Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

27 Pages«<24252627>
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#501 Posted : Tuesday, September 8, 2020 5:50:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Bỉ và Pháp tưởng niệm ngôi sao sân khấu Annie Cordy

Tuấn Thảo - RFI - 08/09/2020
Cùng với Jacques Brel và Adamo, Annie Cordy thuộc vào giới nghệ sĩ người Bỉ thành công rực rỡ trong làng sân khấu Pháp. Nổi danh từ năm 1952 trong hai lãnh vực ca nhạc và điện ảnh, Annie Cordy vừa từ trần tại Vallauris, gần Cannes hôm 04/09/2020, hưởng thọ 92 tuổi. Cả hai nước Bỉ và Pháp đều có chương trình tưởng niệm người nghệ sĩ đa tài.

Trong suốt tuần này, thủ đô Bruxelles vinh danh đứa con yêu của mình là Annie Cordy (1928-2020). Vào mỗi buổi tối, bức ảnh chân dung của nữ nghệ sĩ (do gia đình cung cấp) được chiếu lên mặt tiền của Tòa đô chính, tọa lạc ngay trên Quảng trường lớn (Grande Place), ở trung tâm thành phố Bruxelles. Đồng thời, những bài hát nổi tiếng của Annie Cordy sẽ được phát thanh cho giới hâm mộ. Kể từ hôm 07/09, Tòa đô chính Bruxelles đã mở một gian phòng đặc biệt để tiếp đón khách đến ký sổ tang, gửi lời chia buồn. Với sự đồng ý của gia đình nghệ sĩ quá cố, Bruxelles tổ chức xen kẻ các sinh hoạt tưởng niệm ở quy mô nhỏ thay vì làm một chương trình lớn duy nhất, để tôn trọng các quy định giãn cách xã hội trong mùa dịch Covid-19.

Đây không phải là lần đầu tiên Bruxelles tôn vinh tài nghệ của Annie Cordy. Vào năm 2004, bà đã từng được Hội đồng thành phố trao tặng danh hiệu ‘‘Công dân Danh dự’’. Thành phố Bruxelles cũng đã đặt tên bà cho một công viên nằm gần phố Laeken, nơi chào đời của nữ nghệ sĩ. Annie Cordy cũng từng Quốc vương Bỉ Albert đệ nhị phong tước vào năm 2005, để khen ngợi tất cả những đóng góp của bà trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật. Nếu Annie Cordy đã chọn nước Pháp làm nơi lập nghiệp để rồi với thời gian trở thành quê hương thứ hai, thì tâm hồn của bà lúc nào cũng gắn liền với nguyên quán.

Tên thật là Léonia Cooreman, bà lấy nghệ danh Annie Cordy khi rời Bruxelles đến Paris lập nghiệp vào năm 1950, tức cách đây đúng 70 năm. Ký hợp đồng với nhà hát Lido, Annie Cordy nhanh chóng trở thành tài năng đầy triển vọng nhất trong làng sân khấu nhạc kịch thời bấy giờ. Sau khi đoạt giải nhất cuộc thi Maurice Chevalier, bà ký hợp đồng ghi âm đầu tiên vào năm 24 tuổi với hãng đĩa Pathé Marconi, bắt đầu hợp tác với những tên tuổi sáng chói nhất thời bấy giờ trong đó có vua hề Bourvil và Luis Mariano, ông hoàng làng nhạc kịch opérette.

Sự dìu dắt của vua hề Bourvil mở rộng cánh cửa làng điện ảnh Pháp cho Annie Cordy kể từ năm 1953. Trong hơn nửa thế kỷ sự nghiệp, Annie Cordy tham gia trong khoảng 80 bộ phim kể cả phim truyện dành cho màn ảnh lớn hay phim được chiếu trên đài truyền hình. Do thành danh ban đầu trong làng nhạc nhờ những ca khúc hài hước vui nhộn (như trường hợp của Henri Salvador), cho nên Annie Cordy lúc còn trẻ, chủ yếu được giao những vai diễn trong các bộ phim hài, chứ ít khi nào xuất hiện trong thể loại chính kịch. Mãi đến những năm 2004-2005 trở đi, giới đạo diễn Pháp đã từng lớn lên với những ca khúc dí dõm của bà, lại chọn Annie Cordy cho những vai diễn đi ngược lại với hình ảnh quen thuộc của nhân vật nổi tiếng trong lòng giới hâm mộ, những vai ‘‘sầu’’ lại giúp cho Annie Cordy tạo thêm bề dày và chiều sâu trong cách thể hiện tâm lý nhân vật.

Đó là lý do vì sao trong tuần này, hai đài truyền hình quốc gia Pháp France 2 và France 3 tưởng niệm Annie Cordy với những bộ phim thực hiện trong những năm gần đây, trong đó có tác phẩm ‘‘Illettré’’ (Kẻ mù chữ) của Jean Pierre Améris và bộ phim Les Souvenirs (Kỷ niệm chưa phai) của Jean Paul Rouve. Bên cạnh đó, cò có các thước phim tài liệu cũng như các đoạn video ca nhạc trích từ các show truyền hình ăn khách. Tang lễ của Annie Cordy sẽ diễn ra tại thành phố Cannes vào ngày 12/09. Giới hâm mộ có thể tham dự buổi lễ tại nghĩa trang Abadie, tiễn đưa bà về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đối với ít nhất là hai thế hệ người Pháp, tên tuổi của Annie Cordy được gắn liền với nhiều ca khúc nổi tiếng từ giữa những năm 1950 cho tới giai đoạn huy hoàng nhất là vào những năm 1980, thời mà các ca khúc dí dõm khôi hài của Annie Cordy luôn nằm trong danh sách 10 ca khúc ăn khách nhất thị trường. Tính tổng cộng trong vòng 7 thập niên sự nghiệp, Annie Cordy đã ghi âm 700 bài hát, 60 album đủ loại, 30 vở kịch và nhạc kịch.

Công chúng Pháp luôn nhớ tới cách diễn xuất đầy kịch tính của người nghệ sĩ vừa hát vừa pha trò, ngôn ngữ cơ thể luôn phụ họa cho ca từ, trang phục rực rỡ màu sắc như dạ hội hóa trang trong các bản nhạc ăn khách như Tata Yoyo, La Bonne du Curé, Cho KaKaO hay là Je fais le Clown. Trên sân khấu, Annie Cordy không cần đeo mũi đỏ mà vẫn đậm nét ‘‘chú hề’’. Cách biểu diễn hài hước ấy làm cho ta quên rằng trước khi vào nghề ca hát, Annie thời còn nhỏ đã từng học múa, cho nên sau đó các môn modern jazz, ballet hiện đại hay nhảy thiết hài không còn là trở ngại đối với người một nghệ sĩ không ngừng tập luyện và có sức chịu đựng cao.

Vào đầu những năm 1970, Annie Cordy từng biểu diễn trong ba năm liền vai chính của vở nhạc kịch Helo Dolly và nhờ vậy mà đoạt giải Diễn viên sân khấu xuất sắc nhất châu Âu. Vĩnh viễn ra đi ở tuổi 92, Annie Cordy đã để lại trong lòng giới hâm mộ hình ảnh của một người nghệ sĩ dễ mến gần gũi, bà lúc nào cũng lạc quan yêu đời, nụ cười luôn nở trên môi, một tâm hồn chân thật không vì hào quang sân khấu mà quên đi ánh sáng mặt trời.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/8/2020(UTC)
viethoaiphuong
#502 Posted : Thursday, September 10, 2020 5:12:28 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)


Art Sullivan từ nay "Vĩnh biệt người tình"

Tuấn Thảo - RFI
Nổi tiếng trong làng nhạc Pháp là một ca sĩ chuyên hát nhạc tình, Art Sullivan đã thành công rực rỡ trong suốt những năm 1970. Ca sĩ người Bỉ đã qua đời vào hôm 27/12/2019 ở tuổi 69 vì bệnh ung thư tuyến tụy, vào lúc ông đang có kế hoạch lưu diễn châu Âu vào năm tới để đánh dấu 50 năm sự nghiệp.

Tên thật là Marc Liénard van Lindt de Jeude, Art Sullivan sinh trưởng tại thủ đô Bruxelles (22/11/1950-27/12/2019) trong một gia đình quý tộc người Bỉ. Ông ngoại của Art Sullivan là Nam tước Guy d’Udekem, họ hàng với hoàng hậu vương quốc Bỉ Mathilde d’Udekem d’Acoz. Từ thời còn trẻ, ông đã có năng khiếu sáng tác, nhạc phẩm "Petite fille aux yeux bleus" (Cô bé với đôi mắt xanh) được ông viết vào năm 12 tuổi, thế nhưng ngoại hình điển trai chính là yếu tố thuyết phục nhà sản xuất người Bỉ Jacques Verdonck (lấy bút danh sáng tác là Jack Velt) lăng xê sự nghiệp của Art Sullivan, kể từ năm 1970 trở đi.

Trong quyển hồi ký mang tựa đề "Drôle de vie en chansons" do nhà xuất bản La Boîte à Pandore phát hành vào năm 2014, Art Sullivan cho biết ông vào nghề ca hát một cách tình cờ, "ngẫu nhiên". Thời niên thiếu, ông rất mê giọng ca của thần tượng nhạc trẻ Pháp Christophe, lần đầu tiên ông được nghe tình khúc Aline (Gọi tên người yêu, 1965) ông ước gì sáng tác được một tình khúc hay đến như vậy. Art Sullivan gặp thần tượng của mình hai lần vào năm 1967 và 1968. Ông đề nghị với nam danh ca người Pháp thành lập một câu lạc bộ người hâm mộ tiếng hát của Christophe tại Bỉ, có khả năng thu hút hàng ngàn thành viên.

Vào nghề vì mê thần tượng Christophe

Vào lúc ấy, Art Sullivan chỉ mới 18 tuổi và ông rất năng động trong việc quảng bá tên tuổi của Christophe thông qua câu lạc bộ các fan trẻ tuổi. Điều đó lọt vào tai của nhà sản xuất người Bỉ Jacques Verdonck và cũng là người phát hành các đĩa hát của Hervé Vilard trên thị trường Bỉ. Cơ duyên ấy thúc đẩy nhà sản xuất này hợp tác với Art Sullivan (sau một thời gian thành công trong việc quảng bá ban nhạc trẻ The New Inspiration đến từ thành phố Gand từ năm 1966 đến năm 1972).

Vào nghề ca hát từ đầu thập niên 1970, Art Sullivan đã nhanh chóng gặt hái thành công với hàng loạt ca khúc ăn khách. Từ năm 1971 đến năm 1978, cặp bài trùng Art Sullivan-Jack Velt đã ngự trị trên thị trường Tây Âu với những tình khúc như Ensemble, Petite fille aux yeux bleus, Adieu sois heureuse, Une larme d’amour, Donne donne moi, hay là Mourir ou Vivre...

Ban đầu thành danh ở Bỉ, giọng ca Art Sullivan sau đó ăn khách ở nước ngoài nhiều hơn là ở quê nhà, và điều đó buộc Art Sullivan phải xuất ngoại thường xuyên để đi lưu diễn hay để quảng bá cho mỗi lần ra mắt đĩa hát mới. Từ năm 1973, Art Sullivan trở thành một tên tuổi lớn ở Bồ Đào Nha, ngoài ra các bài hát của ông còn lập kỷ lục số bán tại các quốc gia châu Âu như Đức, Hà Lan, Ba Lan hay tại Nam Mỹ như Brazil và Achentina.

Nhiều phiên bản tiếng Việt "Adieu sois heureuse"

Trong gần một thập niên sự nghiệp, Art Sullivan đã bán hơn 10 triệu đĩa hát, các tuyển tập của ông phát hành sau này đều ăn khách tại các nước Đông Âu và Nam Mỹ, nơi ông có nhiều bài hát được phóng tác sang nhiều thứ tiếng. Còn trong tiếng Việt, bài hát nổi tiếng nhất của ông là nhạc phẩm "Adieu, sois heureuse". Trước năm 1975, tình khúc này từng được tác giả Nguyễn Duy Biên chuyển ngữ thành nhạc phẩm "Thôi ta xa nhau".

Hơn một thập niên sau đó ở hải ngoại, một lần nữa bài này được tác giả Lữ Liên phóng tác thành nhạc phẩm "Vĩnh biệt người tình". Một phiên bản thứ ba không rõ tác giả, có nội dung gần sát hơn với tựa đề nguyên tác là nhạc phẩm "Xin hạnh phúc cho em". Các ca sĩ như Trọng Nghĩa, Lê Toàn, Anh Tú, Trung Hành, Don Hồ đều đã từng ghi âm nhạc phẩm này.

Đang trên đà thành công, Art Sullivan lại quyết định lánh xa ánh đèn sân khấu, từ năm 1978 đến năm 1997. Ông tuyên bố giải nghệ với nhà sản xuất Jacques Verdonck, nhân một chuyến bay từ Bồ Đào Nha về Bỉ, cho dù đã biểu diễn thành công tại thủ đô Lisboa. Tuy giọng ca của ông lúc bấy giờ vẫn còn ăn khách, nhưng Art Sullivan lại quá chán nản, mệt mỏi với các vòng lưu diễn không ngừng của một người nghệ sĩ nay đây mai đó, không thể có được cho mình một đời sống riêng tư ổn định. Phong trào nhạc disco đang trỗi dậy cũng buộc nhiều ca sĩ hát tiếng Pháp chuyển qua khai thác dòng nhạc kích động trong khi Art Sullivan không hề thích loại nhạc này.

Đợt lưu diễn của các giọng ca lãng mạn

Nhìn lại, không ông cảm thấy tiếc nuối khi lấy quyết định giải nghệ trong lúc tên tuổi của mình còn chưa xuống dốc. Rút lui sân khấu ca hát, Art Sullivan chọn lập nghiệp ở Hoa Kỳ vào đầu những năm 1980, hoạt động trong nghề sản xuất chương trình video và truyền hình, chủ yếu nói về các hoàng gia châu Âu và các dòng dõi có tên tuổi, một lãnh vực mà ông khá thông thạo từ khi còn nhỏ do bản thân ông sinh ra trong một gia đình quý tộc.

Art Sullivan chỉ xuất hiện trở lại trong làng nhạc kể từ năm 2005 trở đi vào lúc đang rộ lên phong trào hoài niệm với các chương trình biểu diễn tập hợp giới nghệ sĩ nổi tiếng vài thập niên trước, tiêu biểu nhất là vòng lưu diễn "Tournée Romantique" gồm các nghệ sĩ chuyên hát nhạc trữ tình lãng mạn. Ông cũng cho ra mắt ba đĩa hát trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015. Tập nhạc cuối cùng mang tựa đề "Complainte" được ông ghi âm vào mùa xuân năm 2018 để tưởng nhớ cái chết của người bạn đời Johann Lautenshutz. Đĩa nhạc này được thực hiện với sự hợp tác của nhà sản xuất kiêm tác giả Jack Velt (nghệ danh của Jacques Verdonck).

Theo lời ông Marc Pasteger, chủ bút của phụ trang văn hóa Soir Mag, Art Sullivan đã ra đi quá sớm để thực hiện ước mơ được ông ấp ủ từ nhiều năm qua, thực hiện trong năm 2020, một vòng lưu diễn lớn để kỷ niệm 50 năm sự nghiệp ca hát cũng như ăn mừng sinh nhật lần thứ 70 trên sân khấu. Giới hâm mộ không ngờ rằng ông lại ra đi đột ngột như vậy. Giọng ca lãng mạn thưở nào Art Sullivan giờ đây chỉ còn một mình, từ nay vĩnh biệt người tình.
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/10/2020(UTC)
viethoaiphuong
#503 Posted : Friday, September 11, 2020 1:33:58 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Các nhà hát lớn chuẩn bị đón khách trở lại

Tuấn Thảo - RFI - 10/09/2020
Dịch Covid-19 đã buộc hầu hết các nhà hát lớn trên thế giới phải ngưng hoạt động kể từ tháng 03/2020. Sau hơn 6 tháng đóng cửa, khá nhiều nhà hát trứ danh từ Paris, Vienna, Venise, Berlin hay Milano đều chuẩn bị mở lại để tiếp đón khán giả. Do bối cảnh kinh tế không mấy thuận lợi, đa số các nhà hát lớn đều phải đa dạng hóa chương trình sinh hoạt để tạo thêm nguồn thu nhập.

Theo thông lệ, tháng 9 mùa tựu trường cũng là thời điểm khởi động lại mùa văn hóa tại các quốc gia phía Bắc bán cầu. Nhưng năm nay do dịch Covid-19, mùa văn hóa được khai trương trong một bối cảnh hết sức đặc biệt : các sinh hoạt giải trí, nghệ thuật rất cần thiết cho cuộc sống như theo tuyên bố của thần tượng ca nhạc và điện ảnh người Pháp Vanessa Paradis nhân dịp khai mạc liên hoan phim Mỹ tại Deauville, tuy nhiên nhiều dấu hiệu cho thấy là khán giả tại nhiều quốc giavẫn chưa vội trở lại một cách đông đảo tại các rạp chiếu phim hay tại các nhà hát lớn. Tình trạng đó buộc các ban giám đốc điều hành phải lên kế hoạch ‘‘cầm cự’’ ít nhất là cho đến cuối năm 2020, thậm chí cho tới đầu mùa xuân năm 2021.

Trong tuần này, nhà hát lớn Bolchoi đã mở cửa trở lại tại thủ đô nước Nga. Tác phẩm được chọn trong đêm khai mạc là vở kịch opera ‘‘Don Carlos’’ của Verdi với giọng ca soprano người Nga mang quốc tịch Áo Anna Netrebko. Thông thường, nhà hát Bolchoi có thể tiếp đón cùng lúc 1.800 khán giả. Tuy số chỗ ngồi mùa thu năm nay đã được hạn chế ở mức 900 để tôn trọng các quy định về giãn cách xã hội, nhưng số khách tham dự đêm khai mạc cũng chưa vượt qua ngưỡng 500 người.

