Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

32 Pages«<2526272829>»
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#521 Posted : Sunday, October 25, 2020 6:30:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Mariah Carey tự truyện - Phía tối tâm hồn nghệ sĩ

Gia Trình - RFI - 25/10/2020
Ở tuổi ngũ tuần, diva R&B/pop Mariah Carey ra mắt cuốn tự truyện “The Meaning of Mariah Carey” (Ý nghĩa của Mariah Carey) phơi bày nhiều góc khuất về đời sống riêng tư và sự nghiệp. Ba mươi năm đứng trên sân khấu, cuốn tự truyện đã trải lòng về nỗ lực thoát khỏi quá khứ tối tăm, phân biệt chủng tộc với nữ nghệ sỹ da màu.

Vết sẹo của phân biệt chủng tộc

Sinh ra trong một gia đình bố người Mỹ gốc Phi, mẹ da trắng Mỹ gốc Ailen, tuổi thơ của giọng ca Without You đắm chìm trong bạo lực và thiếu sự quan tâm của cha mẹ. Nữ ca sỹ lớn lên trong khu Long Island của Huntington và gia đình cô chuyển nhà tới 13 lần.

Trong cuốn hồi ký, cô kể về cuộc cãi vã, xung đột gay gắt của cha mẹ đến mức cảnh sát phải can thiệp. Mẹ cô, Patricia Carey, bỏ rơi cô rất sớm khi Mariah mới 6 tuổi. Tuy nhiên, Mariah Carey vẫn tri ân bà, một nghệ sỹ opera truyền cảm hứng cho sự nghiệp ca hát của diva. Trong các video clip Mariah Carey, cô luôn gửi gắm tuổi thơ của mình qua hình ảnh tình yêu giữa chàng trai da màu với cô gái da trắng.

Trong tự truyện, cô chia sẻ : “Khi bạn có cha mẹ khác màu da thì thực sự phức tạp. Khi bạn còn nhỏ, với người mẹ da trắng, bạn bị cách ly khỏi những phụ nữ da đen khác, đó là nỗi cô đơn khủng khiếp”. Bạn học chế giễu cô là Fozzie Bear (gấu xù bông), phân biệt đối xử với Mariah đều xuất phát từ chủng tộc và màu da.

Cô diễn tập vai Hodel trong vở nhạc kịch Fidder on the Roof, kết thân với cộng đồng Do Thái giàu có vì họ nghĩ cô là người Israel. Tuy nhiên, ám ảnh đối với Mariah khi nhận ra cha mình là một trong số khán giả đến tặng hoa : “Tất cả họ đều đổ mọi sự chú ý vào cha tôi, người đàn ông da đen duy nhất trong đám đông và tôi thuộc về ông ấy”. Sự lầm tưởng về màu da, cũng như gốc gác gia đình làm nữ ca sỹ tổn thương sâu sắc như vệt sẹo đi cùng năm tháng.

Lịch sử tình duyên lận đận

Không chỉ bộc bạch về tuổi thơ, gần nửa cuốn tự truyện xoáy vào lịch sử tình duyên lận đận của Mariah Carey, vốn dĩ là đề tài ưa thích của báo chí. Chung một công thức như Celine Dion và Gloria Estefan, Mariah Carey lên xe hoa với Tommy Mottola, nhà sản xuất âm nhạc, vào năm 1993. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân lý tưởng với giám đốc điều hành hãng Sony Music, không bền vững. Nó chỉ chỉ tồn tại trong vòng 4 năm.

Mariah mô tả cuộc sống như của một phạm nhân, chịu sự kiểm soát tuyệt đối của người chồng hà khắc. Cô chỉ được rời khỏi căn biệt thự 32 triệu đô ở Bedford, New York khi có sự đồng ý của chồng. Theo cuốn sách, sự tổn thương tinh thần với cuộc hôn nhân với Mottola lớn đến mức cô nảy nở mối quan hệ khác với ngôi sao bóng chày Derek Jeter. Ngay sau khi chia tay Mottola, cô ra mắt album Butterfly (1997) với hình ảnh sexy, tự do như cánh bướm tung bay khỏi kén. Đó là sự ẩn dụ, ví von cho cuộc lột xác thành công khỏi cuộc hôn nhân kém hạnh phúc.

Chuyện tình với Jeter không kéo dài, cô ngã vào vòng tay nam ca sỹ Luis Miguel trong vòng 3 năm. Sau đó, cô kết hôn nhanh chóng với người chồng thứ hai, Nick Cannon năm 2008. Cặp đôi Carey và Cannon có một cặp song sinh và ly hôn năm 2014. Sau ly hôn, mối quan hệ với tỷ phú casino người Úc, James Packer là một dấu ấn khó phai. Họ quen biết hẹn hò năm 2015, thông báo đính hôn vào tháng 1 năm 2016, tuy nhiên bất ngờ hủy hôn ước 9 tháng sau. Nữ ca sỹ hứng chịu cú sốc tinh thần đau đớn khi biết tin hủy đính hôn từ báo chí chứ không phải từ vị hôn phu Packer.

Sau những sóng gió tình duyên, Mariah Carey giờ đang trong mối quan hệ mặn nồng với vũ công người Mỹ gốc Nhật, Bryan Tanaka. Tuy nhiên, cô phải điều trị căn bệnh rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) thường dẫn đến trầm cảm, tiêu xài hoang phí và mất kiểm soát.

Nguồn năng lượng sáng tạo

Về mặt sự nghiệp, không ai nghi ngờ ông bầu Tommy Mottola là người phát hiện tài năng và định hướng thẩm mỹ cho Mariah. Sở trường của Carey được uốn nắn vào các pop ballad tình yêu, khoe được chất giọng khỏe, quãng rộng. Trong cuốn sách, cô thừa nhận sự biết ơn tới Mottola, người chồng đã giúp cô ký hợp đồng với hãng Sony và khích lệ cô ra mắt album Giáng sinh. Cho đến giờ, ca khúc All I want for Christmas is you vẫn là một trong những ca khúc Giáng sinh hay nhất mọi thời đại, do chính Mariah sáng tác và thể hiện.

Cô mô tả lần đầu tiên gặp Mottola tại bữa tiệc khi hai ánh mắt khóa chặt nhau lại. “Tôi nhận ra nguồn năng lượng của anh ấy và tôi cho rằng anh ấy cũng nhận ra kho năng lượng của tôi.” Từ cái nhìn thần giao cách cảm, nguồn năng lượng dồi dào của hai tâm hồn nghệ thuật đã cho ra đời trái ngọt. Các album tạo bệ phóng cho tên tuổi Mariah Carey như Music Box (1993) và Daydream(1995) leo lên hạng nhất các bảng xếp hạng âm nhạc.

Về cơ bản, giọng soprano quãng tám (five-octave) của Mariah có thể lên nốt cao, sáng chói với kỹ thuật huýt gió điêu luyện. Tuy nhiên, nhược điểm của cô lại là nốt trầm bị mờ, khiến cho khán giả khó nghe được rõ lời. Do vậy, thường cô xử lý bằng giọng mũi (giọng giả) để lấp đi khuyết điểm này.

Sóng ngầm nghệ thuật

Điểm cộng của Mariah Carey là khả năng sáng tác bên cạnh giọng ca trời phú. Tiết lộ trong cuốn sách, cô nói rằng khi ghi âm album Daydream, cô thường thu mình trong một góc và viết lại ca từ hoàn toàn khác với những gì xuất bản. Cô trút toàn bộ nỗi giận dữ để sáng tạo một album alternative rock - Someone Ugly Daughter (Người con gái xấu xí của ai đó) cùng năm với Daydream nhưng dưới một nghệ danh xa lạ - Chick. Tiết lộ trong cuốn sách đã gây sửng sốt cho khán giả sau 15 năm ra mắt tác phẩm. Album này là một minh chứng cho ký ức tối tăm mà nữ nghệ sỹ luôn muốn che giấu đám đông.

Sau cuộc hôn nhân tan vỡ, âm nhạc của Mariah chuyển hưởng hẳn theo sở thích cá nhân, ngẫu hứng hơn là sự tính toán. Mariah thả mình phiêu với R&B và hip hop, thoát khỏi khung sườn trong các bản ballad mượt mà. Cô cộng tác với các tên tuổi làng nhạc hip hop hay Jay Z, Puff Daddy, Bad Boy Remix. Không chỉ vậy, nữ ca sỹ dũng cảm lấn sân sang điện ảnh với vai chính trong phim ca nhạc Glitters (2001), nhưng không thành công như mong đợi.

Điều thú vị là không thấy Mariah nhắc tới việc hợp tác với diva Whitney Houston hay chuyện tình cảm với ngôi sao rap Eminem trong cuốn tự truyện. Chỉ với những bí mật tuổi thơ và cuộc sống cá nhân biến động, khán giả đủ để cảm nhận diva nhạc pop có diện mạo da trắng và trái tim da màu đã chinh phục giấc mơ kiểu Mỹ như thế nào.

(Theo Washington Post, Variety)



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/25/2020(UTC)
viethoaiphuong
#522 Posted : Monday, October 26, 2020 6:55:50 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Triển lãm Matisse tại Paris : giữa hội họa và văn học

Tuấn Thảo - RFI - 26/10/2020
Ban đầu được dự kiến tổ chức vào mùa xuân, cuộc triển lãm lớn về danh họa Matisse tại Paris sau hai lần bị trì hoãn do dịch Covid-19, rốt cuộc cũng diễn ra từ ngày 21/10/2020 cho tới 22/02/2021. Trung tâm văn hóa Pompidou đã muốn đem lại một góc nhìn khác về sự nghiệp của Matisse qua lăng kính văn học, nhân 150 năm ngày sinh của danh họa người Pháp.

Mang tựa đề ‘‘Matisse, comme un roman’’ hiểu theo nghĩa ‘‘Đời Matisse tựa như tiểu thuyết’’, Trung tâm Pompidou giới thiệu với công chúng 230 tác phẩm đủ loại của Henri Matisse (1869-1954), từ những bức vẽ mang đầy tính thử nghiệm đầu tiên của ông vào đầu thế kỷ 20 trong đó có các bức tranh ‘‘Les Tapis rouges’’ (Những bức thảm đỏ, 1906) và ‘‘Intérieur aux aubergines’’ (Cà tím trong nội thất, 1911), cho đến những bức bích họa hoành tráng hơn, các tác phẩm bột màu cắt dán thực hiện trong những năm cuối đời vào giữa thập niên 1950.

Những tác phẩm ấy đã trở nên nổi tiếng sau này không những trong giới chuyên sưu tầm mà còn trở nên quen thuộc với giới yêu hội họa ! Cũng từ các bức tranh ấy, tài năng của Henri Matisse được công nhận rồi nâng lên hàng họa sĩ bậc thầy, điêu luyện về màu sắc, tinh tế trong bố cục. Điển hình là bức kiệt tác ‘‘La Tristesse du roi’’ (Nỗi buồn của nhà vua, 1952) được trưng bày lần đầu tiên tại Trung tâm văn hóa Pompidou, sau khi được trùng tu.

Triển lãm đồ sộ với hơn 200 tác phẩm

Đây là cuộc triển lãm có quy mô lớn kể từ nửa thế kỷ gần đây. Lần cuối thủ đô Paris tôn vinh tài năng của Matisse là cuộc triển lãm ‘‘toàn cảnh’’ vào năm 1970 tại Viện bảo tàng Grand Palais. Lần này, Trung tâm văn hóa Pompidou (còn được gọi là Beaubourg) đã bổ sung bộ sưu tập khá đồ sộ của mình gồm hơn 100 tác phẩm trong kho lưu trữ, với thêm 130 tác phẩm vay mượn từ nhiều viện bảo tàng khác trong đó có Cateau-Cambrésis và bảo tàng thành phố Nice, vốn là nguyên quán và nơi yên nghỉ cuối cùng của danh họa người Pháp.

Thông qua các tác phẩm trưng bày, cuộc triển lãm nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa văn học và họa sĩ. Thi ca hay văn chương, đã có khá nhiều tác phẩm đương thời gợi hứng sáng tác cho Matisse. Đó là trường hợp của tập thơ ‘‘Poésies’’ của Stéphane Mallarmé. Vào năm 1930, trong khi Viện bảo tàng nghệ thuật đương đại New York đang tổ chức triển lãm lớn về Matisse, ông lại được nhà xuất bản Thụy Sĩ Albert Skira đề nghị vẽ tranh minh họa cho tuyển tập thi ca Mallarmé. Ban đầu hơi đắn đo do dự, có lẽ cũng vì ông chưa quen với thể loại ‘‘minh họa’’, rốt cuộc Matisse vẫn dành trọn hai năm trời cho dự án này. Matisse không ‘‘vẽ chơi’’ mà lại cống hiến hết mình với vô số bản vẽ, bức phác họa và tranh khắc.

Từ khối lượng phong phú dồi dào ấy, nhà xuất bản Thụy Sĩ đã cùng với danh họa người Pháp tuyển chọn ra khoảng 30 bức minh họa ưng ý nhất để đăng trong tác phẩm hoàn chỉnh. Mặc dù lúc sinh tiền, hai nghệ sĩ Matisse và Mallarmé chưa từng quen biết nhau, nhưng dự án này đã mở ra một cuộc đối thoại kỳ diệu, khác thường giữa tranh ảnh và ngôn từ, giữa hội họa và thi ca.

‘‘Bí ẩn của Matisse’’ trong mắt Aragon

Sự thành công ấy mở đường sau đó cho Matisse dấn thân thử nghiệm vào những sân chơi khác, ngoài lãnh vực hội họa. Tiêu biểu hơn cả là dự án minh họa quyển tiểu thuyết ‘‘Ulysse’’, kiệt tác văn chương của James Joyce, cũng như dự án vẽ hoạt cảnh và thiết kế trang phục của vở múa ballet ‘‘Le Chant du Rossignol’’ (Tiếng hót chim sơn ca) dựa theo nền nhạc của Igor Stravinky và cốt truyện cổ tích của Andersen.

Một trong những cuộc gặp gỡ quan trọng nhất diễn ra vào năm 1941 giữa Henri Matisse (1869-1954) và nhà văn Louis Aragon (1897-1982). Sau nhiều lần gặp mặt trao đổi, nhà văn Louis Aragon viết quyển ‘‘Henri Matisse, Roman’’, thoạt nghe tựa đề có vẻ giống như tiểu thuyết hư cấu, nhưng thật ra tác phẩm được viết như một quyển tiểu luận phân tích và phê bình nghệ thuật. Trong mắt của Louis Aragon, lối sáng tạo của Matisse thoạt nhìn có vẻ rất đơn giản nhưng lại có chiều sâu khôn lường, như trong bức kiệt tác ‘‘La Danse’’ (Điệu Múa), được xem như một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của trường phái dã thú (fauvisme).

Quyển sách không phải là tiểu thuyết nhưng lại dày đến 800 trang (kèm theo hơn 500 tài liệu và bức minh họa), tập hợp rất nhiều bài viết Louis Aragon tìm cách giải thích điều nhà văn gọi là “ Bí ẩn của Matisse ” và tất cả những gì ông không thể giải thích qua văn bản hay định nghĩa bằng ngôn từ. Tính tổng cộng, Aragon mất ba thập niên trời để hoàn tất quyển sách viết về sự nghiệp sáng tác của Matisse, và mãi đến năm 1971, nhà xuất bản Gallimard mới phát hành quyển sách này nhiều năm sau khi danh họa người Pháp qua đời.

Năm 1941 cũng là thời điểm quan trọng trong đời của Matisse, ông bị mỗ hai lần vì chứng ung thư ruột, bác sĩ thời ấy nói rằng ông chỉ còn có thể sống trong vòng sáu tháng. Bị nằm liệt gường và buộc phải ngồi xe lăn sau đó, Matisse do tin rằng mình không còn sống được lâu nên mới dồn tâm sức vào sáng tác. Rốt cuộc như ông nói, ông đã thoát chết trong ‘‘đường tơ kẽ tóc’’ và tựa như một món quà vô giá, cuộc đời ban tặng cho ông cơ hội sống thêm 13 năm nữa.

Matisse và những tác phẩm cuối đời

Chính trong giai đoạn này, Matisse thay đổi hẳn lối tiếp cận nghệ thuật, qua các tác phẩm như ‘‘Nội thất màu đỏ’’, ‘‘Tĩnh vật trên bàn xanh (1947). Ông cũng khai phóng loại tranh cắt dán, vẽ với bột màu : do ông không thể đứng vẽ trong nhiều giờ, Matisse phân tác phẩm ra thành nhiều công đoạn và dùng kéo để cắt ghép nhưng bố cục hội họa mà ông hình dung ở trong đầu. Quá trình sáng tạo của Matisse không chỉ đơn thuần là hội họa mà còn kết hợp thêm nhiều bộ môn khác, kể cả nhiếp ảnh và thiết kế. Việc chụp hình từng giai đoạn rồi chỉnh lại cũng là một cách để loại bỏ các chi tiết rườm rà, các yếu tố không cần thiết để đạt tới một tầm nghệ thuật cao hơn.

Cuộc triển lãm tại Trung tâm văn hóa Pompidou tuân theo trình tự thời gian và chia đều các tác phẩm được trưng bày ra thành 9 giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn tựa như một chương sách mở đầu với những trích đoạn văn học nổi tiếng. Về mặt ý tưởng, ban tổ chức thừa nhận đã gợi hứng rất nhiều từ quyển sách ‘‘Henri Matisse, Roman’’ của Louis Aragon, qua đó cho thấy tư duy sáng tạo của người họa sĩ.

Từ ý tưởng, cấu trúc cho tới ngôn ngữ hội họa, Matisse đi tìm trong sáng tác cách giải tỏa những ray rức bâng khuâng của một người nổi tiếng là thường có tâm trạng bất an, bồn chồn lo lắng. Cuộc triển lãm không chỉ trưng bày các tác phẩm hoàn chỉnh, mà còn giới thiệu những dự án dở dang, đơn thuần bị hủy bỏ hay tạm thời bị gác ngang. Tựa như nhà văn Aragon phải mất 30 năm để viết cho xong một quyển sách, chính các tác phẩm dang dở ấy lại rọi ánh sáng vào những giai đoạn khó khăn trong sự nghiệp của Matisse, miệt mài tìm tòi cả đời, lửa truyền sáng tạo cho tới hơi thở cuối.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/26/2020(UTC)
viethoaiphuong
#523 Posted : Saturday, October 31, 2020 8:58:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Sự chia rẽ trong làng âm nhạc trước thềm bầu cử tổng thống Mỹ

Gia Trình - RFI - 31/10/2020
Cuộc đua vào Nhà Trắng đang đến hồi nước rút sau hai vòng tranh luận gay cấn giữa ông Joe Biden và Donald Trump. Hòa cùng dư luận, các ngôi sao ca nhạc bày tỏ quan điểm sẽ bỏ phiếu cho ứng viên thuộc đảng nào. Chưa bao giờ giới nghệ sỹ nước Mỹ chứng kiến sự chia rẽ mất cân đối như vậy.

Phe ủng hộ ông Donald Trump - đảng Cộng Hòa

Tổng thống Donald Trump luôn làm dậy sóng truyền thông vì những phát ngôn táo bạo trên Twitter. Nhờ chiến lược tập trung phát triển kinh tế, ông được sự ủng hộ của đông đảo các tập đoàn lớn như Revlon, Estée Lauder, Marvel Entertainment quyên góp gây gũy.

Trái lại, số lượng nghệ sỹ công khai ủng hộ Trump chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tiêu biểu nhất là Kid Rock, ngôi sao rap/country đã gia nhập chiến dịch ngày 14 tháng 9 của ông. Khá thẳng thắn về quan điểm ủng hộ Trump, giọng ca của Picture từng ghé thăm Nhà Trắng, rất nhiều lần chụp ảnh sân golf với ông Trump.

Người thứ hai bày tỏ thiện cảm rõ nét phải kể đến ca sỹ chính nhóm hard rock kỳ cựu KISS, Gene Simmon. Vốn dĩ là người theo phe đảng Cộng Hòa, Gene Simmon từng bỏ phiếu cho ứng viên Mitt Romney năm 2012. Simmon nhấn mạnh về viêc ông Trump đã thay đổi vĩnh viễn cục diện chính trị và thế giới trong năm 2019 : “Trump không phải là một chính trị gia, ông ấy không cần tiền của bạn và sẽ nói thẳng điều ông ấy nghĩ trong đầu, mặc dù bạn có thích hay không”. Tương đồng với Simmon, nhạc sỹ Ted Nugent đề cao tính bộc trực của ông Trump : “Ông ấy xứng đáng trao Huân chương Tự do vì nói ra suy nghĩ của mình theo cách trung thực, thẳng thẳn, cô đọng nhất”.

Ở góc độ khiêm tốn, các nghệ sỹ như Jennifer Lawrence, Melissa Joan Hart tỏ ý ủng hộ đảng Cộng Hòa nhưng lại đưa ra một hình mẫu lý tưởng khác: không phải ông Trump mà là John McCain hay Gary Johnson. Trong số đó, ca sỹ tài năng Katherine McPhee tham gia chiến dịch ủng hộ cho đảng Cộng Hòa, nhưng từ chối bình luận về ông Trump. Các fan trên Twitter khá thất vọng về hành động của McPhee, kể cả các bài viết của cô về giới đồng tính.

Thực tế chỉ ra rằng các nghệ sỹ sợ mất đi khán giả trung thành nếu tuyên bố thẳng thừng là ủng hộ ông Trump. Đồng thời, làn sóng phản đối ông Trump sử dụng các khúc trong chiến dịch vận động cũng khá căng thẳng. Gần đây, các nghệ sỹ như John Forgety, Phil Collins cũng lên tiếng phản đối vì ông Trump sử dụng bản hit lừng lẫy cho chiến dịch tranh cử. Điểm thú vị ở ông Trump là các hành động và ứng xử như một chương trình truyền hình thực tế hơn là việc điều hành chính trị. Do vậy, sự đồng tình hay ủng hộ Trump chủ yếu là các ngôi sao có lượng người xem (view) và thích (like) thấp trên mạng xã hội.

Phe ủng hộ ông Joe Biden - đảng Dân chủ

So với tỷ lệ ủng hộ ông Trump, số lượng nghệ sỹ công khai ủng hộ ông Joe Biden và Đảng Dân chủ hoàn toàn áp đảo. Hàng loạt ngôi sao tên tuổi như Neil Young, REM, The Rollingstones, John Legend, Shakira chỉ trích Trump kịch liệt trên trang cá nhân Twitter.

