbourg, phát hành năm 1969.

Vốn có thiên hướng nghệ thuật, ca hát, từ thuở nhỏ, Vanessa Paradis đã ấp ủ giấc mơ thành ca sỹ. Trong chương trình truyền hình mang tên « L’école des Fans », cô bé Vanessa, dáng vẻ như búp bê , với giọng hát ngọt ngào, chạm tới những nốt nhạc cao nhất của bài « Emilie Jolie » đã thực sự thuyết phục khản giả trong khán phòng nhà hát Empire hôm đó.

Người cậu ruột Didier Pain của Vanessa, luôn cố gắng tìm cơ hội để thực hiện giấc mơ của cô. Vào một ngày đẹp trời năm 1985, ông mang cô cháu gái đến giới thiệu với Frank Langolff ,người đã sáng tác nhiều bài hát cho ca sỹ Renaud lúc bấy giờ, tại phòng thu âm ở Boulogne. Didier Pain nhớ lại « Tôi đã lôi kéo sự chú ý của Frank Langoff nhiều tháng trời để ông ấy viết cho tôi một bài hát. Mỗi lần ông ấy làm điều gì đó, ông ấy lại bảo : không, không, bài này không phải của cô ấy đâu ».

Cho tới một ngày, vào năm 1987, Frank Langolff cho cô bé Vanessa nghe một giai điệu kết hợp giữa rumba và mambo mà ông mới viết. Sau đó, ông đã Langolff nhờ Roda-Gil đặt lời cho bài hát. « Joe le taxi dĩ nhiên không phải là một ý tưởng gì đó quá lớn lao để làm xáo trộn công chúng, mà đúng hơn là chớp nhoáng nhỏ nhoi của đời sống thường nhật …chỉ là câu chuyện về một gã lái taxi đầy thú vị, hay nghe nhạc mambo trong xe của mình »

Lúc đầu, « Joe le taxi » suýt thành bài hát đôi. Theo lời Joshua Darche kể lại, họ đã cho hát thử với một ca sĩ người Cuba, anh ta hát những câu tương ứng, đối đáp với Vanessa bằng tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên họ đã bỏ ý định đó vì cuối cùng họ cảm thấy không hay. Trong suốt thời gian thu âm, năm ấy, cho dù vừa tròn 14 tuổi, Vanessa Paradis đã bộc lộ rằng mình không phải là « nàng thơ dễ bảo ».

Chính cô đã gợi ý sử dụng kỹ thuật hát rung lưỡi âm « r » của từ rumba trong điệp khúc của bài hát. Cô còn tiết lộ : « Đừng có tin rằng là tôi thích Yma Sumac (tên của diva người Peru được nhắc tới trong bài hát). Thú thực là, tôi chẳng thích lắm đâu ». Ca khúc sau đó được phát trên sóng của đài RTL, và đã nhận được nhiều phản hồi bằng điện thoại với con số đạt mức kỷ lục. Một dấu hiệu mà đối với Vanessa, là giấc mơ đang trở thành hiện thực.

« Joe, tài xế taxi
Chẳng đi khắp mọi nơi
Cũng chẳng uống sô đa
Kèn saxophone vàng của anh,
Thuộc nằm lòng từng con phố
Tất cả các quầy bar nhỏ
Tất cả những ngõ ngách tối om… »

Ẩn sau những lời hát giản dị ấy là chuỗi câu chuyện lý thú về nhân vật có biệt danh Joe. Thật bất ngờ, đó là một người phụ nữ nhập cư, gốc Bồ Đào Nha tên là Marie Josée, người đã chạy trốn sang Pháp tìm tự do sau khi bị mẹ của mình phát hiện cô là người đồng tính. Trong thập niên 80, Joe là tài xế taxi đêm, chuyên đón khách tại những vũ trường ở Paris và đưa họ về nhà. Chỉ cần gọi “Joe, Taxi!”, là cô ta có mặt với chiếc xe Opel Ascona màu trắng, lịch sự trong bộ cánh đàn ông, ca vát và gi lê.

Thế rồi một ngày, nhà soạn lời Etienne Roda-Gil đi xe của cô ấy. Qua những lời thoại đầy thú vị, ngay lập tức Roda-Gil có cảm hứng về Joe và thế giới của cô ta, ông hỏi: “ Cô có cảm thấy phiền không nếu như tôi viết một bài hát mang tên cô?”. Không một chút do dự, Joe chấp nhận và chẳng hề đòi hỏi sự đáp lại. Cô kể lại trong cuộc gặp gỡ gần đây với thời báo “Người quan sát”: “Tôi còn trẻ, tôi cảm thấy được tâng bốc. Và rồi, lúc đó tôi đã không biết người đó là một nhân vật nổi tiếng…”

"Joe, tài xế taxi
Chẳng đi khắp mọi nơi
Cũng chẳng uống sô đa…”

Ít lâu sau đó, Marie Josée nghe thấy tên và cuộc sống của mình đã được thổi vào lời hát. “Joe le taxi” được phát sóng khắp nơi. Roda-Gil hỏi “cô có đi khắp nơi không?” Marie Josée trả lời rằng “không, tôi sợ lắm”, và “Tôi chỉ uống coca thôi”.

“Đi đi Joe
Lao thật nhanh nào
Lao vào màn đêm, hướng về Amazone…”

Thực ra ông ấy đã không viết “lao vào màn đêm, về phía những kẻ đồng tính” thay vì “Amazone” như trong bài hát.

Trước đây, Joe đã không bao giờ tiết lộ câu chuyện này vì không muốn bị “chết đói”, vì lo sợ bị kỳ thị về vấn đề đồng tính của mình. Gần 30 năm sau khi bài hát trình làng, Joe vẫn còn là tài xế taxi đêm, chưa một lần gặp lại Etienne Roda-Gil, người đã ra đi vĩnh viễn năm 2004. Giờ đây cô chỉ hy vọng một điều: được gặp ca sỹ Vanessa Paradis để kể lại tất cả…

Joe le taxi qua giọng hát thanh thanh, ngọt ngọt của cô bé 14 tuổi Vanessa, đã đưa công chúng đến thế giới của Joe, đến một góc nhỏ không kém phần lãng mạn của đời sống Paris diễm lệ.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/3/2021(UTC)
viethoaiphuong
#554 Posted : Thursday, February 4, 2021 1:45:28 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

100 năm ngày sinh của nhạc sĩ Georges Brassens

Tuấn Thảo - RFI - 04/02/2021
Năm 2021 đánh dấu 100 năm ngày sinh của tác giả Georges Brassens, một trong ba đại thụ của làng nhạc Pháp thành danh vào những năm 1950. Thành phố Sète, nguyên quán của danh ca sẽ là tâm điểm của một chương trình sinh hoạt hoành tráng với chủ đề tự do cá nhân. Đỉnh điểm là vào tháng 10/2021, đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh nhật của Georges Brassens.

Trước tình hình khó lường của dịch Covid-19, chương trình kỷ niệm chỉ thật sự bắt đầu từ tháng Tư trở đi, khi thời tiết ở các tỉnh miền nam nước Pháp bắt đầu đẹp trở lại. Hội đồng thành phố Sète đã liên hệ với Bộ Văn hóa Pháp để xin được tổ chức toàn bộ chương trình ở cấp quốc gia, với sự tham gia hợp tác của nhiều thành phố khác như Montpellier, Béziers, Nîmes hay là Paris thông qua các cuộc triển lãm lưu động. Đây là lần thứ nhì thành phố Sète muốn được Bộ Văn hóa ủy quyền tổ chức. Trước đây, lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà biên đạo kịch Jean Vilar cũng đã từng diễn ra tại Sète, nguyên quán của tác giả nổi tiếng, từng sáng lập liên hoan kịch Avignon.

Sète, nơi cất giữ di sản của Brassens

Từ lâu, thành phố Sète luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với gia đình tác giả hầu bảo tồn di sản của Georges Brassens. Hội đồng thành phố đã liệt kê tất cả những địa điểm gắn liền với tác giả, từ lúc ông chào đời ở Mont Saint-Clair cho tới các trường học, phiên chợ, góc phố, bến tàu nơi ông thường hay lui tới. Brassens đã trải qua thời thơ ấu tại Sète và sau đó, cho dù ông trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng, ông vẫn giữ thói quen về thăm nguyên quán. Tại các địa điểm quen thuộc ấy, nhiều sinh hoạt sẽ được tổ chức, trong đó có triển lãm, hội nghị, biểu diễn ca nhạc hay liên hoan ngoài trời trong gần một năm.