Doanh thu trực tiếp từ các buổi biểu diễn cộng thêm với các khoản tài trợ của chính phủ Nga, vẫn chưa đủ để giúp cho đoàn Bolchoi, tựa như một con thuyền lớn vượt qua giông bão tài chính. Trước mắt, ban giám đốc Bolchoi phải tìm thêm các nguồn tài trợ tư nhân, đồng thời thỏa thuận với các kênh truyền thông nhằm phổ biến rộng rãi hơn các sản phẩm văn hóa có gắn thương hiệu ‘‘Bolchoi’’. Trong chiều hướng đó, Bolchoi đã tăng cường hợp tác với chuỗi rạp hát Pháp Pathé Gaumont để giới thiệu các vở múa ballet cũng như tác phẩm opera tại nhiều rạp chiếu phim ở các nước Thụy Sĩ, Bỉ, Hà Lan và Pháp.

Các suất phim dành để công chiếu các vở ballet kinh điển bắt đầu vào tháng 10 với vở múa ‘‘Romeo & Juliette’’ của nhà biên đạo Alexei Ratmansky dựa theo tác phẩm của văn hào Shakespeare. Tháng 11 được dành cho vở múa ‘‘Trà Hoa Nữ’’ (La Dame aux Camélias) của nhà văn Alexandre Dumas con, qua bản phóng tác của nhà biên đạo múa lừng danh người Mỹ John Neumeier, giám đốc của đoàn múa ballet Hamburg. Tháng 12 với mùa lễ cuối năm, kết thúc chương trình với vở múa hàn lâm ‘‘Kẹp Hạt Dẻ’’ (Casse Noisette) phiên bản của nhà soạn nhạc thuộc trường phái lãng mạn Đức Ersnt Theodor Hoffman, khác hẳn với phiên bản của tác giả Tchaikovsky tại nhà hát Mariisnky ở thành phố Saint Petersburg.

Một cách tương tự trong tuần này tại Pháp, Đoàn kịch quốc gia Opéra de Paris vừa khai mạc mùa công chiếu trên màn ảnh lớn các tác phẩm bao gồm các vở múa ballet cũng như các vở kịch opera. Thông qua thỏa thuận hợp tác với chuỗi rạp hát UGC của Pháp, đoàn kịch quốc gia giới thiệu vào hôm nay (10/09/2020) tác phẩm ‘‘Manon’’ của Jules Massenet. Sau đó đến lượt trình chiếu trên màn ảnh lớn của các rạp xinê, vở kịch opera ‘‘Aida’’ của Giuseppe Verdi, vở kịch ‘‘Faust’’ của Gounod, vở múa ballet đương đại ‘‘Le Parc’’ của nhà biên đạo múa người Pháp Angelin Preljocaj, hay là vở múa cổ điển ‘‘La Dame de Pique’’ (Queen of Spades / Con Đầm Bích) của Tchaikovsky dựa theo truyện ngắn của Alexandre Pouchkine.

Điểm đáng ghi nhận là các tác phẩm được giới thiệu lần này tại các rạp chiếu phim đều là những tác phẩm mới, trong khi các vở múa hay vở kịch chiếu miễn phí trong thời kỳ phong tỏa chủ yếu là tác phẩm cũ. Trước mắt, việc công chiếu trực tiếp các tác phẩm này chủ yếu là để đa dạng hóa các kênh phân phối, việc bán vé vào rạp chiếu phim hay là đăng ký dịch vụ xem opera hay múa ballet trực tuyến đều có thể tạo thêm nguồn doanh thu để hỗ trợ các chương trình biểu diễn trực tiếp trên sân khấu của hai nhà hát lớn tại thủ đô Paris.

Theo kế hoạch, nhà hát Opéra Garnier (dành cho múa ballet) dự trù mở lại vào đầu mùa thu với vở múa khai mạc mùa ballet qua việc ra mắt các diễn viên ngôi sao, đồng thời giới thiệu các tác phẩm chọn lọc của thần tượng Rudolf Nureyev. Còn nhà hát Opéra Bastille (dành cho kịch opéra) chính thức mở lại vào cuối tháng 10/2020 với kiệt tác ‘‘La Traviata’’ của Verdi. Cả tháng trước đó, sân khấu này được dành cho các buổi hoà tấu hay biểu diễn nhạc cổ điển, trong đó quan trọng nhất vẫn là đêm nhạc Mozart, ngoài bản giao hưởng số 21, còn giới thiệu xen kẻ những đoạn hay nhất trích từ hơn 55 khúc giao hưởng của thiên tài người Áo.

Trong suốt thời gian phong tỏa, Đoàn kịch quốc gia Opéra de Paris đã bị thất thu khoảng 22 triệu euro trong khi đoàn này cần đến 40 triệu euro hàng năm để tài trợ hoạt động cho hai nhà hát lớn là Opéra Garnier và Opéra Bastille. Cho dù đã cắt giảm nhiều chi phí kể cả việc rút gọn chương trình biểu diễn, tăng thêm hợp tác với các mạng phim trực tuyến, phân phối qua các suất chiếu phim, nhưng đoàn Opéra de Paris vẫn đứng trước một bài toán nan giải : làm thế nào để duy trì việc làm của 1.700 nhân viên, trong khi đoàn Opéra de Paris đã mất hơn một nửa doanh thu do dịch Covid-19. Các khoản tài trợ của chính phủ Pháp (2 tỷ euro cho ngành văn hóa) có thể giúp cho tân giám đốc của đoàn kịch là Alexander Neef (45 tuổi người Đức) buộc phải nhậm chức sớm hơn, vào tháng 09/2020 thay vì đầu năm 2021 để lèo lái con thuyền qua các đợt sóng lớn.

Hầu hết các ban giám đốc của nhà hát quốc gia Staatsoper Unter den Linden tại Berlin, Teatro alla Scala tại Milano, Royal Opera House tại Luân Đôn, Staatsoper de Vienna tại Áo, Teatro de Fenice tại Venise đều đang trông chờ vào các nguồn tài trợ (bên cạnh thành phần khán giả) để có thể đạt được một mức thu nhập khả quan từ đây cho tới cuối năm, tạo điều kiện cho các nhà hát lớn sớm phục hồi. Một kịch bản lạc quan nhưng còn hơi xa vời đối với Metropolitan tại New York, ban giám đốc nhà hát lớn này đã dứt khoát quyết định chỉ mở cửa đón khách trở lại vào ngày 31/12/2020.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/11/2020(UTC)
viethoaiphuong
#504 Posted : Sunday, September 13, 2020 2:38:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)


Lady Gaga - Tắc kè hoa âm nhạc

Gia Trình - RFI - 12/09/2020
Lady Gaga là ngôi sao gây ấn tượng mạnh mẽ nhất giải MTV Awards năm 2020 với ca khúc Rain On Me. Không chỉ gây chú ý về thời trang khẩu trang trong đại dịch virus corona, điểm cộng lớn nhất cho Lady Gaga là sức sáng tạo không mệt mỏi.

Ca sỹ Poker Face luôn tìm cách gây sốc với thời trang dị thường, âm nhạc biến hóa, sexy hết mức như chú tắc kè hoa.

Hết thời kỳ gây sốc khán giả

Sau hơn một thập kỷ nổi tiếng, Lady Gaga từng gây sốc với thế giới giải trí bằng chiếc váy làm từ thịt tươi sống. Trong cuộc phỏng vấn với MC Truyền hình Oprah Winfrey, ca sỹ sinh năm 1986 nói rằng “Quá khứ là điều tôi thích thú. Đó là một phần trong hình thức nghệ thuật của tôi, mặc dù nó khá siêu thực với nhiều khán giả.”

Trở lại với album mới Chromatica năm 2020, Lady Gaga xuất hiện với mái tóc hồng rực sáng và những bản nhạc dance/pop quen thuộc. Tuy nhiên, gây sốc cho khán giả không phải là mục tiêu chủ đạo của Gaga mà giờ đây trọng tâm sự chú ý phải là âm nhạc. Theo chia sẻ của Gaga, việc gây sốc nhằm hướng sự chú ý của khán giả về những tổn thương tinh thần và thể chất mà nữ ca sỹ đã phải vượt qua trong thời gian dài.

Ít người để ý rằng Lady Gaga từng bị hãm hiếp liên tục năm 19 tuổi và bị hội chứng PTSD (rối loạn tâm sinh lý gây ra do tai nạn đó). Đau đớn về tinh thần kéo theo sự hành hạ về thể xác, Gaga từng chia sẻ như vậy khi cô mất kiểm soát trong cơn đau ám ảnh kéo dài. Vì vậy, cô là người đấu tranh cho phong trào #MeToo, chống quấy rối tình dục nhưng không tiết lộ thông tin về thủ phạm. Ngoài ra, triết lý âm nhạc mà cô hướng đến chính là nữ quyền, sự tự do, tình yêu. Điều này không nằm ngoài chủ đề của album mới Chromatica mang màu sắc vui vẻ, dễ nghe nhưng lại ẩn chứa cảm xúc sâu lắng. Elton John là giọng nam duy nhất xuất hiện trong album đầy chất nữ tính.

Nguồn năng lượng sáng tạo dồi dào

Từ năm 2008 đến nay, cứ trung bình 2 năm, Gaga trình làng một album mới. Để làm được điều đó, không đơn giản với bất cứ nghệ sỹ nào nếu thiếu vắng sức khỏe thể chất và tinh thần sáng tạo. Gaga làm được việc phi thường đó nhờ tài năng và kho năng lượng sáng tạo chưa bao giờ cạn.

Không chỉ vậy, cô còn chứng tỏ mình là một tắc kè hoa trong âm nhạc nhờ phổ âm nhạc rộng lớn, đủ sức phiêu lưu trong nhiều thể loại. Từ Jazz, Dance, Pop, Soul, R&B, Rock, Disco, Lady Gaga đều có thể biểu diễn phiêu ngang ngửa trên các sân khấu ca nhạc lớn. Hơn thế nữa, tên của cô luôn được xướng lên đầu tiên trong các chương trình live concert ghi nhận đóng góp nghệ thuật các tên tuổi lớn như Elton John, Sting, Steve Wonder hay lễ trao giải Oscar năm 2015.

Gaga có thể làm mới một ca khúc với màu sắc riêng mà vẫn giữ nguyên được chất của tác phẩm. Khán giả không quá xa lạ với hình ảnh cô vừa chơi piano, hay guitar vừa hát tạo nên dấu ấn riêng của một nghệ sỹ biểu diễn chuyên nghiệp. Đa dạng về phong cách là thế mạnh của Lady Gaga, vì thế, mức độ lan tỏa của ngôi sao ca nhạc này rất sâu rộng.

Sự ra đời của Chromatica cũng gây bất ngờ khi Gaga chọn dance/pop, disco để quay trở lại sân khấu năm 2020. Hai năm trước, cô đã gây ra “tâm bão” sự chú ý với diễn xuất trong phim ca nhạc A Star is born năm 2018. Ngoài chuyện phim giả tình thật với nam tài tử Bradley Cooper, Gaga được khen ngợi diễn xuất trong phim cũng như chất lượng âm nhạc do chính cô sáng tác. Trong lịch sử âm nhạc hiện đại, hiếm có ca sỹ nào tỏa sáng trên cả phim ảnh và âm nhạc, chưa nói đến bị chê tơi tả khi lấn sân sang phim ảnh. Ngoại trừ hai ngôi sao kỳ cựu Barbara Streisand và Cher từng đoạt giải Oscar diễn xuất lẫn giải Grammy cho âm nhạc.

Liệu lịch sử có sang trang mới với Lady Gaga không khi cô chứng tỏ sự bén duyên với cả hai miền đất hứa là âm nhạc và điện ảnh ? Khác với chất dance/pop trong Chromatica, album A star is born đậm đặc chất pop ballad với bản song ca mùi mẫn và tình tứ với Bradley, diễn viễn chính của phim. Khán giả không còn thấy một Gaga nổi loạn như trong Poker Face hay Bad Romance trong soundtrack nhạc phim. Thay vào đó, sự phức tạp nội tâm và tầng lớp cảm xúc đan xen thăng hoa trong giai điệu trầm buồn hơi pha chút country, pop/soul.

Ảnh hưởng của Madonna và David Bowie

Âm nhạc của Gaga ảnh hưởng từ rất nhiều nghệ sỹ thập niên 80 như Michael Jackson, Stevie Wonder nhưng rõ nét nhất là Madonna và ngôi sao nhạc rock David Bowie. So với Madonna, Gaga tìm cách làm mới rất đặc thù, mang bản sắc riêng cả về góc độ âm nhạc lẫn hình ảnh gây sốc. Nếu Madonna chủ yếu khai thác góc độ tôn giáo và tình dục, thì Lady Gaga tham vọng hơn thế. Cô hướng sự chú ý của dư luận vào các đề tài như tiền bạc, nghiện ngập, sự tự do, chủ nghĩa cá nhân, nữ quyền.

Đối với thần tượng rocker David Bowie, khán giả dễ nhận thấy cô học hỏi sự sáng tạo, cách tân hình ảnh cũng như lối tô vẽ khuôn mặt giống Bowie. Nhờ phổ âm nhạc rộng, cô nhảy sang cả jazz khi chọn song ca với Tonny Bennett thay vì chỉ chọn bạn biểu diễn truyền thống như Elton John trong thể loại pop/rock.

Gaga như khối rubic đa diện nhiều màu, khi khản giả càng xoay thì sự bất ngờ càng tiến xa hơn. Không ai phủ nhận được khát khao cống hiến cho nghệ thuật cũng như sự tìm tòi mới mẻ của nữ nghệ sỹ tắc kè hoa này.

(Theo Variety, Billboards)

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/13/2020(UTC)
viethoaiphuong
#505 Posted : Monday, September 14, 2020 5:39:58 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Âm thanh yêu đời của nhóm Bon Entendeur

Tuấn Thảo - RFI
Lần đầu tiên nghe qua các bản hoà âm của nhóm Bon Entendeur, ta có thể tưởng lầm rằng họ là những nhạc sĩ thuộc lứa tuổi cao niên, chủ yếu cũng vì các bài hát được họ ghi âm lại đều là những giai điệu xưa, đa phần là của thập niên 1960. Nào ngờ đâu, họ vẫn còn khá trẻ, ba thành viên của nhóm chỉ mới ở độ tuổi 26,27.

Được thành lập cách đây 8 năm, ban nhạc Bon Entendeur gồm ba thành viên ngoài đời là bạn thân. Nicolas Boisseleau, Arnaud Bonet và Pierre Della Monica từng gặp nhau vào năm 2005 tại thành phố Aix-en-Provence. Họ chơi thân với nhau vì cả ba đều có cùng một sở thích : dày công sưu tầm nhạc xưa trên mạng internet và rồi hoà âm lại qua phần mềm vi tính để tạo thành những bản remix khác thường mới lạ. Nhóm Bon Entendeur chủ yếu tập trung vào việc hòa âm lại các bản nhạc ăn khách nhiều thập niên trước trong làng nhạc Pháp.

Các giai điệu xưa, tưởng chừng như đã quên hẳn, nay bỗng nhiên tìm lại một sức sống mãnh liệt. Đó là trường hợp của "L'amour l'amour l'amour" do cặp bài trùng Jack Arel và Yves Stéphane sáng tác vào năm 1963 cho nam ca sĩ Marcel Mouloudji (đĩa nhựa Vogue 45 vòng). Theo hãng đĩa Sony Music, phiên bản này đã giúp cho bài hát ăn khách trở lại, hơn nửa thế kỷ sau ngày ra đời. Do giai điệu cũng được dùng làm nhạc nền phim quảng cáo, cho nên trong thời gian gần đây, khán giả ở Pháp khó thể nào mà không nghe nhạc phẩm này mỗi lần xem truyền hình.

Hiện tượng mới của phong trào French Touch

Trong việc sử dụng phần mềm của máy vi tính để tạo ra những bản remix khác lạ, hầu hết các tay DeeJay hoà âm chuyên nghiệp đều làm như vậy, thế nhưng nhóm Bon Entendeur lại tạo ra được một nét gì đó khá độc đáo cho riêng mình, khi kết hợp thêm giọng nói của các nhân vật nổi tiếng với một nền nhạc âm thanh điện tử trau chuốt lọt tai (qua các chương trình hoà âm dài dưới dạng mixtape). Giọng nói ở đây có thể là phần trích đoạn từ các bài phỏng vấn, lời thoại quen thuộc trong bộ phim kinh điển hay các đoạn văn qua cách đọc của các diễn viên nổi tiếng.

Cũng như bài diễn văn của mục sư Martin Luther King hay của cựu tổng thống Obama từng được minh hoạ bằng âm thanh tiếng nhạc, nhóm Bon Entendeur đã dùng cách này để thực hiện các bản hòa âm với giọng nói của các nhân vật nổi tiếng trong đó có các diễn viên Jeanne Moreau, Nathalie Baye, Jean Paul Belmondo, Gérard Dépardieu hay Jean Dujardin, cựu cầu thủ bóng đá Éric Cantona, nhà làm bánh ngọt Pierre Hermé, trong giới chính khách có bà cựu bộ trưởng Simone Veil hay cố tổng thống Jacques Chirac ….. Gần đây hơn, nhóm này đã hợp tác với các tên tuổi như nhà báo Patrick Poivre d'Arvor, nhạc sĩ Oxmo Puccino, diễn viên Pierre Niney và họ trở thành một hiện tượng đáng chú ý trong phong trào nhạc điện tử French Touch.

Khi mới vào nghề hòa âm, cả ba thành viên nhóm Bon Entendeur đã đơn thuần phổ biến các bản phối của họ trên kênh YouTube cá nhân, nhưng rốt cuộc bị chặn lại vì lý do tác quyền. Nhóm này chuyển sang các mạng khác để thực hiện các blog âm nhạc (như mạng SoundCloud hay SquareSpace). Cả nhóm thích sưu tầm dòng nhạc xưa trước hết có lẽ là để tránh rắc rối về mặt tác quyền. Khi bắt đầu thành công trên mạng, (video của họ thu hút gần 50 triệu lượt người xem) nhóm này mới mở rộng sự hợp tác với nhiều nghệ sĩ khác và việc xin khai thác bài hát xưa với người nắm giữ tác quyền cũng trở nên dễ dàng hơn.