Có hai điểm mấu chốt trong việc chỉ trích Trump để ủng hộ Đảng Dân chủ. Thứ nhất, các nghệ sỹ không ủng hộ việc Trump sử dụng ca khúc của họ do lo ngại ảnh hưởng tiêu cực tới yếu tố thương mại. Thứ hai, hầu hết nội dung chỉ trích đều xoáy vào sự phân biệt chủng tộc, bài xích người nhập cư của ông Trump. Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của nghệ sỹ và tập khán giả hâm mộ.

Nhưng không phải nghệ sỹ nào chọn cách công khai tuyên bố sẽ bỏ phiếu cho Biden như cách công chúa nhạc pop/country Taylor Swift thực hiện. Ngày 7 tháng 10, giọng ca của Bad Blood tuyên bố trên tạp chí V Magazine mình sẽ bỏ phiếu cho Joe Biden.

Với tầm vóc một ngôi sao ca nhạc có ảnh hưởng lớn với xã hội Mỹ, tuyên bố của Taylor Swift muốn nhấn mạnh vào vấn đề sắc tộc, màu da, nhân quyền của xứ sở cờ hoa : ”Sự thay đổi chúng ta cần để chọn một tổng thống nhận ra người da màu cảm thấy an toàn và được là chính họ, phụ nữ có quyền chọn những gì với cơ thể họ, cộng đồng LGBT được thừa nhận và bao bọc”. Ngoài ra, ca sỹ tóc vàng còn xoáy sâu vào cách ông Trump đối phó với đại dịch Covid-19 : “Mọi người xứng đáng với một chính phủ đương đầu với rủi ro đại dịch toàn cầu một cách nghiêm túc và đặt tính mạng con người lên trên hết”.

Chung tiếng nói với Taylor Swift, còn có Madonna, Cardi B và ngôi sao kỳ cựu Cherlên tiếng sẽ bỏ phiếu cho Biden. Ở tuổi 75, biểu tượng nhạc pop với nguồn năng lượng dồi dào không những công khai chỉ trích Trump, mà còn đồng thời lên tiếng ủng hộ Biden hết mực. Không có gì ngạc nhiên vì các fan hâm mộ của Cher phần lớn thuộc cộng đồng LGBT nên họ tôn thờ thần tượng có phong cách thời trang dị biệt với những ca khúc sôi động về tình yêu.

Trên trang cá nhân Twitter, Cher tặng những lời có cánh cho Joe Biden như “người đàn ông tốt, khôn ngoan, tử tế” và chúc ông may mắn “ngày hôm nay và mỗi ngày trôi qua.”. Đồng thời, giọng ca Believe cũng chỉ trích Trump sau màn tranh luận nảy lửa với Biden : “Tối qua, Trum giống như gã hề (Joker) hơn là Tổng Thống. Xin lỗi Joaquin.” Ngụ ý nhắc đến nhân vật gã hề Joker trong bộ phim cùng tên, do nam tài tử Joaquin Phoenix thủ vai, đã đoạt giải Oscar Nam chính xuất sắc nhất năm 2019.

Những tuyên bố gây sốc khác

Tuyên bố của Cher khá tương đồng với phần lớn giới nghệ sỹ vì hầu hết khán giả thuộc tầng lớp trí thức, trung lưu của nước Mỹ. Do vậy, ủng hộ đảng Dân Chủ và ông Biden là xu hướng phổ thông với điểm nhấn vào hệ thống chăm sóc sức khỏe và bình đẳng giới. Tuy nhiên, thu hút số lượng lớn khán giả, họ quên rằng mình được xếp vào tầng lớp triệu phú nghệ thuật với thu nhập hàng trăm triệu đô la từ tour lưu diễn và bản quyền âm nhạc. Vì thế, một số nghệ sỹ như rapper 50 Cent, soi xét thấu đáo hơn, đã lên tiếng phản đối Biden vì kế hoạch tăng thuế hơn 64% cho cư dân tại New York có thu nhập trên 400.000 đô la/năm. Kết quả là 50 Cent chuyển sang ủng hộ ông Trump với việc phát triển kinh tế hơn là đánh thuế người siêu giàu.

Liên quan tới kế hoạch bốn năm tới, ngôi sao nhạc rock Bruce Springsteentuyên bố sẽ chuyển tới sống tại Ailen nếu ông Trump thắng cử. Rocker 71 tuổi mô tả bốn năm tồi tệ dưới thời kỳ ông Trump nắm quyền. Vì thế, giọng ca Thunder Road tin tưởng chắc chắn vào thắng lợi của Biden : “Nếu tôi dự báo chuẩn xác, tổng thống Trump sẽ thua cuộc, Joe Biden sẽ làm tổng thống nhiệm kỳ tới. Nếu không đúng, hãy cho tôi một khoảng không gian ở Ailen.”

Việc di cư khỏi Mỹ sang nước khác như Hy Lạp cũng là thông điệp đáng chú ý của tay trống Tommy Lee của nhóm metal rock Motley Crue. Ngoài ra, nữ danh ca đình đám Broadway, Barbara Streisand ngắm nghía Úc hoặc Canada để định cư, trong khi Canada được xem là miền đất hứa cho hai ngôi sao R&B và rap, Ne-Yo và Snoop Dogg vì khoảng cách địa lý.

Thời gian hạ màn cho kết quả tổng thống Mỹ chỉ tính bằng giờ, vào ngày 3 tháng 11. Sự chia rẽ sâu sắc trong giới nghệ sỹ Hoa Kỳ chỉ ra rằng mọi phát ngôn ủng hộ đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa đều có những toan tính riêng. Đó là phương châm thu hút những khán giả trung thành và khẳng định tuyên ngôn nghệ thuật rõ nét.

(Theo CNBC, People, Variety, Los Angeles Times)

*****

Danh sách các ca khúc trong chiến dịch tranh cử Trump bị phản đối (Theo L.A Magazine)

Adele - “Rolling in the Deep”
Aerosmith - “Living on the Edge”
The Beatles - “Here Comes the Sun”
Bruce Springsteen - “Born in the U.S.A.”
Eddie Grant - “Electric Avenue”
Elton John - “Rocket Man”
Guns N’ Roses - “Live and Let Die”
Hans Zimmer - “Why Do We Fall?”
John Fogerty - “Fortunate Son”
Leonard Cohen - “Hallelujah”
Linkin Park - “In the End”
Luciano Pavarotti - “Nessun Dorma”
Neil Young - “Rockin’ in the Free World”
Nickelback - “Photograph”
Panic! at the Disco - “High Hopes”
Prince - “Purple Rain”
Queen - “We Are the Champions”
R.E.M. - “It’s the End of the World As We Know It”
Rihanna - “Don’t Stop the Music”
The Rolling Stones - “You Cant Always Get What You Want”
Tom Petty - “I Won’t Back Down”



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/31/2020(UTC)
viethoaiphuong
#524 Posted : Monday, November 2, 2020 6:56:24 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nhật ký Richard Burton được xuất bản

Tuấn Thảo - RFI - 02/11/2020
Vào mỗi buổi sáng, cho dù có khỏe hay không, cho dù đầu óc vẫn chưa hẳn tỉnh táo sau một đêm say sưa chìm đắm trong ‘‘thác rượu’’, Richard Burton vẫn cố gắng viết vào quyển nhật ký của mình. Nhiều lúc chỉ có đôi dòng, khi có hứng thì được vài trang. Mãi đến hơn ba thập niên sau ngày ông qua đời, toàn bộ quyển nhật ký nay mới được xuất bản.

Thói quen ghi chép những suy nghĩ hay cảm xúc bất chợt, ngôi sao màn bạc người Anh Richard Burton đã có từ thời niên thiếu. Xuất thân từ một gia đình nghèo, thân phụ làm nghề thợ mỏ ở xứ Wales, Richard Burton (1925-1984) từ nhỏ đã nuôi mộng đổi đời, tự lực vươn lên nhờ chữ nghĩa. Ông được giáo sư Philip Burton dìu dắt chỉ bảo, tạo cho ông cơ hội ăn học thành tài. Thời còn trẻ, Richard xem ông như một người cha đỡ đầu từng nhìn thấy trước bất kỳ ai tài năng chớm nở của mình. Có lẽ cũng vì thế khi vào nghề diễn xuất, Richard lấy họ của thầy làm nghệ danh. Đến khi nổi tiếng trên sân khấu kịch nghệ rồi sau đó trong làng nghệ thuật thứ bảy, Richard Burton suốt đời không quên ơn của người thầy Philip Burton.

Tính tổng cộng, lúc sinh tiền, Richard Burton đã viết hàng ngàn trang nhật ký trên những quyển sổ tay nho nhỏ, đôi khi đơn giản nguệch ngoạc trên những trang giấy rời. Tập nhật ký được ông lưu giữ từ thời niên thiếu cho đến vài tháng trước khi ông qua đời ở tuổi 58. Các dòng chữ từng được viết từ năm 1939 đến năm 1984 được phát hành vào ngày 31/10/2020 vừa qua.

Tình sử cuồng dại đi vào huyền thoại

Phiên bản tiếng Pháp dày gần 600 trang do nhà xuất bản Séguier phát hành, trong đó có rất nhiều trích đoạn hấp dẫn được đăng trên các phụ trang văn hóa của các tờ báo lớn. Báo chí Pháp đặc biệt quan tâm đến thời kỳ 15 năm, từ 1961 đến 1976. Đó cũng là giai đoạn Elizabeth Taylor cùng với Richard Burton với niềm đam mê nóng bỏng, viết lên những trang tình sử cuồng nhiệt hoang dại, mà ngay cả những kịch bản hay nhất của Hollywod vẫn chưa lột tả được hết huyền thoại.

‘‘Trong đời, tôi đã có nhiều dịp may hiếm thấy, nhưng may mắn lớn nhất vẫn là khi tôi gặp Liz Taylor’’. Richard Burton đã viết dòng chữ này vào năm 1968, tức 5 năm sau ngày hai người làm hôn thú. Chỉ có điều là khi gặp nhau vào năm 1961 trong lúc quay phim ‘‘Cleopatra’’, cả hai diễn viên đều đã có gia đình. Trên màn ảnh lớn, Liz Taylor vào vai nữ hoàng Ai Cập, còn Richard Burton thủ vai kiện tướng La Mã, nhưng nỗi đam mê của đôi tình nhân ở ngoài đời lại càng rực lửa mỗi lần họ xuất hiện trên màn bạc. Sau khi quay xong bộ phim, Richard Burton rời bỏ vợ con để xây tổ ấm mới. Mối tình ngoài hôn thú giữa Liz Taylor với Richard Burton ra đời trong tai tiếng.

Trong vòng nhiều năm liền, đời tư của hai ngôi sao luôn bị phơi bày trên mặt báo. Cho dù hai diễn viên này sau đó đã làm hôn thú chính thức, nhưng mối quan hệ đầy sóng gió giữa Liz Taylor với Richard Burton vẫn gây nhiều bê bối tai tiếng hơn cả mối tình giữa diễn viên Ingrid Bergman và đạo diễn Roberto Rosselini cũng như quan hệ vụng trộm giữa thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe với tổng thống Hoa Kỳ John Fitzgerald Kennedy.

Cặp bài trùng có một không hai

Những tiết lộ đời tư của Liz Taylor và Richard Burton liên tục xuất hiện trên trang bìa các tạp chí. Tánh tình của hai diễn viên xung khắc như nước với lửa và nhất là không ai chịu nhường ai. Sinh thời, Richard Burton lắm tài nhưng cũng nhiều tật. Ông hút mỗi ngày 50 điếu thuốc, chưa kể tới chứng nghiện rượu, khiến ông trở nên vũ phu với vợ. Trong nhật ký, ông viết ‘‘có những lúc tôi hoàn toàn say xỉn và la hét rất nhiều, nhưng tôi không nhớ là vì chuyện gì mà phải lớn tiếng’’. Càng yêu nhau nhiều càng cắn nhau đau, Richard Burton cũng nổi tiếng là chiều vợ, trong đó có những món quà đắt giá nhất. Tiêu biểu là chiếc nhẫn kim cương Krupp hơn 33 carat từng được phòng đấu giá Christie bán gần 9 triệu đô la vào năm 2011.

Trên màn ảnh lớn, cặp vợ chồng diễn viên đã nhiều lần đóng phim chung. Nhưng tác phẩm phản ánh rõ rệt nhất quan hệ đầy sóng gió của cặp bài trùng có một không hai này vẫn là ‘‘The Taming of the Shrew’’ được đạo diễn Franco Zeffirelli phóng tác từ vở kịch của Shakespeare. Mặc dù đôi bên thừa nhận không thể thiếu nhau, nhưng sau hai lần làm hôn thú, Liz Taylor và Richard Burton lại vĩnh viễn chia tay nhau vào năm 1976, một điều đáng tiếc theo lời của Liz Taylor nhiều năm sau đó.

Mô tả thế giới như vẽ tranh biếm họa

Ngoài mối tình với Liz Taylor, các trang nhật ký của Richard Burton còn cho thấy người nghệ sĩ dưới một góc độ khác. Nhờ tài diễn xuất mà ông trở thành triệu phú, thế nhưng nếu không thành công nhờ đóng phim, thì có lẽ Richard Burton sẽ chọn nghề viết lách. Do ảnh hưởng của người thầy, Richard Burton tích lũy kiến thức nhờ đọc sách. Ông thích truyện trinh thám của John D. MacDonald, tiểu thuyết Iris Murdoch theo gợi ý của vợ. Ông mê tác phẩm của Dylan Thomas, tiểu sử của De Gaulle, Hemingway, Churchill …. Richard Burton cũng rất ngưỡng mộ nhà văn người Anh (Arthur) Evelyn Waugh (1903-1966), nổi tiếng nhờ các tác phẩm ‘‘trào phúng’’ với lối quan sát tinh tế nhạy bén, xứng đáng thừa kế George Bernard Shaw.

Theo ông Chris Williams, giáo sư khoa lịch sử xứ Wales tại Đại học Swansea, người đặc trách việc phát hành quyển nhật ký của Richard Burton, các dòng chữ biểu cảm đôi khi được viết theo dạng tản văn, tùy bút cho thấy một hình ảnh của Richard Burton khác với một diễn viên nổi tiếng, một nhân vật của công chúng. Những dòng chữ lưu lại cho thấy một người có lối suy nghĩ chín chắn nghiêm túc hơn, đầu óc quan sát luôn chú ý đến thế giới xung quanh mình.

Do đam mê văn chương, cho nên Richard Burton hơi coi thường ngành điện ảnh, theo ông đại đa số kịch bản được viết một cách rất tầm thường nếu không nói là ‘‘ngu xuẩn’’. Richard Burton cũng thường đi dự tiệc của giới văn nghệ sĩ hay thượng lưu quý tộc, ông dùng ngòi bút nhạy bén để mô tả đồng nghiệp hay những nhân vật nổi tiếng như một họa sĩ vẽ tranh châm biếm.

Trong đoạn cuối, Richard Burton ghi chép rằng những trang ‘‘nhật ký này chỉ được viết cho’’ riêng mình chứ không phải là để cho người khác cùng đọc. Nổi tiếng là người có tánh tình nóng nảy, cho nên nhiều trang nhật ký được viết mà không hề có sàng lọc hay được trau chuốt, phản ánh một cá tính gàn bướng, không khoan nhượng kể cả về cách viết lẫn từ ngữ, như thể núi lửa ngủ yên bỗng dưng đến ngày tuôn trào ‘‘phun chữ’’.


viethoaiphuong
#525 Posted : Friday, November 6, 2020 2:22:15 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Andre Rieu và những điệu Valse tụng ca hạnh phúc

Hoài Dịu - RFI
Chỉ cần một cú vẫy tay về phía dàn nhạc và những nốt nhấn archet duyên dáng của nhạc trưởng, nghệ sỹ violon André Rieu, công chúng như bị cuốn theo vòng xoáy vô tận của những điệu luân vũ bất hủ.

Bất cứ ở đâu mà người nghệ sỹ ấy đặt chân đến, người ta lại thấy hiện diện một Vienna thu nhỏ, tưng bừng theo những điệu nhạc rạng ngời. Những bước chân chống chếnh, cuồng nhiệt quyện vào từng nhịp valse của André Rieu, nghệ sỹ vỹ cầm người Hà Lan và dàn nhạc Johann Strauss Orchestra.

Ông hoàng hiện đại của valse

Thời thơ ấu, André Rieu sớm bị mê hoặc bởi cái thế giới âm nhạc huyền diệu của dàn nhạc giao hưởng do cha làm nhạc trưởng. Trong thời gian theo học violon ở nhạc viện, ông được mời chơi trong dàn nhạc Limburg Shymphonic Orchestra. Tác phẩm đầu tiên mà ông chơi cùng họ là bản valse ‘Gold und Silber’ của Franz Lehár. Đây là một trải nghiệm thú vị của André Rieu về valse, nó trở thành nhịp điệu chính theo suốt cuộc đời sự nghiệp của ông.

Mười năm sau, người nghệ sỹ ưu tú này đã quyết định gây dựng từng bước vương quốc âm nhạc theo tiêu chí riêng của mình. Cùng với người anh trai Jean-Philippe, André Rieu đã thành lập dàn nhạc mang tên Johann Strauss Orchestra, công diễn lần đầu tiên vào ngày mùng một tháng giêng năm 1988 trong dịp hòa nhạc đón mừng năm mới. Mạch nguồn trung tâm của dàn nhạc là những điệu luân vũ lừng lẫy từ triều đại Strauss cho tới Paganini, Dimitri Chostakovitch hay Lanner.

Đúng ba mươi năm kể từ buổi diễn đầu tiên, vương quốc André Rieu trở nên thịnh vượng hơn bao giờ hết. Johann Strauss Orchestra trở thành dàn nhạc tư nhân lớn nhất thế giới với 60 nhạc công đến từ hơn 10 quốc gia. Hơn 40 triệu CD và DVD được bán hết trên toàn cầu, hơn 500 đĩa bạch kim và 270 đĩa vàng của các giải thưởng danh giá quốc tế đã được trao cho ông và dàn nhạc. Đó là những thành công không gì so sánh nổi.

André Rieu còn là nhạc sỹ phụ trách chuyển soạn, đơn giản hóa, thu gọn các tác phẩm cổ điển nhằm mang thể loại âm nhạc bác học này đến gần hơn với mọi thính giả. Đặc biệt, việc đại chúng hóa bản valse số 2 của Chostakovitch đã đưa ông lên ngôi vị « Hoàng đế hiện đại của valse ». Những điệu luân vũ thành Vienna kiêu sa trở nên rạng ngời hơn bao giờ, những giai điệu kinh điển trong giao hưởng, nhạc kịch tưởng như chỉ dành cho quý tộc giờ đây hòa mình một cách gần gũi, thân thiện.

Không dừng lại ở đó, André Rieu tiếp tục làm mới danh mục biểu diễn bằng việc chào đón nhiều phong cách valse khác nhau từ đến mọi nơi như : valse dân gian Hà Lan, valse Pê-ru với chút điểm xuyết của điệu tango hay valse Mê-hi-cô mang âm hưởng flamenco… Những bản valse mang hương vị lạ như vậy đã đưa ông trở thành một trong những nghệ sỹ có đĩa nhạc thính phòng bán chạy nhất hành tinh.

Âm nhạc hướng tới niềm vui

Ở hầu hết các buổi hòa nhạc của André Rieu, trên sân khấu, người ta luôn thấy một nguồn năng lượng tràn đầy qua những bộ trang phục lông lẫy, qua những nụ cười rạng rỡ trên gương mặt của mỗi người nghệ sỹ. Và buổi diễn biến thành đêm vũ hội từ lúc nào không hay. Tất cả mọi người đều đứng lên, tay trong tay, khiêu vũ giữa lối đi của khán phòng.

Trong một lần trả lời phỏng vấn với Reuters, Andre nói: “Tôi chưa khi nào yêu cầu khán giả khiêu vũ giữa các lối đi như thế, nhưng họ đã làm vì họ cảm thấy niềm vui từ điều ấy. Mọi người thường hỏi liệu tôi có bị phân tâm khi khán giả khiêu vũ lúc đang chơi bản Dòng sông Danube xanh hay không? Câu trả lời là hoàn toàn không. Thật tuyệt khi buổi hòa nhạc của tôi trở nên sống động như vậy. Thường thì khi tôi chơi một bản valse, hầu hết khán giả bắt đầu đứng lên cùng nhảy và mỉm cười thích thú”.

Quan niệm chơi nhạc cổ điển của André Rieu không theo quy tắc thông thường. Ngày xưa khi ông còn là một cậu bé, được tham dự các buổi hòa nhạc của cha, André rất ngạc nhiên vì không khí trịnh trọng và nghiêm túc trong khán phòng. Không một nụ cười, thậm chí cũng không dám ho khi tiếng đàn vang lên.

Trong khi đối với ông, âm nhạc là nguồn suối của niềm vui mãnh liệt. Bày tỏ về quan điểm này, ông nói « Sự trang trọng bao trùm nhạc cổ điển, đã làm cho công chúng cảm thấy sợ sệt và e ngại, nhưng điều này không có ở buổi hòa nhà của chúng tôi(…) Mọi người hát, nhịp chân và vỗ tay theo nhạc, họ đu đưa, nhảy và khiêu vũ, tất cả đều được phép ! ». Mỗi buổi hòa nhạc của André Rieu đối với công chúng là một đêm hội sôi động, không ai ra về đều không quên mang theo những nụ cười và câu hát trên môi.

Cũng vì quan điểm trên mà André Rieu ít được giới bình luận âm nhạc đánh giá cao. Họ cho đó là thứ âm nhạc tạp lai, một thứ « cổ điển đại chúng », một hình thức phổ cập nhạc hàn lâm bằng những bản chuyển soạn đơn giản hóa. Để đáp lại, André Rieu thẳng thắn : « Tôi được đào tạo bài bản về nhạc cổ điển, những nhạc công của tôi cũng vậy, chúng tôi thực hiện những buổi hòa nhạc trên cơ sở tôn trọng nhạc cổ điển. Khi tôi đánh một bản nhạc của Bach, tôi chơi như ông ấy muốn. Nhưng đúng là tôi có thêm vào đó cái hóm hỉnh mà khán giả có thể bật cười trong buổi diễn, và đôi khi những nhà hàn lâm không thich điều này ! »

Ba mươi năm tồn tại và sẽ còn hơn thế nữa, André Rieu và dàn nhạc Johann Strauss Orchestra hôm nay vẫn ngang dọc khắp các nẻo đường với tâm nguyện mang những giai điệu hạnh phúc nhất đến nhân gian.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 11/6/2020(UTC)
viethoaiphuong
#526 Posted : Monday, November 9, 2020 6:48:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Dua Lipa: Lời giải cho Live Concert thời đại dịch?