Bên cạnh các thước phim tài liệu, truyện tranh và phim hoạt hình dành cho học sinh, một trong những sự kiện quan trọng nhất là cuộc triển lãm với các bản thảo quý hiếm của chính tác giả. Vào mùa thu năm ngoái, 22 văn bản với chữ ký của Georges Brassens trong đó có lời các bài hát chép tay, đã được bán đấu giá với mức kỷ lục là 377.650 euro. Đa số các văn bản đã được Thư viện Quốc gia Pháp đặt mua và chín bản thảo đã được hội đồng thành phố Sète mua đấu giá hầu chuẩn bị cho cuộc triển lãm "100 năm Brassens" (1921-2021).

Quan trọng không kém là cuộc triển lãm ngoài trời với các bức tượng điêu khắc và tác phẩm sắp đặt gợi hứng từ thế giới của Brassens rải rác trên các góc phố. Đỉnh điểm chương trình diễn ra đúng vào ngày 22/10, diễn viên François Morel được chọn làm người phối hợp tổ chức các sự kiện với các nhà hát lớn của Pháp. Ở trung tâm thành phố cảng, một sân khấu lớn được dựng trên thuyền và một buổi biểu diễn quy mô sẽ triệu mời nhiều nghệ sĩ đến từ khắp nơi, do lúc sinh tiền, các bài hát của Georges Brassens đã từng được dịch sang khoảng 20 thứ tiếng.

Brassens, thời nhỏ chỉ mê đọc thơ

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, làm nghề thợ nề từ nhiều đời qua, Georges Brassens thời còn nhỏ thích chơi bời lêu lổng. Thay vì chăm chỉ học hành, ông thường hay trốn học đi tắm biển. Từ nhà ông ra bãi biển chỉ có vài trăm thước, thời mà thành phố nhỏ còn sống nhờ nghề chài lưới với tên gọi là Cette, trước khi được sửa đổi thành Sète vào năm 1928. Ở trường lớp, ông thường hay mơ mộng và chỉ thích nghe bài giảng về văn học thi ca của thầy Alphonse Bonnafé, người không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn gieo vào hồn cậu học trò ngọn lửa đam mê, tò mò tìm đọc hầu hết các thi hào quan trọng của Pháp. Thời niên thiếu ông cũng khám phá cách đặt chữ có vần trong sáng tác của Charles Trenet và lối ngắt nhịp cách điệu trong lối soạn nhạc jazz mà ông thường nghe trên đài phát thanh. Những bản thảo đầu tiên cho thấy Brassens tự học viết nhạc khá sớm, chứ không được đào tạo bài bản. Có thể nói tài năng của Brassens sớm phát triển ở trường đời hơn là qua trường lớp.

Năm 16 tuổi, do cái tính ngỗ nghịch bướng bỉnh, ông bị phạt tù treo. Bị đuổi học, Georges Brassens phải rời gia đình ở Sète đến Paris lập nghiệp. Giai đoạn này được ông kể lại trong bài hát "La Mauvaise Réputation" (Tiếng xấu). Ông ban đầu làm thợ lắp ráp trong nhà máy, nhưng cũng không được bao lâu khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Vào đầu năm 1943, Georges Brassens lúc ấy 21 tuổi, buộc phải sang Đức thi hành nghĩa vụ lao động bắt buộc (STO). Sau hơn một năm bị lao động cưỡng bách, ông được phép về Paris chữa bệnh.

Ở lại Paris luôn sau khi chiến tranh kết thúc, Georges Brassens viết báo kiếm tiền nhuận bút và nhất là ông hoàn tất quyển tiểu thuyết đầu tay (La Lune écoute aux portes), tác phẩm này được xuất bản vào năm 1947, nhưng không thành công như mong đợi. Sau nhiều năm chờ thời, Georges Brassens chỉ thật sự trở nên nổi tiếng vào mùa xuân năm 1952 sau khi ký được hợp đồng ghi âm. Thành danh ở tuổi 31 tuổi tương đối khá trễ so với các nghệ sĩ thời bấy giờ, nhưng đối với Brassens lại là một dịp may lớn.

Trường đời định hình phong cách Brassens

Tài năng của ông như một tác giả và nhạc sĩ đã chín muồi. Tất cả những bài hát do ông viết từ năm 16 tuổi, một khi được thu thanh đều trở nên nổi tiếng, trong đó có các bài như "Le Parapluie, J'ai rendez-vous avec vous, Chanson pour l'Auvergnat, Le Gorille, Il n'y a pas d'amour heureux" ... Tất cả những năm tháng khó khăn ấy đã định hình phong cách của Brassens : tướng mạo không trau chuốt, ngỗ nghịch bất cần đời, bộ râu mép với ống điếu, khi đứng trên sân khấu chỉ có duy nhất một cây đàn ghi ta.

Ở chỗ Jacques Brel chinh phục khán giả với ánh mắt thôi miên hớp hồn, tiếng hát cuồng phong chất giọng vũ bão, thì ngược lại Georges Brassens hát nhạc khẩy đàn một cách nhẹ nhàng, từ tốn. Đằng sau câu chữ ngôn từ rất khuôn thước về nhịp điệu, khá cổ điển về mặt ngữ điệu thi pháp, lại toát lên những ý tưởng táo bạo của một nghệ sĩ dấn thân, theo thuyết vô thần vô chủ. Ông chủ trương sống theo ý mình, không thuộc về phe phái nào và đặt quyền tự do cá nhân lên trên mọi giáo điều cũng như ý thức hệ. Trước khi có Gainsbourg và Renaud, Brassens có lối đặt ca từ tiếng Pháp rất hay : trong cùng một câu, ông có thể dùng cả tiếng lóng, lời lẽ thông tục với ngôn từ uyên thâm bác học.

Georges Brassens qua đời năm 1981 ở tuổi 60 vì bệnh ung thư. Trong sự nghiệp của mình, ông đã viết 250 bài hát, ghi âm khoảng 30 đĩa nhạc, trong đó có 18 album phòng thu và nhiều album chủ yếu là nhạc phổ theo thơ của các tác giả lớn như Victor Hugo, Alphonse de Lamartine, Alfred de Musset, Paul Verlaine hay là Louis Aragon ... Georges Brassens cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến lớp nghệ sĩ Pháp đi sau trong đó có Renaud, Maxime Le Forestier, Francis Cabrel, Yves Duteil. Tác giả Georges Moustaki từng viết bài "Les Amis de Georges" vào năm 1974 để vinh danh Brassens. Georges Moustaki khi chào đời được đặt tên là Giuseppe nhưng khi vào nghề lại chọn nghệ danh là "Georges" Moustaki vì ông rất ngưỡng mộ bậc đàn anh Georges Brassens.

Ngoài các phiên bản tiếng Pháp, dòng nhạc Brassens cũng đã được phổ biến nhiều trên thế giới nhờ các bản phóng tác trong nhiều ngôn ngữ khác nhau : Graeme Allwright dịch sang tiếng Anh, Luis Cilia tiếng Bồ Đào Nha, Koshiji Fubuki trong tiếng Nhật, Alberto Patrucco tiếng Ý, Yossi Banai tiếng Do Thái, Jiří Dědeček tiếng Tiệp, Mark Freidkin tiếng Nga, Paco Ibáñez tiếng Tây Ban Nha, Ralf Tauchmann tiếng Đức, Piotr Machalica tiếng Ba Lan, Cornelis Vreeswijk tiếng Thụy Điển, Tuula Amberla tiếng Phần Lan ...

Lúc sinh tiền Brassens có phong cách hiền hòa kín đáo, khi qua đời di sản của nghệ sĩ Brassens có lẽ không lộng lẫy hào quang như Piaf hay Brel, nhưng hầu hết các bài hát của ông đã trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ khán giả Pháp. Đôi khi người chịu "mang tiếng xấu" ban đầu, lúc về sau lại chinh phục trái tim người hâm mộ, nhờ giai điệu thấm sâu.

viethoaiphuong
#555 Posted : Tuesday, February 9, 2021 8:24:10 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Những cặp đôi đẹp nhất làng âm nhạc

Gia Trình - RFI - 06/02/2021
Chuyện hai nghệ sỹ hợp tác song ca hay đồng sản xuất một ca khúc không có gì mới. Nhưng sẽ đáng nói nếu họ là một cặp tình nhân ngoài đời hoặc bén duyên sau lần hợp tác đó. RFI Tiếng Việt điểm lại một số cặp đôi đẹp nhất làng âm nhạc trong dịp lễ Tình nhân - Valentine.