Chuyến đi "Khứ Hồi" trong thời gian

Nhóm Bon Entendeur thành danh từ năm 2016 trở đi, khi các bản hòa âm của họ bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên các mạng âm nhạc trực tuyến. Các thành viên trong nhóm dung hòa công việc thường ngày (họ làm việc trong ngành truyền thông và mạng tin học) với chương trình biểu diễn tại các liên hoan nhạc điện tử như ‘‘Calvi on the Rocks’’ hay là ‘‘Big Festival in Biarritz’’ tại Pháp. Đồng thời, nhóm cũng thường đi biểu diễn hoà âm ở nước ngoài cho các cộng đồng Pháp kiều tại Montréal và Luân Đôn.

Trên đà thành công, nhóm Bon Entendeur trình làng album đầu tay vào cuối năm 2019. Mang tựa đề ‘‘Aller-Retour’’, tuyển tập này gồm 14 ca khúc nổi tiếng hòa âm lại và đúng như tên gọi của nó, album đưa người nghe thực hiện một chuyến đi ‘‘khứ hồi’’ xuyên qua bốn mùa, ngược dòng năm tháng. Thời gian tựa như một sân chơi đủ rộng lớn, để cho ba thành viên nghịch đùa, nhào nặn âm thanh một cách tinh ranh láu lỉnh.

Lối hoà âm của Bon Entendeur luôn tươi tắn, trong sáng vì theo lời của nhóm bạn trẻ, họ không mang tâm trạng của những kẻ chạnh lòng lưu luyến hoài niệm theo kiểu ‘‘bao giờ cho đến ngày xưa’’. Ngược lại, họ rất thích dòng nhạc của những thập niên trước, trong cách nắm bắt những cảm xúc tức thời, thể hiện những khoảnh khắc yêu đời trong niềm lạc quan tuyệt vời.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/14/2020(UTC)
viethoaiphuong
#506 Posted : Wednesday, September 16, 2020 5:54:31 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Covid-19: Ngày Di Sản Châu Âu bị xáo trộn


Tuấn Thảo - RFI - 15/09/2020
Theo thông lệ, Ngày Di Sản Châu Âu thường được tổ chức vào hai ngày cuối tuần vào tháng 9 hàng năm. Do bộ Văn hóa Pháp thành lập vào năm 1984, chương trình này cho phép công chúng vào thăm các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, mà ngày thường không tiếp đón khách tham quan. Năm nay, dịch Covid-19 đã làm xáo trộn toàn bộ chương trình sinh hoạt dự trù trong hai ngày 19/09 và 20/09/2020.

Hàng năm, Ngày Di Sản Châu Âu thu hút từ 10 đến 12 lượt khách thăm viếng. Các di sản kiến trúc được người Pháp đặc biệt yêu chuộng vẫn là các cơ sở hành chính cấp quốc gia, chẳng hạn như Phủ Tổng Thống Élysée, Phủ Thủ Tướng Matignon, Trụ sở Quốc Hội Palais Bourbon ….. các dinh thự này chỉ mở cửa cho công chúng vào viếng thăm miễn phí trong hai ngày mà thôi. Thế nhưng năm nay, mãi đến giờ phút chót, Bộ Văn Hóa Pháp mới thông báo các công trình nào sẽ mở cửa toàn bộ hay chỉ hoạt động bán phần, đi kèm với các quy định đặc biệt cũng như các điều kiện tiếp đón công chúng.

Trước mắt, do số ca lây nhiễm virus cornona đang có chiều hướng tăng mạnh trở lại, cho nên nhiều thành phố đã đơn thuần thông báo hủy bỏ chương trình sinh hoạt trong khuôn khổ Ngày Di Sản Châu Âu lần thứ 37. Trong số các vùng đông dân cư, Nice ở miền Nam nước Pháp là thành phố đi đầu, kế theo sau là thành phố Bordeaux. Thành phố này chẳng những hủy bỏ hai Ngày Di Sản 19/09 và 20/09 mà còn cấm tụ họp (hơn 10 người) trên đường phố cũng như trong công viên. Các sinh hoạt lễ lạc dù là trong khuôn khổ gia đình như đám cưới, sinh nhật, họp mặt sinh viên, khiêu vũ ngoài trời, liên hoan buổi tối, quán nhạc vỉa hè hay uống rượu ngoài phố đều hoàn toàn bị cấm và việc đeo khẩu trang trở nên bắt buộc ở khắp nơi.

Trước các quy định nghiêm ngặt, việc duy trì Ngày Di Sản và như vậy để cho công chúng tụ họp, xếp hàng để vào thăm các công trình hoàn toàn phản tác dụng. Hai thành phố Marseille và Montpellier cũng vừa hủy bỏ sự kiện văn hóa này, trong bối cảnh các biện pháp phòng dịch ngày càng trở nên gắt gao. Thành phố Reims tạm thời đóng cửa các di sản văn hóa, kể cả tòa tháp chuông của Nhà Thờ Đức Bà Reims, một trong những kiệt tác của dòng kiến trúc gothic.

Theo danh sách của bộ Văn Hóa Pháp, hiện giờ vẫn có hơn 10.000 địa điểm đã công bố tham gia vào chương trình Ngày Di Sản Châu Âu năm nay, tức tương đương với hai phần ba so với năm ngoái. Trong năm 2019, 15.500 cơ sở và di sản đã mở cửa đón khách thăm viếng, giúp cho Ngày Di Sản Châu Âu lập kỷ lục với 12 triệu lượt khách chỉ trong hai ngày. Một số hội đồng thành phố chủ trương duy trì sự kiện, nhưng vào giờ chót lại không nhận được sự đồng thuận của tỉnh trưởng, vốn là người quyết định sau cùng.


Tùy cơ ứng biến ? Mỗi tỉnh thành dĩ nhiên thích nghi theo biến chuyển của tình hình tại chỗ, nhất là những địa phương đã đầu tư trong năm qua vào các chương trình phục hồi văn hóa hay trùng tu các di sản kiến trúc. Thế nhưng, một số tỉnh thành khác vẫn muốn nối bước 4 thành phố Nice, Bordeaux, Montpellier và Marseille, phần lớn cũng vì các hội đồng thành phố sẽ phải huy động thêm nhân sự để áp dụng tới nơi tới chốn các quy định giãn cách xã hội đối với lượng khách tham quan đặc biệt đông đảo trong hai ngày cuối tuần.

Về phía thủ đô Pháp, Paris vẫn quyết định duy trì chương trình Ngày Di Sản Châu Âu lần thứ 37 với hai điều kiện quan trọng, đó là khách tham quan tuyệt đối phải đăng ký trên mạng để đặt chỗ trước, đồng thời khách phải tuân thủ ‘‘lối tham quan một chiều’’ cũng như đeo khẩu trang trong suốt thời gian thăm viếng.

Để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc tiếp đón công chúng, bộ Văn Hóa Pháp đã vạch sẵn một lộ trình tham quan khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ để lần lượt viếng thăm dinh thự đường Valois tức là trụ sở bộ Văn Hóa, Văn phòng của Hội Đồng Bảo Hiến và Đoàn Kịch Quốc Gia Comédie Française ….

Về phía các cơ quan nhà nước khác như Phủ Thủ Tướng Matignon, Tòa Quốc Hội Palais Bourbon, Tòa Đô Chính Paris, Tòa Thượng Viện tọa lạc trong khuôn viên vườn Luxembourg cũng như văn phòng chính của các bộ Nội Vụ, Giáo Dục, Nông Nghiệp đều có cùng quy định đặc biệt trong năm nay. Theo dự kiến, các chuyến viếng thăm bị hạn chế trong nửa tiếng đồng hồ, cứ 10 phút mới cho từng đợt khách tham quan vào bên trong, mỗi đợt là từ 10 người đến 15 người tối đa.

Tất cả các quy định nghiêm ngặt ấy hẳn chắc sẽ ‘‘tự động’’ hạn chế số lượng người tham gia vào chương trình sinh hoạt năm 2020. Dù vậy, một số công trình kiến trúc hay di sản văn hóa vẫn đắt khách, bất kể những điều kiện trong mùa dịch Covid-19, có khó khăn cách mấy. Bằng chứng là từ cả tuần trước Ngày Di Sản Châu Âu 2020, công chúng đã ồ ạt truy cập mạng để đặt chỗ trước, cho nên tất cả những ai muốn viếng thăm Điện Élysée, Điện Matignon, Marigny phòng tiếp khách của chính phủ hay Palais de l’Alma (trước đây là trụ sở Hội Đồng Thẩm Phán Cấp Cao), đều đành phải chờ cho tới năm sau.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/16/2020(UTC)
viethoaiphuong
#507 Posted : Friday, September 18, 2020 8:03:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Khoảnh khắc quyết định qua tài chụp ảnh của Cartier-Bresson

Tuấn Thảo - RFI - 17/09/2020
Phác họa lại chân dung của Henri Cartier-Bresson, một trong những nhiếp ảnh gia vĩ đại nhất thế kỷ 20, đó là tham vọng của Viện bảo tàng Ý Palazzo Grassi thông qua một cuộc triển lãm lớn tại Venise từ đây cho đến tháng 03/2021. Lúc sinh tiền, Henri Cartier-Bresson là một trong 5 thành viên sáng lập hãng thông tấn nhiếp ảnh Magnum, nổi tiếng trên khắp thế giới.

Trong sự nghiệp kéo dài hơn 50 năm, nghệ sĩ Pháp Henri Cartier-Bresson (1908-2004) đã để lại một di sản khá đồ sộ với hàng chục ngàn bức ảnh chụp. Do là nhiếp ảnh ‘‘phóng sự’’, cung cấp cho các tuần báo hay nguyệt san có uy tín quốc tế như Life, Stern, Epoca, Picture Post hay Paris Match, Henri Cartier-Bresson đã chu du bốn bể năm châu, để rồi đi vòng quanh thế giới từ lúc nào không hay. Tựa đề cuộc triển lãm là ‘‘Le Grand Jeu’’ hàm ý thế giới là một sân chơi khổng lồ, rộng lớn. Viện bảo tàng nghệ thuật đương đại Palazzo Grassi đồng tổ chức cuộc triển lãm này với sự hợp tác của Thư viện Quốc gia Pháp và Quỹ Henri Cartier-Bresson.

Từ vai trò ban đầu của một phóng viên nhiếp ảnh, ông đã nhanh chóng trở thành một nhân chứng lịch sử khi có mặt vào đúng thời điểm của nhiều sự kiện quan trọng chẳng hạn như tại Argentina, Mêhicô hay cuộc khủng hoảng tên lữa Cuba. Ồng cũng là một trong những nhà nhiếp ảnh Tây phương đầu tiên chụp hình phóng sự tại Liên Xô, thời hậu Staline. Một trong những phương trời xa, nhưng vẫn là nơi ông có quan hệ gần gũi gắn bó chính là châu Á, có lẽ cũng vì ông theo đạo Phật và vợ ông là người gốc Indonesia. Henri Cartier-Bresson từng đi công tác ở Java vào lúc Indonesia tuyên bố độc lập, ông đến Pakistan hay Miến Điện để chụp các nghi lễ tôn giáo, nếp sống sinh hoạt của các dân tộc thiểu số.

Nhưng có hai loạt ảnh chụp đã giúp cho tên tuổi của Henri Cartier-Bresson vang lừng khắp thế giới chính là bộ ảnh sưu tầm về lễ quốc tang tại Ấn Độ sau vụ ám sát lãnh tụ Gandhi. Bộ ảnh chụp thứ nhì được dành cho Trung Quốc trong giai đoạn những năm 1948-1949, thời lực lượng Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch buộc phải rút lui trước đà tiến của quân đội Mao Trạch Đông. Lúc đầu, nhà nhiếp ảnh người Pháp chỉ dự tính làm phóng sự trong vòng hai tuần, rốt cuộc ông ở lại Trung Quốc trong hơn 10 tháng. Ông buộc phải rời Trung Quốc trước ngày tuyên bố độc lập, khi mà các phóng viên nước ngoài đều bị trục xuất.

Sinh thời nổi tiếng nhờ cái tài quan sát và khả năng phi thường để nắm bắt khoảnh khắc, Henri Cartier-Bresson đến cuối đời đã chọn ra 385 bức ảnh chụp ông yêu thích nhất. Những bức ảnh này nằm trong bộ sưu tập chính gốc của một bậc thầy ‘‘Master Collection’’. Ban giám đốc Viện bảo tàng nghệ thuật đương đại đã đối chiếu nhãn quan của Henri Cartier-Bresson với góc nhìn của 5 nhân vật nổi tiếng : nhiếp ảnh gia người Mỹ Annie Leibovitz, đạo diễn người Đức Wim Wenders, nhà văn Tây Ban Nha Javier Cercas, Giám đốc Cục Nhiếp ảnh tại Thư viện Quốc gia Pháp Sylvie Aubenas và nhà sưu tầm François Pinault, vốn là chủ nhân của Palazzo Grassi.

Theo đề nghị, các nhân vật nổi tiếng này lựa chọn mỗi người khoảng năm mươi tấm hình từ “Bộ sưu tập yêu chuộng nhất” của nhà nhiếp ảnh Henri Cartier-Bresson. Mỗi người một sở thích, nhưng thông qua sự lựa chọn ấy, 5 nhân vật nổi tiếng trong lãnh vực sở trường của họ có thể chia sẻ quan điểm cá nhân, và như vậy họ đem lại một tầm nhìn khác khi đối chiếu cọ xát các nhãn quan đa chiều, nhìn từ nhiều góc độ khác nhau về công việc của nhà nhiếp ảnh Pháp.

Một trong những bức kiệt tác được kể tên nhiều lần chính là bức ảnh chụp mang tựa đề ‘‘Derrière la gare Saint-Lazare’’ (Phía sau nhà ga Saint-Lazare) mà ông Henri Cartier-Bresson đã thực hiện vào năm 1932. Tấm hình này sau khi được trưng bày tại Viện bảo tàng nghệ thuật hiện đại MoMA tại New York vào năm 1946 đã đạt mức kỷ lục 515.000 đô la nhân một cuộc bán đấu giá.

Bức ảnh cho thấy tài nghệ nắm bắt khoảnh khắc của Henri Cartier-Bresson, ông không những chụp một người đàn ông đang lấy đà nhảy vọt trên sân sau của nhà ga bị ngập nước, mà ông còn chụp luôn cái bóng phản chiếu của người đàn ông này, khi mà vùng nước ngập trở thành một tấm gương. Bức ảnh không những sống động nhờ nội dung mà còn cực kỳ sắc sảo trong bố cục. Thời còn trẻ, trước khi trở thành một nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp, Henri Cartier-Bresson từng theo đuổi ngành hội họa và học vẽ với hai thầy là André Lhote (trường phái lập thể) và Jean Cottenet (xu hướng hàn lâm). Ngoài ra ông còn học thêm rất nhiều, kể cả việc tạo chiều sâu trong bức ảnh theo sự dìu dắt của đạo diễn Jean Renoir, con trai của danh họa Auguste Renoir.

Khi đặt ống kính chụp ảnh tựa như khung hình của một bức tranh, Henri Cartier-Bresson có cái tài tạo ra những bố cục với độ chính xác cao như thể trong mắt ông lúc nào cũng có một chiếc compa, đo lường khoảng cách giữa các chi tiết thoạt nhìn có vẻ tản mạn rời rạc, nhưng khi kết hợp lại làm nổi bật mối liên kết mạnh mẽ, giá trị của bức ảnh vì thế cũng lóe sáng hẳn lên. Khái niệm ‘‘khoảnh khắc quyết định’’ do ông đề xướng, sau đó trở thành nền tảng của làng nhiếp ảnh hiện đại.

Một bức ảnh có vẻ dễ chụp như vậy lại đòi hỏi nhiều năm tay nghề, trao dồi tinh luyện cách đặt góc nhìn, sự tập trung và óc quan sát. Ông quan niệm rằng ảnh chụp là bản vẽ chân thành nhất của khoảnh khắc, khi mà câu hỏi đòi hỏi ngay lập tức một câu trả lời. Lối chụp hình của ông vì thế không chỉ đơn thuần mang tính minh họa mà còn giúp cho các tấm hình đường phố, hay bức chụp cuộc sống có giá trị như tranh vẽ. Có lẽ cũng vì Henri Cartier-Bresson đã nâng cái động tác đơn giản bấm máy chụp hình lên hàng nghệ thuật cao quý, mà sinh thời ông đã được nhiều người kính phục nể trọng, để rồi mệnh danh ông là ‘‘Con mắt của Thế kỷ’’.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/18/2020(UTC)
viethoaiphuong
#508 Posted : Saturday, September 19, 2020 7:08:42 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

TẠP CHÍ ÂM NHẠC

Màu đen kiêu hãnh trong ca khúc Say It Loud, I’m Black and I’m Proud

Thanh Hà - RFI - 19/09/2020
Dư âm vẫn còn sau cái chết của George Floyd, một người Mỹ da đen ở Minneapolis từ cuối tháng 5/2020. Trên các sân vận động hay đường phố tại Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới, hầu như mỗi ngày vẫn vang lên khẩu hiệu chống kỳ thị màu da. Hơn 50 năm trước phong trào Black Lives Matter, nhạc sĩ da đen James Brown từng hô vang niềm tự hào của người Mỹ gốc Phi làm nên lịch sử Hoa Kỳ với Say It Loud, I’m Black and I’m Proud.

Trên sân khấu nhà hát thành phố Dallas, bang Texas ngày 26/08/1968, chót vót trên đỉnh cao danh vọng, nhạc sĩ kiêm ca sĩ James Brown lần đầu tiên thể hiện ca khúc ông vừa hoàn tất trước đó hai tuần trong một phòng thu ở thành phố thiên thần, Los Angeles- California. Để ghi âm tác phẩm được mệnh danh là « bản tuyên ngôn không chính thức của người Mỹ da đen » này, một đêm thanh vắng, Brown xuất thần đòi cho bằng được một dàn đồng ca thiếu nhi để hét thật to niềm tự hào của những người Da Đen - I’m Black and I’m Proud.

Biến uất hận thành khúc hoan ca

Với khoảng 30 giọng ca còn non trẻ mà ông bầu của James Brown đã vội vã tập hợp được cho kịp buổi thu âm, tác giả đã chủ ý biến uất hận của những người nô lệ đem mồ hôi và nước mắt làm giàu cho những kẻ khác thành một khúc hoan ca, thành một khẩu hiệu đấu tranh, tiếp bước trên con đường từng được mục sư Martin Luther King khai mở :

« Chúng ta sẽ không ngừng đấu tranh cho đến khi giành được những gì thuộc về ta ».