Gia Trình - RFI - 07/11/2020
Châu Âu chính thức bước vào làn sóng phong tỏa thứ hai đối với Covid-19, nền công nghiệp âm nhạc đứng trước mối đe dọa mới. Tuy nhiên, ca sỹ trẻ Dua Lipa có lời giải mới trước mối đe dọa này. Tổ chức stream live thay vì các chuyến lưu diễn, sự kiện âm nhạc Studio2054 của Dua Lipa là hiện tượng âm nhạc của tháng 11 năm 2020.

Ý tưởng táo bạo và mới mẻ

Bóng đêm của Covid-19 bao trùm lên nền công nghiệp âm nhạc chưa hề thoái trào, mà thậm chí còn trở nên u ám hơn với số lượng các live concert trong nhà cũng như ngoài trời phải hủy bỏ. Không ngoại lệ, Dua Lipa buộc phải từ bỏ các chuyến lưu diễn 2021 cho album mới của mình, Future Nostalgia. Nhưng không vì thế, nữ ca sỹ 25 tuổi có thể dễ dàng bỏ cuộc chơi. Trên kênh Instagram, Lipa phát đi thông điệp cô sẽ tổ chức stream live trên nền tảng của LiveNow. Với mức vé rẻ nhất 11,99 đô la đến 27,50 đô la, kỳ vọng của nữ ca sỹ sẽ lôi kéo được khán giả trên toàn cầu tham dự concert phát trực tuyến (stream-live) của mình.

Do ảnh hưởng giãn cách xã hội, xu thế làm việc tại nhà kết hợp họp trực tuyến với công cụ Zoom hoàn toàn áp đảo hình thức văn phòng truyền thống. Vậy tại sao nền công nghiệp âm nhạc lại không dịch chuyển cùng xu thế đó? Theo kịch bản Lipa đề xuất, ngày 27 tháng 11, chương trình biểu diễn trực tuyến của cô sẽ phát trên 4 kênh khác nhau, tương ứng với 4 khu vực: Anh và Châu Âu; Nam Mỹ; Trung và Bắc Mỹ; châu Á-Thái Bình Dương, theo các múi giờ khác nhau.

Điều thú vị mà Lipa truyền tải chính là không gian âm nhạc sôi động kết hợp thực tế và thế giới ảo sẽ hứa hẹn bùng nổ. Địa điểm ghi hình diễn ra tại một nhà kho vào ngày 24 tháng 11. Như vậy, concert này không phải phát trực tiếp mà nó sẽ được dàn dựng công phu, kỹ lưỡng. Theo mô tả của Lipa, Studio2054 sẽ quy tụ nhiều nhạc công, vũ công, nghệ sỹ trượt băng, xiếc để biến hóa concert thành một chương trình TV siêu thực, sàn nhảy disco hay khiêu vũ, phòng trang điểm của diva ca nhạc.


Lời quảng cáo từ stream live khá hấp dẫn và không có gì nghi ngờ. Cô đã phải nhiều lần dời lịch lưu diễn sang tháng 1 và 9, 10 năm 2021. Đồng thời, các bài hát mới từ album thứ hai, Future Nostalgia bị rò rỉ trên internet trước khi đại dịch xảy ra. Trước những biến cố đó, dường như Lipa muốn dồn hết sức lực và ý chí cho sự ra đời của Studio 2054. Đây hứa hẹn là sự kiện âm nhạc quan trọng đối với riêng Lipa và nền công nghiệp biểu diễn nói chung.

Phát trực tuyến (Stream-live) hay Concert trong xe hơi (drive-in concert)?

Vào đợt sóng Covid-19 lần thứ nhất, lời giải cho bài toán khó nền công nghiệp biểu diễn dần được hé lộ. Thứ nhất, xuất hiện rải rác các concert trực tuyến trong thời gian cách lý như sự kiện OneWorld: Together At Home gây quỹ ủng hộ của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO). Thứ hai, nhen nhóm xuất hiện các concert trực tiếp nhưng khán giả buộc phải lái xe tới và thưởng thức âm nhạc trong xe hơi để đảm bảo giãn cách xã hội. Đơn cử như live concert của ca sỹ nhạc đồng quê Keith Urban hay Ban giám khảo The Voice, Blake Shelton.

Đến giờ phút này, hình thức stream live dường như thu hút đông đảo khán giả hơn nhờ sự tiện lợi, chi phí cạnh tranh hơn hẳn. Giá vé stream-live chỉ từ 11,9 đô la trong khi giá concert ngồi trong xe hơi tối thiểu 99 đô la, chưa kể việc di chuyển vùng miền gặp nhiều khó khăn.

Cách làm của nữ ca sỹ Dua Lipa rõ rằng nhắm tới phần lớn số đông khán giả trẻ tuổi nhờ chi phí hợp lý. Ngoài ra, Lipa còn khéo léo lồng vào các gói phụ trợ để hấp dẫn các “Thượng đế” thế hệ Z. Với giá vé combo 27,5 đô la, khán giả còn được truy cập vào Behind-the-scenes, video ghi hình phía sau hậu trường cũng như lời mời tham dự Bữa tiệc Ảo sau concert với Lipa và các DJ.

Chia sẻ với báo giới, cô nói: “Ý tưởng đến từ việc giãn cách xã hội ở nhà. Chúng tôi khao khát được kết nối xã hội trở lại dù chỉ nhỏ và vì thế, tôi muốn tổ chức biểu diễn. Nó thực tế không khác gì xem tôi biểu diễn trực tiếp vì tôi không thể làm thế lúc này. Chúng tôi sẽ thực hiện ở một nhà kho khổng lồ”.

Sống chung với đại dịch, nữ ca sỹ chủ động không để tác động tiêu cực lên sự nghiệp âm nhạc của mình. Cụ thể, cô phát hành album sớm hơn dự kiến để khán giả có thể thưởng thức khi bị cách ly xã hội. Hơn thế nữa, không ghi hình video clip ca nhạc, cô quyết định thực hiện video clip hoạt hình thay thế cho clip người đóng. Điểm mấu chốt là concert ảo, Studio2054 ra đời khi các tour lưu diễn buộc phải hủy bỏ vì sự kiện bất khả kháng. Tiếp bước ngôi sao country/pop Taylor Swift, Lipa đang phần nào định hình xu thế giải trí trực tuyến cho nền công nghiệp biểu diễn đang ngấm đòn nặng nề với đại dịch Covid-19.

Tài năng không đợi tuổi

Quay trở lại với lý lịch của Lipa, ca sỹ từng đoạt giải hai giải Grammy, trong đó có giải Nghệ sỹ mới xuất sắc nhất năm 2019. Sinh ra trong gia đình gốc nhập cư từ Kosovo - Albany theo Đạo Hồi, giọng ca sinh năm 1995 đã theo đuổi giấc mơ âm nhạc từ năm 15 tuổi. May mắn mỉm cười với Lipa khi cô ký với hợp đồng với quản lý của ca sỹ Lana Del Rey và sau đó với hãng Warner Music.

Chất giọng khàn, dày và đầy nội lực của Lipa được coi là thỏi nam châm cho thứ âm nhạc disco, dance, pop trẻ trung. Bản thân Lipa cũng nhận thấy mình may mắn hơn thế hệ người nhập cư trẻ hơn vì cô được sống tại London, thực hiện giấc mơ với quy mô toàn cầu. Cô tỏ ra thất vọng với sự kiện Brexit (Anh rời khỏi châu Âu): “Là một đứa trẻ sinh ra ở Kosovo, tôi hiểu cảm giác như là một phần của châu Âu và được chấp nhận”. Cô là một bằng chứng sống của sự thích nghi với môi trường khắc nghiệt, điều Lipa luôn ngưỡng mộ cha mẹ mình. Không những thế, nhận thức của Lipa đi kèm với việc bất bình đẳng trong thế giới âm nhạc.

Mô tả album Future Nostalgia là vui nhộn khi hiểu rằng giới phê bình chỉ thích nữ nghệ sỹ đóng khung với hình ảnh ủy mị bên cây đàn piano. Một số ca khúc viết chung với Ed Sheeran, 17 ca khúc trong album mới đều vui nhộn, nhất quán với nỗ lực đưa khán giả đến sàn nhảy disco cho năm 2020: “Thời gian sẽ trả lời. Tôi muốn thực hiện một album mà bạn không muốn bỏ qua bất cứ ca khúc nào”.

Nhờ bản năng thích nghi và sinh tồn của người nhập cư, Dua Lipa vươn lên trở thành ngôi sao nhạc pop thành công nhất nước Anh. Ý tưởng của cô về stream-live concert và sàn nhảy tại gia đem đến một luồng sinh khí mới cho thế giới giải trí. Rõ ràng, Dua Lipa đang chứng minh sự kiện âm nhạc Studio2054 là lời giải cho bài toán hóc búa của nền công nghiệp biểu diễn chìm trong bóng đêm của đại dịch Covid19.

(Nguồn: EW, Billboard, Guardian)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 11/9/2020(UTC)
viethoaiphuong
#527 Posted : Saturday, November 14, 2020 1:31:07 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Maroon 5 - Những câu chuyện chưa kể


Gia Trình - RFI - 14/11/2020
Hiếm có ban nhạc nào có lịch sử tồn tại trên hai thập kỷ mà vẫn giữ được phong độ đỉnh cao như nhóm Maroon 5. Với những bản hit đậm chất soul, R&B, Maroon 5 cũng từng khiến nhiều khán giả lầm tưởng đây là boyband thập niên 2000 như các nhóm Backstreet Boys hay Boyzone.

Tiêu điểm giọng ca chính - Adam Levine

Maroon 5 là ban nhạc khá đặc biệt, gồm bảy thành viên nhưng thủ lĩnh ban nhạc Adam Levine được biết đến nhiều nhất. Anh là linh hồn và biểu tượng ban nhạc, sở hữu chất giọng đáng chú ý. Đó là chất giọng nam tenor cao vút, có thể chuyển giọng từ cuống họng lên giọng mũi một nhanh chóng như trong ca khúc Payphone.

Ngoài ra, lý lịch hoành tráng của Adam như bóng mây che phủ toàn bộ sáu thành viên còn lại. Kết hôn siêu mẫu nội y Victoria Secret, Behati Prinsloo, tham gia show truyền hình The Voice Mỹ, bén duyên điện ảnh cùng hai ngôi sao Keira Knightlyvà Mark Ruffalo trong phim Begin Again. Đồng thời, Levine được coi là tay chơi sát gái nhất làng giải trí. Trước khi trao nhẫn cưới cho chân dài Behati, danh sách hẹn hò của anh tụ hợp đầy đủ các ngôi sao hạng A như Jessica Simpson, Cameron Diaz.

Đáng ngạc nhiên là ca sỹ sinh năm 1979 không tách ra sự nghiệp solo như các thủ lĩnh nhóm nhạc khác mà vẫn chung thủy với cái tên Maroon 5. Lối tư duy chiến lược giữ được lửa cho ban nhạc trong nhiều năm qua. Levine là người dẫn dắt nhóm qua nhiều thay đổi lớn, chuyển dịch về mặt ghi âm, thay đổi nhà sản xuất, kích thích doanh số hàng triệu đĩa hát tiêu thụ được khắp toàn cầu.

Lầm tưởng Ban nhạc thời kỳ hậu boyband

Sinh sau đẻ muộn hơn với các boyband thập niên 90 nhưng Maroon 5 luôn bị lầm tưởng là một boyband thập niên 2000. Adam Levine chứng tỏ nhiều điểm khác biệt với boyband. Họ chơi được nhạc cụ, sáng tác thành công, không cần biểu diễn vũ đạo và không còn trẻ để hấp dẫn các thiếu nữ mới lớn. Khả năng sáng tác của nhóm là điều đáng nể phục với hàng loạt hit thời thượng. Tuy nhiên, họ gần như nói không với thể loại rock, mà chủ yếu xoáy sâu vào pop, soul, R&B, hip-hop với yêu cầu cao về chất lượng.

Levine từng chia sẻ : “Kiểm soát chất lượng là ưu tiên số một của chúng tôi. Nếu bài hát không có gì đặc sắc, chúng tôi sẽ không đưa nó vào album. Mục đích của chúng tôi không phải theo cách rẻ tiền, mà sẽ là câu hỏi : Liệu bài hát này có gì kết nối với thế giới, và có phải một bản hit của chúng tôi hay không?”

Không phải boyband nhưng nhóm bị ảnh hưởng không nhỏ bởi kiểu thưởng thức âm nhạc mang nặng cả nghe-nhìn. Cụ thể, Maroon 5 tìm cách trau chuốt hình ảnh bằng sự kết hợp với nhiều tên tuổi lớn. Ca khúc Girls Like You, tập hợp được hầu hết các ngôi sao trong làng giải trí, MC nổi tiếng Ellen Degeneres, Chloe Kim, vận động viên Aly Raisman, ngôi sao điện ảnh Gal Gardot bên cạnh việc hợp tác với giọng hip hop đình đám Cardi B.

Bài hát có giai điệu rất giản dị, mộc mạc nhưng đánh trúng tâm lý khán giả vào những ngôi sao khách mời danh tiếng trên video clip. Ưu điểm nổi bật của nhóm chính là giai điệu bài hát giản dị, nhưng rất bắt tai, khán giả có thể ghi nhớ lâu. Levine từng nhắc đến tiêu chí sáng tác của mình : “Tôi muốn bài hát của mình sống mãi với thời gian, 10 năm sau nghe vẫn không cũ”.

Bề dày lịch sử thành lập

Tồn tại sau gần một phần tư thế kỷ, thành phần nòng cốt của Maroon 5 không có nhiều xáo trộn. Nhóm nhạc pop/rock xuất phát điểm tại California (Mỹ) với bốn thành viên sáng lập Levine, Carmicheal, Madden, Dusick quen nhau từ hồi học trung học.

Ban đầu nhóm thành lập năm 1994 với cái tên xa lạ Kara Flowers. Nhóm ký được hợp đồng với hãng Reprise Record ra mắt album The Forth World năm 1997. Năm 2001, ban nhạc chính thức đổi tên thành Maroon 5, sau khi chào đón tân binh, cây guitar Valentine và tung ra album Songs about Jane năm 2002. Trong đó single She will be loved thành công vang dội, đem về cho ban nhạc giải Grammy Nghệ sỹ mới xuất sắc nhất.

Tính đến hiện tại, ban nhạc có tất cả 7 thành viên, sau sự trở lại của tay keyboard Carmicheal. Với thành công của Songs about Jane, cơ duyên đưa họ làm việc với phù thủy âm nhạc, Robert John Mutt Lange, năm 2008 đến 2010. John Mutt Lange là “kiến trúc sư” làm nên thành công vang dội hai album của siêu sao nhạc country Shania Twain. Tương tự, Lange cũng kiến tạo được đòn bẩy cho album thứ 3 Hands All Over của nhóm thành album hạng bạch kim.

Những scandal nghề nghiệp

Không chỉ thành công, Maroon 5 còn dính nhiều thị phi trớ trêu. Vì phương châm tấn công vào sở thích nghe-nhìn của khán giả, nhóm từng bị chỉ trích gay gắt với các video clip gây sốc. Ca khúc Animals với điệp khúc “Baby, I’m preying on you tonight / Hunt you down eat you alive” (Em yêu, anh sẽ săn lùng em tối nay. Truy sát em, ăn tươi nuốt sống).

Video clip khai thác hình ảnh khêu gợi, mặn nồng của cặp đôi Adam Levine và người vợ Behati Prinsloo thủ vai, nhưng máu me đẫm trên khắp cơ thể họ. Tổ chức Chống Cưỡng hiếp, Lạm dụng Quốc gia Mỹ cho rằng video này độc hại, mô tả sự lãng mạn với hành động phạm tội. Ngoài ra, hàng loạt tạp chí âm nhạc phê phán video đầy bạo lực tình dục và hành hung phụ nữ.

Hơn thế nữa, nhóm bị đồn đại cấm diễn tại hai thành phố lớn Bắc Kinh và Thượng Hải, Trung Quốc năm 2015 sau khi hai concert bị hủy bỏ vô căn cứ. Theo tiết lộ tờ Guardian, tay keyboard của nhóm, Carmicheal đã gửi lời chúc sinh nhật lần thứ 80 tới đức Đạt Lai Lạt Ma trên Instagram. Có vẻ như sự kiện này khiến cho giới chức sắc Trung Quốc nổi giận. Ngoài ra, sự cố ở sự kiện Viña del Mar Festival tại Chilê diễn ra vào tháng 2 năm 2020 cũng gây ra phiền toán. Sau màn trình diễn khá tệ hại của ban nhạc, Adam Levine phải đăng đàn xin lỗi khán giả vì sự hời hợt.

Âm nhạc và reality show

Sự thành công của Maroon 5 cho thấy sự gắn kết hữu cơ giữa công nghiệp âm nhạc hiện đại và các nền tảng kết nối, điển hình show truyền hình thực tế The Voice. Sự xuất hiện Adam Levine trong The Voice mang dấu ấn cá nhân nhưng anh đã biến nó thành sân chơi cho ban nhạc. Mức cát xê của Levine trị giá 13 triệu đôla/mùa là công cụ thương mại quảng bá đắc lực cho sản phẩm của nhóm. Ca khúc Payphone trình diễn lần đầu trong The Voice đã thu hút hơn 493.000 lượt tải về. Mặc dù bị hạn chế thời gian do cam kết với The Voice, Levine vẫn lưu diễn không biết mệt cùng ban nhạc như cỗ máy kiếm tiền bền bỉ.

Maroon 5 là một minh chứng sinh động cho sự tồn tại lâu bền của nhóm nhạc, điều khán giả luôn hoài nghi về sự tàn lụi nhanh chóng của các ban nhạc lớn. Phải chăng người thủ lĩnh Adam Levine đã làm được việc không hề nhỏ: Hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể?

(Theo BBC, EW, Billboards, Variety)



viethoaiphuong
#528 Posted : Saturday, November 21, 2020 7:27:17 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Miley Cyrus - “Trái tim bằng nhựa”

Gia Trình - RFI - 21/11/2020
Miley Cyrus, ngôi sao tuổi teen của kênh Disney giờ đã khác xưa. Ca sỹ 28 tuổi luôn chứng tỏ sự nổi loạn, gây sốc cả về đời sống cá nhân lẫn gu âm nhạc. Album mới nhất của Miley - Plastic Hearts ra mắt vào ngày 27/11/2020 là sự kiện được giới trẻ chờ đợi.

Thần tượng tuổi teen đã bị xóa

Ký ức còn sót lại về Miley vẫn là ngôi sao nhí nhảnh dễ thương trên kênh Disney với bộ phim Hannah Montanah do cô thủ vai chính năm 14 tuổi. Bộ phim truyền hình ăn khách từ năm 2006 đến 2011 là bệ phóng cho tên tuổi của Miley nhờ tài năng ca hát và diễn xuất. Hầu hết khán giả biết cha cô là ca sỹ nhạc country Billy Ray Cyrus. Chính vì điều kiện thuận lợi này, Miley được nuôi dưỡng trong thế giới nghệ thuật từ nhỏ. Thử vai trên kênh Disney từ năm 11 tuổi nhưng bị từ chối vì quá nhỏ và non cho vai diễn. Tuy nhiên, may mắn vẫn mỉm cười với Miley nhờ năng khiếu nghệ thuật. Sự thành công của bộ phim kéo theo hàng loạt hợp đồng được ký với các hãng truyền hình, phim truyện, sản phẩm tiêu dùng và cả hãng ghi âm.

Tuy nhiên, sự nổi tiếng luôn đi kèm với rắc rối khi ca sỹ trẻ đang ở tuổi mới lớn. Ngoài chuyện tình cảm ồn ào với tài tử Liam Hemsworth, Miley công khai mình là pansexual (không thuộc giới tính cụ thể) và sử dụng cần sa, lạm dụng rượu. Sự biến đổi của cô gây ra làn sóng phản đối mạnh mẽ do các phụ huynh sợ ảnh hưởng tiêu cực tới con cái họ. Bước sang tuổi 20, Miley hoàn toàn lột xác thành một con người mới trong làng giải trí. Táo bạo hơn, nude đột phá, và tìm cách thu hút sự chú ý của truyền thông nhờ bản hit Wrecking Ball năm 2013. Mặc dù gây tranh cãi về hình tượng gợi dục, bản pop ballad này đánh dấu thành công đột phá về mặt thương mại.

Album được chờ đón nhất của năm 2020

Sau thành công của Wrecking Ball và những ồn ào đời sống cá nhân, Miley vẫn duy trì hình ảnh nối loạn vì chịu ảnh hưởng lớn từ đàn chị Madonna, Britney Spears. Sau gần 3 năm vắng bóng ở phòng thu, album được chờ đợi nhất của Miley Cyrus cũng hé lộ. Tựa đề album Plastic Hearts (Trái tim bằng nhựa) gợi nhớ album kinh điển của nhóm Tứ quái The Beatles năm 1965 - Rubber Soul (Tâm Hồn cao su). Phải chăng đây là một ẩn dụ ngầm về sự trưởng thành cái tôi trong âm nhạc của Miley?

Cô nói : “Tôi đã bắt đầu sản xuất album này từ 2 năm trước. Khi các công việc chính đã hoàn thành, tất cả đều bị xóa bỏ kể cả những gì liên quan tới âm nhạc”. Miley muốn ám chỉ tới vụ hỏa hoạn xảy ra tại căn nhà ở Malibu năm 2018, đây là tổ ấm với người yêu cũ Liam Hemsworth. “Tôi đã mất đi ngôi nhà trong trận hỏa hoạn nhưng lại tìm được chính bản thân mình trong đống tro tàn”.

Vụ tai nạn này cũng xóa sổ nhiều công sức của đội ngũ sản xuất khi toàn bộ máy tính, tài liệu ghi chép, đĩa EP đều biến thành mây khói. Tuy nhiên, sức nóng của trận hỏa hoạn dường như lan truyền sang cả album mới của Miley Cyrus. Chất giọng khàn, hơi đục, chiếm lĩnh sân khấu, được phát huy hết công suất.

Đòn bẩy sự nghiệp bằng các classic hit

Trong album mới này, Miley đã sử dụng đòn bẩy marketing đặc biệt nhờ các ngôi sao kỳ cựu, trong đó có Steve Nicks. Giọng nữ đình đám của nhóm Fleetwood Mac đã bật đèn xanh cho Miley sử dụng các khúc Edge of Seventeen cho album Plastic Hearts. Điều thú vị là Miley không hoàn toàn cover lại bản hit lừng lẫy của đàn chị có chất giọng khàn ấm như cô. Nữ ca sỹ 28 tuổi đã khéo léo đan cài bản hit mới Midnight Skyđể ráp với Edge of Seventeen thành một bản nhạc hoàn toàn mới là Edge of Mighnight.

