Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

26 Pages«<23242526>
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#481 Posted : Saturday, July 11, 2020 5:17:03 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Nhạc phim Moulin Rouge: Ly cocktail nhạc pop thịnh soạn

RFI - 11/07/2020
Moulin Rouge (Cối xay gió đỏ) - Phim ca nhạc sắp kỷ niệm 20 năm ngày ra mắt với câu chuyện tình buồn lấy bối cảnh tại hộp đêm khét tiếng nhất Paris. Bộ phim từng được đề cử tới 8 giải Oscar nhưng chỉ thắng hai giải phụ Thiết kế trang phục và Chỉ đạo Nghệ Thuật xuất sắc.

Tuy nhiên, theo Gia Trình, ít người để ý rằng thành công của phim có đóng góp không nhỏ của yếu tố nhạc phim đặc sắc. Đạo diễn Baz Luhrman là người tiên phong trong việc sử dụng nhạc pop hiện đại để mô phỏng cuộc sống phù hoa tại kinh đô ánh sáng hơn 100 năm trước.

Ý tưởng mới mẻ : pop hóa phim ca nhạc

Lấy bối cảnh Paris năm 1899, đạo diễn Baz Luhrman thổi vào Moulin Rouge (2001) luồng gió mới. Với kinh nghiệm xuất phát từ opera, ông dũng cảm lồng vào nhạc phim những bản hit pop/rock đương đại của thập niên 1990 - 2000, thế hệ MTV soán ngôi giải trí. Từ bản alternative rock Smells like teen spirits (Mùi linh hồn trẻ) của nhóm Nirvana, The show must go on của nhóm Queen đến bản hòa ca gợi dục của bộ tứ Lil Kim, Mya, Pink, Christina Aguilera (Lady Marmalade), soundtrack nhạc phim mang đậm hơi thở hiện đại hơn là cổ điển. Tuy nhiên, Luhrman không thể bỏ qua điệu nhảy cancan tốc váy rất nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20.

Điều gì khiến cho đạo diễn gốc Úc sử dụng chất liệu âm nhạc 100 năm sau để mô tả thế giới giải trí sôi động tại Moulin Rouge ? Baz pha chế một loại cocktail mới cho thể loại ca nhạc : sự kết hợp lạ lẫm giữa sân khấu, opera, điện ảnh và văn hóa pop/rock đương đại tạo nên bệ phóng cho thể loại musical mới mẻ.

Hãy lắng nghe cô gái điếm thượng lưu Satine (Nicole Kidman thủ vai) thể hiện liên khúc Sparkling Diamond để nói về đẳng cấp ngôi sao của mình tại hộp đêm Moulin Rouge. Đó là sự kết hợp bản hit Material girl (Cô gái vật chất) do Madona trình diễn năm 1985 và ca khúc đinh Diamonds are girls best friend của Marilyn Monroe trong phim Gentleman prefers blonde (Quý ông say mê cô gái tóc vàng) năm 1953. Khán giả không những theo dõi diễn biến phim mà còn được chiêu đãi màn trình diễn ca múa nhạc live sống động tại hộp đêm Moulin Rouge.

Hiện đại hóa mô-típ cổ điển

Bộ phim mở màn với tấm màn nhung đỏ gạt sang hai bên, camera bay nhanh trên bối cảnh dựng giống Paris, xuyên qua các căn hộ thu nhỏ rồi tập kết tại Cối Xay gió đỏ. Moulin Rouge có cốt truyện khá cổ điển khi đề cập chuyện tình éo le giữa nhà viết kịch trẻ tuổi Christian và ngôi sao quyến rũ nhất Moulin Rouge, Satine. Một ngôi sao nổi tiếng như Satine gặp nhiều rắc rối vì ông chủ hộp đêm Zidler hứa sẽ trao Satine cho công tước xứ Worchester. Đổi lại, vị công tước sẽ rót tiền cải tạo Moulin Rouge thành nhà hát và biến Satine sẽ thành một nữ diễn viên siêu sao. Chuyện tình tay ba trở nên gay cấn hơn do sự giằng xé của Satine giữa hai thái cực : tình và tiền.