John Lennon và Yoko Ono : Tình yêu nổi loạn

Cặp đôi huyền thoại đã sát cánh bên nhau trước khi Beatles ran rã vào năm 1968. John và Yoko cùng sáng tác nhiều bản nhạc đi cùng năm tháng, trong đó có Imagine và Give Peace a chance. John từng chịu chỉ trích khi bỏ người vợ cũ Cynthia Lennon để theo đuổi Yoko Ono, nữ họa sỹ người Nhật không hề xinh đẹp. Yoko Ono cũng bị các fan Beatles thù ghét vì cho rằng bà là “tội đồ” cho sự tan rã của Bộ Tứ Huyền Thoại. Tuy nhiên, sợi dây gắn bó vô hình giữa hai nghệ sỹ rất mạnh mẽ. Họ có sự đồng điệu về tâm hồn, ý tưởng sáng tạo, đặc biệt khái niệm nổi loạn.

Hai nghệ sỹ cho ra đời album Unfinished Music No.1: Two Virgins (Âm nhạc chưa hoàn thiện: Hai trinh nữ) năm 1968 và thành lập ban nhạc Plastic Ono Band một năm sau đó. Ono và Lennon kết hôn trong năm 1969, một năm trước khi Beatles chính thức tan rã. Cặp uyên ương chia sẻ sự nổi loạn trong sự nghiệp sáng tác, biểu diễn trong âm nhạc. Họ từng xuất hiện khỏa thân trong bìa album Two Virgins (Hai trinh nữ) và bức ảnh trăng mật trên giường tại Amsterdam.

Cho dù John Lennon đã mãi lìa xa khán giả sau vụ ám sát năm 1980, hình ảnh lãng mạn của cặp đôi không có gì suy xuyển. Album cuối cùng của họ, Double Fantasy ra mắt vào năm 1980, chỉ ba tuần trước vụ ám sát của Lennon. Thông điệp họ truyền tải không đơn thuần là tình yêu xuyên biên giới. Mạnh mẽ hơn, họ thắp sáng tư tưởng phản chiến, yêu chuộng hòa bình. Cho đến giờ, John và Oko vẫn là hình mẫu bền vững nhất của những cặp uyên ương trong âm nhạc.

Tim McGraw và Faith Hill : Tình yêu bền vững

Tim McGraw và Faith Hill là một cặp đôi lý tưởng trong dòng nhạc country. Hai ca sỹ cùng sinh năm 1967 luôn tự hào đã sát cánh bên nhau hơn hai thập kỷ. McGraw và Hill cùng hợp tác trong nhiều giai điệu lãng mạn và dịu êm nhất trên sân khấu và ngoài đời.

Hai người gặp nhau lần đầu tại Nashville năm 1994. Tại thời điểm đó, McGraw đang hẹn họ với Kristine Donahue, Faith Hill vừa hoàn tất vụ ly hôn với Daniel Hill (ca sỹ gắn với bản hit Sometime when we touch). Hai năm sau, Hill cùng McGraw lưu diễn chung trong tour Spontaneous Combustionvà tình yêu bắt đầu nảy nở. McGraw chính thức ngỏ lời cầu hôn Hill trong phòng thay đồ của festival âm nhạc country. Chuyện tình đẹp như mơ đem đến cho họ ba cô con gái Grace, 1997, Maggie 1998 và Aubrey năm 2001.

Sự nghiệp solo của hai nghệ sỹ cũng khá thành công. Trên sâu khấu, hình ảnh McGraw đóng đinh với chiếc mũ cao bồi, quần jean giản dị, còn Faith Hill quyến rũ như diva hàng đầu nhạc country. Đáng chú ý, Faith Hill không đổi sang họ chồng sau khi kết hôn mà vẫn giữ họ của người chồng cũ.

Khi họ cùng song ca, chia lửa sân khấu, các bản song ca hầu hết có nội dung về tình yêu, sự chia sẻ. Đáng chú ý gồm có Keep Your Eyes on Me (2017), Just to hear you say that you love me (1998), Let’s make love (2002) và Like We Never Loved At All (2005). Đôi tình nhân cùng chia sẻ tượng vàng Grammy năm 2000 và 2005 với giải thưởng Hợp tác Trình diễn nhạc country xuất sắc nhất. Đến nay, khán giả vẫn trầm trồ về hình ảnh viên mãn hạnh phúc của cặp trai tài gái sắc này.

Jay Z và Beyonce : Tình yêu quyền lực

Tách ra khỏi nhóm Destiny Child, Beyonce sẽ khó có sự nghiệp solo rực rỡ nếu thiếu đi sự nâng đỡ của người chồng, rapper Jay Z. Họ là cặp đôi trời phú trong dòng nhạc R&B, hip hop. Về âm nhạc, Jay Z chủ yếu phụ trách sản xuất, biên tập cho Beyonce hơn là xuất hiện trong vai trò ca sỹ song ca. Khi họ biểu diễn chung bản hit Crazy in Love và Drunk in love, sân khấu tràn ngập trong nguồn năng lượng sáng tạo vô biên. Đồng thời, Jay Z là người có óc kinh doanh nhạy bén cả trong âm nhạc lẫn đầu tư tài chính. Do vậy, khối tài sản đồ sộ của cặp đôi không ngừng lũy tiến.

Theo thống kê của Forbes, cặp đôi Jay Z và Beyonce đang sở hữu tổng gia tài trị giá hơn 1,35 tỷ đô la Mỹ. So với người chồng, tài sản Beyonce có phần khiêm tốn, chỉ khoảng 355 triệu đô la. Nguồn tài chính của Beyonce chủ yếu đến từ tour lưu diễn, nhãn thời trang thể dục riêng và dịch vụ giao đồ ăn chay.

Khối tài sản đồ sộ của Jay Z xuất phát từ việc kinh doanh hơn là ca hát. Anh từng đầu tư vào hãng gọi xe thông minh Uber với khoản đầu tư 70 triệu đô la, hãng rượu Armand de Brignac champagne, cognac D’Ussé trị giá 100 triệu đôla, trang phát nhạc trực tuyến Tidal trị giá 100 triêu đô la. Hãng giải trí riêng Roc Nation là con gà đẻ trứng vàng cho Jay Z, anh vừa ký hợp đồng 10 năm trị giá 200 triệu đô la với Live Nation năm 2020.

Ngoài ra, Beyonce và Jay Z đang sống tại biệt thự hạng sang trong danh mục bất động sản, trị giá đến 50 triệu đô la. Khi hai cá nhân xuất sắc thành đôi uyên ương, họ biến sự nghiệp và cuộc sống riêng tư thành cuộc hôn nhân quyền lực nhất.

Camila Cabello và Shawn Mendes : Tình yêu nên thơ

Shawn Mendes và Camila Cabello chính thức trở thành cặp đôi quyến rũ nhất làng giải trí vào mùa hè năm 2019. Bốn năm trước, họ mới chỉ là bạn bè khi hợp tác trong ca khúc I Know What You Did Last Summer (Em biết anh làm gì mùa hè năm trước). Tình yêu nảy nở giữa chàng trai điển trai Canada và cô ca sỹ gợi cảm người Mỹ gốc Cuba trong bản hit sexy Senorita. Ca khúc này chiếm sóng trên đài phát thanh và Spotify thời gian dài.

Trước đó, cả Mendes và Cabello đều được coi là hai ca sỹ trẻ đầy triển vọng trong làng âm nhạc. Tách ra khỏi nhóm Fifth Harmony, nữ ca sỹ sinh năm 1997 đã gặt hái thành công vang dội với bản single Havana năm 2017. Ngoài bản hit hợp tác với Shawn Mendes, Cabello còn hợp tác với Ed Sheeran trong ca khúc South of Border tạo được ấn tượng tốt đẹp. So với người yêu, Shawn Mendes trẻ hơn một tuổi và nổi tiếng sớm hơn khi có album đầu tay năm 2015. Ngoài việc xuất bản các album nhạc liên tiếp, Shawn lọt vào mắt xanh các hãng thời trang và thực phẩm lớn với nhiều hợp đồng quảng cáo.

Sự hợp tác giữa Mendes và Cabello nhanh chóng thu hút sự quan tâm của fan hâm mộ cả đôi bên. Ngay từ khi bài hát ra mắt, đã xuất hiện tin đồn về mối quan hệ lãng mạn của cặp đôi. Ca từ bài hát song ca ám chỉ phần nào sự dịch chuyển mối quan hệ từ bạn bè sang tình yêu : “You say we're just friends. But friends don't know the way you taste” (Anh nói rằng chúng ta chỉ là bạn bè. Nhưng bạn bè không thể nào hiểu được anh thú vị đến vậy). Cabello xác nhận họ đã phải lòng nhau khi cùng hợp tác trong ca khúc này. Họ được đề cử giải Grammy Trình diễn Pop Song ca xuất sắc cho lần hợp tác bén duyên này.