Điều gì làm nên sức sống bản nhạc từ năm 1981 và bản nhạc mới toanh sản xuất năm 2020 ? Sự biến tấu rất hòa hợp trên nhiều phương diện: màu sắc giọng hát của hai ca sỹ, giai điệu mạnh mẽ, ca từ triết lý. Trong bài hát, Miley cất giọng : "I was born to run, I don't belong to anyone". (Tôi sinh ra để chạy, tôi không thuộc về ai cả). “Just like the white winged dove sings a song sounds like she’s singing”. (Như cánh chim bồ câu trắng, hát một bài hát, những âm thanh như chim hót). Trong phần ghi âm, dường như Steve Nicks cùng hòa giọng với Miley Cyrus trong phần điệp khúc tạo nên một con sốt mới. Riêng phần ghi âm trên Youtube, có khoảng 2 triệu lượt xem khi mặc dù album chính thức chưa ra mắt cho đến cuối tháng 11.

Vốn dĩ coi Steve Nicks là thần tượng, giờ đây Miley trở thành người bạn, đồng sản xuất với Steve. Mặc dù ý tượng trộn bài (mash-up) không quá mới mẻ, nhóm Destiny Child từng sử dụng đoạn chơi guitar mở màn của Edge of Seventeen trong ca khúc Bootylicious năm 2011. So với Bootylicious, bản mashup của Miley có chiều sâu và độ thẩm thấu cao hơn hẳn do độ dài và sự ăn nhập của đoạn cắt. Midnight Sky lọt vào top 10 trong top 100 ca khúc hay nhất năm 2020 cho Tạp chí Rolling Stone bình chọn.

Hoài niệm và trải nghiệm

Trước Midnight Sky và bản mash-up Edge of Midnight, Miley đã trải qua cuộc phẫu thuật thanh quản năm 2019. Giọng hát của Miley vẫn ổn định sau phẫu thuật nhưng sự thay đổi chính là cảm xúc và hoài niệm sâu bên trong. Nữ ca sỹ từng gây bất ngờ với hình ảnh thiện cảm trong ca khúc Slide Away. Sự đằm thắm, dịu ngọt trong Slide Away tương phản với nhiệt huyết bốc lửa trong Midnight Sky. Ca từ man mác buồn như muốn cứa sâu vào chuyện tình một thập kỷ đầy sóng gió giữa cô và Liam Hemsworth. Đó là góc nhìn khác biệt của Miley khi cái tôi trưởng thành và trải nghiệm nhiều biến động trong cuộc sống.

Once upon a time, it was paradise ; One upon a time, I was paralyzed ; Think I’m gonna miss these harbor lights ; But it’s time to let it go

Ngày xưa, đó là cả thiên đàng ; Ngày xưa, em từng bị tê liệt ; Em từng nghĩ rằng mình sẽ luôn nhớ ngọn đèn ở bến cảng ; Nhưng giờ chính là lúc quên đi tất cả

Không chỉ hoài niệm về cuộc sống cá nhân, âm nhạc của Miley dịch chuyển xuyên thời gian, trở lại về thập niên 70-80. Cùng với việc giãn cách xã hội, các concert trực tuyến của Miley thể hiện lại các ca khúc kinh điển của Pearl Jam, Britney Spears, The Cranberries và The Cure trong Festival Save our stage (Hãy cứu lấy sân khấu). Sự khám phá mới mẻ của cô là một điểm cộng vì nó đánh trúng tâm lý hiếu kỳ khán giả. Liệu ký ức ngôi sao pop Disney sẽ xử lý sao với ca khúc hard rock/metal như Nothing else matters của nhóm Metallica. Thực tế, Miley đã biến hóa những bản hit kinh điển như Heart of Glass của nhóm Blondie hay Wish you were here của Pink Floyd thành dấu ấn riêng.

Album Plastic Hearts có thể coi là một chương mới trong sự nghiệp âm nhạc của Miley Cyrus. Mặc dù ngôi sao của Hannah Montana thích nổi loạn, nhưng đó là sự nổi loạn đầy tính toán để tạo nên gu âm nhạc của một nghệ sỹ trưởng thành.

(Theo Rollingstone, Variety, Entertainment Weekly)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 11/21/2020(UTC)
viethoaiphuong
#529 Posted : Saturday, November 28, 2020 8:23:36 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Coldplay - Ban nhạc “toàn cầu hóa”

Gia Trình - RFI - 28/11/2020
Nếu khán giả âm nhạc tìm kiếm sự bền vững và cảm hứng sáng tạo không ngừng nghỉ thì chắc chắn nhóm nhạc Anh quốc, Coldplay sẽ được xướng tên đầu tiên. Giản dị, nhẹ nhàng, âm nhạc đời thường của Coldplay còn phản ánh góc nhìn toàn cầu hóa, khái quát mọi diễn biến chính trị-xã hội trên thế giới.

Cảm hứng âm nhạc đời thường

Thành lập từ năm 1996, nhóm nhạc xứ sở sương mù gồm bốn thành viên chính. Giọng ca chính, guitar và piano, Chris Martin, guitar chính Jonny Buckland, guitar bass Guy Berryman, tay trống Will Champion có duyên gặp gỡ tại Trường Cao Đẳng London. Đến thời điểm hiện nay, sau gần 24 năm, ban nhạc sở hữu khối tài sản âm nhạc khổng lồ, với 8 album phòng thu, 6 album biểu diễn, 7 album tuyển tập. Lượng đĩa hát tiêu thụ lên đến hơn 100 triệu bản toàn cầu và 33,6 triệu lượt tải bài hát tính riêng tại Mỹ. Nhưng con số biết nói đã tiết lộ về sức hút khó cưỡng của Coldplay. Điều gì tạo nên vẻ đẹp âm nhạc của Coldplay?

Album mới nhất của Coldplay Everyday life (Cuộc sống thường nhật) như củng cố triết lý nghệ thuật của nhóm. Mọi cảm hứng âm nhạc đều đến từ đời thường, với sự đam mê và độ ngọt của giọng ca Martin. Hơn thế nữa, họ lạc trôi tới miền đất Jordani với chất liệu âm nhạc mang màu sắc Trung Đông. Trụ cột của nhóm, Chris Martin, chia sẻ : “Tất cả đều nói về con người. Mọi ngày đều tuyệt vời và cũng tệ hại. Đó là cảm giác tự do khi cuộc sống bùng nổ khắp nơi trên hành tinh này”.

Coldplay đang muốn trở thành ban nhạc bình dị nhất, gắn kết cung bậc cao-thấp cảm xúc đời thường và chính trị thế giới vào album Everyday Life. Âm thanh pha trộn đủ màu sắc cuộc sống thường nhật ở nhiều miền đất khác nhau, đem lại hương sắc mới cho âm nhạc. Hơn thế nữa, trưởng nhóm thổ lộ “một vài thứ rất riêng tư về cuộc đời tôi, một vài thứ về sự kiện chúng tôi chứng kiến, một vài thứ để đồng cảm với nhân loại đang phải trải qua”.

What in the world are we going to do? Look at what everybody's going through ; What kind of world do you want it to be? Am I the future or the history?

Chuyện của thế giới mà chúng ta sắp phải thực hiện? Hãy nhìn vào những gì mọi người phải trải qua ; Chúng ta muốn thế giới sẽ ra sao? Liệu tôi có phải là tương lai hay chỉ là lịch sử?

Sự cảm thông mang màu sắc toàn cầu

Album Everyday life là phản ứng nhanh nhạy của nhóm trước những diễn biến tiêu cực xảy ra khắp nơi. Cấu trúc Everyday life được chia thành hai phần: Sunrise (Mặt trời mọc) và Sunset (Mặt trời lặn) như một ghi chép mang tính thường nhật. Chris Martin cũng nhấn mạnh vai trò của âm nhạc như một người quan sát, cảm nhận và chia sẻ những gì họ nhìn thấy một cách toàn diện hơn là phiến diện. Chính vì thế, ca từ của album mới phản ánh sự cảm thông sâu sắc tới nhân loại và những trải nghiệm thông qua lăng kính quan sát toàn cầu hóa.

Martin cũng nhấn mạnh : “Một điều giúp con người có cuộc sống tốt hơn là phải xỏ chân vào đôi giày của người khác. Đó là những đứa trẻ phải rời bỏ Syria, hay lớn lên ở Baltimore. Tôi luôn tự hỏi cuộc sống như vậy sẽ ra sao”. Chính vì thế, luồng tư tưởng xuyên suốt album là tính triết lý và nhân văn của nhóm nhạc toàn cầu.

Cùng với single Everyday Life, Coldplay cũng bộc bạch về cảm hứng phía sau các single như Orphans (Những đứa trẻ mồ côi) hay Arabesque. Cần lưu ý rằng phần hòa âm và phối khí là điểm mạnh bấy lâu nay của Coldplay. Khán giả vẫn say mê thứ âm nhạc có “gia vị” hòa âm tinh tế. Giai điệu êm dịu như dàn nhạc giao hưởng mini hơn là cách ban nhạc alternative pop/rock thể hiện. Trong ca khúc Orphans, Chris Martin hòa giọng cùng đám đông giới trẻ Jordani một cách bình dị, thân thiện như hình ảnh quen thuộc của anh. Khản giả bỗng dưng quên đi sự đau khổ thống trị lên những đứa trẻ tị nạn khắp toàn cầu.

I want to know when I can go ; Back and get drunk with my friends ; I want to know when I can go ; Back and be young again.

Tôi muốn biết khi nào ; Tôi có thể quay trở lại và say với những người bạn ; Tôi muốn biết khi nào ; Tôi có thể quay trở lại và trẻ lại như xưa.

Ban nhạc “Xanh, Sạch, Đẹp”

Không chỉ mang đến cảm xúc gần gũi đời thường, Coldplay là ban nhạc thân thiện với môi trường với nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Nhóm nhạc tỏ ra thất vọng với các chuyến lưu diễn tiếp theo nếu không đáp ứng tiêu chuẩn carbon-neutral (trung hòa khí thải carbon).

Tour lưu diễn gần đây nhất của nhóm thực hiện cách đây 3 năm. Năm 2016, 2017 nhóm lưu diễn với album A Head Full of Dreams Tour (Một bộ óc tràn ngập giấc mơ) với tổng cộng 122 shows trên bốn lục địa. Để thực hiện, ban nhạc phải sử dụng 109 người, 32 xe tải và 9 xe bus. Vì vậy, nhóm mong muốn đạt mục tiêu trong tương lai bằng cách sử dụng dầu diesel sinh học, không sử dụng cốc nhựa tiêu hủy, vận chuyển nhạc cụ bằng tàu thay vì máy bay, khuyến khích fan hâm mộ sử dụng phương tiện công cộng.

Tất nhiên, việc di chuyển bằng máy bay là không thể tránh khỏi, đi kèm việc xả khí carbon. Nhưng Coldplay muốn nhắm tới hai mục tiêu : sử dụng năng lượng mặt trời và không sử dụng vật liệu nhựa dùng một lần. Cùng các nghệ sỹ như Pearl Jam, Adele, bộ tứ muốn làm giảm nhẹ ảnh hưởng đến môi trường của các chuyến lưu diễn. Theo số liệu nghiên cứu, các ban nhạc Anh Quốc tạo ra 85.000 tấn khí thải gây hiệu ứng nhà kính năm 2009. Yêu cầu khắt khe này liệu có làm họ tự làm khó bản thân hay không?

Trong cuộc phỏng vấn gần đây với khán giả Jordani, nơi họ thực hiện album Everyday life, Cold play cũng bị các fan trên Twitter chỉ trích vì sự giả tạo : “Tại sao họ cần bay đến Jordani để phỏng vấn trong khi có thể phỏng vấn qua ứng dụng Skype”. Trái ngược, Chris Martin đáp trả bằng cách : “Chúng ta không nên tỏ ra quá thích thú trong việc chỉ trích người khác”. Khi nền công nghiệp biểu diễn âm nhạc có thể trở nên bền vững với môi trường, thì Coldplay sẽ là ví dụ điển hình. Câu chuyện “xanh, sạch, đẹp” của Coldplay còn trở thành nguồn cảm hứng cho ngôi sao trẻ như Billie Eilish.

Sự vĩ đại của một ban nhạc không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp âm nhạc mà còn ở tính nhân văn mà Coldplay truyền tải. Tầm vóc toàn cầu hóa của ban nhạc Coldplay được phản ánh trọn vẹn trong những tour biểu diễn quyên góp từ thiện với quy mô khổng lồ : Band Aid 20, Live 8, One Love Manchester, Hope for Haiti Now và kể cả album Everyday Life (Cuộc sống thường nhật).

(Theo BBC Radio 1, NME)



viethoaiphuong
#530 Posted : Monday, November 30, 2020 11:11:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Pháp đoạt giải nhất cuộc thi hát thiếu nhi "Eurovision Junior"


Tuấn Thảo - RFI - 30/11/2020
Trong bối cảnh dịch Covid-19, cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision dự trù vào giữa tháng 05/2020 đã từng bị hủy bỏ. Ngược lại, phiên bản dành cho thiếu nhi "Eurovision Junior" lại được duy trì. Tối Chủ nhật 29/11, cô bé Valentina 11 tuổi đại diện cho nước Pháp đã đoạt giải nhất trong số 12 thí sinh châu Âu.

Được thành lập vào năm 2003, "Eurovision Junior" dựa theo mô hình của cuộc thi hát truyền hình lâu đời nhất châu Âu (bản gốc ra đời vào năm 1956) và chỉ dành cho các thí sinh từ 9 đến 14 tuổi. Nước Pháp đã nhiều lần tham gia cuộc thi dành cho các giọng ca mầm mon. Năm ngoái, Pháp lọt vào danh sách Top Five gồm 5 thí sinh đầu bảng. Còn vào năm 2018, nước Pháp suýt nữa đoạt giải thưởng cao quý nhất, nhưng rốt cuộc lại về hạng nhì.

Riêng năm nay, cuộc thi "Eurovision Junior" lần thứ 18 đã được tổ chức tại Vácxava, thủ đô Ba Lan. Tuy chương trình được phát sóng trực tiếp, nhưng do các quy định phòng dịch Covid-19, các thí sinh đã thu hình sẵn phần biểu diễn ca khúc của mình, rồi sau đó họ theo dõi từ xa màn công bố kết quả, chủ yếu gồm hai phần, điểm của các ban giám khảo rồi sau đó điểm của khán giả tính theo sự bình chọn của công chúng.

Pháp dự thi với một ca khúc lạc quan

Chương trình được phát sóng cùng lúc tại hơn 20 quốc gia châu Âu (riêng tại Pháp chương trình này được phát trên kênh truyền hình France 2). Cô bé Valentina 11 tuổi đã dự thi với ca khúc tiếng Pháp “J'imagine” hàm ý : dù ở lứa tuổi nào đi chăng nữa, bất kỳ giấc mơ nho nhỏ hay lớn lao, cũng đều bắt đầu từ trí tưởng tượng. Do hai tác giả trẻ tuổi Barbara Pravi và Igit đồng sáng tác, nhạc phẩm “J'imagine” có một giai điệu hồn nhiên vui tươi, thể hiện rất rõ niềm lạc quan yêu đời, trong một thế giới chưa có gì đáng phấn khởi. Thông điệp tràn đầy niềm tin và hy vọng ấy có lẽ đã thuyết phục cả ban giám khảo, lẫn thành phần khán giả theo dõi trực tiếp chương trình.

Khi đến màn công bố kết quả, cô bé người Pháp Valentina đã tỏ ra vượt trội so với các thí sinh khác. Rốt cuộc, Valentina giành lấy ngôi vị quán quân, đứng đầu bảng xếp hạng với tổng cộng 200 điểm (trong đó có 88 điểm của ban giám khảo và 112 điểm từ phía công chúng). Đứng hạng nhì năm nay là Kazakhstan với tổng cộng 152 điểm. Còn hạng ba là Tây Ban Nha với 133 điểm. Khi so sánh cả hai bảng điểm, Valentina đại diện cho nước Pháp đã thắng đậm, vì cô bé có số điểm dẫn đầu theo bình chọn của ban giám khảo, cũng như theo sự chọn lựa của công chúng.

Từ Pháp đón chờ kết quả chung cuộc cùng với gia đình, cô bé Valentina đã bật khóc vì sung sướng, cô không ngừng ríu rít cảm ơn và nhảy nhót vui mừng trong bộ váy màu hồng. Đây là lần đầu tiên nước Pháp đoạt giải nhất cuộc thi hát thiếu nhi và như vậy, thủ đô Paris được giao trách nhiệm tổ chức "Eurovision Junior" vào năm 2021. Còn trong phiên bản dành cho người lớn, lần cuối nước Pháp đứng đầu bảng vàng là vào năm 1977, tức cách đây 43 năm với giọng ca Marie Myriam qua nhạc phẩm "L'Oiseau et l'Enfant" (Cánh chim và Đứa bé).

Valentina xuất thân từ đâu ?

Được chọn làm thí sính đại điện cho nước Pháp vào trung tuần tháng 10/2020, Valentina là một gương mặt khá quen thuộc với khán giả ở Pháp. Tuy mới có 11 tuổi, cô bé đã có khá nhiều kinh nghiệm sân khấu và thường xuyên đi hát trong các đợt biểu diễn solo hay hát cùng với nhóm. Sinh ra ở vùng Bretagne, gần thành phố Rennes, Valentina vào năm 7 tuổi, từng tham gia vòng thi hát giấu mặt trong khuôn khổ chương trình "The Voice Kids" phiên bản tiếng Pháp. Tuy không đoạt giải cuộc thi năm ấy, nhưng cô bé đã thu hút sự chú ý của ban giám khảo, khi trình bày một ca khúc của ngôi sao nhạc pop người Ý Laura Pausini, cho thấy cô bé có khả năng hát chuẩn nhiều thứ tiếng, do mẹ cô là giáo viên ngoại ngữ.

Đến năm lên 9 tuổi, Valentina được tuyển làm thành viên ban nhạc Thiếu nhi đoàn kết Thế hệ mới "Kids United-Nouvelle Génération". Cùng với nhóm, cô bé thực hiện vòng lưu diễn tại 30 nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Bên cạnh đó, Valentina cũng đã ghi âm với ban nhạc hai album và phát hành tổng cộng 7 đĩa đơn. Nhóm Kids United từng được chọn làm đại diện cho cơ quan UNICEF, thông qua việc bán đĩa cũng như các chương trình biểu diễn nhắm tới việc quyên góp giúp đỡ các hiệp hội chuyên bảo vệ quyền trẻ em cũng như bảo vệ môi trường.

Khi giấc mơ đầu đời thành hiện thực

Tuy khá bận rộn với công việc ghi âm và biểu diễn cùng với ban nhạc Kids United-Nouvelle Génération, nhưng Valentina vẫn không xao lãng chuyện sách vở, trường lớp. Có lẽ cũng vì mẹ cô là giáo viên, cho nên trong gia đình, vấn đề học hành vẫn là mối ưu tiên hàng đầu. Dịch Covid-19 đã làm giảm phần lớn các hoạt động trên sân khấu của cô bé, Valentina dành thêm thời gian cho việc học cũng như trao dồi thêm ngoại ngữ.

Cũng như các cô bé khác ở tuổi mới lớn, Valentina thông thạo cách sử dụng mạng internet. Chỉ trong một thời gian chưa đầy hai năm, từ khi cô về đầu quân cho nhóm Kids United Thế hệ mới, Valentina đã gầy dựng được một lượng người theo dõi (followers) khá đông đảo với hơn 300.000 thành viên đăng ký. Riêng video minh họa ca khúc “J'imagine” của cô đã thu hút hơn 2 triệu lượt người truy cập, chỉ trong vòng chưa đầy một tháng.

Từ khi còn bé, Valentina đã đam mê với ca hát và ánh đèn sân khấu. Trong số những giấc mơ đầu đời mà cô bé từng ôm ấp trong những năm qua, có việc tham gia cuộc thi hát châu Âu dành cho thiếu nhi "Eurovision Junior" và kế đến nữa là việc gặp gỡ một ngày nào đó thần tượng của mình là diva nhạc trẻ Ariana Grande. Cũng như bài hát tiếng Pháp “J'imagine” có nói : bất kỳ giấc mơ nào, nho nhỏ hay lớn lao đều bắt đầu từ sức tưởng tượng. Nơi cô bé 11 tuổi Valentina, còn có tinh thần chịu khó rèn luyện và học hỏi, có như vậy thì giấc mơ hình dung trong tâm trí từ thuở nào, mới trở thành hiện thực mai sau.

Valentina from France performs J’imagine at Junior Eurovision 2020

https://www.youtube.com/watch?v=3iIMGA0aUZE
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 11/30/2020(UTC)
viethoaiphuong
#531 Posted : Saturday, December 5, 2020 7:51:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

BTS : Khi âm nhạc trở thành tín ngưỡng

Gia Trình - RFI - 05/12/2020
Chuyện nghệ sỹ trẻ được đề cử Grammy không có gì mới mẻ nhưng với BTS, boyband Hàn Quốc, lọt vào đề cử lại là câu chuyện tốn giấy mực. Đây cũng là nhóm nhạc K-Pop đầu tiên lọt mắt xanh giải thưởng âm nhạc danh giá nhất Hoa Kỳ.

Sự xâm lăng K-Pop trên toàn cầu

Làn sóng hâm mộ K-Pop chưa có dấu hiệu nguôi ngoai và đặc biệt với nhóm nhạc trứ danh của làn sóng này, BTS. Làn sóng thần tượng hóa ngôi sao ca nhạc làm người xem nhớ đến thập kỷ 60, 70 với trào lưu British Invasion (Sự xâm lăng văn hóa Anh). Hàng triệu khán giả khóc, gào thét để nhìn ngắm thần tượng như Beatles, The Rollingstones. Giờ đây, BTS, đại diện xuất sắc nhất của K-Pop cũng thực hiện được giấc mơ đó: biến âm nhạc trở thành tín ngưỡng như cách The Beatles ví von nổi tiếng hơn chúa Jesus.

Năm 2020 có thể coi là bước ngoặt lớn với BTS khi single tiếng Anh đầu tiên Life Goes On (Cuộc sống vẫn tiếp diễn) của nhóm lọt vào bảng xếp hạng Billboard top 100. Đồng thời, giải Grammy cũng xướng tên họ trong danh sách đề cử Trình diễn pop xuất sắc nhất với ca khúc Dynamite bên cạnh các nghệ sỹ tên tuổi khác như Justin Bieber. Tuy giải Grammy là sân chơi mới mẻ với BTS, các chàng trai vàng K-Pop càn quét giải thưởng American Music Awards trong ba năm trở lại đây. Nếu nhận được máy hát vàng Grammy lần này, họ còn lập kỳ tích đoạt 3 giải âm nhạc lớn của Mỹ trong năm 2020.