Hầu hết khán giả đoán rằng phim hội tụ những bản ballad song ca mùi mẫn trong bối cảnh hoàn hảo cho tình yêu và thơ ca, đồi Monmartre, Paris. Trên thực tế, màu sắc âm nhạc của phim rất đa dạng. Sử dụng các ca khúc kinh điển trong các phim ca nhạc như The Sound of Music (1965) và nhạc pop thời kỳ MTV, Baz khơi gợi khán giả Satine chính là hóa thân của Madonna hiện đại vì cô quá yêu vật chất trong Material girl.

Đạo diễn sáng tạo trên cốt chuyện cổ điển bằng thủ pháp : phim lồng trong phim, nhân vật liên tưởng nhân vật trên sân khấu ca nhạc. Phải chăng siêu sao Moulin Rouge cũng nổi tiếng ngang ngửa với quả bomb sex tóc vàng Marylin Monroe vì say mê với món quà kim cương từ các quý ông ?

Ở góc độ trái ngược, sự chất phác hay nét si tình, ghen tuông trong tình yêu của Christian đều gắn với các bản nhạc tên tuổi các ngôi sao pop rock như David Bowie (Nature Boy), The Police (Roxanne). Đặc biệt là bản hit Your song (Bài ca cho em) gắn với tên tuổi của Elton John trở thành điểm nhấn của phim khi cặp đôi diễn viên khiêu vũ say mê dưới bầu trời Paris ngập ánh sáng trăng và sao.

I sat on the roof and kicked off the moss ; Well, a few of the verses, well, they've got me quite cross ; But the sun's been quite kind while I wrote this song ; It's for people like you that keep it turned on ; So excuse me forgetting, but these things I do ; You see I've forgotten if they're green or they're blue ; Anyway the thing is what I really mean ; Yours are the sweetest eyes I've ever seen.

Anh ngồi trên mái nhà, giẫm lên rêu phong ; Một vài khổ thơ khiến anh nhầm lẫn ; Mặt trời khá tử tế khi anh viết bài ca này ; Bởi vì nó dành cho em, người luôn giữ cho ánh nắng luôn tràn ngập ; Xin lỗi em nếu anh đã quên nhưng không thể quên những gì anh làm ; Vì em sẽ hiểu anh chỉ quên màu sắc nó là xanh lá cây hay xay dương ; Dẫu sao anh chỉ muốn nói rằng ; Đôi mắt em là đôi mắt ngọt ngào nhất anh từng thấy.

Ekip sản xuất tài năng

Một nghịch lý dễ nhận thấy khi các ca sỹ tham gia đóng phim thường bị đánh giá thấp. Ở chiều ngược lại, các diễn viên đi hát hoặc đóng phim musical lại được khen ngợi. Điều này hoàn toàn đúng với sức hút hai ngôi sao chính Nicole Kidman và Ewan McGregor vì họ có thể ca hát như ca sỹ chuyên nghiệp không phải lồng giọng.

Baz Luhrman nhận xét rằng Nicole và Ewan hoàn toàn phù hợp với vai diễn : “Họ không cần là ca sỹ tên tuổi, chỉ cần có thể diễn xuất qua giọng hát và lay động cảm xúc khán giả”. Baz vô tình để ý Nicole và Ewan trong hai vợ kịch khác nhau trên sân khấu Broadway và quyết định ráp nối hai ngôi sao trong dự án phim Moulin Rouge. Giọng nam của Ewan có phần nổi trội hơn giọng Nicole về độ vang và độ dày nhưng cả hai lại có sự hòa hợp và bổ trợ ăn ý trong nhiều liên khúc tình yêu.