Chuyện tình yêu trên khuông nhạc dịch chuyển sang tình yêu đời thực luôn bất ngờ hơn mọi dự tính. Phải chăng âm nhạc khiến họ dễ dàng xích lại gần nhau? Hay đó là môi trường phù hợp nhất để gửi gắm thông điệp tình yêu?

(Theo Business Insider, Forbes, USToday)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/9/2021(UTC)
viethoaiphuong
#556 Posted : Saturday, February 13, 2021 10:14:07 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Hương vị ngày Tết xưa và nay trong âm nhạc

Gia Trình - RFI - 13/02/2021
Ngày Tết nghe nhạc gì? Một câu hỏi vừa khó, vừa dễ trả lời. Đã qua cái thời, chúng ta chỉ biết đến một ca khúc muôn thuở do ABBA trình bày “Happy New year” để chào đón không khí Tết rộn ràng. Giờ đây nhạc Việt có nhiều điểm sáng tự hào hơn để đón cái Tết ấm cúng và sum họp.

Hương vị Tết xưa : Ký ức đẹp và lời ca hoa mỹ

Hương vị của ngày Tết, ngày xuân luôn thổn thức, dịu dàng như trong câu hát của nhạc sỹ Đoàn Chuẩn - Từ Linh trong bài ca đi cùng năm tháng Gửi người em gái. Đó là một ca khúc đượm buồn vì mối tình rơi vào vô vọng giữa nhạc sỹ tài hoa và ca sỹ xinh đẹp tên Mộc Lan.

Bài hát ra đời từ năm 1956, mở ra một không gian mang đậm chất Hà Nội, phản chiếu một không khí Tết truyền thống : “Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng. Đượm đà phong kín cánh mong manh tấm hoa lòng. Hà Nội chờ đón Tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi. Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh”.

Không ai phủ nhận được màu sắc, hương vị Tết Hà thành quyện trong từng lời ca, giai điệu. Âm nhạc Đoàn Chuẩn - Từ Linh luôn sang trọng và lịch lãm. Nhưng khó ai cho rằng đây là một ca khúc đón Tết vì lời ca gắn với chuyện tình buồn đơn phương.

Gần nửa thế kỷ sau, thập niên 1990-2000 chứng kiến sự hồi sinh ngoạn mục của nhạc pop Việt trước làn sóng áp đảo của nhạc nước ngoài. Không khí xuân về và hương vị Tết không thể bỏ qua của các sáng tác của nhạc sỹ Dương Thụ.

Trong đó, ca khúc Lắng Nghe Mùa Xuân Về do nhạc sỹ Dương Thụ sáng tác vẫn là một tác phẩm tiêu biểu, được thể hiện nhiều nhất vào thời khắc chuyển giao năm mới. Sở hữu giai điệu mạnh mẽ, bài hát từng được thể hiện bởi nhiều giọng ca tên tuổi như Hồng Nhung, Bằng Kiều, Mỹ Linh : “Và chúng ta lại đón giao thừa. Phút giây lặng lẽ mong chờ. Lắng nghe mùa xuân về”.

Hai nhạc sỹ ban nhạc Anh & Em, Anh Quân và Huy Tuấn cũng thổi cảm hứng bất tận của âm hưởng Tết bằng bằng ca khúc Phút Giao Thừa Lặng Lẽ do ca sỹ Mỹ Linh thể hiện : “Mùa xuân để ta hái đem trao tặng nhau. Lòng tin yêu mãi xanh rờn sống trong ta mãi muôn đời. Kìa mùa xuân về giao thừa đã qua”.

Hương vị Tết ngày nay : Nhịp sống hiện đại

Sau gần 20 năm, nhạc trẻ Việt chứng kiến sự đổi mới không ngừng như tốc độ thay da đổi thịt của đô thị và cuộc sống vật chất. Hương vị Tết trong âm nhạc giờ đã phản ánh cuộc sống hối hả, năng động, đôi khi còn khắc nghiệt hơn so với Tết xưa.

Khác với ca khúc xuân của thế kỷ trước, những ca khúc đón Tết không quá coi trọng ca từ hoa mỹ, mà tìm kiếm cảm xúc chân thực, gần gũi hơn. Sự đơn giản của Tết chính là được về nhà, sum họp, tìm lại cảm giác thân quen mà Justa Tee và Đen Vâu truyền tải qua bản hit Đi về nhà.

Trước đó, ca sỹ Ái Phương và SooBin Hoàng Sơn cùng tung ra các bản hit dịp Tết có nội dung tương tự. Họ đều tìm kiếm một mẫu số chung : đoàn tụ, sum họp dịp Tết của những người con lăn lộn kiếm sống, hay xa nhà lâu ngày.

“Về ăn cơm mẹ nấu, về mặc áo mẹ may. Về đưa ba ra chợ, mua cây đào cây mai về bày. Cả năm trời làm việc, nhiều khi rã rời như cái máy. Về nhà thấy áp lực nhẹ như bấc thổi cái là bay. Ấm êm hơn bếp lửa, ngọt bùi hơn lúa non” (Đen Vâu, JustaTee - Đi về nhà).

Ở góc nhìn trực diện hơn, một số ca khúc phản ánh được mặt trái của cái Tết hiện đại. Cuộc sống vật chất tạo ra áp lực tinh thần, đồng thời, khiến con người mất đi cảm nhận vẻ đẹp của Tết hay cảm hứng sắm sửa đón Năm mới.

Nhạc Việt có sự tiến bộ đáng kể nhờ việc phổ cập, kết hợp nhiều thể loại rap, pop, funk tạo nên bản hit dễ nghe, video clip vui nhộn. Có lẽ đây là điểm mạnh của thế hệ X trong thời đại phát triển vũ bão của công nghệ thông tin và âm nhạc số.

“Lương thì chưa kịp tăng. Xe thì hết cả xăng. Mong chờ bao mùa trăng, trăng mà mút mùa "cò không tiến" (Tiền không có). Ăn còn không đủ no. Trăm ngàn thứ phải lo. Đang bình yên tự do mà chưa về mo đã lo sốt vó.

…Mong chị kế toán ở bên đó, luôn mạnh khoẻ và luôn vui. Chuyển tiền em sớm cho em còn tính, plan em đã lên xong xuôi.

…Làm gì phải hốt? Làm, làm gì mà phải hốt? Việc của mình là đón Tết đến không lo toan” (JustaTee, Hoàng Thùy Linh, Đen Vâu - Làm gì mà phải Hốt).

Mặt trái của Tết hiện đại không chỉ là sức ép vật chất, mà còn là nỗi sợ trước việc soi mói đời sống cá nhân bằng những câu hỏi xã giao. Ca sỹ Bích Phương là một trong số ca sỹ trẻ thổi được mối quan tâm này vào ca khúc Tết. Ngay lập tức, ca khúc được giới trẻ đón nhận tích cực vì luồng tư tưởng thực tế này.

“Em chào Tết. Tết ơi có biết không là Em mệt lắm. Mỗi khi Tết đến ghé thăm, Trăm việc khó, Chỉ một tay em phải lo. Nhưng dẫu thế Em vẫn yêu Tết, thích mê…

Là con gái thời 4.0, em sợ Tết như sợ mẹ chồng; Phải gói quà biếu ra sao, và mâm cỗ thì phải thế nào” (Bích Phương, Em chào Tết).

Quả thực Tết bây giờ khác xưa rất nhiều, khi giới trẻ đối mặt với nhiều thách thức của cuộc sống hiện đại. Ví dụ như sống độc lập với cha mẹ, làm cha/mẹ đơn thân, sống thử trước hôn nhân.

“Đầu năm cùng cha mẹ đi mừng Tết ông bà. Cô chú ai nấy đều hỏi con ế rồi à. Bạn trai đã có chưa sao chẳng dắt về nhà. Trời ơi một câu mà ai cũng hỏi vậy ta !” (Bích Phương, Bao giờ lấy chồng).

Bóng dáng nhà tài trợ và xu hướng liên kết

Khác với các ca khúc Tết xưa, các bài hát mang âm hưởng Tết ngày này đều cần truyền tải qua video clip phát trên mạng xã hội hoặc Youtube. Không khó nhận ra các đơn vị tài trợ “cài cắm” logo thương hiệu của mình trong video clip ca nhạc. Ví dụ, Đi về nhà thấp thoáng bóng dáng xe máy Honda, Đi đi để trở về được coi là ẩn dụ cho hãng giày dép Bitis, Làm gì mà phải hốt như thông điệp cho tiện ích Viettel Pay. Hơn 20 năm trước, nhóm nhạc Spice Girl, Anh quốc, từng bị chỉ trích vì đưa ca khúc quảng cáo Pepsi vào album Spice World của họ.