Phải chăng sự xâm lăng của K-Pop là xu thế tất yếu hay Hội đồng đề cử của Viện Ghi âm Hoa Kỳ đã dễ dãi hơn với âm nhạc nước ngoài? Album mới nhất BE, đồng thời là album phòng thu thứ 5 của nhóm, trình làng trong năm 2020. BTS mô tả album như lá thư tràn đầy hy vọng trong giai đoạn cách ly kéo dài vì đại dịch Covid-19 đã cướp mất cơ hội lưu diễn toàn cầu. Nhưng với cú hích Billboard Top 100, giải Grammy sẽ mở rộng cánh cửa thị trường âm nhạc Bắc Mỹ cho bảy chàng trai vàng.

Thành lập từ năm 2010, nhóm nhạc bảy thành viên xứ sở Kim chi đầu quân cho hãng giải trí Big Hit Entertainment (BHE). Nhóm BTS là con Át chủ bài của hãng Big Hit khi đóng góp tới 87,7% doanh thu của hãng (tính trong nửa đầu năm 2020). Còn biết đến đến với cái tên Bangtang Boys, âm nhạc BTS đa dạng từ hiphop, dance, R&B, pop, phù hợp với phần vũ đạo trẻ trung và lối ăn mặc thời trang. Ca từ của BTS xoáy sâu vào nhận xét cá nhân và xã hội, sức khoẻ tinh thần, rắc rối của tuổi trẻ, mất mát hay hành trình ái kỷ và chủ nghĩa cá nhân.

Phó giáo sư Candace Epps Robertson, trường Đại học North Corolina nhận xét khá tích cực về tính nội dung trong âm nhạc của BTS : “Ca từ của nhóm và videoclip tuy đơn giản nhưng tạo ra nền tảng cho hàng triệu fan hâm mộ đắm chìm và phát triển được giác quan đa văn hóa của các công dân toàn cầu”. Ngoài ra, Kathryn Lofton, giáo sư Đại học Yale, mô tả sự hâm mộ với BTS như “tín ngưỡng tiêu dùng”. Nhóm cam kết mối quan hệ với fan để tạo sự vui vẻ, lạc quan khi bạn tham gia với nhóm.

Hơn thế, giải Grammy không chỉ là sân chơi giải trí lớn mà là ghi nhận của nền công nghiệp âm nhạc Hoa Kỳ với K-Pop. Vì vậy, giải Grammy là đích nhắm hoàn hảo mà ban nhạc BTS luôn khát khao nhắm tới với single tiếng Anh đầu tiên.

Khuyếch đại giá trị thương mại

Gần đây, thông tin các thành viên BTS có thể được trì hoãn nghĩa vụ quân sự khiến giá cổ phiếu công ty Big Hit tăng vọt. Sự nổi tiếng của nhóm không chỉ làm giàu cho các thành viên, cho công ty giải trí mà còn nuôi dưỡng cả nền kinh tế Hàn Quốc. Giá trị vốn hóa của Big Hit nằm trong top 10 Công ty lớn nhất trên sàn chứng khoán KOSPI Hàn Quốc.

Chính vì nền công nghiệp giải trí thịnh vượng này, đã bùng lên tranh cãi liệu có nên để các thành viên ban nhạc trì hoãn nhập ngũ khi đang ở đỉnh cao phong độ không ? Theo luật của Hàn Quốc, toàn bộ nam thanh niên độ tuổi 18 đến 28 phải tham gia quân ngũ trong vòng 2 năm để đối phó với nguy cơ an ninh từ Bắc Triều Tiên. Thành viên lớn tuổi nhất Kim Seok-jin (hay Jin) đã 27 tuổi, anh sẽ phải báo cáo nhập ngũ vào cuối năm 2021. Các thành viên còn lại, sinh năm 1993 đến 1997, sẽ đi nghĩa vụ quân sự trong các năm tiếp theo.

Sự nghiêm ngặt của luật Hàn Quốc đến mức sẽ không có khe hở nào cho các trường hợp đặc biệt, kể cả những chú gà đẻ trứng vàng như BTS. Bộ trưởng bộ Quốc Phòng Hàn Quốc, Suh Wook, nói rằng không có chuyện đặc cách mà chỉ là xem xét trì hoãn. Chính vì sự đồn đoán này khiến cho giới đầu tư đổ xô mua cổ phiếu BHE trước thông tin nhập ngũ các chàng trai.

Thành công trên nền tảng giải trí số

Câu chuyện thành công BTS chỉ là bề nổi của tảng băng, trong khi bề chìm là cả nền công nghiệp giải trí của Hàn Quốc trị giá hàng tỷ đô la. Sinh sau đẻ muộn hơn thị trường phát triển như Hoa Kỳ hay châu Âu, nền công nghệ giải trí xứ kim chi nay trở thành điểm sáng trên toàn cầu.

Ngoài các chuyến lưu diễn trị giá hàng trăm triệu đô la, BTS và Big Hit còn biết khai thác giá trị thương mại của chính họ và tấn công sang thị trường tài chính. Công ty đang sở hữu và quản lý BTS, Big Hit Entertainment được định giá lên tới 10 nghìn tỷ won (tương đương 8,5 tỷ đô la Mỹ). Theo giá trị chào bán ra công chúng, cổ phiếu Big Hit Entertainment đã tăng giá gấp đôi, lên gần 253 đô la Mỹ kể từ khi niêm yết.

Khác với thời đại của nhóm The Beatles, xu hướng nghe nhạc trở nên đa chiều và nhiều góc cạnh. Khán giả giờ đây không chỉ thưởng thức âm nhạc ở live concert mà trên đa phương tiện, đặc biệt điện thoại di động, máy tính, máy tính bảng. Mặc dù nhóm hủy chuyến lưu diễn toàn cầu trong năm 2020 do đại dịch, nhưng hầu bao của nhóm không vì thế bị thu hẹp. Nhóm BTS vẫn duy trì biểu diễn quảng bá trên mạng xã hội và biểu diễn online. Công ty Big Hit tập trung mạnh vào sử dung Youtube, các kênh mạng xã hội. Ngoài ra, Big Hit còn kiểm soát được toàn bộ doanh thu đến từ nền tảng Weverse. Đây là kênh thu hút đông đảo các fan K-Pop, và thể lôi kéo được các nghệ sỹ khác.

Ở góc độ khác, BTS nhanh nhạy khôn khéo trong cách marketing tên tuổi. BTS và Big Hit đã tài trợ 1 triệu đôla cho phong trào Black Lives Matter. Ngay lập tức, làn sóng fan hâm mộ BTS ủng hộ trên tài khoản Twitter OneInAnArmy tăng chóng mặt, chạm mục tiêu chỉ trong vòng 25 tiếng. Ngoài ra, nhóm hỗ trợ 1 triệu đô la cho Crew Nation ủng hộ nghệ sỹ giải trí ảnh hưởng bởi đại dịch virus corona và chương trình chấm dứt bạo lực trẻ em.

Liệu BTS có trở thành The Beatles của thế kỷ 21 không? Câu trả lời vẫn còn nhiều tranh cãi. Nhưng chắc chắn rằng, BTS đã mở ra trang lịch sử cho K-Pop trên bản đồ âm nhạc toàn cầu.

(Theo Variety, Guardian, Wallstreet Journal)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/5/2020(UTC)
viethoaiphuong
#532 Posted : Sunday, December 6, 2020 12:59:32 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Giọng ca Édith Piaf lại ăn khách nhờ phim "Emily in Paris"

Tuấn Thảo - RFI - 04/12/2020
Đôi khi có những ca khúc rất xưa, tưởng chừng đã thuộc về dĩ vãng, bỗng dưng sống lại nhờ phim ảnh, thoát khỏi giấc ngủ đông dai dẳng năm tháng. Đó là trường hợp gần đây của nhạc phẩm "Fever" (Cơn sốt) của danh ca người Mỹ Peggy Lee và nhất là tình khúc "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) của thần tượng nhạc Pháp Édith Piaf, thành công trở lại nhờ bộ phim truyền hình nhiều tập "Emily in Paris".

Được phát hành cách đây vừa đúng 60 năm (tháng 12 năm 1960), giai điệu bài hát "Non, je ne regrette rien" từng được bình chọn vào năm 2015 là một trong 10 ca khúc kinh điển nhất của Édith Piaf, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà. Thật ra, phiên bản đầu tiên đã ra đời vào năm 1956 dưới ngòi bút của hai tác giả Charles Dumont (nhạc) và Michel Vaucaire (lời). Mãi đến 4 năm sau, Édith Piaf mới ghi âm bài hát này, sau khi hai tác giả đã chỉnh sửa một số ca từ. Lần đầu tiên được nghe ca khúc, Édith Piaf tuyên bố không có bài hát nào phản ánh cuộc đời của bà sâu sắc như bài này. Tài nghệ viết ca khúc "đo ni đống giày" của cặp bài trùng Dumont-Vaucaire lại càng rực rỡ thăng hoa qua tiếng hát mê hồn của Édith Piaf.

Nhạc Pháp hoài niệm ăn khách nhờ phim Mỹ

Tuy ra đời cách đây đúng 6 thập niên, nhưng bài hát bất hủ của Édith Piaf một lần nữa lại thành công, sau khi bộ phim truyền hình 10 tập "Emily In Paris" chinh phục được nhiều tầng lớp khán giả trẻ tuổi tại nhiều quốc gia trên mạng Netflix. Trên bảng xếp hạng các ca khúc ăn khách nhất trong tháng qua của tạp chí chuyên ngành Billboard của Mỹ, nhạc phẩm "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) đậm chất lưu luyến hoài niệm của Édith Piaf, lại giành lấy vị trí quán quân trong hạng mục nhạc phim truyền hình được phổ biến nhất tại Hoa Kỳ.

Nhìn chung, chỉ trong những tuần lễ đầu tiên sau khi bộ phim này được đưa lên mạng để trình chiếu, các số liệu chính thức cho thấy đã có gần 700.000 lượt khách truy cập để nghe hoặc tải ca khúc này. Trên cùng bảng xếp hạng, có hai ca khúc khác của các ca sĩ Pháp cũng thành công trong hạng mục nhạc phim, đó là tình khúc "Moon" của nghệ sĩ Kid Francescoli đến từ Marseille (hạng tư) và kế theo sau là nhạc phẩm "Burst Into Flames" của ca sĩ Cavale (hạng bảy).

Điều đáng ghi nhận là do tình hình của dịch Covid-19, cho nên hiện thời có rất ít phim mới được công chiếu tại các rạp. Hầu hết các tác phẩm phim truyện (phim lẻ) hay phim truyền hình (nhiều tập hay nhiều mùa) chủ yếu được phát hành trực tuyến thông qua các mạng như Netflix, Amazon Prime, Apple TV+, HBO Max, Disney+ .... Trên lãnh vực này, Netflix vẫn giữ lợi thế áp đảo về số lượng khách truy cập và nhạc phim phát hành trên mạng vì thế cũng trở nên phổ biến hơn. Nếu như danh sách của tạp chí Billboard tập hợp các loạt phim đến từ mọi phía, thì Netflix lại chiếm giữ đến 8 trong số 10 vị trí đầu bản xếp hạng. Về hạng nhì là ca khúc "I Shall Believe" của Sheryl Crow trích từ loạt phim "The Haunting of Bly Manor". Còn ở hạng ba là tình khúc "Fever" (Cơn sốt) của ca sĩ người Mỹ Peggy Lee, nhạc chủ đề của bộ phim 7 tập "The Queen's Gambit" (Nữ hoàng cờ vua), được xem như là một trong những series truyền hình dạng ngắn, thành công nhất hiện thời trên mạng Netflix.

Phim "Emily in Paris" sẽ có phần hai

Còn ở hạng nhất, mùa phim đầu tiên "Emily In Paris" đã chọn bản nhạc kinh điển (Chẳng hối tiếc gì) của Édith Piaf làm một trong những ca khúc chủ đề. Gọi là mùa đầu tiên, vì hồi đầu tháng 11 các nhà sản xuất đã thông báo loạt phim này sẽ có thêm phần kế tiếp, sau thành công ngoạn mục của mùa thứ nhất. Tuy nhiên, hiện giờ chưa có thông tin cụ thể nào về thời điểm khởi quay và nước Pháp vẫn chưa thật sự ra khỏi thời kỳ phong tỏa, nên có khá nhiều dự án quay phim vẫn còn bị "đóng băng" và các đoàn làm phim buộc phải tuân thủ rất nhiều điều kiện ràng buộc.

Mùa phim truyền hình "Emily In Paris" đầu tiên gồm 10 tập, và do đạo diễn Mỹ Darren Star sản xuất, người đã từng hái ra bạc triệu nhờ thực hiện 6 mùa phim "Sex and The City". Bộ phim kể lại câu chuyện của Emily Cooper (do Lily Collins thủ vai) một cô gái người Mỹ tuổi đôi mươi, được công ty phái đến Paris làm công tác trong lãnh vực quảng cáo thời trang. Được gửi sang Pháp dù Emily không rành tiếng Pháp (ngay cả ngôn ngữ xã giao cũng còn bập bẹ, cô chỉ nói những câu như "c'est la vie, j'aime Paris"), cho dù bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ trong môi trường làm việc với các đồng nghiệp mới, nhưng Emily lại nhanh chóng tìm ra hướng đi của mình nhờ cá tính và bản lĩnh. Hơn thế nữa, Emily khám phá tình yêu trong vòng tay của Gabriel (diễn viên Lucas Bravo) trong vai đầu bếp tiệm ăn "Les deux compères" ở trung tâm thủ đô Paris.

Trong loạt phim "Sex and the City", đạo diễn Darren Star đã từng dựng mối tình giữa Carrie Bradshaw (Sarah Jessica Parker) với Mr Big (Chris Noth) giữa lòng thủ đô Paris lung linh, huyền diệu. Lần này, đạo diễn khai thác gần như cùng một bí quyết để viết lên trang tình sử giữa Emily và Gabriel, càng trẻ càng nhiều đam mê. Quan hệ tình cảm cực kỳ lãng mạn ấy chính là cái cớ để cho các yếu tố khác bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Thế giới thời trang của Emily không tàn nhẫn khốc liệt (đến nỗi Emily phải đánh đổi linh hồn) như trong phim "The Devil Wears Prada" (tạm dịch Bà chằn thích hàng hiệu). Khung cảnh của Paris lại càng lý tưởng để thêu dệt một chuyện tình. Vấn đề ở đây là, trái với hai bộ phim nói trên, hầu như toàn bộ diễn tiến câu chuyện trải dài trên 10 tập. Vì thế cho nên, trong cách mô tả Paris cũng như nếp sống sinh hoạt của nguời dân thủ đô Pháp, bộ phim ít chinh phục được cảm tình của nhiều khán giả (đặc biệt là những người đã từng sống một thời gian ở Paris).

Hy vọng mùa thứ hai bớt khập khiểng hơn

Loạt phim "Emily In Paris" đã được khá nhiều khán giả hưởng ứng, nhưng cũng gặp phải lắm lời chê bai. Lối phản ánh trong phim bị cho là hời hợt với nhiều hình ảnh rập khuôn sáo mòn, vỏ đẹp, nhưng bên trong lại rỗng tuếch. Về điểm này, nhà sản xuất Darren Star từng giải thích rằng, đây không phải là phim tài liệu về Paris, mà là phim truyện và toàn bộ các nhân vật, cũng như sự kiện, đều là hư cấu. Nói như vậy thì cũng chỉ đúng có một phần, vì ngay cả trong phim hài, người ta có thể dùng chất "bi" để làm nổi bật thêm điều muốn nói, việc phản ánh bối cảnh sát sườn thực tế vẫn làm cho khán giả càng tin vào câu chuyện "tưởng tượng" đang được kể. Hy vọng rằng mùa thứ nhì trong lối phản ánh bối cảnh, cũng như tâm lý của người "parisien", không khập khiểng như trong mùa đầu.

Sự kiện bộ phim "Emily In Paris" giúp cho ca khúc "Non, je ne regrette rien" (Chẳng hối tiếc gì) ăn khách trở lại là một điều thú vị bất ngờ, nhưng có lẽ để minh họa câu chuyện tình giữa Emily và Gabriel, thì một bài hát nào đó khác của Édith Piaf như "Sous le ciel de Paris" (Dưới bầu trời Paris) hay là "L'Hymne à l'amour" (Bài ngợi ca tình yêu) có lẽ sẽ thích hợp hơn.

Có người từng nói rằng, nếu như "La vie en Rose" (Cuộc đời màu hồng) chính là giai điệu của hạnh phúc lứa đôi, ngợi ca tình yêu đầu đời, thì đổi lại "Non, je ne regrette rien" chính là khoảnh khắc của một người dày dặn từng trải, không than van cũng chẳng hối tiếc khi ngoảnh mặt nhìn lại, cho dù một chút ngậm ngùi chợt thoáng qua tình khúc cuối.


viethoaiphuong
#533 Posted : Tuesday, December 8, 2020 10:24:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Concerto số 3 Rachmaninoff, quả ngọt từ tình bạn cao cả

Hoài Dịu - RFI
Trong xứ sở gần như vô hạn của giới sành nhạc, mấy ai không thể không biết đến cuộc ngộ diện giữa hai nghệ sĩ người Nga xuất chúng nhất thế kỉ XX. Một bên là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc Serge Rachmaninoff, nổi tiếng với những tuyệt tác chạm « thẳng trái tim » với những ngón tay biết hát. Bên kia là « Hoàng đế piano » Vladimir Horowitz, người một mực tôn sùng « vị thần âm nhạc » Rachmaninoff của đời mình.

Tình bạn giữa hai thiên tài

Vào cuối những năm 1910, trong thời gian theo học tại nhạc viện Kiev, Vladimir Horowitz đã biết chơi trọn những sáng tác của Serge Rachmaninoff. Minh chứng thuyết phục nhất đó là ông đã chơi bản concerto số 3, tác phẩm khó nhất trong tất cả concerto cho đàn piano của Rach, trong buổi thi tốt nghiệp ra trường. Cách diễn tấu của cậu sinh viên tài năng này đã gây ấn tượng mạnh tới mức những vị giám khảo khó tính nhất hôm đó cũng phải đứng dậy vỗ tay không ngớt.

Ngay khi đặt chân đến Hoa Kỳ để chuẩn bị cho chuyến lưu diễn đầu tiên tại đây, « Volodia » (tên gọi thân mật của Horowitz) chỉ có một ý định trong đầu : diện kiến thần tượng của mình. Giấc mơ đã thành hiện thực. Tháng giêng năm 1928, trong căn phòng của hãng đàn Steinway ở New York, Horowitz đã chơi bản concerto số 3 của Rachmaninoff dưới sự dẫn dắt của cây piano 2 do chính tác giả đệm phần dàn nhạc.

Trong trạng thái sững sờ, Rachmaninoff tuyên bố với người nghệ sĩ đồng hương : « Tác phẩm này thuộc về anh đấy ». Nhận xét về sự kiện này, Rach viết : « Anh ấy đã nhào vào những câu nhạc như một con hổ đói ». Với sự táo bạo, lòng can đảm, cuồng phong mãnh liệt, « anh đã ăn tươi, nuốt gọn nó chỉ bằng một miếng ».

Cuộc gặp gỡ đó nhanh chóng làm đâm chồi một tình bạn bền lâu cho đến khi Rachmaninoff qua đời : hai người đàn ông, cùng chung một nỗi niềm lưu lạc tổ quốc, người này khâm phục cái tài của người kia và không ngừng dõi bước nhau trong hoạt động âm nhạc. Horowitz thường hủy các buổi hòa nhạc của mình nếu như Rachmaninoff biểu diễn ở New York. Tương tự như vậy, Rach luôn có mặt trong những buổi diễn của bạn đồng hương Horowitz ở New York, và luôn là vị khán giả ra về cuối cùng.

Mặc dù giữa hai người có nhiều mối đồng cảm và sự tôn kính lớn lao, nhưng không phải lúc nào đôi bạn cũng luôn tìm thấy tiếng nói chung. Đơn cử là khi Rachmaninoff đề cập đến lối diễn tấu của Horowitz về những tác phẩm của Tchaïkovsky, cho rằng bạn chơi hơi quá nhanh. Thế nhưng Horowitz không bao giờ đồng ý với lời nhận xét đó và ông vẫn giữ tempo nguyên sơ của mình trong những buổi hòa nhạc sau.

Concerto số 3, bản nhạc khó nhất hành tinh viết cho đàn piano

Chấp bút trong khu điền viên yên ả của gia đình, Ivanovka, concerto số 3 cho đàn piano được hoàn thành ngày 23 tháng 9 năm 1909. Rachmaninoff viết tác phẩm này với mục đích phô diễn tài năng cá nhân của một nhà soạn nhạc tài hoa cũng như nghệ sĩ dương cầm kiệt xuất thế giới.

Bản anh hùng ca số 3 được xem như một trong những tác phẩm khó nhất trong danh mục biểu diễn của các nghệ sĩ dương cầm danh tiếng. Một mặt vì tính chất đồ sộ, chứa đựng nhiều chuyển đổi phức tạp về tâm thái, từ êm dịu, phẳng lặng tựa hồ thu đến mưa bão cuồng nộ. Một mặt lại đòi hỏi nhiều ngón đàn đỉnh cao trong kĩ thuật chơi.

Thế nên, tuyệt phẩm mệnh danh « khó như ma, như quỷ » ấy khiến nhiều nghệ sĩ dương cầm giỏi giang không dám động tới. Ngay cả thần đồng âm nhạc Ba Lan, Josef Hofmann, người mà Rachmaninoff đã đề tặng và xem là tài ba hơn ông, đã không bao giờ có ý định chơi nó. « Bản nhạc đó không phải dành cho tôi », Hofmann từ chối.

Bản concerto được công diễn lần đầu tiên vào tháng 11 năm 1909, Rachmaninoff xuất hiện với tư cách là nghệ sĩ khách mời của nhà hát New Theater, New York (sau này là Century Theater). Vào cuối buổi hòa nhạc, sau khi ông chơi xong bản concerto số 3, tiếng reo hò trong khán phòng yêu cầu nghệ sĩ thưởng thêm một đoạn nhạc nữa (bis), nhưng đó là điều không thể. Những ngón tay của Rachmaninoff « đang bị bốc lửa » sau khi chơi bản concerto « thần thánh » này.

Một tờ báo Hoa Kỳ thuật lại : « Khán giả đồng thanh gọi tên nhiều lần ngài Rachmaninoff để cố nài ông ấy diễn lại, nhưng ông ấy giơ tay lên theo nghĩa rằng ông hoàn toàn đồng ý, tuy nhiên những ngón tay của ông lại không nghe lời. Điều này khiến khán giả phải bật cười, và để cho Rachmaninoff rời khỏi sân khấu ».