Đó là một nước Mỹ mà tất cả phải có cơ hội thăng tiến như nhau. Brown lập lại phần nào yêu sách đã đi vào huyền thoại qua diễn văn của nhà đấu tranh Martin Luther King, I Have a Dream đọc trước đài tưởng niệm Lincoln tại thủ đô Washington ngày 28/08/1963 : « Nước Mỹ chưa thể bình yên cho tới khi nào người da đen giành được quyền công dân (…) công lý tỏa sáng »

1968 : Hoa Kỳ đỏ lửa

1968 Hoa Kỳ đang đỏ lửa sau vụ mục sư Martin Luther Kinh bị ám sát ngày 04/04/1968 tại Memphis. Hai tháng sau đến lượt cựu bộ trưởng Tư Pháp, thượng nghị sĩ Robert Kennedy, một tiếng nói bảo vệ người da đen khác của nước Mỹ, bị sát hại Los Angeles khi ông vừa đắc cử trong cuộc bầu cử sơ bộ California, đại diện cho đảng Dân Chủ ra tranh cử tổng thống. Nước Mỹ sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, mà trên các mặt trận ở một phương trời rất xa, đang có biết bao nhiêu người lĩnh Mỹ da đen đang đương đầu với tử thần.

Nước Mỹ những năm 1960 là thời điểm « Những người da đen vẫn tiều tụy lang thang nơi góc phố tối tăm, là kẻ lưu vong trên ngay mảnh đất quê hương mình » (Martin Luther King -I have a Dream).

Hình ảnh những xung đột về chủng tộc hàng ngày tràn ngập màn hình vô tuyến. Nhạc sĩ jazz thổi kèn trompette da đen, Miles Davis, đứng hút thuốc trước nhà hát mà hằng đêm ông vẫn là ngôi sao sáng trên sân khấu, đã bị một viên cảnh sát da trắng đánh vỡ đầu. Vẫn còn lại tới ngày nay bức ảnh đen trắng, Miles Davis bị thương ở đầu, máu loang trên áo, tay thì bị còng ngay trước cửa nhà hát Birdland Jazz Emporium trên Broadway, New York. Viên cảnh sát hành hung Miles Davis hôm ấy chắc chắn không thể ngờ rằng ông đáng đứng trước một một tượng đài của âm nhạc, người đã bắc cầu đưa những Ravel hay Debussy của Pháp vượt Đại Tây Dương, để tim đến với chiếc nôi của dòng nhạc jazz Hoa Kỳ.

Nghệ sĩ dương cầm Don Shirley cũng không may mắn hơn Miles Davis là bao. Dù tài hoa đến mấy, trong các vòng lưu diễn tại các bang miền nam nước Mỹ, nơi nạn kỳ thị người da đen còn rất mạnh, ông không được đối xử bằng 1 phần 10 so với chính người tài xế da trắng của mình.

Don Shirley chỉ đủ tiêu chuẩn để ngủ qua đêm trong những khách sạn tồi tàn dành cho người da đen. Còn tài xế của ông thì được ngả lưng trong những khách sạn tư cách hơn nhiều, những nơi xứng đáng để những người Mỹ da trắng dừng chân.

Funk, một khu vườn âm nhạc mới

Trong bầu không khí ngột ngạt đó nhạc phẩm Say It Loud, I’m Black and I’m Proud của James Brown đã mở ra một khung trời mới : đây không là khúc ca ai oán nói lên nỗi nhục nhằn, cảnh lầm than của những người nô lệ gia đen, như những sáng tác dựa trên nền của dòng Blues trước đây. Tác phẩm James Brown trình làng năm 1968 có thể được ví như một đóa hoa rực rỡ trong ngày lễ hội vui tươi với những nhạc cụ như một dàn đồng cộng hướng với đàn ghi-ta bass .

Quan trọng hơn nữa là trong ca khúc này nhạc sĩ người Mỹ đã cùng với tay trống Clyde Stubblefield mở ra một khu vườn mới trong thế giới nghệ thuật âm nhạc : đó là khu vườn của dòng nhạc Funk. Funk kết hợp nhiều thể loại từ Soul đến Jazz hay Rhythm&Blues mà ở đó James Brown đã là một bậc thầy. Chẳng vậy mà ông có biệt hiệu là the Godfather of Soul ? Ở đây Brown đã kết hợp thêm sự tìm tòi của tay trống Clyde Stubblefield để nhịp điệu thêm dồn dập vào lôi cuốn.

Tác phẩm để đời: Niềm kiêu hãnh là người Da Đen

James Brown đã đến với âm nhạc rất tình cờ. Tuổi thơ cơ cực Brown từng làm đủ mọi thứ nghề để kiếm sống : Lúc thì là kẻ đánh giầy, khi hát dạo trên đường phố trước khi tìm được một chỗ đứng trong dàn đồng ca ở nhà thờ.

Trên sân khấu cũng như ngoài đời, Brown lao vào cuộc sống như một võ sĩ quyền anh. Trong thế giới nghệ thuật, nhạc sĩ đa tài này đã ghi từng bàn thắng bằng rất nhiều mồ hôi và nước mắt.

Là một nhà soạn nhạc có giọng ca thiên phú, Brown còn là một vũ công ngoại hạng, là một nghệ sĩ xuất chúng làm chủ luôn cả nghệ thuật sân khấu với những bộ y phục hóa trang để đời trong mỗi đêm diễn. Mỗi buổi thu âm, mỗi ca khúc hay mỗi đêm trình diễn, không một chi tiết nào nằm ngoài tầm kiểm soát của tác giả.

Say It Loud, I’m Black and I’m Proud là tác phẩm mang nặng màu sắc chính trị nhất trong suốt 60 năm sự nghiệp của James Brown. Ông qua đời năm 2006 sau một cơn đau tim để lại Say It Loud, I’m Black and I’m Proud như một lời di chúc :

« Trong quá khứ người Mỹ da đen bị hành hạ và trải qua nhiều tủi nhục, đắng cay.

Đã đến lúc mọi người cùng nhau đứng lên, hô to niềm kiêu hãnh của màu da

Đã đến lúc đấu tranh đòi quyền bình đẳng

Đã đến lúc đôi tay cần lao của người da đen được quyền làm giàu cho chính họ

Đã đến lúc vùng lên, thà chấp nhận cái chết hiên ngang còn hơn mãi mãi phải quỳ gối … »

Năm 2004 tạp chí âm nhạc Mỹ Rolling Stone bình chọn Say It Loud, I’m Black and I’m Proud là một trong số 500 ca khúc độc đáo nhất mọi thời đại. Hơn 50 năm sau buổi trình diễn ban đầu ở Dallas, 14 năm sau ngày tác giả qua đời, niềm kiêu hãnh là người da đen của James Brown vẫn có tên trong danh sách uy tín đó.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/19/2020(UTC)
viethoaiphuong
#509 Posted : Sunday, September 20, 2020 2:39:41 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Hào quang nhạc rock trong mắt Annie Leibovitz

Tuấn Thảo - RFI
Trong làng nhiếp ảnh, Annie Leibovitz nổi tiếng là người chuyên chụp các nhân vật nổi tiếng, kể cả các ngôi sao nhạc rock, thần tượng điện ảnh, hay chính trị gia trứ danh. Bộ sưu tập gồm hơn 8 ngàn bức ảnh chụp của Annie Leibovitz đã được nhà triệu phú Thụy Sĩ Maja Hoffmann mua lại cho trung tâm văn hóa Luma.

Cuộc triển lãm dành cho những năm tháng khởi nghiệp (The Early Years) của Annie Leibovitz diễn ra từ đây cho tới cuối tháng Chín năm 2017 tại thành phố Arles, miền nam nước Pháp. Được tổ chức song song với Liên hoan nhiếp ảnh quốc tế Rencontres d’Arles (chính thức khai mạc đầu tháng Bảy năm 2017), cuộc triển lãm tập hợp các bức ảnh từ năm 1968 đến năm 1983, thời mà Annie Leibovitz gọi là những ‘‘năm tháng thực tập’’, trao dồi kinh nghiệm đối với một nhiếp ảnh gia còn non tuổi đời.

Được đào tạo tại trường nghệ thuật San Francisco Art Institute, bà ban đầu chọn ngành hội họa trước khi chuyển qua nhiếp ảnh. Những tác phẩm đầu tiên là loạt ảnh phóng sự về phong trào phản chiến tại Mỹ, thực hiện cho tạp chí Rolling Stone, lúc ấy vẫn còn là một tờ báo mới ra đời chứ chưa có tầm vóc và uy tín như bây giờ. Phong cách của bà chịu nhiều ảnh hưởng của hai bậc đàn anh là Henri Cartier-Bresson và Robert Frank, nhờ vậy mà tạo nên những bức ảnh chân dung hiện thực, nắm bắt trong những khoảnh khắc đời thường.

Sau khi chụp chân dung của John Lennon và Mick Jagger, cũng như phản ánh đợt vận động tranh cử của tổng thống Nixon vào năm 1972, và đợt phóng phi thuyền Apollo 17, Annie Leibovitz được giao trách nhiệm theo dõi đợt lưu diễn khắp nước Mỹ của Mick Jagger với ban nhạc The Rolling Stones.

Sau thành công này, bà trở thành người thực hiện các ảnh bìa cho tạp chí Rolling Stone, khi trở thành trưởng ban nhiếp ảnh. Annie Leibovitz ngồi ghế này cho tới năm 1983 rồi sau đó về làm việc cho tờ báo nổi tiếng Vanity Fair.


Cuộc triển lãm tại thành phố Arles mang tên là The Early Years (Những năm tháng mới vào nghề) nhưng cũng có thể gọi là ‘‘Những năm tháng Rolling Stone’’. Điều đó có thể giải thích vì sao trong cuộc triển lãm nà có rất nhiều bức ảnh của các ngôi sao ca nhạc, từ các bức chân dung khá trần trụi của ông hoàng reggae Bob Marley cho tới thiên tài nhạc jazz Louis Armstrong, chụp ở tư gia trong những năm tháng cuối đời.

Bên cạnh đó còn có các bức ảnh của Mick Jagger đang tung hoành trên sân khấu như mãnh thú sổ chuồng, nhóm Beach Boys hay Bruce Spingteen đang trên đường lưu diễn, các danh ca như Joan Baez, Tina Turner, Marvin Gaye hay Leonard Cohen ở hậu trường trước giờ lên sân khấu. Bob Dylan, Patti Smith hay Elton John thì lại không thích chụp chân dung cho nên chuyên trổ tài ‘‘nấp mình trong ánh sáng’’, lộ diện mạo nhưng không hề lộ chân tướng.

Một trong những tấm hình quan trọng nhất là bức chụp đôi vợ chồng Yoko Ono và John Lennon. Yoko Ono xõa tóc nằm im với đôi mắt như đang mơ màng, trong khi John Lennon nằm trong tư thế ‘’thai nhi’’ ôm hôn người vợ. Bức ảnh này được thực hiện tại nhà riêng của hai vợ chồng John Lennon (ngày 8/12/1980), vài giờ trước khi John bị ám sát.

Có lẽ cũng vì thế mà tấm hình này đã trở nên cực kỳ nổi tiếng khi được đăng trên trang bìa tạp chí Rolling Stone. Nhưng đối với Annie Leibovitz, do hoàn cảnh bức ảnh này lại mang thêm một ý nghĩa khác, bức ảnh vinh danh tình yêu nhưng nó gợi lại cho bà nhiều kỷ niệm đau buồn, đến nỗi mỗi lần xem lại bà không cầm được nước mắt.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/20/2020(UTC)
viethoaiphuong
#510 Posted : Monday, September 21, 2020 1:21:52 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)


Bí quyết sáng tác Sorry Seems To Be The Hardest Word

Tuấn Thảo - RFI
Bạn có biết đâu là điểm chung giữa thiên tài nhạc jazz Ray Charles, một bộ phim Mỹ với thần tượng điện ảnh Paul Newman và một ban nhạc boys band một thời đình đám tại Anh ? Mối tương quan giữa ba cái tên mà thoạt nhìn chẳng có liên hệ gì với nhau chính là tình khúc Sorry Seems To Be The Hardest Word, của hai tác giả Elton John và Bernie Taupin.

Năm nay đánh dấu 40 năm thành công của ca khúc này, và dĩ nhiên bài hát vẫn nằm trong chương trình biểu diễn cuối cùng của Elton John. Vào năm 70 tuổi, nam danh ca người Anh đã tuyên bố giải nghệ (hôm 25/01/2018) để dành thời gian cho gia đình. Vòng lưu diễn này mang tên "Farewell Yellow Brick Road" gồm tổng cộng 300 buổi sẽ lần lượt diễn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, kéo dài cho tới tận2021, cơ hội để cho Elton John ngỏ lời cảm ơn khán giả trên sân khấu, vì như ông nói, nhờ sự yêu mến của người nghe mà ông có được một sự nghiệp bền vững như vậy.

Được phát hành vào cuối năm 1976, bản nhạc Sorry Seems To Be The Hardest Word ngự trị trên thị trường Anh Mỹ (Top Ten) trong vòng 10 tuần lễ, đạt tới ngưỡng một triệu bản cuối tháng Giêng năm 1977, trước khi nhường ngôi lại cho hai hiện tượng lập kỷ lục thời bấy giờ là khúc đàn thần sầu Hotel California của nhóm Eagles (phát hành vào tháng 03/1977) và bản tình ca How Deep is Your Love của ban tam ca Bee Gees trích từ bộ phim Cơn sốt chiều thứ bảy (Saturday Night Fever phát hành vào tháng 09/1977).

Ngay vào thời điểm phát hành, bài hát của Elton John từng được chọn làm ca khúc chính của bộ phim Slap Shot (1977) của đạo diễn George Roy Hill với ngôi sao màn bạc Paul Newman trong vai chính. Sau này, bản nhạc được Mary J. Blige ghi âm lại làm nhạc nền cho bộ phim Nhật ký Tiểu thư Bridget Jones tập nhì. Trong số các bản ghi âm lại có các giọng ca lẫy lừng như Joe Cocker, phiên bản của Richard Marx hòa quyện với tiếng kèn của Kenny G.

Bài hát này cũng là bản ghi âm cuối cùng của Ray Charles, vài tháng trước khi ông mất vì bệnh ung thư gan. Elton John cho biết là sau đó mỗi lần ông hát bài này, ông lại nhớ tới những ngày tháng cuối cùng của Ray Charles, nhiều kỷ niệm đẹp mà buồn. Cũng vào khoảng thời gian đầu những năm 2000, Elton được mời góp giọng vào phiên bản ghi âm của Blue, nhóm boys band người Anh ăn khách thời bấy giờ. Nhờ phiên bản này mà một lần nữa ca khúc của Elton John đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Anh và nhiều quốc gia châu Âu.

Thành danh vào cuối những năm 1960, Elton John tính tới nay đã bán hơn 300 triệu đĩa hát, đoạt hàng loạt giải thưởng trong đó có 19 giải Brit Awards (kể cả giải vinh danh thành tựu sự nghiệp Brit Icon), 6 giải Grammy, 14 giải Tony dành cho sân khấu nhạc kịch và một giải Oscar dành cho ca khúc chủ đề bộ phim The Lion King Vua Sư Tử (Can You Feel The Love Tonight). Trong suốt nửa thế kỷ sự nghiệp, ông đã gầy dựng uy tín của một melody maker, một tác giả chuyên đi tìm những giai điệu sắc sảo mà dễ nhập tâm.

Được đào tạo bài bản trong lãnh vực nhạc cổ điển, Elton John từng đoạt giải nhất đàn dương cầm vào năm 11 tuổi Nhạc viện thành phố Luân Đôn (Royal Academy Music). Thế nhưng ông không đủ sự cần mẫn chăm chỉ để trở thành nhạc sĩ piano chuyên nghiệp, đòi hỏi phải luyện tập thường xuyên nếu muốn biểu diễn với các dàn nhạc giao hưởng. Đổi lại Elton John hấp thụ rất nhanh, ông có cái thú sưu tầm rất nhiều đĩa hát từ khi còn trẻ cho tới tận bây giờ (bộ sưu tập của ông gồm hơn 70.000 băng đĩa) và nhờ vậy mà làm giàu thêm kiến thức : càng nghe ông càng thấm nhuần các luồng ảnh hưởng khác nhau, đồng thời càng nghe các nghệ sĩ khác càng giúp cho ông đi tìm một nét riêng cho mình.

Từ vốn liếng âm nhạc cổ điển ban đầu (Chopin và Bach), Elton John tự học thêm lối dùng hợp âm phức điệu với dòng nhạc gospel (phúc âm), cách chơi đàn thuần chất nhạc blues, phân chia 12 nhịp theo kiểu vuốt phím boogie woogie của trường phái New Orleans. Về nhạc jazz ông rất ngưỡng mộ cái tài biến tấu linh hoạt của Ray Charles, còn được mệnh danh là Genius (Thiên tài). Về nhạc rock Elton John dư thừa bản lĩnh để chọi lại với các ban nhạc lừng danh quốc tế như The Rolling Stones, The Beatles, The Beach Boys. Chính cũng vì sân chơi nhạc rock đã quá đông người cho nên Elton John mới chọn nhạc pop làm sở trường sáng tác. Elton John sau này cũng chia sẻ các đĩa hát quý hiếm và có giá trị về mặt sáng tác qua các chương trình phát thanh đặc biệt.

Riêng về mặt sáng tác, khi nhắc tới The Beatles người ta nghĩ tới ngay cặp bài trùng John Lennon - Paul McCartney, nhóm The Rolling Stones thì có cặp song sinh ngỗ nghịch (Glimmer Twins) Mick Jagger – Keith Richards, ban nhạc Led Zeppelin thì có bộ đôi song hành Jimmy Page và Robert Plant. Trong trường hợp của Elton John, tuy là ca sĩ hát solo, nhưng sự thành công vang dội và vượt bực của ông một phần lớn là do đồng tác giả người Anh Bernie Taupin. Hai người gặp nhau vào năm 1967, tức cách đây nửa thế kỷ.