Cũng dễ hiểu, nếu không có tài trợ thì các nghệ sỹ phải dốc hầu bao ra để sản xuất video clip ngốn tiền. Cho dù kiếm được tiền nhờ số lượng người xem trên Youtube thì họ vẫn chịu rủi ro. Nhờ có tài trợ, chất lượng video ca nhạc khá chỉn chu, tạo được hiệu ứng mạnh về thị giác nhất là cảnh đẹp thiên nhiên Việt Nam.

Một điểm thú vị khác là thời điểm phát hành video hầu hết rơi vào tháng 1 sát Tết. Nhà tài trợ cũng tính toán đây là đòn bẩy để kích thích doanh số cho sản phẩm của họ. Vậy là lợi ích chia đều cho cả các bên, nghệ sỹ, nhà tài trợ, khán giả.

Ở một góc nhìn khác, xu hướng “ba cây chụm lại nên hòn núi cao” đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ. Sự kết hợp nhiều ngôi sao trong một ca khúc chắc chắn sẽ thu hút khán giả hơn một ngôi sao đơn lẻ. Xu hướng này ngày càng nở rộ trong những năm qua. Đây cũng có thể là chiêu trò và quyền lực của nhà tài trợ thương mại cho từng ca khúc. Nhưng cũng không phủ nhận được sự dí dỏm, hài hước mà các ngôi sao tập hợp lại được.

Xuân về con cũng về do ba ngôi sao Phạm Quỳnh Anh, Lam Trường và Ưng Hoàng Phúc thể hiện, đều thấp thoáng bóng hình của trang web thương mại điện tử Tiki. Hay như bộ ba, Hòa Minzy, Lăng LD, Huỳnh Hiền Năng cùng kết hợp trong ca khúc Tết Nhà Mình.

Cho dù Tết hiện đại hay Tết ngày xưa, khán giả vẫn chờ đợi món ăn tinh thần đặc sắc nhất trong năm. Chúng ta tự hào rằng người Việt giờ có thể đón Tết không cần nghe ca khúc Happy New year của ABBA vì kho nhạc Tết Việt giờ đã đa dạng, phong phú.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/13/2021(UTC)
viethoaiphuong
#557 Posted : Sunday, February 14, 2021 1:50:09 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Giới văn nghệ thời Covid: "Câu chuyện âm nhạc" của Nguyên Khang

Thanh Phương - RFI - 14/02/2021
Do tình hình dịch Covid-19, cũng như bao đồng nghiệp khác ở Hoa Kỳ, nam danh ca Nguyên Khang, hiện sống tại Quận Cam, California, không còn sinh hoạt văn nghệ nào nữa từ gần một năm nay, toàn bộ các show đều đã bị hủy.

Với niềm đam mê âm nhạc, với sự khao khát được đến với khán giả, nam ca sĩ với chất giọng trầm ấm, quyến rũ này đã phải tự tạo ra một "sân khấu" ngay tại nhà riêng, với chương trình " Câu chuyện âm nhạc" do chính anh thực hiện, với sự tham gia của một số bạn bè ca nhạc sĩ. Sau đây là những tâm tình của Nguyên Khang với đặc phái viên Thanh Phương tại Westminster, Quận Cam, California, trong cuộc phỏng vấn ngày 07/02/2021:

RFI: Xin chào ca sĩ Nguyên Khang, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng như thế nào đến sinh hoạt của giới ca nhạc sĩ ở hải ngoại và đến bản thân Nguyên Khang ?

Nguyên Khang : Ảnh hưởng rất là nhiều. Bản thân em và các đồng nghiệp tại Mỹ cũng như trong nước đều bị hủy các show, không được trình diễn, nói chung là tụi em thất nghiệp từ tháng 3 cho đến bây giờ, gần một năm ! Không chỉ về kinh tế, mà về tâm lý thì cũng xáo trộn rất nặng nề. Em không biết nói gì hơn là chỉ cầu mong là đại dịch qua sớm, hoặc có một thuốc gì đó để trị bệnh này, cho mọi người an tâm hơn mà trở lại cuộc sống bình thường.

RFI: Ngoài tác động kinh tế, tức là không được trình diễn, nên mất một nguồn thu nhập rất lớn, còn có vấn đề tâm lý như Nguyên Khang nói, một người nhạc sĩ, ca sĩ mà không có đất dụng võ trong suốt một thời gian khá dài như vậy, thì chắc rất là khó chịu. Cụ thể tâm trạng của Nguyên Khang hiện nay như thế nào ?

Nguyên Khang: Thưa anh, thường thường ít nhất là cứ hai tuần hoặc ba tuần là mình xách giỏ lên máy bay, đi đây đi đó, mình được hát, mình được gặp khán giả, mình được thỏa mãn niềm đam mê của mình, mình đi phục vụ. Khi mà không có những cái đó, thì mình mất nhiều lắm, khiến cho mình có cảm giác là bị « vô dụng ». Vô dụng tại vì thú thật với anh cũng như quý vị, hầu hết ca sĩ như tụi em chỉ biết làm nghề đó thôi, không biết làm nghề nào khác để kiếm sống hoặc để quên đi tình hình này.

RFI: Trung tâm Thúy Nga thì có chương trình Music Box, nhóm của Quốc Khanh thì MMG, còn Nguyên Khang thì có « đất dụng võ » nào trên mạng để tiếp tục cống hiến cho khán giả ?

Nguyên Khang: Trong suốt thời gian ở nhà, em buồn quá, không biết làm gì, thế là em mở một sân khấu tại nhà, làm chương trình « Câu chuyện âm nhạc », livestream trên Facebook cho mọi người xem, thứ nhất cho mình đỡ nhớ nghề và thứ hai là được gặp gỡ khán giả qua mạng, để có cái tương tác, giúp giải tỏa phần nào tâm lý của mình. Em đã làm chương trình đó được 12 số, chiếu trên kênh Youtube của em và trên đài truyền hình SBTN. Cái đó phần nào giải tỏa tâm lý của mình. Đỡ nhiều lắm anh. Mình hát thấy « feel good » lắm. Sang đây anh thấy là Tết năm nay không sung túc như những năm trước, bằng chứng là Chợ Hoa rất là vắng, không ai buôn bán nhiều cho 3 ngày Tết. Về ca nhạc Tết thì Thúy Nga đã lên một chương trình, MMG cũng đã chiếu một chương trình, nhưng làm với tính cách phục vụ nhẹ nhẹ thôi, chứ không làm cái gì « ghê gớm » như những gì mà họ đã từng làm.

Em cũng vậy, production của em rất là nhỏ, chỉ có vài anh em ngồi đàn với nhau, em là người hát chính, rồi em mời vài người bạn làm « guest ». Tất cả các bạn đều đến với em vì âm nhạc, không ai lấy một đồng nào hết, cho nên cũng dễ cho em làm. Em chỉ cần một tí sponsor, SBTN đã bảo trợ cho em một ít để trang trải một số chi phí production cho anh em. Em hy vọng sẽ tiếp tục làm được như vậy để phục vụ cho khán giả, cho đến khi mọi việc trở lại bình thường thì em sẽ ngưng, hoặc là nếu quý vị vẫn thích và vẫn có bảo trợ, thì em sẽ tiếp tục làm.

RFI: Thời gian này chúng ta không có hoạt động gì khác, Nguyên Khang có thấy rằng mình có thể lợi dụng thời gian này để trau dồi thêm khả năng chuyên môn, hay tìm tòi những gì mới về âm nhạc để sau này khi đại dịch hết, ta có thể xuất hiện trở lại với một trình độ cao hơn?

Nguyên Khang: Thật sự thì trong đầu em lúc nào cũng có nhạc, cũng nghĩ đến nhạc hoặc là một bài hát nào đó. Đó là cái mà em trao dồi thường xuyên. Chương trình của em cũng tạo một pressure (áp lực) để mình tập làm producer (nhà sản xuất):Chương trình này mình làm như vậy nhe anh em, rồi mình hát làm sao, tập làm sao, đèn này nó như vậy hả em, đàn kia mướn bao nhiêu. Có nghĩa là em học về producer hơn là học hát! Làm sao tạo ra một cái show theo ý mình muốn, với số tiền chỉ có bao nhiêu đó.

RFI: Tức là nhờ đại dịch Covid-19 mà Nguyên Khang học thêm nghề mới. Trong chương trình của Nguyên Khang thì Nguyên Khang còn có vai trò mới là MC.