Ngoài ra, bổ trợ cho giọng hát là kỹ thuật thu thanh khá đa dạng nhờ yếu tố công nghệ. Thứ nhất, phim áp dụng kỹ thuật playback truyền thống : hai diễn viên chính thu âm và phát lại (playback) trên trường quay. Thứ hai, họ sẽ hát live thu tiếng trực tiếp không có sự can thiệp công nghệ. Cuối cùng, Baz sử dụng kỹ thuật mới mẻ : diễn viên chính hát trực tiếp trong phim và sau đó giọng hát sẽ được thay thế với công nghệ digital khiến cho họ bị khóa môi như hát lip-sync. Ca khúc chủ đạo trong phim Come what may cũng được áp dụng kỹ thuật dưới nhiều hình thức khác nhau.

Moulin Rouge là điểm sáng cho sự trở lại của thể loại phim ca nhạc sau nhiều năm vắng bóng. Thông qua đó, khán giả cảm nhận sự cầu kỳ và tâm huyết của bàn tay pha chế cocktail âm nhạc của đạo diễn người Úc. Không chỉ đơn thuần là ý tưởng mới mẻ pop hóa phim ca nhạc, Moulin Rouge là kho tài nguyên quý giá về tài năng của êkip sản xuất từ đạo diễn đến diễn viên.

Suddenly the world seems such a perfect place ; Suddenly it moves with such a perfect grace ; Suddenly my life doesn't seem such a waste ; It all revolves around you ; And there's no mountain too high ; No river too wide ; Sing out this song and I'll be there by your side ; Storm clouds may gather ; And stars may collide ; [Ewan:] But I love you ; [Nicole:] I love you ; Until the end of time.

Bất chợt thế giới này trở thành nơi hoàn hảo ; Bất chợt di chuyển với sự duyên dáng ; Bất chợt cuộc đời anh không còn vô nghĩa ; Khi có em ở bên ; Không có ngọn núi quá cao ; Không có con sông nào quá rộng ; Hãy cất tiếng hát bài ca này và anh luôn ở bên em ; Bão tố có thể kéo tới, các ngôi sao có thể va chạm ; Nhưng anh sẽ yêu em tới trọn đời.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/11/2020(UTC)
viethoaiphuong
#482 Posted : Sunday, July 12, 2020 1:09:08 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Điện ảnh Hollywood, cuốn theo cuộc Đại chiến thế giới

RFI - 12/07/2020
Vừa chập chững những bước đi đầu tiên, điện ảnh Mỹ đã bị cuộc Thế Chiến Thứ Nhất ở châu Âu bên kia bờ Đại Tây Dương cuốn theo. Một lý do rất chính trị, chính phủ Mỹ thời bấy giờ đã nhìn thấy điện ảnh như một công cụ tuyên truyền hữu hiệu và các nhà điện ảnh Mỹ trở thành những chiến sĩ xung kích trên mặt trận tuyên truyền. (Tạp chí được phát lần đầu ngày 20/09/2017).

Chính bối cảnh và các trải nghiệm chiến tranh đã giúp Hollywood có được sức bật mới để phát triển thành một ngành công nghiệp giải trí có sức ảnh hưởng lớn nhất thế giới hiện nay. Các nhà làm phim Hollywood đã bị lôi kéo vào cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất như thế nào?

Một sự kiện làm đảo lộn dư luận Mỹ: Con tàu thủy Lusitania chuyên chở đến Anh những thường dân và các khí tài chiến tranh đã bị tàu ngầm Đức phóng lôi đánh chìm. Hậu quả 1.200 nạn nhân, trong đó có 128 người Mỹ. Giáo sư sử học William Deverelle nhớ lại:

"Người Mỹ có cảm giác chiến tranh ở xa họ, bên châu Âu cho đến tận khi chiếc tàu ngầm Đức làm thiệt mạng các công dân Mỹ. Quả thực Los Angeles đang ngày càng chú ý nhiều đến chiến tranh. Trong những năm 1915, 1916 nhiều người ở Los Angeles đã lên tiếng nói rằng cần phải can thiệp".

Cuốn theo chiều gió chiến tranh

Rồi sau đó xuất hiện vụ “bức điện tín Zimmerman”. Tháng Giêng năm 1917, một bức điện mật gửi đến chính phủ Mêhicô bị tình báo Anh chặn được. Tác giả bức điện là bộ trưởng ngoại giao Đế chế Đức Arthur Zimmerman. Ông William Deverelle cho biết tiếp:

“Bức điện nói rằng nếu Hoa Kỳ lao vào cuộc chiến với các đồng minh, họ có thể chọn đồng minh giữa Đức và Mêhicô. Điều này đã gây tức giận ở Hoa Kỳ.