Tác giả Bernie Taupin chủ yếu đặt lời, dựa vào ngữ điệu của ca từ câu chữ, Elton John mới soạn ra những tiết tấu giai điệu sao cho hợp với lời ca. Nói cách khác, cặp bài trùng này phân công rõ ràng, đầu tiên sáng tác lời, rồi sau đó mới tính đến việc soạn nhạc. Theo lời kể của Bernie Taupin, trường hợp của bài Sorry Seems To Be The Hardest Word hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc làm việc của họ. Bản nhạc được viết vào cuối năm 1975 trong lúc cả hai tác giả có mặt tại Los Angeles.

Ngồi mò mẫm trên đàn piano, bỗng nhiên Elton John tìm ra một chuỗi nốt nhạc và ngẫu hứng hát lên câu đầu tiên : What do I do to make you love me (Ta phải làm gì để người vẫn yêu ta). Bản thân Elton thấy câu mở đầu này chẳng có gì xuất sắc, thế nhưng Bernie Taupin lại hoàn toàn nghĩ điều ngược lại : giai điệu tuôn chảy tựa như dòng lệ tuôn trào, dòng chữ nảy sinh một cách chân tình, tự nhiên ở chỗ : cứ nghĩ sao thì hát vậy.

Bài hát được hoàn tất chỉ trong 10 phút đồng hồ, từ câu hát mở đầu của Elton John, tác giả Bernie Taupin phác họa ra câu chuyện của một mối tình tan vỡ, một người (đàn ông) than van về số phận duyên kiếp, nhưng khóc than làm chi, níu kéo được gì khi người yêu đã nhất quyết dứt áo ra đi. Thành công của bài hát này thay đổi nhiều cung cách sáng tác của cặp bài trùng Elton John và Bernie Taupin.

Elton John cho biết kể từ năm 1977 trở đi, ông chỉ thích sáng tác những bài hát trong vòng 15 hay 20 phút, nếu cứ loay hoay mãi để mò mẫm ca khúc, điều đó có nghĩa là có gì đó bất ổn trong giai điệu, vướng mắc trong ca từ. Bí quyết sáng tác của Elton John nằm ở chỗ đó : hầu hết các ca khúc ăn khách nhất của ông có thể rất cầu kỳ trau chuốt trong lối hòa âm phối khí, nhưng về mặt giai điệu lại dựa trên nguyên tắc căn bản : biểu cảm sáng tác, ngỏ hồn trực giác.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/21/2020(UTC)
viethoaiphuong
#511 Posted : Tuesday, September 22, 2020 2:04:33 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Vladimir Horowitz, chàng kỵ sĩ cuối cùng của trường phái âm nhạc lãng mạn

Hoài Dịu - RFI
« Quỷ satan trên phím đàn », « cơn lốc xoáy thảo nguyên », ông là một trong những nghệ sĩ kiệt xuất của lịch sử dương cầm, mà trong đó chúng ta có thể tìm thấy những tên tuổi vĩ đại khác như Chopin, Liszt, Rachmaninoff, Rubinstein, Richter, Michelangeli và Martha Argerich. Nghệ sĩ piano huyền thoại ấy không ai khác mang tên Vladimir Horowitz (1903-1989), người đã khiến cho những đôi tai khó tính nhất tâm phục bởi lối chơi táo bạo đầy ma thuật, nhưng luôn dào dạt nhạc cảm.

Vladimir Horowitz sinh trưởng trong gia đình khá giả, trí thức, người Ukraina gốc Do Thái. Ba mẹ ông đều chơi piano rất giỏi, hơn nữa lại giao du với những bậc thông thái về âm nhạc như Anton Rubinstein, Alexandre Scriabine nên điều này có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển tài năng của ông sau này.

Mẹ ông , Sofia Horowitz, là người dạy những nốt nhạc đầu tiên trên phím đàn khi ông năm tuổi. Năm 1912, Horowitz được nhận vào nhạc viện Kiev và tình cờ theo học tại lớp của Vladimir Puchalski, cũng là thầy giáo dạy piano của mẹ mình.

Tuy nhiên, sau một thời gian, với phương pháp sư phạm khá sơ lược, phần lớn những giờ học chỉ được tóm tắt bằng những chuỗi mắng nhiếc cậu bé, Horowitz thật sự chán nản. Puchalski từng nói với ba mẹ của ông rằng : « Con trai của ông bà thật tồi tệ, nó chẳng có kỉ luật gì cả… Nó chả có gì cả ! Nó chơi đàn quá nhanh và quá to »

Vốn là một cậu bé có cá tính, Vladimir Horowitz chắc chắn rằng không muốn bị gò bó vào bất cứ điều gì. Có lẽ ngay từ cái tuổi ấy, cậu đã có ý thức đi tìm dấu ấn cá nhân qua phương tiện biểu đạt là cây đàn piano.

Tại sao lại phải chơi đàn giống như những người khác ? Tại sao phải xử lý kĩ thuật, âm thanh và câu nhạc một cách rập khuôn như vậy? Cá tính trong nghệ thuật, có phải là điều cần thiết hay sao? Và từ đó Horowitz bắt đầu cảm thấy thất vọng về thầy giáo Puchalski, tự mình đi theo lối khác, tìm kiếm những ngón đàn mới, âm sắc và sự biểu cảm riêng mang tên Horowitz.

Năm 1920, Vladimir Horowitz tốt nghiệp nhạc viện với bản Concerto số 3 của Rachmaninov vốn được coi là một trong những tác phẩm khó nhất hành tinh. Đây là bệ phóng giúp ông bắt đầu sự nghiệp sáng chói trên lãnh thổ Xô Viết (1922-1925). Mùa thu năm 1925, Horowitz có chuyến lưu diễn đầu tiên tại Đức, sau đó ở Paris, Luân Đôn, Roma.

Năm 1928, tại New York ông trở thành nghệ sĩ độc tấu dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Thomas Beecham và được vinh danh như một trong những nghệ sĩ dương cầm kiệt xuất thời bấy giờ, sánh vai cùng Serge Rachmaninoff, Josef Lhévinne hay Josef Hofmann.

Con đường sự nghiệp của Horowitz không phải lúc nào cũng trải đầy hoa cỏ thơm mát. Có những lúc ông cảm thấy mệt mỏi bởi sự sâu sát thái quá của người vợ trong việc lên lịch diễn, tổ chức phỏng vấn, thậm chí vào những cuộc gặp gỡ của chồng. Mang nặng trên vai áp lực của một nghệ sĩ dương cầm số 1 thế giới, luôn mải miết đua theo những buổi hòa nhạc ngày càng dài và nặng, hơn nữa sự ra đi vĩnh viễn của cha mẹ và con gái đã làm cho Horowitz mất thăng bằng về tâm lý dẫn tới trầm cảm nặng.

Người mà công chúng ngưỡng mộ vì những rặng âm thanh du dương bất tận, giờ đây bỗng dưng chơi đàn một cách nhạt nhẽo, khô khan thậm chí hơi thô bạo. Ba lần trong cuộc đời, Horowitz quyết định tạm xa khán phòng hòa nhạc lộng lẫy, thời gian có khi kéo dài tới 12 năm, để chữa bệnh và tìm lại phong thái cho chính mình trước công chúng.

Tuy nhiên, những giai đoạn ở ẩn của ông chỉ là sự gián đoạn với sân khấu chứ không phải là sự cắt đứt, lãng quên trong âm nhạc. Thời gian đó ông tập trung vào việc ghi âm và cho ra đời nhiều đĩa nhạc có giá trị. (Concerto n° 1 de Tchaïkovski, thu âm năm 1953 với George Szell)

Thế nhưng, công chúng như bị kích động khi gặp lại một Horowitz hầm hập đam mê sau mỗi lần ông trở lại sân khấu. Phép màu của người nghệ sĩ dương cầm huyền thoại này, đó là đặt mình vào vị trí của nhà soạn nhạc đã viết ra tác phẩm mà ông sẽ chơi, không bao giờ chơi một bản nhạc mà không hiểu cặn kẽ tính cách, con người đã sinh ra nó.

Thêm vào đó, những ngón tay của ông gieo rắc một cách kinh ngạc những biến hóa qua việc khai thác tối đa những âm sắc trên đàn piano. Ông đã chơi nó như một dàn nhạc. Hay nói cách khác, cái mà ông chơi trước hết không phải là "piano" mà là "âm nhạc”, cây đàn piano chỉ là phương tiện nhất định để biểu đạt mà thôi.

Về điểm này, Horowitz có cùng quan điểm với Chopin, coi những bài tập kĩ thuật là thứ yếu, và nhạc cảm trong tiếng đàn mới là điều gần gũi nhất với con người. Trong danh mục biểu diễn của ông, hiếm hoi lắm công chúng mới tìm thấy vài tác phẩm thuộc trường phái cổ điển, hay baroque như của Beethoven, Mozart, Scarlatti… Suốt cuộc đời mình, Vladimir Horowitz chỉ dành tâm huyết cho những nhà soạn nhạc thuộc chủ nghĩa lãng mạn, đặc biệt là Liszt, Chopin, Rachmaninov, Scriabine và Tchaïkovski.

Horowitz đã đi vào huyền thoại âm nhạc theo cách như vậy, là phong thái phóng túng và những nét nhạc khó tiên liệu, là sự thiên biến vạn hóa đôi khi như thiên thần tung hứng từng giọt đàn pha lê lóng lánh, khi lại tựa hồ quỉ dữ, gieo rắc những âm thanh vang động như núi lửa tuôn trào.

Năm 1989, xuất hiện dòng tít trên tạp chí New York Times « Vladimir Horowitz, Người khổng lồ Piano, đã từ trần », khẳng định thêm lần nữa tài năng kiệt xuất của người con Ukraina. Và cho đến tận ngày nay, Vladimir Horowitz vẫn là nghệ sĩ dương cầm được trả tiền cát sê cao nhất hành tinh.


viethoaiphuong
#512 Posted : Thursday, September 24, 2020 6:16:28 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

(AFP) – Thần tượng của làng nhạc Pháp Juliette Gréco qua đời, thọ 93 tuổi. Sau hơn 60 sự nghiệp, nghệ sĩ được mệnh danh là « linh hồn của khu phố Saint Germain » Paris vĩnh viễn rời xa sân khấu và khán giả hôm 23/09/2020. Bà là người đã đưa những sáng tác của các thi hào như Boris Vian hay Jacques Prévert đến vào thế giới âm nhạc. Julette Gréco từng cộng tác với những tên tuổi sáng chói nhất của làng nhạc Pháp. Léo Ferrré viết tặng bà Jolie Môme còn Serge Gainsbourg thì đã cùng với Juliette Gréco đi vào huyền thoại qua bản La Javanaise.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/24/2020(UTC)
viethoaiphuong
#513 Posted : Saturday, September 26, 2020 11:09:33 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Ed Sheeran - Chàng trai vàng nước Anh

Gia Trình - RFI - 26/09/2020
Năm 2020 đánh dấu một năm tràn ngập hạnh phúc đối với chàng trai vàng nước Anh, Ed Sheeran. Ca sỹ nhạc pop vừa chào đón con gái đầu lòng với người bạn gái lâu năm Cherry Seaborn trong tháng 9 năm nay. Giọng ca của bản ballad Perfect được thêm chức danh mới “làm cha” bên cạnh hàng loạt vai trò nhạc sỹ, ca sỹ, diễn viên, nhà sản xuất.

Tài năng trẻ Anh Quốc

Có thể nói Ed Sheeran là một chàng trai vàng nước Anh về mặt tài năng cũng như vẻ đẹp âm nhạc với vẻ ngoài xù xì, cục mịch. Âm nhạc của Ed Sheeran đủ sức cuốn hút mọi lứa tuổi nhờ sự đa dạng về thể loại cũng như tính triết lý sâu sắc. Thống kê Pollstar cho thấy chuyến lưu diễn Divide Tour năm 2019 của Sheeran thu về tổng cộng 737 triệu đôla Mỹ, phá vỡ kỷ lục của nhóm U2 thiết lập năm 2011 là 735 triệu đôla. Con số này phản ánh được sức hút nam châm của Sheeran với khán giả toàn cầu, bên cạnh số lượng đĩa hát tiêu thụ lên đến 150 triệu bản.

Tuy nhiên, sự nổi tiếng luôn có mặt trái không thể tránh khỏi. Ca sỹ sinh năm 1991 phải tạm nghỉ một năm kể từ tháng 10 năm 2015 khi đối mặt với việc lạm dụng thuốc và chất kích thích do tiệc tùng liên miên. Giọng ca vàng xứ sở sương mù đã may mắn bởi người bạn gái Seaborn giúp anh thoải khỏi vũng lầy đó. Hai người sống chung kể năm 2015, kết hôn đầu năm 2019 và tình yêu đẹp giúp anh lấy được thăng bằng. Nhờ cắt giảm tiêu thụ bia và áp dụng thực đơn giảm cân, anh đã giảm gần 23 kg (50 pounds).

Hình bóng người bạn gái và tình yêu luôn xuất hiện trong ca khúc của Ed Sheeran như Remember the name, Perfect, Thinking out loud như quà tặng vô giá về tinh thần. Lời ca trong Remember the name dành tặng cho Cherry Seaborn “My wife wears red, but looks better without the lipstick” (Vợ tôi mặc cả cây đỏ nhưng trong còn tuyệt hơn nếu không đánh son”.

Sự giản dị làm nên thành công

Lý giải về sức hút âm nhạc của Ed Sheeran cần có cái nhìn toàn diện. Đơn cử như ca khúc nghe rất mộc mạc, giản dị The Shape of You (Hình bóng em) trụ hạng hơn một năm trong bảng xếp hạng Billboard top 100 ca khúc yêu thích nhất. Đây cũng là bài hát được phát sóng nhiều nhất trên kênh Spotify với 1,5 tỷ lượt và đồng thời đạt 3,2 tỷ lượt xem trên kênh Youtube.

Ca từ bài hát mộc mạc nhưng toát lên được sự chân thành, cởi mở. Hình ảnh Ed Sheeran luôn được ghi tạc như một chàng trai hàng xóm hiền lành, giản dị và chân tình. Đó là yếu tố tạo nên sự khác biệt của Sheeran với đám đông ca sỹ khác, bàn đạp cho thành công xuất sắc về thương mại của nghệ sỹ. Ngoài ra, trong video clip bài hát, anh khéo léo chọn bạn diễn là một cô gái da màu hình thể khỏe khoắn trong vai đôi tình nhân. Điều này khiến cho thông điệp tình yêu vượt xa khỏi ranh giới sắc tộc, màu da thêm sức mạnh với đại đa số khán giả.

I'm in love with the shape of you ; We push and pull like a magnet do ; Although my heart is falling too ; I'm in love with your body.

Anh yêu hình dáng của em ; Chúng ta xô đẩy như những thỏi nam châm ; Mặc dù trái tim anh đã đổ vì em ; Anh yêu hình dáng của em.

So với bản ballad Perfect, rõ ràng The Shape of You có giai điệu đơn giản và lặp lại hơn rất nhiều, nhưng tại sao nó lại hấp dẫn khán giả đến kỳ lạ. Xét về giai điệu, ca khúc sử dụng vòng lặp với bốn hợp âm (chords) trong giai điệu nên rất dễ nghe với khán giả nhạc pop. Sự hài hòa về âm thanh giữa nhịp trống, guitar gợi nhớ giai điệu quen thuộc như Cheap Thrills của Sia (2016) hay No Scrubs (1999) của nhóm TLC. Giai điệu bài hát rất dễ nhớ, đóng khung trong 5 hợp âm cơ bản.

Cần nói thêm rằng sử dụng vòng lặp trong giai điệu là nét đặc trưng của Ed Sheeran. Không phải lười biếng hay thiếu kiến thức căn bản nhạc lý, anh xây dựng được cấu trúc âm nhạc như vậy có thể có hiệu quả mạnh mẽ khi biểu diễn live. Khi đứng trên sân khấu, vòng lặp âm nhạc phát huy sức mạnh như phương tiện thu phát trực tiếp, nghệ sỹ biểu diễn có thể thêm thắt nhiều chất liệu để cho bài hát có bề dày âm thanh hơn.

Triết lý âm nhạc sâu sắc

Không chỉ đơn thuần chất liệu âm nhạc, Ed Sheeran chứng tỏ gu âm nhạc khá nhạy bén, sát sườn với thị hiếu công chúng, đặc biệt khán giả trẻ. Về mặt thương mại và mức độ cầu tiến, anh chịu khó thể nghiệm rất nhiều thể loại khác nhau, điển hình trong album mới nhất No.6 Collaboration (2019).

Đó là sự kết hợp của rap, pop, latin, techno và rock, hứa hẹn sẽ đem lại món ăn tinh thần bất ngờ, lạ lẫm cho khán giả. Về mặt triết lý, âm nhạc Ed Sheeran luôn hướng đến vẻ đẹp bên trong, sự tự tin, đặc biệt về ngoại hình trong thế giới rất cầu toàn về hình thức. Ca khúc Beautiful people hay Shape of you đều phản ánh góc nhìn thiện cảm, không phân biệt đối xử với con người màu da, sắc tộc hay ngoại hình. Ví dụ trên cũng hé lộ phần nào về tính cách điềm đạm, hướng nội, tình cảm như Ed Sheeran.

Chia sẻ với tờ Variety, anh nói rằng “Tôi không thể sống xa vùng Suffork, Anh quốc. Tôi có thể thăm thú Los Angeles trong vài ngày nhưng không thể sống ở đó hay New York. Khi quay lại quê hương, tôi thấy tràn ngập sức sống. Tôi không phải người Mỹ, không thuộc về nước Mỹ”. Đồng thời, Ed Sheeran tỏ ra hướng nội khi bày tỏ sự lo ngại với đám đông : “Tôi không ngại nói chuyện với mọi người nhưng khi họ chụp ảnh hay quay phim tôi. Tôi có cảm giác kỳ lạ như tôi không còn là người bình thường”.

Album No.6 Collaborations Project ra mắt năm 2019 là album phòng thu thứ 4 của Sheeran. Sản phẩm này đánh dấu một nỗ lực hợp tác với các nghệ sỹ trẻ, mang tính giải trí cao. Cụ thể, anh bắt tay phối hợp với các nghệ sỹ đương đại như Camila Cabello, Khalid, Cardi B, Justin Biber.