Nguyên Khang: MC là bất đắc dĩ, tại vì chương trình của mình nên mình bắt buộc phải nói. Em muốn tạo một không khí gần gũi, có nghĩa là em làm trong phòng khách nhà em, thì khán giả nhìn qua màn ảnh sẽ cảm thấy gần gũi. Em nói trước, đây không phải là một sân khấu chuyên nghiệp. Đây là những gì mà Nguyên Khang muốn chia sẻ từ tấm lòng của mình đối với âm nhạc và sự nhớ nhung của Nguyên Khang đối với khán giả của mình. Mình chia sẻ những tâm tình về bài hát đó, về kỷ niệm của bài hát đó. Và cái quan trọng hơn hết, đó là để mình được sống trong âm nhạc.

Quý vị có thể xem chương trình " Câu chuyện âm nhạc" của Nguyên Khang trên trang Nguyên Khang Singer Official:

https://www.youtube.com/...8PFmVG7-7DY0jw/featured
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/14/2021(UTC)
viethoaiphuong
#558 Posted : Sunday, February 21, 2021 8:34:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nhạc trưởng Lê Phi Phi, người se duyên cho âm nhạc Việt – Âu

Hoài Dịu - RFI - 20/02/2021
Trong dòng chảy của nền âm nhạc hàn lâm Việt Nam, Lê Phi Phi là một trong số hiếm người Việt đã và đang đảm trách vị trí chỉ huy trưởng của nhiều dàn nhạc giao hưởng có đẳng cấp quốc tế như : dàn nhạc giao hưởng Kosovo, dàn nhạc Jyvaskyla Sinfonia Phần Lan, dàn nhạc của Trung Tâm Nhạc và Vũ Kịch Macedonia,…

Thành đạt ở hải ngoại, nhưng anh luôn hướng về nguồn cội bằng việc thực hiện nhiều buổi hòa nhạc tại Việt Nam mỗi năm. Âm nhạc Lê Phi Phi trở thành điều còn mãi trong mối giao duyên giữa hai nền âm nhạc Việt-Âu.

Đây cũng là món quà mà mục Góc Vườn Âm Nhạc muốn gởi tặng đến quý vị thính/độc giả đài RFI nhân dịp đầu xuân mới là cuộc gặp gỡ với một nhân vật rất đặc biệt : Nhạc trưởng Lê Phi Phi.

*****

RFI Tiếng Việt trước tiên xin cảm ơn ông đã nhận lời mời cho cuộc gặp đầu xuân này.

Nhạc trưởng Lê Phi Phi : Có lẽ có một duyên nợ, mà là duyên nợ tốt đối với tôi, với tất cả những gì có liên quan đến chữ radio, television. Bởi vì từ hồi nhỏ, tôi đã được cha là nhạc sĩ Hoàng Vân luôn mang theo đến dàn nhạc của đài tiếng nói Việt Nam, thu những chương trình và ca khúc của ông. Sau đó, khi trưởng thành và lập nghiệp thì tôi đã từng làm ở rất nhiều các dàn nhạc radio, television.

RFI : Là nhạc trưởng Việt Nam, nhưng ông chủ yếu làm việc với nghệ sĩ châu Âu, và trên đất Âu. Những điều này có ảnh hưởng đến phương pháp giảng bài, và phong cách biểu diễn của ông hay không ?

Nhạc trưởng Lê Phi Phi : Tôi là một người con của Hà Nội, và tôi có một cái may là được tốt nghiệp đại học ở một trong những nhạc viện danh tiếng nhất thế giới là Nhạc viện mang tên Tchaikovsky, tại Matxcơva của Nga. Ngay từ khi đi học, tính cách và phong cách âm nhạc cổ điển, các trường phái châu Âu đã hình thành rất là rõ trong các trường lớp của Nga và châu Âu ăn nhập vào tôi.

Khi ra đời làm việc, tôi là một trong số ít nhạc trưởng có được sự may mắn khi mà tính cách, âm nhạc, con người được hình thành kết hợp bởi hai nền văn hóa châu Âu và châu Á. Đó giống như là một điểm mạnh, tạo thuận lợi cho công việc khi dàn dựng chỉ huy.

Như chúng ta biết, đặc tính của người châu Á, là sự kiên trì, bền bỉ, nhẫn nại, tinh tế, nhẹ nhàng, và ngược lại, đối với người châu Âu, lại là một sự mạnh mẽ, chuẩn xác trong công việc cũng như trong suy nghĩ và cách thể hiện.

Nếu như biết kết hợp và có khả năng kết hợp hai nền văn hóa đó thì bạn có thể làm việc với bất kỳ dàn nhạc nào trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Chúng sẽ bổ trợ rất nhiều cho bạn trong cách xử lý tác phẩm, thể hiện tác phẩm, dàn dựng cũng như lúc biểu diễn.

RFI : Năm 2020 là một năm rất khó khăn đối với nghệ sĩ và ngành sân khấu biểu diễn trên toàn thế giới do đại dịch Covid. Đối với ông, chúng có những ảnh hưởng thế nào và trong năm 2020 vừa qua, ông có thực hiện được buổi hòa nhạc đáng nhớ nào không ?
Nhạc trưởng Lê Phi Phi : Năm 2020, đối với tôi cũng như toàn thể nhân loại, trong đó có các nghệ sĩ biểu diễn là một năm không thể nào quên, một năm có lẽ là lần đầu tiên trong lịch sử loài người vì đại dịch Covid-19. Chính vì dịch bệnh này nên tất cả các nghệ sĩ trên thế giới trong đó có tôi đều phải hủy bỏ những cuộc biểu diễn của mình.

Tuy nhiên, tôi cũng có cái may là đầu năm 2020 trước khi xảy ra đại dịch tôi kịp làm một chương trình nhạc Rock Symphony tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Những chương trình tôi dựng là chơi lại, phối lại những bài nhạc Rock của các ban nhạc quen thuộc. Đây không phải là lần đầu tiên tôi làm ở Việt Nam. Tất nhiên đối với Việt Nam là mới, có thể nói tôi là người đầu tiên mang và kết hợp thể loại này về Việt Nam. Tôi đã từng làm một số chương trình như thế này tại Macedonia.

RFI : Vào thời điểm này, ở quê nhà đang đón xuân Tân Sửu rất là tưng bừng, với ông cũng như kiều bào khác đang sống và làm việc tại nước ngoài, ông nghĩ gì về Tết Nguyên Đán và chuẩn bị những gì để có một cái Tết mang hương vị Việt Nam trong lúc đón Tết xa nhà ?

Nhạc trưởng Lê Phi Phi : Tôi rời Hà Nội năm 20 tuổi, sau khi du học ở Nga thì tôi định cư ở Macedonia, đến nay là đã hơn 30 năm xa Việt Nam. Đối với tôi, cũng như là tất cả những người Việt xa xứ, khi nghĩ về Tết cổ truyền Việt Nam đều mang một nỗi nhớ, một sự hoài niệm.

Mặc dù ta có thể ở bất kỳ nơi nào trên Trái Đất, có đầy đủ, một món ăn ngày Tết, một cành hoa đào, nhưng không khí Tết ở Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội, bởi vì tôi là đứa con được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, thì chỉ có thể cảm nhận được nó ở Việt Nam.

Khi có những năm tôi không được về ăn Tết ở Việt Nam, cùng với gia đình nhỏ của mình ở bên này tôi cũng cố gắng tự nấu mâm cỗ Tết của gia đình tôi ở Macedonia, cũng đầy đủ các lễ bộ như gà, xôi, miến, măng,… Còn bánh chưng, vì ở Macedonia, cộng đồng người Việt rất là ít, nên không có chợ châu Á, và không có bánh chưng. Nhưng nếu năm nào được sự cứu trợ của bạn bè ở châu Âu gởi sang, thì trên mâm cỗ ngày Tết cũng sẽ có bánh chưng, một chút giò. Truyền thống về Tết Nguyên Đán của Việt Nam tôi cũng tiếp tục để cho nó lan tỏa ở Macedonia.

Nhân dịp năm mới Tân Sửu, tôi muốn gởi lời chúc tới tất cả quý thính/độc giả đài RFI, tất cả các nghệ sĩ trong và ngoài nước cũng như toàn thể nhân loại trên thế giới một điều chúc duy nhất sức khỏe và hy vọng năm 2021 cuộc sống sẽ sớm trở lại bình thường trên toàn thế giới và đại dịch Covid sẽ phải ổn định và kết thúc.

RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhạc trưởng Lê Phi Phi.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/21/2021(UTC)
viethoaiphuong
#559 Posted : Monday, February 22, 2021 7:23:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

"L'anomalie", giải Goncourt Pháp đạt doanh thu kỷ lục

Tuấn Thảo - RFI - 22/02/2021
Kể từ khi được cho ra mắt độc giả cách đây 7 tháng, tiểu thuyết "L'anomalie" (tạm dịch Điều bất thường) của nhà văn Pháp Hervé Le Tellier đã bán được hơn 633.000 bản, đạt doanh thu kỷ lục khoảng 8 triệu euro. Theo nhà xuất bản Gallimard, trong số các tác phẩm từng đoạt Giải văn học Pháp Goncourt, "L'anomalie" thuộc vào hàng ăn khách nhất, tính từ năm 1903 tới nay.