Có một chi tiết nhỏ liên quan đến bản concerto số 3 này đó là vì sao Rachmaninoff lại có động lực mạnh mẽ mang tác phẩm mới ra lò của mình giới thiệu tại Hoa Kỳ? Đến nỗi do thời gian hạn hẹp, ông không thể tập chơi nó ở Nga mà phải mang theo một cây piano có trang bị hệ thống chặn tiếng để tranh thủ luyện tập trên tàu. Đơn giản là khoản thù lao cho tác phẩm mới mà ông dự trù sẽ được dùng vào việc thực hiện ước mơ đắt đỏ nhất : mua siêu xe. Cuối cùng ông đã chọn chiếc Mercedes « Lorelei » rất khó tìm thấy tại nước Nga.

Sau khi nghe người nghệ sĩ đồng hương tấu lên đứa con tinh thần của mình, Rachmaninoff đã cho rằng không có ai có thể chơi bản nhạc này xuất sắc hơn Vladimir Holowitz, thậm chí hay hơn cả chính tác giả của nó. Mặc dù sau này, có một số nhà lý luận trao danh hiệu này cho nghệ sĩ piano bậc thầy khác Sviatoslav Richter, nhưng lúc ấy (1928) anh ta chỉ mới 13 tuổi.

Rachmaninoff vốn có đôi tay dài quá cỡ, có thể ôm gọn 13 phím trên đàn. Điều này được coi là kỉ lục trong lịch sử âm nhạc thế giới. Đó chính là một trong những lý do mà một vài sáng tác của ông trở nên bất khả thi đối với những nghệ sĩ piano điêu luyện, có đôi tay gọi là « bình thường ».

Thế nhưng tạo hóa lại ưu ái ban tặng cho Vladimir Horowitz một tâm hồn giàu nhạc cảm và đôi tay ngoại cỡ như Rachmaninoff. Có những bản sonate mà tác giả đã phải lược giản đi vì ngay chính ông cũng không thể vượt qua nổi độ khó về kỹ thuật, thì nay bản thảo đặc biệt được biên tập lại như ban đầu, và chỉ để dành riêng cho Horowitz diễn tấu.

Như là định mệnh, mối đồng cảm sâu sắc, sự thấu hiểu và niềm cảm phục giữa họ đã làm nên một tình bạn cao cả. Để ngày hôm nay, thế giới mới may mắn gập mình trước những đường chạy thần tốc, phi thường như quỉ dữ của concerto số 3.

Có khi nó lại khiến tâm thái nhân loài trở nên sâu hơn, tĩnh hơn bởi những giọt đàn lan tỏa nhả ra từ những đầu ngón tay thiên thần. Tâm hồn khô héo bỗng hồi sinh. Đó là lý do tại sao Serge Rachmaninoff và Vladimir Horowitz trở thành vĩ nhân của mọi thời đại.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/8/2020(UTC)
viethoaiphuong
#534 Posted : Sunday, December 13, 2020 7:26:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Juliette Gréco: Hát là sống, sống thật, sống hết mình

Trọng Thành - RFI - 12/12/2020
Nữ ca sĩ « với nghìn gương mặt », « nàng thơ » của trào lưu hiện sinh, một biểu tượng của nền thi ca và âm nhạc Pháp qua đời ngày 23 tháng 9 năm 2020, ở tuổi 93. Juliette Gréco, người thể hiện hầu hết các tên tuổi lớn của nền thi ca Pháp thời hậu chiến… tiếp tục đưa ca khúc Pháp đến với thế giới ngay ở tuổi 89.

Hát là sống. Sống thật, sống hết mình. Tha thiết yêu, khao khát tự do, khát khao hiểu biết. Hài hước và châm biếm. Dịu dàng, thiết tha mà bất khuất... Nhiều người nhận ra trong nữ ca sĩ vừa qua đời những sâu thẳm của tâm hồn Pháp.

Ra đời tại Montpellier ngày 7 tháng 2 năm 1927, Juliette Gréco trải qua một tuổi thơ « đầy đủ về vật chất, nhưng hết sức thiếu thốn về tình cảm ». Người mẹ thường nhắc nhở với « Toutoute », tên gọi trong nhà của Juliette, rằng cô bé hoàn toàn không phải là đứa con được trông đợi. Năm 1943, mẹ cô, một kháng chiến quân chống phát-xít, bị bắt và đưa vào trại tập trung cùng chị gái. Sau khi được mật thám Đức thả ra, lang thang ở Paris không đồng xu dính túi, Juliette tìm đến một người quen duy nhất tại Paris. « Nàng thơ của trào lưu hiện sinh » tương lai có được chỗ nương thân tại nhà Hélène Duc, cô giáo cũ môn tiếng Pháp, nằm ngay sát khu Saint-Germain-des-Prés, trung tâm của đời sống văn nghệ Pháp, trước và sau Thế chiến Hai.

« Hoa nở trong lòng »

Paris được giải phóng, Gréco như tái sinh một lần nữa. Cô có được một chỗ làm tại một nhà hát trong khu Saint-Germain-des-Prés. Người thiếu nữ thông minh, đầy tinh thần phản kháng, táo bạo, ham hiểu biết đã tìm thấy ở Paris miền đất mong đợi, với đời sống trí thức, âm nhạc nghệ thuật đang trong giai đoạn sục sôi sáng tạo. Gréco có cơ hội được gần gũi với các văn nghệ sĩ lớn của nước Pháp thời bấy giờ… Trong một hồi tưởng lại giai đoạn đầu tiên này, Juliette Gréco tâm sự :

« Lúc đó tôi là đứa bé nghèo, hoàn toàn chẳng có gì, về áo quần, về đồ ăn uống, nhưng lại là một đứa trẻ hết sức no đủ về tinh thần, về tri thức, về tình bằng hữu. Tôi đã nhận được ‘‘rất nhiều quà tặng’’ từ những người xung quanh. Tôi để ngỏ mọi cánh cửa tâm hồn, nhưng trong trạng thái lặng câm. Tôi như một mảnh đất tốt : mở ra, nghe và ghi nhận. Với tôi, như thể hạt giống trong lòng đất. Đất tốt.

Tôi lắng nghe, ghi nhận, tôi cứ để cho hoa nở trong lòng mình, trong sâu thẳm. Trong đáy lòng. Tôi đã phải mất rất nhiều thời gian mới có thể bày tỏ được. Bởi vì, những gì tôi nhận được là quá đẹp ! Khi tôi được nghe nói về hội họa, tôi được nghe những người như Picasso. Về triết học, là những người như Merleau-Ponty hay Camus. Tôi gần như là quá tải. Tôi thật vô cùng may mắn. Điều đó có thể đã khiến tôi trở nên kín đáo hơn cả tôi khi trước » (trích đoạn phỏng vấn năm 1954, phát lại trong chương trình Hommage à Juliette Gréco, France Inter, 27/09/2020).

Triết gia Maurice Merleau-Ponty là người đầu tiên đáp lại câu hỏi của cô bé Juliette, về « chủ nghĩa hiện sinh là gì? », khi hai người tình cờ gặp nhau trong một quán cà phê gần cầu Pont Royal. Juliette Gréco đã tìm được một người cha tinh thần. Trong một chương trình « Il n’y a pas qu’une vie dans la vie » trên kênh Europe 1 (năm 2007), Juliette Gréco đã hồi tưởng lại cái ngày đáng nhớ, mà nếu không có nó, đời cô có thể đã chuyển hoàn toàn sang một hướng khác.

Năm 1948, chính Jean-Paul Sarthe đã là người mở đường cho hành trình nghệ thuật của « Nàng thơ của trào lưu hiện sinh », khi ông gần như là ra lệnh cho cô tham gia vào một cuộc trình diễn tại « Bœuf sur le toit », quán ăn nổi tiếng của giới trí thức Paris thời đó. Sarthe nói : « Tôi đã làm việc vì cô đấy ! Đây là danh sách các bài hát. Cô hãy chọn đi ! ».

Lựa chọn và quyết định. Lần đó, Juliette Gréco đã chọn Si tu t’imagines của Raymond Queneau (sáng tác năm 1947) và L’Éternel Féminin, của Jules Laforgue.

« Phụng sự Chúa » theo cách của mình

Juliette Gréco gần như không sáng tác. Bà chủ yếu trình diễn tác phẩm của người khác. Nàng thơ của Saint-Germain-des-Prés rất thích một câu trong Kinh Thánh : « Tôi là người đầy tớ gái của Chúa. Xin sự ấy xảy ra như lời Ngài » (Phúc âm Luca). Phương châm hành động của Juliette : các nhà văn và nhạc sĩ là những vị Chúa tể, bà chỉ « là người phụng sự, người trình diễn ».

Thành công lớn đầu tiên của Juliette Gréco là ca khúc « Je hais les dimanches / Tôi căm ghét những ngày Chủ nhật », trình diễn năm 1951. Ca khúc với những lời lẽ táo bạo do Charles Aznavour soạn, nhạc đệm của Florence Véran, thoạt tiên được soạn riêng cho nữ danh ca đàn chị Edith Piaf. Piaf từ chối. Gréco trở thành ca sĩ đầu tiên trình diễn nhạc phẩm nổi tiếng này.

Ca khúc « Sous le ciel de Paris / Dưới bầu trời Paris » (lời Jean Dréjac, nhạc Hubert Giraud), ra đời năm 1951, nhờ giọng hát Juliette Gréco và một số ca sĩ tài ba khác, như Édith Piaf, Yves Montand, đã trở thành một biểu tượng của Paris, của nước Pháp.

Năm 1951, ở tuổi 24, « bông hồng đen » của Saint-Germain-des-Prés ra mắt album nhạc đầu tay mang tên « Je suis comme je suis / Tôi là tôi » (lời Jacques Prévert). Ngọn lửa tự do, khát vọng yêu thương, khát vọng là chính mình, Juliette Gréco đã giữ. Giữ đến trọn đời.

Đằm thắm

Juliette Gréco thường nói, bà thật may mắn, có cơ may gặp bao con người tuyệt vời trong cuộc đời. Juliette Gréco hiểu mỗi ca khúc có ý nghĩa hệ trọng như thế nào. Những ca khúc có thể lan toả khắp nơi, trong thành phố, vượt đại dương, những ca khúc có thể đi suốt một đời người.

Gò má cao, đôi mắt sâu thẳm dưới làn tóc đen, Juliette Gréco - người nghệ sĩ mà từng lời ca « như truyền đến tận mỗi ngón tay » - đã đưa công chúng bình dân đến với bao sáng tác của các nhà thơ, nhà soạn ca khúc, thành danh, hay chưa thành danh: Queneau, Sartres, Prévert, Desnos, Vian, Cosma, Aznavour, Gainsbourg, Béart, Ferré, Brel hay Brassens.

Françoise Piazza, một người bạn vong niên, gắn bó hơn nửa thế kỷ với ca sĩ, giảng viên văn học, tác giả một cuốn lịch sử cuộc đời Gréco kể lại : « Bà là người thể hiện xuất sắc nhất các tác giả lớn nhất thời bấy giờ. Khi họ nghe các sáng tác của mình qua tiếng hát Juliette, họ không còn nhận ra chúng nữa : bất ngờ so với những gì được viết ra trên giấy. Có một cái gì đó sâu thẳm hơn những từ ngữ đã được viết ra ». Jean-Paul Sarte, triết gia hiện sinh, cũng là thi sĩ, từng cảm thán : « Juliette Gréco có hàng triệu bài thơ trong cô. Hàng triệu bài thơ còn chưa được sáng tác » (theo lời thuật của nhà văn, ký giả Jacques Chancel).

Nhạc phẩm « Chanson pour l’Auvergnat » của nhà sáng tác, ca sĩ Georges Brassens, được Juliette trình diễn năm 1955.

Nhiều tác phẩm được trình với phong cách đằm thắm, da diết trong thời kỳ này, như « La Javanaise » của Serge Gainsbourg, hay « Romance », lời Henri Bassis, nhạc Joseph Kosma.

Nhưng ẩn đằng sau phong cách dịu dàng ấy là ngọn núi lửa sôi sục. Với thời gian, dấu ấn cá nhân của Juliette Gréco, người phụng sự « Chúa », để lại ngày càng rõ trong các trình diễn. Khi trình bày nhạc phẩm « Jolie môme » của Léon Ferré, ca khúc được Gréco coi là « đậm chất phân biệt giới tính nhất », bà đã tìm cách đảo ngược lại góc nhìn của tác giả, biến ca khúc thành một hành động khiêu khích, tẩy bỏ hoàn toàn điều mà Gréco gọi là « sự phục tùng » của nữ giới. Nữ tài tử Anna Mouglalis, người từng thủ vai Juliette Gréco trong một bộ phim tài liệu, ghi nhận chính những phụ nữ như Gréco đã góp phần quan trọng thúc đẩy nữ quyền.

« Bông hồng đen » của Saint-Germain-des-Prés trong nhiều năm trời tiếp tục là tiếng nói thách thức các giới hạn. « Déshabillez-moi » (1967) là một ca khúc minh chứng rõ ràng cho những gì mà Gréco có thể mang lại cho tự do và cho khả năng biểu đạt những cung bậc cảm xúc tinh tế.

Bài hát thoát y vũ thành ca khúc nữ quyền

Bertrand Dicale, một chuyên gia về ca nhạc Pháp đương đại, tác giả ba cuốn tiểu sử của danh ca, ghi nhận : ca khúc táo bạo « Déshabillez-moi », ra mắt năm 1967, đã bị đa số đài phát thanh lớn tẩy chay.

Nhạc phẩm « Déshabillez-moi / Hãy thoát y cho tôi », do Robert Nyel soạn lời, nhạc của Gaby Verlor, thoạt tiên là một tác phẩm mà Robert Nyel viết riêng cho người tình, một vũ nữ thoát y, để phục vụ cho các trình diễn gợi dục trên sân khấu giải trí. Dự án không thành, do hai người chia tay. Robert Nyel đề nghị với Gréco ca khúc, mà theo nhà biên soạn « đã không có ai muốn nhận hát ». « Nàng thơ » đồng ý, nhưng đề nghị thêm vào một dòng kết. Dòng kết đảo ngược cái đích của ca khúc.

Juliette Gréco chấp nhận trình diễn ca khúc, với điều kiện phải được trang phục kín, chỉ để hở mặt và đôi bàn tay. Mục tiêu của ca sĩ là biến một bài hát về kêu gọi thoát y trở thành một ca khúc về nỗi đam mê, lòng ham muốn sẻ chia. Thoát y chính là để cởi lòng.

« Hãy thoát y cho tôi » ra đời ngay trước thềm cuộc đảo lộn cách mạng tháng 5 năm 1968 tại Pháp. Từ chỗ là một ca khúc nhìn phụ nữ như đối tượng ham muốn của đàn ông, với sự trình diễn của Juliette Gréco, « Hãy thoát y cho tôi » trở thành một bài hát nữ quyền : một bài ca nữ quyền đầy nữ tính.

« Cuộc cách mạng nào cũng đòi hỏi người dân cất lên tiếng hát cách mạng… Không có cuộc cách mạng nào là không có tiếng hát. Không có tiến bộ nếu không có tiếng hát. (…) Một điều hết sức quan trọng đối với tôi, đó là tiếng nói của nhân dân », trong một cuộc phỏng vấn năm 2001, ở tuổi ngoài 70, nữ ca sĩ tâm sự. Ca khúc « Déshabillez-moi » đã chỉ thực sự thành công rộng rãi vào đầu năm 1968, khi nước Pháp bước vào cuộc cách mạng xã hội lớn.

Tình bạn - tình yêu đến trọn đời

Juliette Gréco có ba đời chồng, nhiều tình nhân, người yêu lý tưởng trong cuộc đời mình. Mối tình dữ dội, bất thành với nghệ sĩ nhạc jazz người Mỹ da đen nổi tiếng Miles Davis, để lại vết thương lớn trong cuộc đời Gréco. Miles Davis không muốn Juliette gặp bất hạnh tại một nước Mỹ phân biệt chủng tộc nặng nề, nơi một phụ nữ da trắng lập gia đình với người da đen bị khinh rẻ. Cho đến cuối đời, hai người vẫn không thôi nhớ nhau. Năm 1991, ít tháng trước khi giã từ cõi đời, Miles đến Paris để được gặp Juliette lần cuối. « Chỉ cần nhìn thấy em từ sau lưng, tại bất cứ nơi nào trên thế giới, tôi cũng nhận ra em », Miles Davis tâm sự.

Nhưng Juliette Gréco cũng có một mối tình khác. Ngày càng thắm thiết với thời gian. Tình bạn, tình yêu, sự ngưỡng mộ đối với một người nghệ sĩ, mà sau suốt cả một đời người, Juliette Gréco đã thấy chính mình trong đó.

Brel

Năm 2013, 35 năm sau ngày mất của Jacques Brel, Gréco cho ra đời một album mới, dành riêng để trình diễn 12 ca khúc của Brel. Danh ca suốt đời phụng sự cho việc thể hiện các tác phẩm của người khác đã tìm thấy những lời ca của lòng mình. Gréco tâm sự : « Đó phần nào chính là tôi, là tôi - một phụ nữ. Bởi tinh thần nổi loạn, bởi những nỗi đau xé lòng. Đấy chính là cái tiếng nói mà tôi hiểu, điều mà tôi có thể diễn đạt. Đó là một tiếng nói có thể là của tôi. Và tôi đã lấy đó làm chính tiếng nói của lòng mình ».

Tình bạn - tình yêu - thi ca - âm nhạc. Có lẽ ít ai biết được cuộc đời Gréco gắn bó như thế nào với Brel. Người chồng thứ ba, người đã cùng bà đi đến trọn đời, nhà soạn nhạc Gérard Jouannest cũng chính là người đồng sáng tác giai điệu của ca khúc huyền thoại « Ne me quitte pas » với Brel.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/13/2020(UTC)
viethoaiphuong
#535 Posted : Monday, December 14, 2020 1:36:34 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Giai thoại tình khúc Holidays của Polnareff

Tuấn Thảo - RFI
Nổi tiếng trong làng nhạc Pháp nhờ tài soạn giai điệu có một không hai, Michel Polnareff cũng là nghệ sĩ có sự nghiệp ghi âm bấp bênh, nhiều lần bị gián đoạn. Trong vòng nửa thế kỷ (1966-2016), ông chỉ thu thanh 9 album studio và 5 tập nhạc live. Thế nhưng, những bài hát của ông lại rất quen thuộc với biết bao nhiêu người yêu nhạc Pháp. Trong số này có tình khúc Holidays, từng được chuyển sang lời Việt với tựa đề Ngày vui chóng qua.

Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ, Michel Polnareff từ thuở thiếu thời đã thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của thân phụ (Leib Polnareff lấy nghệ danh là Léo Poll), từng viết nhạc cho Édith Piaf. Thời niên thiếu, Michel Polnareff đoạt giải nhất nhạc viện thành phố nhưng ngược lại do thiếu chăm chỉ, ông phải thi nhiều lần mới đậu bằng tú tài.

Michel Polnareff khởi nghiệp ca hát từ năm 1965. Album đầu tay - Love Me Please Love Me được ghi âm tại Luân Đôn với sự tham gia của hai tay đàn ghi ta trẻ tuổi mà cừ khôi là Jimmy Page và John Paul Jones. Hai gương mặt này ba năm sau đó (1968) thành lập nhóm Led Zeppelin, một trong những ban nhạc rock lừng danh thế giới.

Phát hành vào năm 1966, album đầu tay Love Me Please Love Me từng được tạp chí chuyên đề Rolling Stone xếp vào danh sách 50 abum nhạc rock của Pháp hay nhất mọi thời đại. Ngay từ những sáng tác đầu tiên, Michel Polnareff cho thấy ông không chạy theo phong trào của đám đông, không sáng tác theo thị hiếu của công chúng mà lại tự tạo thế giới âm nhạc của riêng mình.

Khác với những bài hát hơi ‘‘ngây ngô’’ của phong trào nhạc trẻ Pháp những năm 1960, lối sáng tác của Michel Polnareff chuẩn mực về mặt giai điệu, nhưng lại đầy tính thử nghiệm trong cách phối khí hoà âm, phảng phất ảnh hưởng của The Mamas and the Papas, Brian Wilson ca sĩ chính của nhóm The Beach Boys, và nhất là của ban nhạc The Moody Blues trong cách dùng nhạc khí cổ điển để phối các bản nhạc rock.

Michel Polnareff liên tục thành công cho tới năm 1972. Ông chủ yếu sáng tác nhạc, còn phần soạn lời được giao cho nhiều tác giả khác trong đó có Pierre Delanoe (chuyên viết lời cho Michel Sardou) hay Jean-Loup Dabadie (chuyên sáng tác cho Julien Clerc).

Trong hồi ký gợi lại nhiều thập niên dòng nhạc Pháp, tác giả Jean-Loup Dabadie cho biết vào những năm đầu thập niên 1970, Michel Polnareff đang trong giai đoạn tìm tòi thử nghiệm qua các album concept xen kẽ các bài hát với nhạc hoà tấu không lời. Đó cũng là giai đoạn Michel Polnareff đưa khái niệm Âm Nhạc quyện chặt Giấc Mơ vào trong tập nhạc PolnaRêve và ý tưởng ‘‘Cách mạng tình dục’’ trên album live PolnaRévolution.

Mùa xuân năm 1972, Michel Polnareff sáng tác một giai điệu chưa có lời mà ông đặt tên là Falling Days, gợi lên không khí mùa hè qua cái hình tượng ‘‘Ngày Tàn Nắng Rơi’’. Tác giả Jean-Loup Dabadie được giao trách nhiệm đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc này. Một công việc mà ban đầu tưởng dễ nhưng loay hoay mãi ông vẫn không tìm ra được ý tưởng chủ đạo.

Cho tới cái ngày ông thấy chữ Holidays trên quảng cáo truyền hình : một chữ tiếng Anh nhưng lại khá quen thuộc đối với người Pháp. Từ ý tưởng của một kỳ nghỉ hè, tác giả Dabadie viết ra một câu chuyện (giống như một bộ) phim không phải để kể lại kỷ niệm của một chuyến đi, mà lại gọi mời người nghe thả hồn phiêu lưu vào cõi mơ, hình dung ra những chân trời xa xăm, mênh mông sa mạc, bao la sóng biển.

Theo tác giả Jean-Loup Dabadie, chỉ có điều là Michel Polnareff rất ghét đi máy bay, nỗi sợ hãi đó không những tạo ra rào cản tâm lý mà còn gây trở ngại cho việc xuất ngoại để quảng bá các album. Điển hình là các tập nhạc đầu tay được giới phê bình tán thưởng, nhưng Polnareff sẽ không bay sang Hoa Kỳ để quảng bá cho các album của mình.