Bản hit đầu tiên là I don’t care hợp tác với Justin Biber gặt hái thành công rực rỡ vì phù hợp khẩu vị pop teen từ âm nhạc đến video clip hóm hỉnh. Remember my name tạo một màu sắc mới mẻ với hai ngôi sao kỳ cựu rap/hip hop Eminem và 50 Cent, trong khi Beautiful People hợp tác với ngôi sao Khalid. Giai điệu âm nhạc eletronic quen thuộc với Khalid được khai thác triệt để với giai điệu đơn giản, kèm bộ gõ của Ed Sheeran. Đáng chú ý nhất, ca khúc Blow là lựa chọn rock’n’roll đầy thú vị khi anh chia lửa sân khấu với hai ngôi sao tên tuổi Chris Stapleton & Bruno Mars.

Âm nhạc của Ed Sheeran là miền đất hứa cho khán giả yêu nhạc vì sự khám phá không mệt mỏi cũng như triết lý âm nhạc thâm thúy. Với vai trò mới là người cha, hãy cùng chờ đợi xem chàng trai vàng nước Anh sẽ gây ra bất ngờ tiếp theo nào.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/26/2020(UTC)
viethoaiphuong
#514 Posted : Friday, October 2, 2020 5:22:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Vincent Niclo thử sức với dòng nhạc Tango

Tuấn Thảo - RFI
Trong số những giọng ca nam mới thành danh trong những năm gần đây, Vincent Niclo có lẽ là người biết chịu đựng nhất, làm việc chăm chỉ cần mẫn. Chỉ trong vòng 6 năm, anh cho ra mắt 5 tập nhạc, mỗi album với một sắc màu âm nhạc khác nhau. Mùa thu năm 2018, Vincent Niclo thử sức với dòng nhạc Tango, với album cùng tên.

Đây là album phòng thu thứ sáu của giọng ca tenor người Pháp. Đúng với tên gọi của nó, tập nhạc này chủ yếu bao gồm các bản tango kinh điển, từng ăn khách qua nhiều giọng ca nổi tiếng (trong đó có ông hoàng tango Carlos Gardel và bộ Tứ Quý của dòng nhạc tango argentino là Roberto Goyeneche, Edmundo Rivero, Hugo del Carril, Julio Sosa).

Bên cạnh đó còn có hai sáng tác mới mà nhóm sản xuất Skydancers đã sáng tác riêng cho Vincent Niclo, toàn bộ album đều dùng lối hoà âm phối khí khác lạ. Chẳng hạn như bài Besame Mucho theo lời giải thích của Vincent, đã từng được anh ghi âm lần đầu tiên cách đây 4 năm (trên album tưởng niệm nam danh ca Luis Mariano). Lần này trên tập nhạc Tango, bài hát này đã được phối lại như một vũ điệu tình tứ, diễn trong quán nhạc phòng trà.

Ngay từ những album đầu tiên, Vincent Niclo đã từng hát nhạc La Tinh với những bản phối theo phong cách pop cổ điển. Tuy nhiên, ý tưởng dành trọn một tập nhạc cho thể loại này, và nhất là dành riêng cho dòng nhạc tango thật ra chỉ mới nảy sinh trong thời gian gần đây. Vào mùa xuân năm 2018, khi đến thủ đô Buenos Aires để thực hiện phần ghi âm cho album này, Vincent Niclo từng giải thích là dự án ghi âm một album tango đã manh nha từ cuối năm 2015.

Vào thời ấy, Vincent Niclo tham gia vào show truyền hình Khiêu vũ cùng Thần tượng (phiên bản tiếng Pháp của Dance with the Stars) và anh đã gây ấn tượng mạnh với công chúng lẫn ban giám khảo nhờ màn biểu diễn vũ điệu tango (trên nhạc nền của bài hát Here comes the rain again). Cho dù giải nhất năm ấy (mùa thứ 6) về tay một ca sĩ khác, nhưng điệu tango mà anh đã biểu diễn đã tạo ra một nguồn cảm hứng mới cho nam ca sĩ người Pháp. Trong số các bản tango mà Vincent Niclo đã chọn cho album mới, có nhạc phẩm Libertango nguyên tác của nhạc sư phong cầm Astor Piazzola.

Bản nhạc Libertango ban đầu là một giai điệu không lời, tính đến nay đã có đến cả ngàn bản hoà âm khác nhau, phiên bản tiếng Anh từng ăn khách qua giọng ca của Grace Jones (I have seen that face before), phiên bản tiếng Tây Ban Nha nổi tiếng qua lối diễn đạt của Horacio Ferrer, trong tiếng Pháp bài này cũng từng được phóng tác ít nhất là hai lần (phiên bản của ca sĩ kiêm diễn viên Guy Marchand "Moi je suis tango" 1975, và phiên bản của Julie Zenatti "(Tango) Princesse" 2007.

Vincent Niclo khi hát lại bài Libertango không còn dùng tango thuần chất mà là một điệu tango tự do trong lối hoà âm, phóng khoáng trong cách diễn đạt, hiệu quả tràn đầy kịch tính, nhịp điệu lôi cuốn dồn dập, còn giai điệu kết hợp bộ đàn dây với nhạc khí điện tử, một cách phối khí thử nối bước dù chưa bằng con đường trước kia của ban nhạc Pháp Gotan Project.

Năm nay 43 tuổi, Vincent Niclo tuy vào nghề khá sớm nhưng lại thành danh khá trễ, từ năm anh 35 tuổi trở đi. Thời thanh niên anh theo học các lớp thanh nhạc và đào tạo diễn xuất. Tuy có năng khiếu, nhưng anh lại không có duyên với sân khấu, hầu hết các vở nhạc kịch mà anh từng tham gia đều gặp thất bại.

Mãi đến năm 30 tuổi, theo lời khuyên của một người thầy (Vincent Niclo học thanh nhạc với giọng ca tenor Thierry Dran, từng làm giảng viên ở trường Opéra de Paris), anh mới chọn đi đúng hướng, khi chuyển sang hát nhạc nhẹ và pop cổ điển với chất giọng tenor. Nhờ vậy mà sự nghiệp của anh cất cánh từ năm 2013 trở đi.

Vincent Niclo thành công trước hết là nhờ nỗ lực làm việc không ngơi nghỉ. Ngoài đức tính cần mẫn chăm chỉ ấy, anh còn thành công nhờ gầy dựng cho mình một lượng fan trung thành đông đảo, giải thích vì sao hầu hết các buổi biểu diễn của anh đều chật kín chỗ ngồi. 90% khách hâm mộ Vincent Niclo đều là phụ nữ (trong đó đa số đều ở lứa tuổi trung niên), nhưng sau khi anh tham gia show truyền hình Khiêu vũ cùng Thần tượng, giọng ca tenor này giờ đây lại thu hút thêm nhiều fan trẻ tuổi, chủ yếu là thanh nữ.

Có lẽ cũng vì Vincent Niclo đeo đuổi nghề sân khấu từ rất lâu nhưng lại thành danh khá trễ, cho nên giờ đây, anh làm việc liên tục, số lượng dự án ghi âm và biểu diễn cao hơn nhiều so với các nghệ sĩ cùng thời. Chỉ trong vòng 5 năm, anh tham gia nhiều đợt biểu diễn lớn, cùng với nhóm crooner ‘‘Forever Gentlemen’’ hay là theo lời mời tác giả Michel Legrand trong vở nhạc kịch ‘‘Les Parapluies de Cherbourg’’. Mùa hè năm 2016, anh được đài phát thanh BBC2 mời làm người dẫn dắt một chương trình nhiều kỳ nhằm giới thiệu dòng nhạc Pháp trữ tình lãng mạn cũng như các bản tình ca bất tử.

Về mặt ghi âm, tính đến nay, Vincent Niclo đã cho ra mắt 5 album, album thứ nhất dành cho nhạc pop cổ điển (Opéra Rouge), album thứ hai để tưởng niệm Luis Mariano, album thứ ba chủ yếu là nhạc nhẹ (Ce que je suis), album thứ tư là các bản cover nhạc Pháp kinh điển nhưng hát bằng tiếng Anh (Romantique) và album thứ năm gồm toàn các sáng tác mới của Pascal Obispo (5.0). Album thứ sáu dành cho dòng nhạc tango hứa hẹn thành công lớn vì từ cả tháng trước khi được phát hành, album này chưa gì đã trở thành đĩa vàng, dựa theo số lượng đĩa nhạc mà giới hâm mộ trung thành đặt mua trước qua các mạng trực tuyến.



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/2/2020(UTC)
viethoaiphuong
#515 Posted : Saturday, October 3, 2020 5:42:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Michael Bublé - Người hát tình ca

Gia Trình - RFI - 03/10/2020
Nam ca sỹ người Canada, Michael Bublé, không còn là cái tên xa lạ với khán giả trong vòng hai thập kỷ qua. Dường như Michael Bublé sinh ra để hát tình ca nên các album thành công của anh đều gắn với từ Love (Tình yêu).

Tính đến thời điểm hiện tại, giọng ca jazz/soul này đã xuất bản tổng cộng 10 album phòng thu. Album trình làng năm 2019 với cái tên giản dị Love được đánh giá rất tốt.

Tình yêu - Chủ đề bất tận ca sỹ jazz/soul

Tình yêu là không chỉ chủ đề chính của album Love xuất bản năm 2019 của Michael Bublé mà đó là cảm hứng xuyên suốt sự nghiệp. Tiết lộ với báo giới, anh mô tả tình yêu gói gọn các mối quan hệ, lòng trắc ẩn, gia đình. Đó là trải nghiệm và điều nhắn nhủ của Michael Bublé với những gì tốt đẹp và lãng mạn nhất tới hàng triệu fan hâm mộ.

Sau 3 năm nghỉ ngơi vì chữa trị bệnh ung thư gan cho con trai đầu lòng Noah, sự trở lại của Michael Bublé vẫn ấm áp, ngọt ngào như thuở nào. Giọng ca soul/jazz chịu ảnh hưởng sâu sắc của các cây đại thụ như Frank Sinatra, Steve Wonder, Ella Fitzgerald. Nhưng trên hết, âm nhạc của Bublé vẫn tràn đầy đam mê với nguồn năng lượng tích cực : nhạc ru ngủ cho trẻ nhỏ, nhạc khiêu vũ và nhạc cho lứa đôi yêu đương. Giờ đây, ca sỹ người Canada có gia đình hạnh phúc bên cô vợ diễn viên Achentina, Luisana Lopilato, với ba người con Noah, 7 tuổi, Elisas 4 tuổi và con gái Vida 2 tuổi.

Ít người để ý rằng trước Luisana, Michael Bublé có thời gian dài gắn bó với nữ diễn viên xinh đẹp Emily Blunt và Debbie Timus. Hai trong số ba người yêu của anh đều từng xuất hiện trong các video clip âm nhạc. Bản nhạc nổi tiếng Home để dành tặng riêng cho Timus và cô bạn gái này cũng xuất hiện trong video clip lẫn phần hát bè. Timus và Bublé chia tay năm 2005 và sau đó Bublé phải lòng Emily Blunt tại một giải thưởng âm nhạc. Chuyện tình với Emily chấm dứt năm 2009 và sau đó anh quen và yêu diễn viễn Luisana tại một bữa tiệc hậu concert tại Buenos Aires. Đáng chú ý là Luisana, người vợ hiện tại xuất hiện trong video clip ca khúc Haven’t met you yet (2009).

Sự nghiệp âm nhạc thăng hoa

Đam mê âm nhạc của ca sỹ sinh năm 1975 khởi nguồn từ bộ sưu tập đĩa hát đồ sộ của người ông Demetrio Santaga với các ngôi sao gạo cuội Tony Bennett, Frank Sinatra. Với sự say mê hiếm có, Bublé đã thốt lên : “Tôi muốn trở thành ca sỹ và tôi biết đó là thứ âm nhạc tôi muốn hát”. Thôi thúc trở thành ca sỹ cộng thêm sự ủng hộ của người ông là động lực cho Bublé tham dự cuộc thi tài năng địa phương ở British Columbia khi mới 17 tuổi. Cú hích này đã giúp anh ra mắt CD đầu tay và tham gia vở nhạc kịch Red Rock Diner trong vai Elvis Presley.

Tuy nhiên, sự khởi sắc mạnh mẽ nhất là khi anh gặp được David Foster, nhà sản xuất tài năng đoạt giải Grammy, đồng thời phụ trách âm nhạc cho hãng Warner Bros. David có gu âm nhạc sắc sảo, am hiểu thị hiếu công chúng, ông đã tạo dựng thành công không nhỏ cho diva Whitney Houston, Celine Dion hay giọng tenor Andrea Bocelli. Vì vậy, David Foster giúp cho album đầu tay năm 2003 của Bublé mang dấu ấn hoài cổ, tưởng nhớ các tài năng kỳ cựu hay có thể coi đó là album thư giãn (lounge act) đúng nghĩa. Giọng ca của Feeling Good chia sẻ : “Chúng tôi muốn lưu giữ lại tinh thần và nguồn năng lượng không bị bó hẹp bởi bất kỳ giai đoạn âm nhạc nào cả”. Sản phẩm hợp tác đầu tay này đã gặt hái trái ngọt. Album này lên hạng nhất tại Úc, top 10 tại Anh Quốc với các bản hit lừng lẫy như Fever, How can you mend a broken heart, Sway.

Dấu ấn tình yêu trong album mới nhất LOVE

Album Love năm 2019 không nằm ngoài quỹ đạo của Bublé với sự hoài cổ và chủ đề tình yêu quen thuộc. Dễ nhận thấy anh vẫn đi theo mô-típ quen thuộc : đan cài bản nhạc kinh điển như When I fall in love, La vie en rose với các bản nhạc mới như Forever Now hay When You’re Smiling. Sự tính toán này tạo được cảm giác mới mẻ cho người nghe, đặc biệt với những bản song ca với giọng nữ như Cecile McLorin hay Loren Allred. Độ chín về giọng hát và cách xử lý bài điêu luyện của Michael Bublé tạo được sức hút và sự hòa hợp, đưa đẩy cho giọng nữ có đất diễn. Nếu nữ danh ca Pháp Edith Piaf sống lại chắc chắn sẽ mỉm cười khi đưa con tinh thần La vie en rose (Cuộc sống màu hồng) của mình được Bublé nâng niu đến vậy.

Trở thành một ca sỹ pop đương đại không có nghĩa là phải đột phá hay gây sốc. Cách tư duy của Michael Bublé là thổi vào dòng chảy vô tận của đam mê, khai thác kho nhạc kinh điển : gợi nhớ lại, lặp lại, cách tân lại. Thực tế chứng minh anh là quán quân âm nhạc với lối tư duy logic này. Thứ âm nhạc classic anh chọn rất hợp với phong cách lịch lãm, chỉn chu đáng ngạc nhiên trên sân khấu.

Ở góc độ khác, khán giả có thể nhận thấy Bublé muốn chịu rủi ro ở mức thấp nhất nhưng vẫn khiến người nghe say mê trong bữa tiệc âm nhạc. Tuy nhiên, đôi lúc anh cũng mang đến những bất ngờ thú vị cho khán giả. Bản nhạc country Help me make it through the night có lẽ là lựa chọn thú vị vì hiếm khi nhạc country lọt vào trong album của Bublé. Nó dịu ngọt, khắc khoải trong nỗi cô đơn nhờ sự kết hợp ăn ý của đôi song ca đến nhuần nhuyễn.

Bên cạnh đó, Forever Now là một bản nhạc pop ballad đáng chú ý khác với tâm sự người cha dành cho con trai. Không phải ballad xuất sắc nhất nhưng Forever now đánh dấu nỗ lực làm mới bản thân của nghệ sỹ. Đáng chú ý, Love you anymore là một sự hợp tác của hai tên tuổi sản xuất hàng đầu Charlie Puth và David Foster. Tiếng bass, guitar là điểm nhấn và nền đẹp cho tiếng hát Bublé, đặc biệt âm thanh bộ gõ nền là điểm cuốn hút. Trên tất cả, giọng ca của Bublé vẫn đẹp, tròn trịa và không gượng ép.

Album Love khá dễ nghe, làm vừa lòng đôi tai khán giả với khẩu vị âm nhạc jazz/soul rất thanh lịch của Bublé. Có lẽ khán giả phải thêm chữ "LOVE" vào tên đệm của anh vì đó là dấu ấn họ luôn ghi nhớ và say mê.

(Theo Biography)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/3/2020(UTC)
viethoaiphuong
#516 Posted : Saturday, October 10, 2020 7:13:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Taylor Swift - Khi công chúa nhạc pop trưởng thành

Gia Trình - RFI - 10/10/2020
Một năm đầy biến động như 2020 dường như ít ảnh hưởng tới Taylor Swift, ngôi sao của các album bạch kim Reputation và Lovers. Không còn ở tuổi 20, công chúa nhạc country/pop vẫn duy trì được động lực sáng tác bền bỉ. Album phòng thu thứ tám Folklore của Taylor Swift trình làng trong sự bất ngờ của người hâm mộ.

Tài năng không đợi tuổi

Không ai phủ nhận rằng Taylor Swift nổi tiếng nhờ tài năng sáng tác nhạc ở tuổi teen. Ở tuổi 17, cô đã nổi tiếng thành siêu sao nhờ album đầu tay Taylor Swift ra mắt năm 2006. Hình ảnh nữ ca sỹ tóc vàng nổi lên như học trò cưng của thầy cô hay vương miện hoa khôi của trường trung học. Khi cô nữ sinh lớn lên từng ngày cũng là lúc Taylor chuyển dịch từ nhạc country sang pop với các ca khúc thịnh hành với giới trẻ. Thành công hai album Red và đặc biệt 1989 (2014) khiến cho cô thành siêu sao nhạc pop với lịch lưu diễn dày đặc.

Mùa hè năm 2020, đáng lẽ Taylor rong ruổi với chuyến lưu diễn với album thành công Lovers ra mắt năm 2019. Tuy nhiên, việc cách ly tại nhà do đại dịch virus corona dường như là chất xúc tác mạnh mẽ cho năng lượng sáng tạo của Taylor. Album Folklore ra mắt hoàn toàn gây bất ngờ với fan hâm mộ, với sự hợp tác với hai nhà sản xuất lâu năm, Jack Antonoff và Aaron Dessner.