Bức điện của Zimmerman nhắc Hoa Kỳ rằng miền tây nam nước này cách đó không lâu vẫn còn là lãnh thổ Mêhicô và nó có thể trở lại Mêhicô dưới sự quản lý của chính phủ Mêhicô. Điều này đã làm thức tỉnh California, bang này nhận thấy tình trạng nghiêm trọng”.

Cùng thời kỳ đó, Cecil B. DeMille làm bộ phim “La petite américaine - Cô bé Mỹ” với Mary Pickford đóng vai chính. Cô vào vai Angela trên đường đến gặp bà cô già ở châu Âu. Cô xuống một con tàu thủy, cũng giống như con tàu Lusitania, tàu của cô bị thủy lôi bắn chìm trên đường qua châu Âu. Được cứu sống ở phút chót, cô đến được nước Pháp khi đó đang bị Đức chiếm đóng. Nhưng tại đây, cô được chứng kiến những tội ác dã man của người Đức và cô chọn đứng về phe đồng minh.

Ngày 06/04/1917, Quốc Hội Mỹ đồng ý tham chiến với 373 phiếu thuận, 50 phiếu chống. Tổng thống Wilson đã phải thay đổi căn bản lập trường. Theo nhà nghiên cứu Steven Ross:

“Cách đó chưa đầy một năm, ông đã hứa không đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh, còn giờ thì ông đã chính thức lao vào và ông phải quay ngược dư luận toàn quốc. Một tuần sau khi tuyên bố chiến tranh, ông thành lập ủy ban thông tin nhà nước. Ông chỉ định một cựu nhà báo, George Creel và ra lệnh cho ông ấy bằng một dòng chữ : “Hãy tán dương cuộc chiến này với người dân Mỹ!”

Ý thức được quyền lực ngày càng lớn của điện ảnh, George Creel liên hệ với Hollywood yêu cầu sản xuất các bộ phim ca tụng nước Mỹ và chính phủ. Ban đầu đề nghị bị bác bỏ, các nhà sản xuất phim muốn chứng tỏ độc lập.

George Creel sử dụng đến đe dọa nếu Hollywood từ chối, chính phủ sẽ hạn chế xuất khẩu phim, sẽ gọi nhân viên của Hollywood đăng lính và đóng cửa các sân khấu buổi tối. Vài ngày sau, ông nhận được một bức thư của các trường quay Hollywood với một giọng điệu khắc hẳn. Steven Ross cho biết tiếp:

“Chúng tôi quyết định hợp tác với chính phủ, từ nay chúng tôi sẽ không còn sản xuất các phim mang tính tích cực với khán giả Mỹ. Creel như vậy đã giành thắng lợi trong cuộc chơi. Ông bảo đảm không có ai ly khai ở Hollywood. Không có phim phê phán chiến tranh làm ảnh hưởng đến tinh thần dân chúng Mỹ.”

Các ngôi sao điện ảnh cũng muốn thể hiện cho thấy họ tham gia vào các nỗ lực của cuộc chiến. Hai tuần sau khi Quốc hội bỏ phiếu, một đội vệ binh được thành lập ở Los Angeles. Cecil B DeMille là chỉ huy, Mary Pickford, người cầm cờ. Một ngày Chủ Nhật, đội vệ binh diễu hành trên đại lộ Hollywood và trung tâm Los Angeles. Ông Marc Wanameker:

“Đội vệ binh quốc gia chính là Hollywood biểu dương tinh thần ái quốc, tất nhiên rất biểu tượng. Nhưng cũng có những đơn vị được quân đội huấn luyện tại trang trại Jessy Lasky, được học cách bắn và tác chiến. Họ trở thành những thủ lĩnh không chỉ trong lĩnh vực làm phim mà cả trong cuộc chiến tranh”.