Theo số liệu gần đây nhất của Viện nghiên cứu thị trường GfK, kể từ khi được phát hành vào mùa hè năm 2020, tác phẩm "L'anomalie" của tác giả Hervé Le Tellier, chiếm hạng nhì trên danh sách các giải Goncourt bán chạy nhất (633.000 bản). Tác phẩm này chưa soán ngôi quyển tiểu thuyết "L'Amant " (Người Tình) của nữ văn hào Marguerite Duras (hạng nhất 1,63 triệu bản) nhưng lại vượt qua mặt "Les Bienveillantes" (Những kẻ thiện tâm) do nhà văn gốc Mỹ Jonathan Littel viết bằng tiếng Pháp (hạng ba 618.000 bản). Tiểu thuyết này sau khi đoạt giải Goncourt vào năm 2006, đã ăn khách khá đều đặn trong vòng 15 năm qua.

8 triệu euro sau 7 tháng ra mắt độc giả

Giải thưởng Goncourt 2020 là một quyển tiểu thuyết thiên về khoa học viễn tưởng, được viết bởi một thành viên trong nhóm "văn học thử nghiệm" mang tên là Oulipo của Pháp ("trường phái" này do hai nhà văn Raymond Queneau và François Le Lionnais thành lập vào đầu những năm 1960). Tiểu thuyết "Điều bất thường" kể lại câu chuyện lạ kỳ của một nhóm hành khách và phi hành đoàn trên một chuyến bay trong tháng Sáu của hãng hàng không Air France. Chiếc phi cơ dân sự này sau khi bay qua một trận bão dữ dội, buộc phải hạ cánh xuống một căn cứ quân sự Mỹ, vì không được lệnh đáp xuống phi trường quốc tế JFK ở vùng ngoại ô thành phố New York.

Vấn đề ở đây là khi đáp xuống căn cứ quân sự, toàn bộ các hành khách và phi hành đoàn đều bị cơ quan mật vụ Mỹ bắt giữ. Lý do là vì vài tháng trước đó, vào tháng Ba, một chuyến bay khác của Air France nhưng với cùng một phi hành đoàn và danh sách hành khách y hệt như tháng Sáu đã từng hạ cánh xuống thành phố New York, sau khi gặp bão trên không. Chuyện gì đã thật sự xẩy ra để gây ra một "điều bất thường" như vậy ? Phải chăng trận bão đã đưa chuyến bay này vào vòng lặp thời gian, hay là chiếc phi cơ bị lạc vào "đa vũ trụ" khi mà mọi thứ có thể tồn tại song song và điều đó có thể giải thích vì sao nơi hành khách và phi hành đoàn lại có đến hai phiên bản giống hệt nhau (tháng Ba và tháng Sáu).

Về nội dung, có thể nói quyển tiểu thuyết "L'anomalie" (Điều bất thường) của nhà văn Hervé Le Tellier được viết như kịch bản phim tâm lý pha với một chút khoa học viễn tưởng. Thể loại này có vẻ hơi khô khan, không hẳn là sách dành cho đại chúng, ngoài giới hâm mộ đọc truyện sci-fi và các tác phẩm dystopia. Có lẽ cũng vì thế mà trong đợt xuất bản đầu tiên, Gallimard chỉ in 12.000 quyển. Đáng ngạc nhiên thay, tác phẩm này đã thành công vượt bực, ngoài sự mong đợi của chính tác giả cũng như của nhà xuất bản. Với giá trung bình là 12 euro mỗi quyển sách, doanh thu của "L'anomalie" đạt tới mức 8 triệu euro 7 tháng sau ngày được tung ra thị trường.

Bí quyết thành công của "Điều bất thường"

Có một vài yếu tố giải thích cho sự thành công bất ngờ này. Trong thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa, các hiệu sách cũng không được mở cửa, hai yếu tố đó đã khiến cho nhiều hộ gia đình muốn tìm lại thú vui đọc sách, mặt khác họ cũng mua thêm sách để biếu tặng bạn bè người thân và qua đó bày tỏ tình đoàn kết với các chủ hiệu sách. Còn lễ trao giải văn học Goncourt sau nhiều lần bị trì hoãn, rốt cuộc đã diễn ra cuối tháng 11/2020 đúng ngay vào mùa mua sắm quà tặng nhân những ngày lễ cuối năm. Vì thế cho nên việc biếu tặng sách, trong đó có tiểu thuyết "Điều bất thường", hơn bao giờ hết lại trở thành chuyện hiển nhiên.

Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất theo giới chuyên ngành xuất bản vẫn là nội dung của tác phẩm. Quyển tiểu thuyết "L'anomalie" (Điều bất thường) của tác giả Pháp Hervé Le Tellier đã được giới phê bình khen ngợi tán thưởng, nhờ vào cốt truyện lạ kỳ, ý tưởng táo bạo, đưa người đọc vào thế giới du hành kỳ ảo, giữa thực và mộng nhưng không phải là chuyện viển vông mà lại mang đầy tính lôgic toán học chặt chẽ.

Bản thân nhà văn Hervé Le Tellier cũng khá bất ngờ trước đà thành công của tác phẩm "Điều bất thường". Ông cho biết vẫn chưa hiểu vì sao quyển sách lại trở thành một hiện tượng trong ngành xuất bản nhưng hẳn chắc điều đó giúp thay đổi vị trí của tác giả này trên văn đàn. Hầu hết các cuốn sách của Hervé Le Tellier trước đây, chưa bao giờ vượt quá mức 35.000 bản và bán được như vậy đã là rất nhiều đối với nhà văn này. Hiện giờ sau nhiều lần tái bản, quyển tiểu thuyết đã xấp xỉ 650.000 quyển, phía nhà xuất bản Gallimard dự trù in gần một triệu quyển, vì mức tiêu thụ hiện nay là khoảng 20.000 bản được bán ra mỗi tuần.

Phim ăn khách phóng tác từ tiểu thuyết Goncourt

Cốt truyện kỳ lạ chẳng những thu hút bạn đọc mà còn gây nhiều hứng thú cho giới sản xuất và các nhà phóng tác kịch bản thành phim truyện. Việc chuyển thể các tác phẩm văn học từng đoạt Goncourt thành những bộ phim dành cho màn ảnh lớn, gần như đã trở thành một truyền thống ở Pháp. Từ "La Vie devant soi" (Cuộc sống ở trước mặt 1975) của Romain Gary với bút danh Émile Ajar cho tới "Les Noces barbares" (Hôn thú dã man 1985) của Yann Quéffelec, các tác phẩm Goncourt từng được tái hiện trên màn ảnh lớn. Gần đây hơn, các tác phẩm phóng tác từ các truyện đoạt Goncourt như "Une chanson douce" (Điệu ru êm đềm 2019) của Leïla Slimani hay là "Au revoir là-haut" (Tạm biệt trên kia 2017) của Pierre Lemaitre đều đã thu hút đông đảo khán giả Pháp vào rạp, với khoảng hai triệu lượt người xem, trước khi có dịch Covid-19 buộc các rạp chiếu phim phải đóng cửa.

Về điểm này, sự thành công ngoạn mục nhất vẫn là quyển tiểu thuyết "L'Amant" (Người Tình), trong đó nhà văn Marguerite Duras kể lại thời thơ ấu của bà ở Việt nam, tác phẩm này đã đoạt giải Goncourt vào năm 1984. Tính đến nay, tựa sách này đã bán được hơn 1,63 triệu bản, theo nhà xuất bản Éditions de Minuit, dù cho tới tận bây giờ quyển "L'Amant" (Người Tình) của tác giả Duras vẫn chưa bao giờ được phát hành dưới dạng sách bỏ túi, và quyển tiểu thuyết vẫn được bán ở mức từ 12.000 đến 14.000 bản mỗi năm.