Nữ ca sỹ sinh năm 1989 giờ không còn tuổi mới lớn nhưng âm nhạc của cô vẫn trẻ trung, đi theo con đường pop/country yêu thích. Đó là nguồn cảm hứng bất tận cho đến tận album thứ tám, Folklore, sự gắn kết với cả album trước đó - Lovers. Hai yếu tố, nghệ thuật và thương mại, luôn song hành trong các album của Taylor. Khán giả có thể thấy cô chế giễu tập hợp bạn trai cũ trong bài hát The Man (Người đàn ông) hay bảo vệ cộng đồng LGBT trong ca khúc You need to calm down (Bạn phải bình tâm trở lại). Đó là những nội dung phổ biến trong các ca khúc của Taylor.

Cái tôi lớn dần từng ngày

Sự ra đời của Folklore lôi cuốn đến mức album được nghe hơn 80 triệu lượt trên kênh Spotify chỉ trong 1 tuần đầu ra mắt (kể từ cuối tháng 7 năm 2020). Thông thường mỗi khi Taylor ra mắt album, cô muốn đánh dấu một sự kiện quan trọng nào đấy: chia tay bạn trai hoặc mối quan hệ với đối thủ.

Nhờ trí tưởng tượng và tài năng sáng tác, âm nhạc của Swift dường như kết nối được với những giây phút riêng tư và chuyển động nhận thức. Với album mới nhất Folklore, Taylor có dấu hiệu chuyển hưởng rõ nét với chiều sâu nội tâm. Cô là trung tâm, ngôi sao của câu chuyện, chứ không phải người tình hay đối thủ cô không ưa thích.

Trả lời trên kênh Beat một năm trước, cô mô tả giới truyền thông luôn đối xử với cô như “một người phô diễn cuộc sống hẹn hò và việc sáng tác nhạc như là thủ thuật”. Tuy nhiên, ít người chú ý đến thay đổi của Taylor khi lăng kính phê phán và châm biếm của cô dịch chuyển về phía bản thân hơn là bất cứ ai khác. Vì thế, album mới Folklore trở nên thu hút đặc biệt vì sự chuyển dịch đó, nhờ kỹ năng sáng tác điêu luyện. Điều thú vị ở Folklore là nó kết nối được nhiều nhân vật, nhiều mốc thời gian khác nhau, cảm xúc, cuộc sống riêng rẽ bằng âm nhạc mộc mạc. Ca khúc Cardigan (Áo len) là minh họa rõ nét cho tình yêu non trẻ và sự ngây thơ đã mất đi.

When you are young, they assume you know nothing ; But I knew you ; Dancin' in your Levi's ; Drunk under a streetlight ; I, I knew you ; Hand under my sweatshirt ; Baby, kiss it better, right.

Khi bạn còn trẻ, họ đều cho rằng bạn chẳng biết gì ; Nhưng tôi hiểu bạn ; Nhảy nhót với quần Levis ; Say mềm dưới ánh đèn đường ; Đặt tay dưới áo len tôi ; Anh yêu, hãy hôn nó.

Những câu chuyện man mác buồn

So với các album trước đây, rõ ràng Folklore không có ca khúc chủ đề, hoặc thực sự nổi trội, lấn lướt về mặt giai điệu. Đây là một album mang tính nội dung cao, xoáy vào sự nuối tiếc, nhớ nhung và sự trốn thoát.

Hình ảnh tượng tượng nối lên trong album là bóng ma tìm lại kẻ sát thủ trong đám tang, cô gái 7 tuổi với người bạn rắc rối, cuộc tình tay ba với ba nhân vật tường tượng Betty, James, và người phụ nữ vô danh trong bản nhạc Cardigan. Trong đó, August và Betty là hai ca khúc mô tả góc nhìn hai người phụ nữ khác nhau ở thời điểm khác nhau.

Những ca khúc buồn thường đem cho khán giả cảm giác chia tay, nhưng trong album này không phải cuộc tình tan vỡ chóng vánh với các bạn trai. Folkfore phơi bày một ví dụ điển hình sâu sắc về nhận thức. Cô gái đề cập tới cuộc chia tay với hãng đĩa hát Big Machine Records, nơi cô gây dựng sự nghiệp, là một mốc son đáng nhớ.

Trong bài hát, Taylor mô tả những trải nghiệm khó khăn cuộc đời vì hãng đĩa đã nuôi dưỡng tên tuổi cô trong suốt nhiều năm. Sự mâu thuẫn nảy sinh khi cô cho rằng hãng ghi âm đã lợi dụng tên tuổi của mình. Taylor gặp khó khăn để kiểm soát được âm nhạc do chính cô sáng tác. Lời ca như bộc bạch chân tình nhất của Taylor với cả thế giới nhưng chỉ có mình cô hiểu cảm giác sự phản bội và mất quyền tự chủ. Âm nhạc của ca khúc My Tears Ricochet đầy ám ảnh, ma mị và đầy nuối tiếc.

You know I didn't want to have to haunt you ; But what a ghostly scene ; You wear the same jewels that I gave you ; As you bury me.

Bạn biết rằng tôi không muốn điều đó phải ám ảnh bạn ; Như bối cảnh phim kinh dị ; Bạn đeo chuỗi hạt đá quý mà tôi tặng bạn ; Khi bạn chôn cất tôi.

Album Folklore cho thấy công chúa nhạc pop đang trưởng thành từng ngày. Kỹ năng sáng tác của Taylor Swift được tận dụng tối đa thành công cụ kể chuyện với khán giả. Đại dịch virus corona đem tới nhiều bất ngờ nhưng món quà âm nhạc mang tên Folklore còn đưa khán giả đi xa hơn thế.

(Theo Sydney Morning Herald, NPR)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/10/2020(UTC)
viethoaiphuong
#517 Posted : Sunday, October 11, 2020 7:34:27 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)


Rose Laurens, nụ hồng chưa phai

Tuấn Thảo - RFI
Sinh trưởng tại Paris (1953-2018) trong một gia đình người Ba Lan di cư sang Pháp, Rose Laurens (tên thật là Rose Podwojny) thừa hưởng năng khiếu âm nhạc của gia đình. Thời còn ở thủ đô Ba Lan, ông nội cô từng là nhạc sĩ dương cầm và vĩ cầm chuyên sáng tác nhạc nền cho các bộ phim. Năm lên 8, cô bé đoạt giải nhất nhân một cuộc thi hát địa phương dành cho thiếu nhi. Sau khi đỗ bằng tú tài Rose Laurens ghi tên vào trường đại học ngoại ngữ khoa tiếng Nga, nhưng chỉ sau một năm cô bỏ học để theo đuổi nghề sân khấu.

Trong nhiều năm liền, cô đi hát rồi ghi âm dưới nhiều nghệ danh khác nhau, nhưng vẫn gặp thất bại. Mãi tới khi cô hợp tác với nhà sản xuất kiêm tác giả Jean Pierre Goussaud, thì lúc ấy Rose Laurens mới bắt đầu gặt hái thành công vào năm 25 tuổi. Trong giới sản xuất nhạc, tác giả Goussaud nổi là người từng sáng tác cho Dalida, Nicole Croisille hay Fabienne Thibault (thời của vở ca nhạc kịch Starmania 1978).

Nhờ vào sự dìu dắt của người bạn đời, mà sự nghiệp của Rose Laurens cất cánh, thuyết phục được các nhà sản xuất giao cho cô một vai diễn quan trọng (vai Fantine) trong vở ca nhạc kịch Những người khốn khổ (Les Misérables của hai tác giả Alain Boublil và Claude-Michel Schönberg). Rose Laurens chính là người đầu tiên ghi âm khúc nhạc chủ đề J’avais rêvé d’une autre vie (tạm dịch Giấc mơ đổi đời) trong nguyên tác tiếng Pháp năm 1980. Vài thập niên sau, phiên bản tiếng Anh của bài ca này (I dreamed a dream) giúp cho Susan Boyle nổi danh trên khắp thế giới.

Trên đà thành công của vở ca nhạc kịch Những người khốn khổ, Rose Laurens tiếp tục hợp tác với người bạn đời để trình làng album đầu tiên. Tác giả Jean Pierre Goussaud muốn thực hiện một album trau chuốt về mặt giai điệu, có chiều sâu về mặt ca từ, bởi vì theo ông Rose Laurens sau khi nổi tiếng nhờ một vở nhạc kịch ‘‘nghiêm túc’’, không nên hát những ca khúc mang tính thương mại. Cho tới cái ngày Rose Laurens tình cờ nghe được một khúc nhạc lạ tai với nhịp điệu lôi cuốn.

Giai điệu này thật ra được viết cho một dự án ghi âm khác, nhưng Rose Laurens bằng mọi cách đòi ghi âm bài hát này trên album đầu tay của mình, bất chấp sự phản đối của nhóm sản xuất. Hơn ba thập niên sau ngày ra đời, giai điệu này vẫn chưa có một vết nhăn, tiếp tục cho ra đời nhiều phiên bản ghi âm lại (cover), kể cả phiên bản gần đây nhất của Julien Doré.

Một giai điệu tựa như câu thần chú thôi miên đầy ma lực quyến rũ, một tiếng gọi mời âm thầm khiến người nghe thả hồn phiêu lưu vào vùng đất hoang sơ bí ẩn, để rồi nhớ lại bao nhân duyên tiền kiếp. Khi được phát hành vào năm 1982, nhạc phẩm Africa lập kỷ lục số bán khi chiếm hạng đầu thị trường quốc tế, kể cả các nước nói tiếng Anh nhờ vào phiên bản Anh ngữ mang tựa đề Voodoo Master. Rốt cuộc quyết định đầy rũi ro này lại làm nên thành công rực rỡ nhất trong sự nghiệp ca hát của Rose Laurens.

Nhờ bản nhạc Africa, Rose Laurens trở thành một trong những giọng ca sáng giá nhất những năm 1980, hợp tác với nhiều tác giả ăn khách thời bấy giờ kể cả Francis Cabrel, Jean Jacques Goldman, Yves Duteil hay Yves Simon. Rose Laurens thành công trong vòng 10 năm liền cho tới năm 1991, tác giả Goussaud đột ngột qua đời vì bệnh ung thư. Một khi đã mất đi tác giả ruột, chuyên sáng tác nhiều bản nhạc ăn khách cho cô trong suốt thời gian hai người chung sống với nhau, vầng hào quang của Rose Laurens bắt đầu bị lu mờ. Tính tổng cộng, cô đã ghi âm 8 album nhưng ít còn đi hát kể từ giữa thập niên 1990 trở đi.

Mãi tới những năm gần đây, khi nhà sản xuất Olivier Kaefer tổ chức các vòng lưu diễn tập hợp các giọng ca vang bóng một thời, thì lúc ấy Rose Laurens mới xuất hiện trở lại trước công chúng. Album cuối cùng được ghi âm là vào năm 2015, cơ hội để cho giới hâm mộ khám phá lại giọng ca của Rose Laurens qua những ca khúc trầm buồn sâu lắng hơn so với những gì khán giả thường nghe ở nơi cô (Je suis avec toi), một tiếng hát đặc biệt nhờ giọng gió với một vibrato khá độc đáo, đầy đặn đầu câu, nồng nàn cuối chữ. Cũng như những dòng tin nhắn của giới hâm mộ tưởng niệm ca sĩ quá cố : Rose Laurens đã ra đi mãi mãi, nhưng mùi hương của nụ hồng vẫn tồn tại, sau bao năm tháng còn chưa phai.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/11/2020(UTC)
viethoaiphuong
#518 Posted : Saturday, October 17, 2020 10:56:07 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Adele - Họa mi đứng trước gương

Gia Trình - RFI - 17/10/2020
Vẫn là chất giọng đẹp ấy nhưng diện mạo mới của Họa mi nước Anh, Adele hoàn toàn gây sốc cho khán giả trên mạng xã hội Instagram trong năm 2020. Sau khi chia tay người bạn đời Simon, Adele liên tiếp giảm cân, ăn mặc gây tranh cãi đến mức khó có thể nhận ra.

Với thế giới giải trí, giọng hát xuất sắc chưa đủ mà phải kèm theo câu chuyện ngoại hình. Điều này khiến chúng ta liên tưởng tới hình ảnh chú họa mi đang đứng trước rừng gương phản chiếu.

Quá trình biển đổi của Adele

Sở hữu giọng ca nội lực và khả năng sáng tác, âm nhạc của Adele vừa lòng cả giới phê bình lẫn khán giả trẻ. Suốt một thập kỳ qua, Adele trải qua nhiều sự kiện đáng nhớ, phẫu thuật thanh quản năm 2011, sinh em bé Angelo năm 2012, kết hôn với Simon Konecki năm 2016 và chia tay đầu năm 2020.

Tuy nhiên, sự nổi tiếng luôn có mặt trái và họa mi nước Anh luôn phải đối mặt chỉ trích về ngoại hình. Từ album đầu tay mang tên 18, ca sỹ người Anh đã bị truyền thông gán cho cụm từ “quá khổ”. Năm 2012, nhà thiết kế danh tiếng Karl Largerfeld đã xin lỗi Adele vì cho rằng ca sỹ đoạt giải Grammy là “hơi mập một chút”. Giọng ca của Hello cũng đáp trả ngay lập tức : “Tôi không bao giờ muốn trở thành siêu mẫu trên trang bìa tạp chí. Tôi đại diện cho phần lớn phụ nữ và tôi tự hào về điều đó”.

Vào ngày sinh nhật thứ 32, hình ảnh Adele xuất hiện trên Instagram thực sự gây sốc cho người hâm mộ khi không ai nhận ra họa mi khi nổi tiếng. Ca sỹ 32 tuổi giờ đây lại hứng chịu lời chê bai của giới truyền thông khi cho rằng cô quá gầy. Theo chia sẻ không chính thức, cô đã giảm gần 45 kg (100 pounds) để sở hữu một thân hình mảnh mai.

Những cột mốc đáng nhớ

Liệu khán giả có công bằng với nữ ca sỹ tài năng Adele không khi họ bị hình thức lấn át nội dung ? Cụ thể, chỉ trích quá nhiều ngoại hình (quá gầy hay quá mập) mà quên đi yếu tố cốt lõi là âm nhạc mới tạo nên dấu ấn của cô. Thành tích của Adele hiếm có nghệ sỹ trẻ nào so bì được với 15 giải thưởng Grammy, 4 ca khúc hạng nhất Billboard, hàng triệu đĩa hát tiêu thụ được. Cho dù tăng hay giảm cân thì không ai phủ nhận Adele có gương mặt đẹp và gu âm nhạc tinh tế. So với các nghệ sỹ Anh Quốc như Annie Lennox, Sting, Elton John, các tác phẩm của Adele đều có giai điệu rõ ràng, mạch lạc chứ không phụ thuộc vào sự hỗ trợ đắc lực của bản phối khí.

Đáng chú ý, các album của Adele đều mang tên các con số như đánh dấu mốc số tuổi và cuộc đời cô như 19, 21 và 25. Trong đó, album 25 được đánh giá thành công vượt trội với nhiều ballad đẹp như Hello. Nội dung chủ đạo của album xoáy vào những luyến tiếc bản thân, mối quan hệ tan vỡ cũng như kỳ vọng bị gián đoạn, được gói ghém trong cao trào cảm xúc mãnh liệt. Nếu Hello được coi là ca khúc chủ đạo, đánh dấu sự trở lại của Adele năm 2015 thì Send my love to your new lover lại hiện đại, mang dấu ấn pop/electronic với vòng lặp dễ nghe.

Kỳ vọng gì sau album 25

Quay ngược trở lại lịch sử, mỗi album đều đánh dấu một chương mới của cuộc đời Adele. Album 19 đánh dấu sự này nở tài năng âm nhạc, đặc biệt về khả năng sáng tác nhạc của Adele được ghi nhận. Hai năm sau đó, album 21 khắc cột mốc về sự trưởng thành của một siêu sao âm nhạc với bản hit Rolling in the deep.

Giữa 21 và 25 là cột mốc của tình yêu và hôn nhân khi cô lập gia đình, kết hôn. Trở thành mẹ hay vợ rõ ràng có nhiều thay đổi tâm sinh lý với nữ ca sỹ. Tờ Rollingstone đã có so sánh thú vị giữa album 25 của Adele (2015) và album Ray of Light của Madona (2008). Đó là nguồn cảm hứng mãnh liệt nhất khi hai nữ nghệ sỹ hàng đầu chào đón đứa con đầu lòng. Tình yêu xuyên suốt trong album 21 hay 25 đều gây đau khổ không có sự hàn gắn, nó không hề được nuôi dưỡng hay bơm đầy trở lại. Cô chia sẽ rằng khi mình trở nên già nua 57 tuổi, album sẽ được đặt tên Adele thay vì số tuổi của mình.

Một chi tiết thú vị khác là nữ ca sỹ cũng bị ám ảnh bởi bệnh sợ đứng trên sân khấu như nữ danh ca Broadway Barbara Streisand.Tuy nhiên, họa mi nói rằng cô khá căng thẳng khi đứng trên sân khấu vì không muốn khán giả thất vọng trước màn trình diễn của mình. Trên thực tế, cô từng trải qua một vài sự cố âm thanh khi hát ca khúc All I ask như trong lễ trao giải Grammy 2016. Sự cố này tuy nhỏ nhưng là vấn đề nghiêm trọng với ý thức cao về chất lượng âm nhạc.

Những thay đổi về chất liệu âm nhạc

Liệu có thay đổi to lớn về chất liệu âm nhạc nếu Adele quay trở lại sân khấu với diện mạo gầy guộc, mong manh ? Nhà sản xuất âm nhạc Paul Epworth, từng làm việc nhiều năm với Adele, nói rằng làm việc với nữ ca sỹ khá áp lực. Kỳ vọng của cả đôi bên đều rất lớn sau thành công nhiều bản hit xuất sắc điển hình như Rolling in the deephaySkyfall. Ông nói rằng “trong mối quan hệ sáng tạo luôn cần có sự tin tưởng, khát vọng để khám phá tuy nhiên sự khám phá có hạn nếu bị giới hạn bởi thời gian. Bạn luôn tìm kiếm kim cương trong khi mọi thứ xung quanh đều là carbon”.

Đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có dấu hiệu gì cho thấy Adele sẽ tung ra album mới vào cuối năm 2020. Sau khi bị trì hoãn vào mùa hè, fan hâm mộ vẫn đang chờ đón tác phẩm tiếp theo sau thành công của album 25. Giới truyền thông cho rằng Adele đang làm việc với nhà sản xuất Raphael Saadiq trong album mới và cộng tác với nam ca sỹ John Legend. Đáng chú ý là Raphael Saadiq là người đỡ đầu cho nhiều tác phẩm của các nghệ sỹ soul, R&B như Stevie Wonder, Joss Stone, TLC, Mary J. Blige, Whitney Houston. Do vậy, rất có thể album mới của Adele sẽ mang màu sắc R&B và soul nhiều hơn là các pop ballad quen thuộc.

Cho dù diện mạo mới ra sao, niềm tin vào sự khắt khe trong nghệ thuật và vẻ đẹp âm nhạc của họa mi Adele sẽ lấn át mọi nghi ngờ.

(Theo CNN, Rollingstone, People)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/17/2020(UTC)
viethoaiphuong
#519 Posted : Tuesday, October 20, 2020 7:08:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

Covid-19 : Sân khấu Broadway đóng cửa đến giữa năm 2021

Tuấn Thảo - RFI - 20/10/2020
Kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát tại thành phố New York, toàn bộ sân khấu nhạc kịch Broadway ở trung tâm Manhattan đã buộc phải ngưng hoạt động. Sau hơn 6 tháng đóng cửa, các rạp kịch theo dự trù sẽ được mở lại vào mùa thu năm 2020, nhưng rốt cuộc ngày khai trương một lần nữa bị trì hoãn, ít nhất là thêm 6 tháng.

Đây là lần thứ ba, liên đoàn Broadway League thông báo dời lại việc tái khởi động guồng máy vận hành các rạp kịch, từng làm nên uy tín của Broadway. Được thành lập vào đầu những năm 1930, Broadway League tính đến nay tập hợp hơn 700 thành viên bao gồm các chủ rạp kịch, các nhà điều hành, giới quản lý sản xuất, đại diện của các nhà phân phối. Mục đích là khai thác và phổ biến các tác phẩm, đưa các vở nhạc kịch mang thương hiệu Broadway đi biểu diễn khắp nơi, trên các sân khấu ở Bắc Mỹ và xa hơn nữa tại nhiều quốc gia khác, thông qua các hợp đồng lưu diễn hay thỏa thuận hợp tác.

Theo đánh giá của liên đoàn Broadway League, tình hình không ngừng thay đổi của dịch Covid-19 tạo ra quá nhiều rủi ro bất trắc, tuy thành phố New York không còn áp dụng lệnh phong tỏa nhưng các rạp kịch vẫn chưa hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi để hoạt động trở lại. Chính cũng vì thế mà liên đoàn Broadway League quyết định duy trì việc đóng cửa các rạp kịch thêm ít nhất 6 tháng, ít nhất là từ đây cho tới cuối tháng 5 năm 2021. Đối với ngành công nghiệp giải trí ở Mỹ, quyết định này tuy không có gì là bất ngờ nhưng vẫn làm cho giới chuyên ngành càng thêm bi quan. Một số dấu hiệu vào cuối tháng 9, vào lúc các viện bảo tàng lớn ở New York bắt đầu đón khách trở lại, cho thấy là các quy định giãn cách xã hội, hạn chế số khách tham quan hay khán giả qua việc ấn định khung giờ rất khó áp dụng cho ngành biểu diễn sân khấu.

Một số nhà hát nhỏ có thể mở cửa đón khán giả ở mức tối đa là 50%, nhưng các sân khấu Broadway, nổi tiếng nhờ các vở kịch có mức đầu tư cao, rất khó thể nào duy trì hoạt động trong mùa dịch Covid-19 mà không tránh bị thua lỗ. Sân khấu biểu diễn nhạc kịch Broadway một lần nữa bị tác động mạnh mẽ, quyết định đóng cửa cho tới gần giữa năm sau là một thảm họa đối với các đoàn diễn viên, cũng như giới điều hành quản lý các rạp kịch. Trước mắt, giới chuyên ngành hoàn toàn ‘‘trắng tay’’ nhân mùa biểu diễn 2020-2021. Gần một nửa các đoàn nghệ sĩ (lập theo casting) buộc phải tự giải thể do không còn hợp đồng sân khấu.

Từ tháng 3/2020 cho tới tháng 5/2021, tính tổng cộng làng nhạc kịch Broadway buộc phải đóng cửa trong hơn 14 tháng, một điều chưa từng thấy trong lịch sử của ngành công nghiệp giải trí nói chung và của thành phố New York nói riêng. Khu vực Broadway quen thuộc với muôn ánh đèn màu lung linh ở mặt tiền các rạp hát, từ trước tới nay vẫn là một tụ điểm thu hút đông đảo khách du lịch đến Manhattan và đồng thời là một trong những động cơ kinh tế quan trọng nhờ mức doanh thu cao và lượng nhân viên làm việc trong ngành này.

Khi toàn bộ các sân khấu buộc phải ngưng hoạt động kể từ ngày 12/03, làng nhạc kịch Broadway đang chuẩn bị ra mắt nhiều tác phẩm mới vào mùa xuân năm 2020, bên cạnh 31 tác phẩm đang được biểu diễn trên các sân khấu. Dịch Covid-19 đã khiến cho một số tác phẩm quan trọng bị hủy bỏ, trong đó có hai vở nhạc kịch ‘‘Frozen’’ (Nữ hoàng băng giá) và ‘‘Beetlejuice’’ đều được chuyển thể từ các tác phẩm điện ảnh cùng tên. Bên cạnh đó, còn có phiên bản mới của các vở kịch nổi tiếng như ‘‘Hangmen’’ và nhất là ‘‘Who's Afraid of Virginia Wolf ?’’.

Vở kịch ‘‘Plaza Suite’’ với sự tham gia của cặp vợ chồng nghệ sĩ lừng danh Sarah Jessica Parker và Matthew Broderick được xem như là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của mùa biểu diễn, rốt cuộc cũng đã bị hoãn lại một năm, buổi ra mắt khán giả đầu tiên sớm lắm sẽ diễn ra vào mùa xuân năm 2021. Theo kênh truyền hình địa phương NY1, hai tác phẩm kinh điển thuộc vào hàng ăn khách nhất của Broadway là ‘‘The Lion King’’ và ‘‘The Phantom of the Opera’’, đang biểu diễn nửa chừng lại đột ngột bị gián đoạn. Cả hai tác phẩm này chưa chắc gì sẽ được tiếp tục vào tháng 5/2021, mà chỉ hoạt động lại vào mùa thu năm tới, có thể với một thành phần diễn viên mới.

Cũng cần biết rằng trước khi có đại dịch Covid-19, sân khấu nhạc kịch Broadway là một cỗ máy hái ra tiền, đạt tới ngưỡng hơn 33 triệu đô la doanh thu mỗi tuần (tương đương 1,8 tỷ USD trong 14 tháng). Với khoảng 35 tác phẩm được biểu diễn liên tục, chương trình xen kẻ tác phẩm mới (kịch bản nguyên tác hay phóng tác) với nhiều vở kịch nổi tiếng được diễn đi diễn lại trong nhiều thập niên qua.

Họa vô đơn chí. Dịch Covid-19 cũng khiến cho phiên bản điện ảnh ‘‘West Side Story’’ của đạo diễn kỳ cựu người Mỹ Steven Spielberg cũng bị chậm trễ. Giới chuyên ngành từng hy vọng rằng tác phẩm này sẽ giúp kích hoạt trở lại cỗ máy vận hành Broadway vào một thời điểm thuận lợi hơn, nhưng rốt cuộc tương lai của các rạp chiếu phim cũng chẳng sáng sủa gì hơn so với các rạp kịch.

Dù muốn hay không, quyết định của Broadway League tựa như là hiệu ứng domino, khi mà các nhà hát lớn ở Hoa Kỳ lần lượt thông báo việc dời lại sang năm sau toàn bộ các hoạt động. Điển hình là tại thành phố Minneapolis, nhà hát lớn Guthrie Theater thông báo rút ngắn lại chương trình từ 9 tháng ban đầu còn lại 5 tháng và theo dự kiến chỉ khai mạc từ tháng 4 trở đi. Tại thành phố Cleveland, nhà hát Playhouse Square đã dời lại đến giữa năm 2021 chương trình biểu diễn 7 tác phẩm từng ăn khách trên sân khấu Broadway.

Trong khi đó, nhà hát Metropolitan Opera tại New York ban đầu thông báo ngưng hoạt động cho tới tháng 12/2020 nay lại quyết định đóng cửa luôn cho tới tháng 9/2021. Sự kiện một nhà hát có uy tín khắp thế giới như Metropolitan Opera của thành phố New York buộc phải ngưng hoạt động trong 18 tháng liền, đủ để cho thấy tác động của dịch Covid-19 lên ngành văn hóa Mỹ, mạnh tới chừng nào.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/20/2020(UTC)
viethoaiphuong
#520 Posted : Thursday, October 22, 2020 11:10:27 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,763
Points: 12,447

Thanks: 790 times
Was thanked: 364 time(s) in 363 post(s)

The House of the Rising Sun, phiên bản tiếng Pháp

Tuấn Thảo - RFI
“Le Pénitencier” là một trong những bản nhạc phóng tác cực kỳ ăn khách của Johnny Hallyday. Bài hát từng được diễn nhiều lần trên sân khấu và ghi âm hai lần trong phòng thâu (1964 & 1982). Bản nhạc rock này chẳng những được dịch sang nhiều thứ tiếng mà còn có khá nhiều lời : trong tiếng Pháp có hai phiên bản của tác giả Hugues Aufray, còn trong tiếng Việt có đến ba lời khác nhau.

Trong nguyên tác, bản nhạc này là một bài dân ca Mỹ mang tựa đề “The House of the Rising Sun”. Cũng như nhiều bài hát phổ biến trong dân gian, bản nhạc này khuyết danh tác giả do nguồn gốc không được ghi chép rõ ràng. Theo giới nghiên cứu âm nhạc, bài hát này bắt nguồn từ bản dân ca “The Unfortunate Rake” của người Anh, có từ vài thế kỷ trước.

Bản ghi âm lâu đời nhất là vào năm 1934 của Clarence Tom Ashley, nhưng vào lúc ấy bản nhạc vẫn còn mang tựa đề “The Rising Sun Blues”. Bài hát kể lại câu chuyện của một cô gái nhẹ dạ cả tin, bỏ nhà đi theo tình nhân tới thành phố New Orleans, do gã đàn ông có máu rượu chè cờ bạc, cho nên cô gái bị sa vào kiếp bán phấn buôn hương trong một thanh lâu tên là “The Rising Sun”.

Mãi tới gần một thập niên sau, vào năm 1941, lần đầu tiên bản nhạc này được đổi tên thành “The House of the Rising Sun” qua phiên bản ghi âm của ban nhạc Almanach Singers ở New York. Các nghệ sĩ nổi tiếng khác của làng nhạc folk như Joshua White, Lead Belly hay Woody Guthrie cũng có ghi âm lại bài này vào năm 1943 nhưng dưới tựa đề “In New Orleans”.

Sau hàng loạt phiên bản ghi âm (Esco Hawkins, Harriet Elisabeth, Dave Van Ronk, Bob Dylan, Joan Baez, Nina Simone ......), rốt cuộc phiên bản nổi tiếng nhất trên thế giới vẫn là bản cover với một số đoạn chỉnh sửa của ban nhạc rock người Anh The Animals. Ngoài chất giọng đặc biệt của ca sĩ chính Eric Burdon, nhóm The Animals còn biểu diễn bài này với một phong cách khác lạ, thay vì mộc mạc bình dị như bản nhạc folk nguyên thủy, bài hát lại đậm đặc chất rock.

Có lẽ cũng vì The Animals đã chọn ghi âm bài này với tựa đề “The House of the Rising Sun”, cho nên một khi trở nên nổi tiếng, giai điệu bài hát gắn liền với hình ảnh Căn nhà trong ánh bình minh, và làm lu mờ hẳn các phiên bản ghi âm khác (The Rising Blues hay là In New Orleans).

Sau khi ngự trị trên thị trường quốc tế, “The House of the Rising Sun” phiên bản năm 1964 của The Animals, du nhập vào Việt Nam và trở nên quen thuộc với giới yêu nhạc. Trong tiếng Việt, có ít nhất ba phiên bản của ba tác giả khác nhau. Tác giả đầu tiên đặt lời Việt cho bài này là nhạc sĩ Khánh Băng. Tựa đề bản nhạc của ông mang một hình ảnh rất Việt Nam là “Chiều Vàng Với Mái Nhà Tranh”.

Lời Việt thứ nhì là của tác giả Anh Tuấn, chú trọng vào nội dung nhiều hơn là ngữ điệu, cách đặt lời gần sát hơn về mặt ý tứ câu chữ, nhưng vẫn còn một số điểm bất cập khiếm khuyết : sáng tác có thể ‘‘thuận tay’’, nhưng nghe chưa được ‘‘xuôi tai’’. Lời Việt thứ ba là của nhạc sĩ Lê Xuân Trường, “The House of the Rising Sun” được tác giả chuyển thành “Căn Nhà Trong Ánh Bình Minh”, và hầu hết các phiên bản ghi âm tiếng Việt sau này đều chọn “Căn Nhà Trong Ánh Bình Minh” nhiều hơn là “Chiều Vàng Với Mái Nhà Tranh”, chẳng hạn như phiên bản đậm chất rock phiêu diêu của ca sĩ Ngọc Bích.

Trong tiếng Pháp, “The House of the Rising Sun” nổi tiếng nhờ phiên bản phóng tác của Johnny Hallyday đề tựa ‘‘Le Pénitencier’’ (có khi được ghi là ‘‘Les Portes du Pénitencier’’ - Cổng Nhà Tù). Bài này sau đó được nhiều ca sĩ Pháp ghi âm lại. Bản nhạc thành công nhờ cái tài phóng tác của nam ca sĩ Hugues Aufray và nữ tác giả Vline Buggy.

Trong làng nhạc Pháp, Hugues Aufray nổi tiếng là nghệ sĩ đầu tiên phóng tác thành công các bản nhạc của Bob Dylan. Có lẽ cũng vì thế mà ông được giao trách nhiệm dịch sang tiếng Pháp “The House of the Rising Sun” cho thần tượng nhạc trẻ số 1 ở Pháp thời bấy giờ là Johnny Hallyday. Theo lời kể của Hugues Aufray, ông chỉ có 24 tiếng đồng hồ để phóng tác bản nhạc này, trong khi ông đang bận đi diễn ở Thụy Sĩ. Cũng may cho ông, trong số các đồng nghiệp đi cùng với ông có nữ tác giả Vline Buggy. Cả hai tác giả thức trọn đêm để nộp bài cho đúng thời hạn. Họ làm việc tại khách sạn Rochemont ở thành phố Genève, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm được một bản dịch vừa ý.

Theo Hugues Aufray, Johnny Hallyday là thần tượng của giới trẻ Pháp thời bấy giờ, thế nhưng đa số các fan đều là giới trẻ ở độ tuổi vị thành niên, cho nên rất khó thể nào mà dịch sát lời bài hát do “The House of the Rising Sun” nói về một nhà chứa. Đến gần rạng sáng, nhóm sáng tác mới tìm ra ý tưởng của ‘‘Cánh cửa nhà tù’’. Những thanh niên phạm pháp buộc phải từ giã mẹ hiền cũng như người yêu, một khi họ bị kết án. Hình ảnh cuối cùng mà họ thấy là Cổng Nhà tù đang dần khép lại. Chàng thanh niên cảm thấy hối hận vì đã làm cho người mẹ khổ đau, làm cho người yêu phải rơi nước mắt.

Phiên bản tiếng Pháp ‘‘Le Pénitencier’’ khi được phát hành vào tháng 10 năm 1964, phá kỷ lục số bán và giúp cho Johnny Hallyday lột xác thay đổi hình ảnh, trở thành một rocker theo đúng nghĩa, vay mượn hình ảnh nổi loạn của thần tượng James Dean nhiều hơn là của Marlon Brando. Bản thân của Hugues Aufray cũng ngạc nhiên trước sự thành công ngoạn mục của bài hát, nhưng trong thâm tâm ông chưa thật sự vừa ý. Có lẽ cũng vì thế mà nhiều thập niên sau, ông chấp bút sáng tác một phiên bản thứ nhì đề tựa ‘‘L’Hôtel du Soleil Levant’’ mà về giai điệu cũng như ca từ đều gần sát hơn với nguyên tác.

Cách đây vài năm, khi thực hiện tập nhạc ‘‘Troubador Since 1948’’, Hugues Aufray đồng ý ghi âm lại cả hai phiên bản ‘‘Le Pénitencier’’ cùng với bài ‘‘L’Hôtel du Soleil Levant’’. Tác giả hy vọng là vào năm 2014, nhân dịp 50 năm ngày phát hành nhạc phẩm “The House of the Rising Sun”, ông sẽ thuyết phục được bạn đồng nghiệp Johnny Hallyday ghi âm phiên bản phóng tác thứ nhì, mà theo ông có nhiều ý nghĩa hơn phiên bản đầu tiên.

Rốt cuộc dự án này thất bại. Johnny từ trần cuối năm 2017 vì bạo bệnh. Bản thân Hugues Aufray năm nay đã gần 90 tuổi, vẫn giữ lại nhiều kỷ niệm đẹp. Hai người từng biểu diễn với nhau tại nhà hát Olympia vào năm 1964, Hugues Aufray cũng là nghệ sĩ duy nhất ghé thăm Johnny trong thời gian anh thi hành nghĩa vụ quân sự tại Đức. Trong cả hai lối phóng tác ngẫu hứng tự do hay trung thành với nguyên tác, Hugues Aufray đã thành công trong việc chuyển ngữ một trong những ca khúc hay nhất của dòng nhạc blues rock đầu những năm 1960, tiêu biểu cho lớp trẻ thời bấy giờ, cứng đầu nên khó bảo, bướng bỉnh nên bất trị.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 10/22/2020(UTC)
Users browsing this topic
Guest
27 Pages«<24252627>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.