Michel Polnareff quyết định sang Mỹ vào tháng 10 năm 1973, nhưng anh lại đi bằng du thuyền qua đường biển, chứ không đi máy bay. Một chuyến đi mà ông không biết có ngày nào trở lại, đánh dấu thời kỳ Polnareff bắt đầu cuộc sống lưu vong, ông bị sạt nghiệp cháy túi, nợ thuế chồng chất do bị manager lừa đảo. Michel Polnareff mất hơn mười năm để giải quyết vấn đề, trở lại Pháp mà không sợ bị bắt về tội ‘‘trốn thuế’’. Giai đoạn này đã để lại cho Polnareff nhiều kỷ niệm hết sức buồn đau, do thân mẫu của ông cũng qua đời do bạo bệnh. Tuy sau đó Michel Polnareff vẫn sống ở Mỹ và trở lại Pháp để biểu diễn hay ghi âm, nhưng thành công không còn được liên tục đều đặn như xưa.

Trở lại với bản nhạc Holidays, tác giả Jean-Loup Dabadie cho biết bản nhạc Holidays đã được ghi âm với dàn nhạc hoà tấu của Graham Preskett, và trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất của Michel Polnareff. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha (tựa đề là Vacaciones) ghi trên đĩa nhựa 45 vòng trở thành một món sưu tầm qúy hiếm do ít được phổ biến, nay trị giá năm ngàn euros một bản. Holidays sau này từng được ghi âm lại, kể cả phiên bản của Pascal Obispo. Trong tiếng Việt, bài Holidays được đặt tựa là Ngày vui chóng qua, theo ghi chép của một số nguồn tin, tác giả Mộ Dung là người đã viết lời Việt cho bài này.

Bản thân Michel Polnareff rất thích nội dung bài hát Holidays : một người có thể ghét đi máy bay những vẫn có thể thả hồn chu du bốn bể, tựa như mạn thuyền lướt sóng mơ mộng, thả gió lộng cho mây bay bềnh bồng.

Thay vì dùng hình tượng ‘‘Ngày Tàn Nắng Rơi’’ (Falling Days), Holidays lại chấp cánh bay bỗng nhờ giọng hát thánh thót cao vút của Polnareff. Lối hoà âm phiêu diêu như thể thoát khỏi trọng lực và sức hút, mở ra cuộc hành trình bất động tưởng chừng như không bao giờ kết thúc, bất tận giữa chốn tình ca mùa hạ, miên man trong cõi thụy du điệp khúc.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/14/2020(UTC)
viethoaiphuong
#536 Posted : Tuesday, December 15, 2020 1:47:13 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

J.F. Michael: Vẫn bất hủ với « Adieu Jolie Candy »

Thanh Phương - RFI
Trong số những ca khúc của Pháp từng được cả thế giới biết đến và cho tới nay vẫn là một trong những bản nhạc bất hủ, chúng ta phải kể đến « Adieu Jolie Candy » của thời thập niên 1960, một ca khúc gắn liền với tên tuổi của Jean-François Michael.

Nhạc của « Adieu Jolie Candy » là do nhạc sĩ Raymond Jannot soạn ra, nhưng lời bài hát là do hai tác giả Alain Boublil và Michel Hursel viết.

Michel Hursel chính là một trong những biệt danh của ca nhạc sĩ đã quá cố Michel Berger (1947 -1992), tác giả nhiều ca khúc cho những danh ca như Johnny Halliday, Véronique Sanson, Françoise Hardy hay France Gall, người vợ cuối của ông, cũng như tác giả của một số vở ca nhạc kịch và rất nhiều nhạc phim.

Còn Alain Boublil, người Tunisia, cũng là một tác giả rất quen thuộc trong làng nhạc Pháp, vì ông không những đã sáng tác nhiều ca khúc cho các ca sĩ Pháp thời thập niên 1960, mà còn đã cộng tác với ca nhạc sĩ Claude Michel Schonberg để viết nhiều vở ca nhạc kịch nổi tiếng như La Révolution française (1973), Les Misérables (1980), Miss Saigon (1991) ….

« Adieu Jolie Candy » đã được Jean-François Michael trình bày lần đầu tiên vào năm 1968, khi còn là giám đốc nghệ thuật cho hãng dĩa Barclays. Ngay lập tức, bài hát này đã lôi cuốn ngay khán giả Pháp và chẳng mấy chốc đã trở thành ca khúc nổi tiếng toàn cầu và kể từ đó tên tuổi J.F Michael gắn liền với « Adieu Jolie Candy ».

Nội dung « Adieu Jolie Candy » mô tả tâm trạng của một chàng trai đến sân bay Orly, Paris, buồn bã tiễn đưa người yêu Candy, cô gái người Anh, về nước sau kỳ nghỉ hè tại Pháp. Anh băn khoăn không biết Candy sẽ còn nhớ đến anh hay không, riêng anh thì anh sẽ không bao giờ quên nụ cười của người yêu, nhớ cả những lỗi tiếng Pháp của của nàng.

J. F. Michael sinh năm 1946, có tên thật là Yves Roze, đã đi hát từ năm 1965 và đến năm 1968 mới lấy nghệ danh là J.F. Michael, khi ông trình bày ca khúc "Adieu Jolie Candy". Trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, J.F Michael đã thâu nhiều dĩa 45 tours và 3 album, nhưng vì bị bệnh nặng nên ông đã phải bỏ dở sự nghiệp ca sĩ. Đến năm 1975, ông chuyển sang làm nghề đạo diễn và nhà sản xuất dĩa. Tuy vậy, cho đến những năm gần đây, J.F. Michael thỉnh thoảng vẫn đi trình diễn đây đó ở Pháp và ở nước ngoài, đồng thời tham gia những chương trình ca nhạc quy tụ những ngôi sao thời thập niên 60-70.

Nhờ giọng ca của J.F. Michael mà « Adieu Jolie Candy » đã đi khắp thế giới và dĩ nhiên bài hát này cũng đã nhanh chóng được du nhập vào miền Nam Việt Nam, vì thời ấy công chúng rất ưa chuộng nhạc Pháp. « Adieu Jolie Candy » được chuyển ngữ sang tiếng Việt thành ca khúc « Tiễn em nơi phi trường », thường được trình bày qua giọng ca của Elvis Phương.

Ngoài « Adieu Jolie Candy », J.J. Michael còn được nhiều người biết đến qua những ca khúc trữ tình khác, như « Si l’amour existe encore » ( 1974 ) hay « Coupable » ( 1973 ), cũng rất quen thuộc với công chúng Việt Nam.

Cũng giống các bộ phim, có tập một thì phải có tập hai, năm 1984, J.F. Michael viết ca khúc tiếp nối « Adieu Jolie Candy », mà ông đặt tựa là « Rappelle-toi Candy », nhắc lại những kỷ niệm với nàng Candy. Nhưng bài hát này đã nhanh chóng đi vào quên lãng.

Gác micro sang một bên, J.F. Michael trong nhiều năm trời đã làm giám đốc nghệ thuật cho nhiều nghệ sĩ khác, và đặc biệt đã sản xuất bài hát rất ăn khách của nữ ca sĩ-công nương Stéphanie xứ Monaco, « Comme un ouragan ».

Nay đã bước qua tuổi 71, J.F. Michael nay đang phải chiến đấu với bệnh tật ngặt nghèo. Từ đầu thập niên 2010, ông bị một căn bệnh có tên là bệnh Waldenstrom, một dạng rất hiếm của ung thư tủy xương. Chính vì căn bệnh quái ác này, mà J.F. Michael đã phải hủy bỏ nhiều chuyến lưu diễn ở nước ngoài, trong đó có chuyến lưu diễn mà ông đã dự trù cho Việt Nam, nơi mà chắc chắc ông sẽ được khán giả đón tiếp nồng nhiệt và ai cũng ước ao được nghe chính J.F. Michael trình bày ca khúc bất hủ « Adieu Jolie Candy ».

Lời bài hát « Adieu Jolie Candy »

Adieu jolie candy
c'est à Orly que finissent les vacances à Paris
Adieu jolie candy
une voix t'appelle,
C'est l'heure déjà de t'en aller
Dans cette avion qui t'emmène vers l'Angleterre
Adieu jolie candy
Tu m'écriras
Tu le dis mais on dit toujours ça
Adieu jolie candy
Je regretterai ton sourire et tes fautes de français
Mais cette avion te ramène en Angleterre
Adieu jolie candy
Adieu jolie candy
Je deviendrai un souvenir une photo de vacance
Adieu jolie candy
Celui qui t'aime, la bas il a bien de la chance
Adieu Candy
Adieu
Adieu
Adieu jolie candy
c'est à Orly que finissent les vacances à Paris
Adieu jolie candy
une voix t'appelle,
C'est l'heure déjà de t'en aller
Dans cette avion qui t'emmène vers l'Angleterre
Adieu jolie candy
Tu m'écriras
Tu le dis mais on dit toujours ça
Adieu jolie candy
Je regretterai ton sourire et tes fautes de français
Mais cette avion te ramène en Angleterre
Adieu jolie candy
Adieu jolie candy
Je deviendrai un souvenir une photo de vacance
Adieu jolie candy
Celui qui t'aime, là-bas il a bien de la chance
Adieu Candy
Adieu
Adieu


Lời bài hát « Rappelle-toi Candy »

Rappelle-toi, Candy
Tous les deux,
Soixante-huit, l´été,
Les jours bleus
L´adieu à Orly
Tu rentrais là-bas, en Angleterre

Rappelle-toi, Candy
Cette musique,
On aimait ce slow
Nostalgique
Et je pense encore à toi
Oui! Je pense comme si c´était hier
Tu aimais tant Paris,
Les jardins du Luxembourg

On avait le coeur-folie
A coups de "Je t´aime"
De grand amour
Tu te moquais de moi
Quand je prenais l´accent anglais
Et je riais de toi
Quand tu imitais les Français

Rappelle-toi Candy
Les vacances,
Tu pleurais
En quittant la France
On s´était juré de s´écrire
Et de ne jamais s´oublier

Si le temps, Candy,
Nous a séparé
Moi, je ne t´ai jamais,
Jamais oubliée
Et quand je pense encore à nous,
J´ai le coeur serré, je te l´avoue


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/15/2020(UTC)
viethoaiphuong
#537 Posted : Wednesday, December 16, 2020 1:42:10 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Sealed With a Kiss, phiên bản tiếng Pháp

Tuấn Thảo - RFI
Trong làng nhạc Pháp, tình khúc Derniers Baisers (Những nụ hôn cuối cùng) là một trong những ca khúc hiếm hoi, ba lần lập kỷ lục số bán trên thị trường. Đây là phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm Sealed With A Kiss rất quen thuộc từ những năm 1960. Giới trẻ ở Pháp thời nay biết đến bài này chủ yếu qua phiên bản của Laurent Voulzy, ghi âm vào năm 2006. Thế nhưng ít ai còn nhớ ai là người đầu tiên hát bài này trong tiếng Pháp.

Người từng đặt lời tiếng Pháp cho ca khúc Sealed With A Kiss là tác giả quá cố Pierre Saka (1921-2010). Sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris trong một gia đình nghèo, ông có hai dòng máu : mẹ là người Pháp, bố là một thợ may người Hy Lạp nguyên quán ở đảo Crète, cho nên sau này khi sáng tác ông cũng thường lấy bút danh là Jean Michal Crétois. Thời còn trẻ, ông làm việc cho đài phát thanh (Radio Luxembourg) trước khi chuyển qua sáng tác và viết lách từ những năm 1950.

Pierre Saka thành danh nhờ tài đặt lời, ca từ chẳng những hợp với ngữ điệu tiếng Pháp mà còn gần giống với nội dung nguyên tác. Ông dễ dàng kiếm sống vào cái thời bùng phát phong trào nhạc trẻ những năm 1960. Hầu hết các thần tượng nhạc trẻ thời bấy giờ đều có ghi âm các bản nhạc Pháp phóng tác từ các ca khúc từng ăn khách trên thị trường Anh Mỹ. Trong suốt những năm 1960, Pierre Saka đặt thêm lời Pháp cho các ca sĩ như Sylvie Vartan, Richard Anthony, Eddy Mitchell, Nicoletta, Frank Alamo ……

Trong quyển hồi ký mang tựa đề ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), Pierre Saka kể lại những giai thoại xung quanh ca khúc này. Bản nhạc gốc Sealed With a Kiss do hai tác giả Mỹ Peter Udell và Gary Gell sáng tác vào năm 1960, khai thác dòng nhạc pop dành cho giới trẻ trước khi có hiện tượng The Beatles và làn sóng pop rock từ Anh Quốc đổ ập vào nước Mỹ.

Trong nguyên tác, nhạc phẩm Sealed With A Kiss mang ý nghĩa của một lời tạm biệt với mối tình đầu đời. Một cặp tình nhân phải chia tay sau khi gặp nhau nhân kỳ nghỉ hè, họ hẹn gặp lại vào mùa tựu trường. Chàng trai hứa sẽ viết cho cô gái mỗi ngày một lá thư để thỏa niềm thương nhớ, để khuất lấp nỗi cô đơn. Chàng trai dùng nụ hôn để “dán lại” mỗi bức thư tình.

The Four Voices là nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Anh, phong cách của họ gần giống với bộ tứ The Brothers Four cực kỳ ăn khách thời bấy giờ với nhạc phẩm Greenfields và sau đó là The Green Leaves of Summer. Hai năm sau khi thất bại với Sealed With A Kiss, nhóm The Four Voices rã đám, nhưng bài hát này lại ăn khách nhờ một bản phối mới qua tiếng hát của Brian Hyland, ăn khách tại Hoa Kỳ cũng như tại Anh. Bản nhạc này sau đó đã có hàng trăm phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, Hoa, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha hay tiếng Đức.

Pierre Saka đặt lời tiếng Pháp cho bài này mà ban đầu được dành cho ca sĩ Nancy Holloway. Nhưng rốt cuộc ban nhạc trẻ Les Chats Sauvages lại trở thành nhóm đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp. Vào thời ấy, ca sĩ chính là Dick Rivers vừa mới tách ra khỏi nhóm, điều đó buộc hãng đĩa Pathé Marconi phải tuyển lựa ca sĩ mới để thay thế. Xuất thân từ thành phố Toulouse, ca sĩ Mike Shannon (tên thật là Michel Simonet) trở thành giọng ca chính của nhóm Les Chats Sauvages.

Bản nhạc Derniers Baisers trở thành ca khúc ăn khách nhất của họ với hơn hai triệu bản bán chạy, và trở thành tình khúc mùa hè năm 1963. Thế nhưng, những bất đồng nội bộ khiến cho nhóm Les Chats Sauvages phải chia tay nhau vào năm 1964. Tên tuổi của Mike Shannon hầu như chìm vào quên lãng, và khi nhắc tới bài Derniers Baisers, nhiều người lại tưởng lầm rằng ca khúc này do Dick Rivers ghi âm, do anh là ca sĩ chính đầu tiên của nhóm.

Phiên bản tiếng Pháp của Sealed With A Kiss ba lần lập kỷ lục số bán : sau Mike Shannon vào năm 1963, bài hát ăn khách lần thứ nhì vào năm 1986 với phiên bản của C. Jérôme với lối hoà âm theo kiểu pop ballad những năm 1980. Tới năm 2006, trên album đề tựa ‘‘Làn sóng thứ bảy’’ (La Septième Vague), Laurent Voulzy giành lấy hạng đầu thị trường Pháp, Bỉ, Luxembourg, Thụy Sĩ nhờ một bản phối rất mộc của bài Derniers Baisers theo điệu bossa nova.

Còn trong tiếng Việt, bài Sealed With A Kiss có ít nhất hai lời khác nhau. Lời đầu tiên là của tác giả Trường Hải, việt hóa bài hát tiếng Anh thành Hạ Vàng Biển Xanh : danh ca Khánh Ly từng ghi âm bài này trước năm 1975. Lời thứ nhì là của tác giả Trường Kỳ. Sealed With a Kiss trở thành Tình Yêu Trong Đời, trước đây do ca sĩ Trúc Mai ghi âm, sau đó có thêm nhiều bản cover của Don Hồ hay qua phần song ca của Duy Quang & Như Mai.

Tại Việt Nam, Sealed With a Kiss rất quen thuộc với người nghe, nhờ ca từ mộc mạc dễ thuộc, lời lẽ bình dị dễ nhớ, nên đã trở thành một trong những bài hát dạy học tiếng Anh thông dụng nhất. Về phần Pierrre Saka, trong quyển hồi ký đề tựa ‘‘Tout finit par des chansons’’ (Mọi chuyện đều kết thúc bằng những bài hát), tác giả ghi nhận là những ca khúc tuyệt đẹp thường hay lắng đọng trong tiềm thức để rồi bất chợt ùa về với bao kỷ niệm. Tất cả mọi chuyện đến một lúc nào đó đều sẽ qua đi, mong sao những giai điệu đẹp vẫn luôn trẻ mãi, sống hoài theo năm tháng, như thể thời gian tạm dừng chân, giữa một mùa hè bất tận.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/16/2020(UTC)
viethoaiphuong
#538 Posted : Saturday, December 19, 2020 12:51:37 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Cher - Tuổi nghỉ hưu còn xa

Gia Trình - RFI - 19/12/2020
Ở tuổi 74, ca sỹ kiêm diễn viên Cher vẫn sung mãn và năng lượng cho các show trình diễn quy mô lớn. Nếu thưởng lãm Cher trình diễn trên sân khấu, không ai dám nghĩ một nữ danh ca ở tuổi bà ngoại lại có thể trình diễn nhiệt huyết đến vậy.

Tỏa sáng năm đại dịch năm 2020

Bóng đêm của dịch bệnh năm 2020 không phải là lý do chính đáng để Cher nghỉ ngơi. Cher phải hủy nhiểu buổi diễn trong tour Here we go again trên khắp nước Mỹ, đặc biệt show ngày 12 tháng 3 tại Oklahoma do một nhạc công chơi jazz nhiễm virus. Cách ly tại nhà nhưng giọng ca của Believe đẩy mạnh hoạt động xã hội trên bình diện rộng. Cher là một nghệ sỹ giải trí hàng đầu với gu thời trang dị thường, khuấy động không gian bằng những bản nhạc dance/pop sôi động.

“Tôi biết mình cần phải làm gì. Tôi đã bắt đầu học và nghe thử bản nhạc khi tôi ở Anh năm ngoái nhưng nó rất khó”. Bản nhạc Chiquitita bất hủ của nhóm ABBA, ra đời năm 1979 được Cher thể hiện chính thức ra mắt vào tháng 5/2020. Ca sỹ sinh năm 1946 đã phát hành bản cover bằng tiếng Tây Ban Nha để ủng hỗ tổ chức UNICEF. Cher ghi hình video tại nhà riêng và sau đó ghép với phần dựng trẻ em trên toàn thế giới. Tiết lộ với báo giới, cô nói : “Một trải nghiệm tuyệt vời đầy lạc quan. Điều này thực sự tích cực trong bối cảnh hỗn loạn chúng ta đang sống chung.” Không những vậy, cô còn tham gia với các nghệ sỹ khác như Kylie Minogue, Robbie Williams trong bản thu thanh Stop Crying Your Heart Out cho BBC Children.

Gần đây, Cher còn bay sang tận Pakistan để giúp chú voi cô đơn Kavaan tìm được tổ ấm mới tại khu bảo vệ động vật hoang dã tại Campuchia. Mọi chuyện không chỉ dừng ở đó. Ca sỹ đoạt giải Grammy còn sáng lập ra quỹ từ thiện CherCares CCPRRI (Sáng kiến Phản hồi và Nguồn lực cho Đại Dịch) với tiến sỹ Irwin Redlener trường đại học Colombia. Kế hoạch ban đầu sẽ phân bổ 1 triệu đô la Mỹ cho những người bị tác động bởi đại dịch trong ngành công nghiệp giải trí. Cùng với Dolly Parton, người tặng 1 triệu đôla cho việc nghiên cứu vac-xin, trái tim nhân hậu của nữ ca sỹ không có biên giới khi đấu tranh hết mình cho phân biệt chủng tộc, bình đẳng giới. Phải chăng dòng máu da đỏ và lực lượng fan đông đảo LGBT ủng hộ nên nữ ca sỹ 74 tuổi quên tuổi nghỉ hưu?


Nguồn năng lượng đổi mới

Mặc dù không còn xa lạ với nền công nghiệp giải trí, ở độ tuổi bà ngoại, Cher vẫn có sức hút kỳ lạ như bản nhạc dance thành công như Believe, Song for The Lonely, After All. Nữ ca sỹ biết cách hâm nóng sân khấu và giữ lửa hâm mộ cho khán giả bằng chất giọng contralto dày và khó bị nhạt nhoà.

Kể từ năm 1979, Cher tách ra hát solo và có tour diễn đầu tiên. Thành công bản hit kim cương Believe năm 1998 mở đường cho Cher lên đường với tour diễn Do You Believe? Từ 2002 đến 2005, tour diễn Living Proof: Farewell Tour (Bằng chứng sống: Tour Tạm biệt) trở thành tour diễn thành công nhất khi thu về hơn 250 triệu đô la tiền vé. Sự thành công ngoài mong đợi này khiến cho báo giới đặt câu hỏi : “Bao giờ cô ấy mới chính thức nghi hưu khi tour diễn mang tên Tạm Biệt?”. Tiêu thụ hơn 100 triệu đĩa hát trên toàn cầu, khó ai tin rằng đây là kỷ lục của nữ ca sỹ ở tuổi 70 ko phải là tuổi 17.

Vì sao sự tạm biệt của nữ thánh nhạc pop lại thu hút công chúng đến vậy? Có phải Cher là ngôi sao đa diện, thành công trên nhiều lĩnh vực? Không chỉ ca hát, Cher lấn sân sang điện ảnh, phim truyền hình. Cô từng đoạt giải Oscar xuất sắc nhất trong phim Moonstruck năm 1987. Đây là kỷ lục hiếm có của một siêu sao ca nhạc khiêm diễn viên điện ảnh, lịch sử chỉ ghi nhận siêu sao Barbara Streisand mới sánh ngang với cô. Ngoài ra, cùng với người chồng cũ, Sonny, Cher từng tham gia show truyền hình kênh CBS The Sonny and Cher Comedy Hour với hơn 30 triệu lượt xem hàng tuần trong những năm 70.