Một đóng góp khác của các nghệ sĩ của màn ảnh rộng. Chiến dịch đăng ký tham gia chiến tranh. Washington tổ chức nhiều chuyến lưu diễn trong đó có một cuộc với Douglas Fairbanks, Charlie Chaplin, Mary Pickford và võ sĩ quyền anh Jack Demsey, chuyến lưu diễn đã thành công. Hàng triệu đô la đã được quyên góp.

“Có hàng triệu người đến xem họ. Chúng ta đang ở những năm 1910 không có truyền hình, phát thanh; họ trở thành những ngôi sao quốc tế. Ta có thể nói đó là hệ quả của chiến tranh”.

Sự hợp tác giữa Washington và Hollywood tỏ ra sinh lợi vì ngoài các phim của họ, các xưởng phim còn nhận được đơn đặt hàng của chính phủ về các đề tài thời sự mặt trận, phóng sự chiến trường, phim ngắn ca ngợi tinh thần yêu nước… Không bao lâu sau, điện ảnh đã vượt qua mong đợi của chính phủ, chuyển theo hướng tuyên truyền.

Tất cả những phim như vậy góp phần huấn luyện binh sĩ, phần lớn trong họ khám phá điện ảnh đồng thời với chiến tranh. Mary Pickford trở thành người đỡ đầu cho nhiều đơn vị trong hải quân, pháo binh và không quân. Năm 1918, nhà biên kịch Frances Marion viết riêng cho cô nhân vật Johanna Enlists.

Trong phim này nữ diễn viên kêu gọi công chúng dấn thân và kêu gọi các đoàn quân hãy chỉ trở về sau khi giành chiến thắng ở Đức. Về phần mình đạo diễn David W. Griffith được chính phủ Anh đề nghị làm một phim tài liệu ca ngợi các đồng minh. Ông được mời đến quay tại mặt trận Somme (Pháp), ông lồng ghép những hình ảnh chiến tranh vào một câu chuyện tâm lý tình cảm để lên án sự tàn bạo của Đức.

Vẫn theo chuyên gia Marc Wanamaker:

“Griffith đến Pháp và quay các cảnh trong các đường hào, cho dù phần lớn của bộ phim được thực hiện tại Hollywood, trong trường quay thực địa. Chủ đề của phim là để cho thấy các phụ nữ, trẻ em, gia đình chịu đau khổ. Khi bạn mô tả các phụ nữ trong chiến tranh là bạn nói về nhân loại, trong đó công chúng có thể cảm thấy có mình trong đó”.

Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất làm 10 triệu người chết ở châu Âu, 5.000 người Mỹ. Nhưng nó cũng giúp Mỹ trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Như nhận xét của nữ văn sĩ Cari Beauchamp :

“Chiến tranh đã thay đổi tại đất nước này, tôi không nghĩ họ nhận ra điều đó vào năm 1914. Nhưng chiến tranh đã sinh lợi rất nhiều cho Hollywood vì nó đã loại trừ mọi cạnh tranh. Châu Âu thực tế có những nhà điện ảnh lớn giờ đuổi theo sự chậm trễ và họ không thể làm được khi chiến tranh kết thúc vì 90% sản phẩm điện ảnh trên thế giới là làm tại Mỹ”.

Năm 1919 Douglas Fairbanks, Charlie Chaplin, Mary Pickford và David W. Griffith thành lập hội United Artist để bảo vệ các tác phẩm của họ. Các xưởng phim Hollywood giờ đây tự kiểm soát việc sản xuất, phát hành và khai thác phim.