Khi được đạo diễn Pháp Jean Jacques Annaud chuyển thể lên màn bạc vào năm 1992 với cặp diễn viên Jane March và Lương Gia Huy trong vai chính, bộ phim cùng tên đã thành công ở phòng vé, thu hút hơn 3,7 triệu lượt người xem. Hy vọng rằng quyển tiểu thuyết "L'anomalie" (Điều bất thường) sẽ sớm có phiên bản điện ảnh và biết đâu chừng sẽ phá luôn kỷ lục do quyển "L'Amant" nắm giữ về số lượng độc giả cũng như khán giả.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/22/2021(UTC)
viethoaiphuong
#560 Posted : Tuesday, February 23, 2021 8:38:27 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Ban nhạc Daft Punk chia tay sau 28 năm thành công

Tuấn Thảo - RFI - 23/02/2021
Hôm 22/02/2021, nhóm Daft Punk đã tải lên mạng một đoạn video ca nhạc dài 8 phút mang tựa đề "Epilogue" (Hồi kết). Trong bộ phim video này, có xuất hiện dòng số "1993-2021". Một cách khá bất ngờ, tùy viên báo chí của nhóm Kathryn Frazier đã xác nhận với hãng tin AFP là ban nhạc Pháp Daft Punk chính thức tan rã, nhưng không cho biết lý do.

Nổi tiếng trên khắp thế giới nhờ tài nghệ sáng tạo và phong cách độc đáo, ban nhạc Daft Punk được mệnh danh là đại sứ của dòng nhạc điện tử của Pháp gọi là "french touch". Nhóm này chỉ gồm hai thành viên là Thomas Bangalter (sinh năm 1975) và Guy Manuel de Homem-Christo (1974). Đôi bạn quen nhau từ thời niên thiếu, khi họ còn là học sinh trường trung học Carnot ở Paris. Sau khi đậu tú tài, họ thành lập ban nhạc Daft Punk vào năm 1993, lúc họ chưa đầy 20 tuổi. Nhóm này chuyên thử nghiệm kết hợp âm thanh điện tử house electro với các nhịp điệu kích động của rock, funk hay disco.

4 album trong gần 3 thập niên sự nghiệp

Trong làng nhạc quốc tế, ít có trường hợp nào lạ lùng như nhóm Daft Punk. Trong vòng 28 năm hoạt động, ban nhạc chỉ cho ra mắt bốn album phòng thu, nhưng lại bán gần 10 triệu bản trên thế giới. Nét độc đáo của nhóm này là họ không bao giờ lộ diện trong những lần xuất hiện trước công chúng. Nhóm Daft Punk tự định nghĩa họ là những nghệ sĩ độc lập ẩn danh, cho nên công chúng không bao giờ thấy được diện mạo của hai thành viên này. Mỗi lần xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu, ban nhạc ít cử động tựa như người máy, trên đầu lúc nào cũng đội mũ bảo hiểm an toàn, với kính chắn che khuất toàn bộ khuôn mặt của họ.

Tập nhạc thứ tư và cũng là album cuối cùng (Random Access Memory) của nhóm Daft Punk chẳng những lập kỷ lục số bán mà còn đoạt luôn 4 giải Grammy vào năm 2014, trong đó có hai giải cao quý nhất là Album hay nhất và Bản thu âm xuất sắc nhất trong năm (Get Lucky). Kể từ đó cho tới nay, giới hâm mộ luôn chờ đợi mọi thông tin có liên quan tới ban nhạc Daft Punk, kể cả tin đồn cho rằng nhóm này sẽ xuất hiện với tư cách khách mời trong màn biểu diễn của ca sĩ The Weeknd nhân trận chung kết Superbowl hôm 07/02/2021 tại Mỹ.

Rốt cuộc, giới hâm mộ đã mừng hụt. Đa số lúc ấy đều nghĩ rằng nhóm Daft Punk không tham gia có lẽ cũng vì tình hình dịch bệnh chưa có dấu hiệu giảm bớt. Nhưng thật tình, không ai chờ đợi là bộ đôi này 2 tuần lễ sau đó lại chính thức thông báo việc chia tay thông qua đoạn video ca nhạc (trích từ bộ phim khoa học viễn tưởng “Electroma” từng được phát hành vào năm 2006). Đoạn phim này cho thấy cuộc hành trình phiêu lưu giữa lòng sa mạc mênh mông vô tận, lại có tựa đề biểu tượng là lời kết, mang đầy ý nghĩa của một thông điệp cuối cùng.

6 giải Grammy trong số 13 giải quốc tế

Trong vòng 28 năm sự nghiệp, Daft Punk đã trình làng 4 album studio, một tập nhạc phim (Tron : Legacy) và hai tập nhạc live ghi âm từ các vòng lưu diễn quốc tế (1997 và 2007). Tính tổng cộng, nhóm này đã đoạt 13 giải quan trọng trong làng nhạc quốc tế, ngoài 6 giải thưởng Grammy còn có các giải âm nhạc khác như Billboard, MTV, BMI hay là Brit Awards ... Với hàng loạt ca khúc ăn khách như “Around the World”, “One More Time” hay gần đây hơn là "Get Lucky" biểu diễn với Nile Rodgers và Pharrell Williams, "Starboy" hay "I feel it coming" phát hành vào năm 2017, Daft Punk trong vòng gần 3 thập niên là một trong những ban nhạc Pháp thành công nhất ở nước ngoài.

Ngay từ album đầu tay mang tựa đề "Homework" (1997) mang ý nghĩa của bài tập làm ở nhà (thời mà đôi bạn Thomas và Guy Manuel vẫn còn là những cậu sinh viên mới lớn), nhóm này đã nỗ lực sáng tạo, tìm tòi những âm thanh khác lạ. Các album ghi âm sau đó chẳng những cố gắng làm mới mà còn gieo rắc nhiều cảm hứng độc đáo khác nhau, với cách đọc đa tầng thoát ra ngoài lãnh vực âm nhạc đơn phương. Về điểm này, nhóm Daft Punk từng giải thích là âm nhạc không có vị trí cốt lõi như đa số các nhóm khác. Các nghệ sĩ thường có một lịch làm việc theo chu kỳ "cố định" : sáng tác, ghi âm, quảng bá, lưu diễn. Điều đó dễ tạo ra một vòng lặp và một cách vô tình các nhạc sĩ bị áp lực khi phải cho ra mắt các album một cách đều đặn, "máy móc".

Trong trường hợp của Daft Punk, nhóm này có lối tiếp cận mở rộng : âm nhạc được liên kết thêm với truyện tranh, phim hoạt hình, thế giới video, sách báo, nhiếp ảnh, tất cả gộp lại để tạo ra một vũ trụ có nét thẩm mỹ đặc thù tựa như phim truyện khoa học viễn tưởng. Trên sân khấu, hai thành viên Daft Punk cũng tìm tòi nghiên cứu để dựng một màn trình diễn đầy ấn tượng kết hợp công nghệ âm thanh, ánh sáng và video mapping.

Công nghệ hình ảnh phục vụ nghệ thuật sân khấu

Đáng ghi nhớ nhất là màn trình diễn tại liên hoan Coachella vào năm 2006, với kim tự tháp được thắp sáng bằng công nghệ laser và kỹ xảo hình ảnh. Buổi biểu diễn này đã thúc đẩy nhiều nghệ sĩ thuộc dòng nhạc điện tử, phải cố gắng sáng tạo hơn nữa về mặt sân khấu, do trường phái điện tử (đôi khi là nhạc không lời) thường có hoạt cảnh biểu diễn khá thô sơ, không có những màn bắt mắt, cảnh múa phụ họa như các đợt biểu diễn hoành tráng của các ngôi sao pop rock.

Dù muốn hay không, nhóm này đã khai phóng và mở đường cho nhiều nhóm nhạc khác của Pháp thành công ở nước ngoài kể cả Air, Justice, Cassius, Vitalic, Kavinsky hay là Étienne de Crécy ..... Nhưng có lẽ cũng vì Daft Punk luôn "giấu mặt" và ít phát biểu trước công chúng, cho nên nhiều khán giả trên thế giới đều nghĩ rằng bộ đôi này là người Mỹ, chứ không phải là một ban nhạc Pháp.

Về điểm này, Daft Punk từng cho biết là những chiếc mũ che kín khuôn mặt ban đầu là vì cả hai thành viên muốn xin được ẩn danh. Nhờ giấu tên mà khi ra ngoài đường, họ không bị nhận diện hay bị giới phóng viên theo dõi chụp hình. Với thời gian, ý tưởng thay đổi luật chơi ban đầu này đã trở thành một phương hướng sáng tạo tìm tòi hẳn hoi. Nhóm Daft Punk đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của công chúng trên các dự án ghi âm của nhóm, mà vẫn loại bỏ được thái độ "sùng bái cá nhân" thường thấy trong giới showbiz. Một khi lật qua trang nhạc Daft Punk và kể từ nay không còn có chuyện "One More Time", cả hai thành viên đều có thể giải nghệ hoặc đeo đuổi một sự nghiệp solo mới, mà không cần phải trả giá cao như bao nhân vật nổi tiếng khác.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 2/23/2021(UTC)
Users browsing this topic
Guest
32 Pages«<2627282930>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.