Năm 2010, Cher quay trở lại phim ảnh với phim ca nhạc Burlesque sau nhiều năm vắng bóng ở thể loại musical. Theo đà tiếp diễn, sự hóa thân của Cher trong vai bà nội của cô gái trẻ Sophie trong phần 2 phim ca nhạc Mama Mia: Here we go again là điểm nhấn xuất sắc. Hai ca khúc Cher thể hiện lại của nhóm ABBA là Fernando và Super Truper được Bjorn, thành viên nhóm ABBA khen hết lời. Anh nói : “Giờ đây Fernado thuộc về cô ấy”. Điều đó chứng minh rằng Cher không ngại đổi mới và đôi khi sự đổi mới gây kinh ngạc cho người xem như những trang phục kỳ dị, táo bạo tốn nhiều giấy mực.

Từ phụ thuộc đến độc lập

Thành công của Cher không thể thiếu vai trò dẫn dắt của người chồng đầu tiên Sonny Bono. Họ là bạn bè, tình nhân, vợ chồng để tạo nên bản hit I got you babe (Giờ anh đã có em). Bản nhạc sản xuất năm 1965 lên hạng 1 Bảng xếp hạng Billboard. Cú hích đầu tiên đã mở đường cho Cher phát triển sự nghiệp solo song song với hát song ca với người chồng. Hàng loạt hit tiếp nối như Bang Bang (My Baby Shot me Down) trong thập niên 60. Bước sang thập niên 70, tên tuổi Cher và Bono trở nên mờ nhạt trước làn sóng heavy rock với âm thanh mạnh mẽ của Led Zeppelin, Eric Clapton, bên cạnh trào lưu giải phóng tình dục và bài trừ ma túy.

Hôn nhân với Bono trục trặc nhưng họ vẫn sát cánh bên nhau trong 4 album xuất bản liên tiếp trong thập niên 70. Ly dị với người chồng Sonny, Cher đã có mối quan hệ dài 2 năm với nhà sản xuất âm nhạc David Geoffen. Nhờ có điều kiện này, cô ký hợp đồng mới Warner Bros, David định biến Cher thành ngôi sao nhạc rock thay vì ca sỹ pop đơn thuần. Ý tưởng này thất bại cho dù Cher khám phá nhiều thể loại khác nhau.

Sự nghiệp âm nhạc chìm lắng từ khi xa rời Bono, nhưng con đường đến với màn bạc của Cher thênh thang rộng mở từ cuối thập niên 70 đến cuối thập niên 80. Năm 1988, cô được coi là một trong các ngôi sao kiếm tiền nhiều nhất Hollywood với cát-xê 1 triệu đô la một phim truyện (tại thời giá lúc đó).

Tuy nhiên, sự kiên trì không bao giờ thiếu đối với Cher. Cô quay trở lại với âm nhạc với bản hợp đồng năm 1987 với hãng Geffen Records. Sau đó, bản hit If I could turn back time năm 1989 thành công vang dội về thương mại, bất chấp chỉ trích trang phục thiếu vải, biểu diễn trên chiến hạm USS Missouri.

Gần 10 năm sau, ở độ tuổi xấp xỉ lục tuần, bản hit Believe lại oanh tạc các bảng xếp hạng trên toàn cầu. Ca khúc mang lại giải Grammy cho Ghi âm Dance xuất sắc nhất, tiêu thụ hơn 1,8 triệu bản trên khắp nước Mỹ. Believe tạo dựng kỷ lục đối với nghệ sỹ nữ tại Anh và Mỹ. Bài hát giai điệu lôi cuốn, phối khí trẻ trung, và kỹ thuật làm méo tiếng đến mức người ta gọi là hiệu ứng Cher.

Nhìn tổng thể, Cher trẻ trung rất nhiều so với tuổi thật và chất giọng cô bền màu theo năm tháng. Nhờ Believe, cô định hình tốt hơn gu âm nhạc và tập trung vào pop/disco là điểm mạnh, hơn là tấn công tràn lan sang các thể loại khác.

Không chi nối tiếng với âm nhạc, phim ảnh, Cher còn nổi tiếng về đời sống cá nhân. Hình xăm tranh cãi, gu thời trang phô diễn, phẫu thuật thẩm mỹ và những mối tình với trai trẻ như Val Kilmer, Tom Cruise, tay guitar nhóm Bon Jovi Richie Sambora. Phải chăng đó là thứ xúc tác, hay gia vị cần thiết cho đầu bếp nghệ thuật cừ khôi như Cher?

Thú vị hơn nữa, mỗi khi Cher nhấn mạnh đây là tour diễn cuối cùng của cô kể từ năm 2002, lịch diễn của cô ngày càng dầy thêm. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng tuổi nghỉ hưu với người đàn bà hát 74 tuổi còn rất xa vời!

(Theo Los Angeles Times, Billboard, Variety)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/19/2020(UTC)
viethoaiphuong
#539 Posted : Tuesday, December 22, 2020 12:56:40 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

100 năm ngày sinh của thiên tài Charlie Parker

Tuấn Thảo - RFI - 22/12/2020
Nói rằng Charlie Parker là một trong những nghệ sĩ có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20, có lẽ vẫn còn chưa đủ. Nhờ vào tài nghệ sáng tác và chơi kèn saxo, Charlie Parker là người đã thay đổi diện mạo của làng nhạc jazz vào đầu những năm 1940. Nỗ lực cách tân ấy vẫn tồn tại cho đến tận bây giờ. Nếu còn sống, Charlie Parker năm nay sẽ tròn 100 tuổi.


Sinh trưởng trong một gia đình nghèo tại Kansas City (bang Missouri, miền nam Hoa Kỳ), Charlie Parker thừa hưởng từ nhỏ năng khiếu chơi đàn dương cầm của thân phụ. Ông học kèn saxo alto từ năm 11 tuổi, với khát vọng gia nhập sau này một dàn nhạc chuyên nghiệp, lưu diễn ở khắp nơi để thỏa mãn giấc mộng ‘‘hải hồ’’. Vào thuở thiếu thời, Charlie Parker đã tham gia vào rất nhiều phiên biểu diễn nhạc jazz để thi thố tài năng (jam session). Cũng từ đó mà Charlie Parker được các đồng nghiệp mệnh danh là ‘‘Bird’’ rút gọn từ chữ ‘‘YardBird’’, trong tiếng lóng có nghĩa là tân binh, lính mới.

Tuổi trẻ tài cao, ngựa non háu đá. Tài nghệ chơi kèn saxo của ông được công nhận là hiếm thấy, nhưng Charlie Parker lúc bấy giờ vẫn chưa được rèn luyện tới nơi tới chốn, ít ra kỹ thuật vẫn chưa đủ tầm bay xa để phát huy trọn vẹn tham vọng nghệ thuật cao vời. Diễn viên kiêm đạo diễn kỳ cựu Clint Eastwood là người đã giải mã bí mật của hiện tượng Charlie Parker. Trong bộ phim tiểu sử (biopic) quay vào năm 1988, dành cho nghệ sĩ nhạc jazz với tựa đề ngắn gọn là ‘‘Bird’’, đạo diễn Clint Eastwood đã khéo lột tả cái khoảnh khắc để đời, khiến cho Charlie Parker vươn lên hàng thiên tài.

‘‘Tân binh’’ lại vượt xa các kiện tướng

Vào năm 16 tuổi, Charlie Parker tham gia cuộc thi do tay trống Jo Jones tổ chức cho dàn nhạc Count Basie Orchestra tại Kansas City. Count Basie (1904-1984) từng nổi tiếng nhờ tài chơi dương cầm và đồng thời là một trong những nhạc trưởng quan trọng nhất làng nhạc jazz thời bấy giờ. Tham vọng thì cao nhưng tay nghề còn non, Charlie Parker bị hụt hơi, lép vế trong những pha ứng tấu với dàn nhạc. Kẻ tung quá mạnh, người hứng quá nhẹ, buổi biễu diễn trật nhịp lạc điệu, khiến cho tay trống Jo Jones nổi cơn thịnh nộ, ném đồ vào Charlie Parker và đuổi cậu thiếu niên ra khỏi sân khấu, dưới tiếng cười nhạo, chê bai của khán giả.

Trong cái giây phút định mệnh ấy, Charlie Parker tự thề nguyện rằng, kể từ nay, ông sẽ không bao giờ còn bị ai sỉ nhục trên sân khấu. Theo nhà phê bình kiêm tác giả Patrice Blanc-Francard, tác giả của quyển sách ‘‘Từ điển của những người yêu nhạc Jazz’’, Charlie Parker rời nguyên quán và trong vòng 4 tháng trời, ông đã sống cô lập, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Ông luyện tập mỗi ngày 14 tiếng đồng hồ, nghe đi nghe lại cách chơi của các ban nhạc jazz qua đĩa hát, để rồi ông chẳng những tập chơi lại một cách thuần thục mà còn đi tìm tất cả những lối biến tấu khác xung quanh một giai điệu. Sau thời gian luyện tập ấy, ông xung phong vào các ban nhạc lưu diễn, dù chỉ là để chơi thay thế, dù chẳng có hợp đồng biểu diễn nào. Ông chịu khó chờ thời, nhịn đói cầm hơi, ngủ bờ ngủ bụi, miễn là có cơ hội thử lửa trên sân khấu cho đến cái ngày rực rỡ tỏa sáng.

Đến khi trở lại nguyên quán, tài năng của Charlie Parker đã thật sự chín muồi. Từ vị trí của một lính mới, chàng Bird ngày nào thực hiện cú đột phá ngoạn mục, dù chỉ mới tròn đôi mươi. Charlie Parker đã thay đổi hẳn lối tiếp cận nhạc jazz, tài nghệ của anh ‘‘tân binh’’ lại vượt xa tất cả các nghệ sĩ saxophone khác cùng thời thuộc vào hàng kiện tướng. Theo nhà phê bình Patrice Blanc-Francard giải thích, vào giai đoạn những năm 1941-1942, Charlie Parker đã thực hiện cuộc ‘‘cách mạng đầu tiên’’ trong làng nhạc jazz. Cùng với Dizzy Gillespie và Thelonious Monk, Charlie Parker đã hình thành phong trào bebop, khiến cho các nghệ sĩ đàn anh là Benny Goodman hay là Count Basie với sở trường là swing, cũng như các nhạc trưởng chuyên điều khiển các dàn nhạc big band, hầu như đều trở nên lỗi thời.

Ngẫu hứng bất tuyệt, ứng tấu trường thiên

Nổi danh từ năm 1943-1944 trở đi, Charlie Parker được công nhận là một tác giả thật thụ khi ông có cơ hội ghi âm các sáng tác của chính mình. Nhiều giai điệu của ông với thời gian đã trở nên kinh điển như Parker’s Mood, Bird of Paradise, Donna Lee (cùng với thiên tài Miles Davis), Shaww Nuff (cùng với nghệ sĩ Dizzy Gillespie), Scrapple from the Apple, Now’s the Time hay là tổ khúc lừng danh Yarbird Suite …

Ngoài cái tài soạn giai điệu, Charlie Parker còn có một cách chơi kèn saxo rất khác biệt phi thường, cách nén hơi để nắm bắt và giữ chặt nốt nhạc trước các đoạn ứng tấu trường thiên. Trước Charlie Parker, không ai có đủ làn hơi sâu và dày để tách các nốt nhạc ra thành từng cụm gắn chặt tựa những ‘‘cụm tuyết’’, để rồi từ đó ông trỗ tài ngẫu hứng biến tấu liên miên bất tuyệt, tạo cho giai điệu tuần hoàn nỗi da diết miên man. Sau Charlie Parker, phải đợi đến hơn một thập niên mới, công chúng tìm thấy một nghệ sĩ xứng đáng thừa kế là John Coltrane (1926-1967), nhưng vẫn thuộc vào hàng hậu bối.

Giống như những vì sao băng khác trong làng nhạc, chẳng hạn như Robert Johnson (1911-1938) hay là Jimi Hendrix (1942-1970), cả hai đều chết sớm ở tuổi 27 nhưng nổi tiếng nhờ tài chơi đàn ghi ta, sự nghiệp của Charlie Parker khá là ngắn ngủi, do chứng nghiện rượu và ma túy. Tuy chỉ kéo dài trong khoảng một thập niên, nhưng các sáng tác của ông vẫn có nhiều giá trị, đủ để lại một dấu ấn không thể phai mờ.

Chương trình 100 năm ngày sinh của ‘‘Bird’’

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Charlie ‘‘Bird’’ Parker, đài phát thanh Pháp TSF Jazz dành một loạt chương trình đặc biệt cho nhạc sĩ này. Bộ phim ‘‘Bird’’ của Clint Eastwood cũng được tái bản với một phiên bản mở rộng với phỏng vấn và phim tư liệu. Hãng đĩa ‘‘Chant du Monde’’ cũng xuất bản một tuyển tập chọn lọc gồm 24 bản nhạc thu thanh trực tiếp ‘‘hoàn chỉnh’’. Nhưng quan trọng hơn hết là bộ toàn tập gồm tổng cộng 131 bản nhạc ghi âm trên 10 cuộn CD với chủ đề ‘‘Now's The Time’’.

Khu vườn âm nhạc có nhiều loài hoa thơm cỏ lạ, trong số đó Charlie Parker xuất hiện như một đóa ‘‘tà hoa’’ do ông bị nghiện ma túy từ thời còn trẻ. Suốt đời, ông đã buộc phải nhiều lần tự nhốt lỏng trong các trung tâm cai nghiện, tìm đủ mọi cách để một lần nữa tránh sa ngã trước cám dỗ, phấn đấu để vượt qua sự yếu đuối của bản thân.

Rốt cuộc, Charlie Parker đã vĩnh viễn ra đi qua sớm chỉ ở tuổi 34, nhưng theo giới bác sĩ, cơ thể của ông lúc qua đời, lại già cỗi như một người trên 60 tuổi. Thế nhưng đóa ‘‘tà hoa’’ qúy hiếm ấy giữa hai khoảnh khắc bất hạnh, lại biết thổi vào đời bao nốt trầm nhức nhối, khi kiếp người ngắn ngủi bất chợt được thiên hứng, bỗng dưng phủ bóng ngậm ngùi.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/22/2020(UTC)
viethoaiphuong
#540 Posted : Friday, December 25, 2020 9:19:39 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,589
Points: 14,925

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Nhạc sỹ Lam Phương qua đời trong niềm tiếc thương của công chúng

Ngọc Lễ / VOA - 24/12/2020
Nhạc sỹ Lam Phương, người được xem là một trong những đại thụ của nền tân nhạc Việt Nam, vừa qua đời ở miền Nam California, Hoa Kỳ, ở tuổi 83 sau nhiều năm chống chọi bệnh tật. Sự ra đi của ông đã khiến mạng xã hội tràn ngập những thông điệp tiếc thương.

Tin từ gia đình nhạc sỹ Lam Phương cho biết ông qua đời vào chiều tối thứ Ba ngày 22/12 tại một bệnh viện ở thành phố Fountain Valley, quận Cam, California. Đã nhiều năm qua, ông bị tai biến khiến cho việc đi lại và nói chuyện khó khăn. Cách nay vài ngày, ông nhập viện cấp cứu vì bệnh tim và tai biến mạch máu não.

Thông tin ban đầu từ gia đình cho biết sẽ có lễ tang và lễ tưởng niệm Lam Phương ở cả Mỹ và Việt Nam. Tuy nhiên, do tình hình dịch Covid-19 đang bùng phát dữ dội ở California nên đám tang của ông cũng phải tuân thủ một số hạn chế phòng dịch.

‘Tượng đài âm nhạc Việt Nam’

Lam Phương, sinh năm 1937 tại Rạch Giá, Kiên Giang, trong một gia đình gốc người Minh Hương chạy trốn nhà Thanh từ Trung Quốc sang Việt Nam. Ông là một trong những nhạc sỹ được công chúng biết đến nhiều nhất và có số đĩa hát được tiêu thụ thuộc hàng cao nhất.

Sáng tác của ông trải rộng trên nhiều chủ đề từ thân phận con người, tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương cho đến đời lính chiến. Tổng cộng, ông đã viết trên 200 bài hát, trong đó có những bài hết sức nổi tiếng được công chúng thuộc lòng như: Thành phố Buồn, Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Duyên Kiếp, Khúc Ca Ngày Mùa, Biển Tình, Nắng Đẹp Miền Nam, Đoàn Người Lữ Thứ, Tình Anh Lính Chiến, Đường Về Quê Hương, Phút Cuối, Tình Bơ Vơ, Xin Thời Gian Qua Mau, Chuyện Buồn Ngày Xuân…

Tin tức về sự ra đi của ông đã nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội và gây xúc động mạnh.

“Dòng nhạc Lam Phương có sức lan tỏa rộng khắp tới mọi tầng lớp trong xã hội, được thuộc nằm lòng và yêu chuộng qua nhiều thế hệ cho đến tận bây giờ… Sự ra đi của ông là một mất mát to lớn cho nền nghệ thuật Việt Nam,” trang nhà trung tâm Thuý Nga, nơi từng thực hiện nhiều chương trình ca nhạc vinh danh ông, viết.

Một trung tâm băng nhạc khác ở hải ngoại là Asia cũng gọi sự ra đi của ông là ‘mất mát to lớn’. “Dù nhạc sỹ không còn nữa nhưng những sáng tác của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng khán giả yêu nhạc,” trung tâm Asia viết trên trang nhà.

Trên tài khoản mạng xã hội của mình, ca sỹ Thanh Tuyền đã viết những lời phân ưu vĩnh biệt Nhạc sỹ Lam Phương: “Anh ra đi nhưng dòng nhạc của anh bất tử đến ngàn năm. Tất cả mọi người đều thương Anh. Anh Lam Phương… cả một Biển Tình của Em.”

“Dòng nhạc của Chú sẽ luôn sống mãi trong tim của con, của những anh chị em nghệ sỹ và của tất cả khán thính giả,” ca sỹ trẻ Đan Nguyên viết trên Fanpage của anh.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân gọi Lam Phương là ‘ông hoàng của âm nhạc đại chúng Việt Nam’ còn ca sỹ Dương Triệu Vũ tôn vinh ông là ‘tượng đài âm nhạc Việt Nam’.

‘Lời nhạc đi vào lòng người’

Từ thành phố Hồ Chí Minh, ca sỹ Phương Dung, người có mối quan hệ thân thiết gần 60 năm với Lam Phương, nói với VOA bà ‘xúc động’ khi biết tin ông qua đời nhưng bà chấp nhận sự thật vì ‘anh Lam Phương cũng đã lớn tuổi rồi mà không thể thắng được số phận’.

“Tôi tiếc là nền âm nhạc Việt Nam mất đi một nhân tài và những bài hát của Lam Phương đã để lại trong lòng tôi nhiều xúc động, kỷ niệm và sự kính trọng,” ca sỹ Phương Dung nói.

Ca sỹ Phương Dung đã thu dĩa nhiều bài hát của nhạc sỹ Lam Phương, nhưng bà nói bà nhớ nhất là bài ‘Một mình’ vì ‘lời ca rất xúc cảm’ và bài ‘Vĩnh biệt’ mà bà thu âm trong giai đoạn 1964 – 1965 mà cho đến nay chỉ gần như một mình bà độc quyền hát bài này.

Khi mới vào nghề, ca sỹ Phương Dung từng hát cho đoàn kịch và đại nhạc hội của Lam Phương, bà cho biết.

“Lúc anh Lam Phương đàn cho đoàn kịch nói Kim Cương trong giai đoạn 61- 64, tôi hát ở rạp Thanh Bình, anh Lam Phương đàn ở dưới. Mỗi bài hát anh đàn cho tôi hát lúc nào tôi cũng có sự xúc động rất nhiều. Anh làm cho tôi thật sự dấn thân vào bài hát,” ca sỹ Phương Dung nhắc về điều bà nhớ nhất ở người nhạc sỹ vừa ra đi.

Từng đi hát chung với Lam Phương từ Nam ra tới miền Trung vào năm 1964, bà nhận xét ông là người ‘rất hiền lành’.

Nhận định về âm nhạc của Lam Phương, bà nhận xét ‘có thể ông có một cuộc tình nào đó đã in đậm trong tim ông đến tận bây giờ và đó là tài sản vô giá để ông có những bài hát đi vào lòng người’.

Bà đưa ra dẫn chứng là lời bài hát ‘Xin Thời Gian Qua Mau’ có đoạn viết: “Tám mùa đông cây rừng khô trụi lá; Chưa bao giờ một phút sống xa nhau.” “Lối viết nhạc cho tình yêu đó chỉ có anh Lam Phương mới viết được,” ca sỹ Phương Dung nhận định.

Điều mà bà tâm đắc nhất về âm nhạc của Lam Phương là ‘lời văn viết rất hay’.

“Anh viết lời làm cho người khác người ta đọc, người ta hát có cảm giác mình là nhân vật đó,” bà nói thêm.

Bà cho biết trong lần cùng nữ ca sỹ Hoàng Oanh đến thăm Lam Phương cách nay đã 10 năm tại tư gia của ông sau khi ông bị tai biến, lúc đó Lam Phương ‘đã nói chuyện hết sức khó khăn’.

Ca sỹ Phương Dung nói rằng bà sẵn sàng tham gia một chương trình tưởng niệm Nhạc sỹ Lam Phương. “Sẽ có nhiều bài mà tôi muốn chọn hát, nhưng bài mà tôi thích sẽ là ‘Một Mình’ và ‘Còn Gì Mà Mong’,” bà nói.

Sinh ra trong một gia đình nghèo khó với tên thật là Lâm Đình Phùng, nhạc sỹ Lam Phương trải qua tuổi thơ cơ cực. Ông được gia đình gửi lên Sài Gòn đi học và bén duyên với âm nhạc khi còn nhỏ. Ông có sáng tác đầu tay là bài ‘Chiều Thu Ấy’ vào năm 1950 khi mới 13 tuổi.

Bản nhạc ‘Kiếp Nghèo’ được sáng tác vào cuối những năm 1950 đã đưa tên tuổi Lam Phương lên tầm cao mới. Tuy nhiên, chính bản ‘Thành phố Buồn’ vào năm 1970 hết sức thành công đã đưa ông lên tột đỉnh danh vọng và giàu có.

Ông di tản khỏi Sài Gòn vào năm 1975 đến Mỹ và sống qua nhiều tiểu bang, từ Virginia, Texas và cuối cùng ở California. Có một khoảng thời gian 15 năm ông sang Pháp sống sau khi cuộc sống hôn nhân đầu với nghệ sỹ kịch nói Túy Hồng tan vỡ. Sau lần hôn nhân tan vỡ này, ông còn trải qua hai cuộc hôn nhân nữa trước khi bị tai biến vào năm 1999.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 12/25/2020(UTC)
Users browsing this topic
Guest
32 Pages«<2526272829>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.