Chiến tranh đã giúp điện ảnh phát triển thành một ngành công nghiệp thực thụ. Los Angeles là thủ đô và các minh tinh màn bạc, là đồng minh quý giá của Washington. Từ giờ một điều không thể chối cãi là Hollywood đã trở thành một thế lực kinh tế và nghệ thuật có ảnh hưởng đối với cả thế giới.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/12/2020(UTC)
viethoaiphuong
#483 Posted : Monday, July 13, 2020 5:54:40 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)


Ngành văn hóa Pháp bị Covid-19 tác hại lâu dài

Tuấn Thảo - RFI - 13/07/2020
Sau 3 tháng phong tỏa, cuối cùng giới chuyên ngành văn hóa cũng biết được mức độ thiệt hại của dịch Covid-19. Theo khảo sát do Cơ quan Nghiên cứu, Dự báo và Thống kê Deps (trực thuộc Bộ Văn hóa Pháp) công bố hồi đầu tuần, doanh thu năm 2020 của ngành văn hóa sẽ giảm ít nhất là 25%, so với năm trước. Biểu diễn sân khấu và nghệ thuật triển lãm là hai ngành bị thiệt hại nặng nhất.

Bản phân tích của cơ quan Deps đã được thực hiện với sự cộng tác của nhiều cơ sở văn hóa và tổ chức chuyên nghiệp. Tính tổng cộng, 7.800 nhân viên hoạt động trong ngành văn hóa đã được thăm dò ý kiến để đo lường tác động của dịch Covid-19 đối với tất cả các ngành nghề nói chung. Tính tổng cộng, hơn 10 lĩnh vực chuyên môn đã được rà soát và các số liệu được đem ra đối chiếu với cùng thời kỳ năm trước. Đó là các ngành xuất bản sách, báo chí, sân khấu âm nhạc, điện ảnh, thu thanh, quảng cáo, nghe nhìn, trò chơi video, biểu diễn trực tiếp, giáo dục văn hóa, di sản kiến trúc).

Bản nghiên cứu này xác nhận nỗi lo âu mà giới chuyên ngành đã có từ lâu. Văn hóa chẳng những là một trong những ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nhất, mà còn ít có khả năng phục hồi nhanh chóng. Nếu như các ngành xuất bản, các tiệm sách, ngành phát hành phim hay đĩa hát có thể gỡ gạc thất thu bằng những hình thức kinh doanh khác, thì ngược lại các lãnh vực có liên hệ trực tiếp với khán giả hay khách tham quan như các viện bảo tàng hay sân khấu kịch nghệ phải chịu tác động lâu dài hơn.

Theo đánh giá của cơ quan Deps, một số bộ môn như phim ảnh hay băng đĩa bắt đầu hoạt động trở lại để có nguồn thu nhập, nhưng đáng lo ngại hơn là đà phục rất chậm của ngành sân khấu, các liên hoan và các đợt biểu diễn chuyên thu hút đông đảo khán giả. Các quy định về giãn cách xã hội cũng như các biện pháp ràng buộc về mặt tiếp đón, khiến cho việc tập hợp tại các nơi công cộng càng trở nên khó khăn hơn, trong cách tổ chức cũng như quản lý. Điều đó giải thích phần nào vì sao Đêm hoà nhạc cổ điển dưới chân tháp Eiffel vẫn được duy trì, nhưng chủ yếu là để thu hình và phát sóng trực tiếp nhân Lễ Quốc Khánh Pháp cho khán giả truyền hình, nhưng tuyệt đối không có người xem tại chỗ. Đối với các môn biểu diễn cũng như các ngành lệ thuộc vào khán giả, chừng nào các cuộc tụ họp lớn vẫn còn bị cấm thì hậu quả của dịch Covid-19 vẫn tiếp tục kéo dài, theo kịch bản tốt nhất là cho đến cuối năm 2020, xấu nhất là trong vòng hai năm tới, trước khi có thể tìm lại mức hoạt động bình thường.

Cũng cần biết rằng doanh thu của ngành văn hóa Pháp lên tới 97 tỷ euro hàng năm, tương đương với 2,3% GDP của Pháp. Ngành này tuyển dụng 635.700 nhân viên làm việc cho 79.800 công ty khác nhau. Dịch Covid-19 đã làm cho ngành này năm nay mất 22,3 tỷ euro, tương đương với 25% doanh thu của năm 2019. Một cách cụ thể, một số lãnh vực chuyên môn chịu thiệt hại nặng hơn so với các ngành khác, chẳng hạn lãnh vực nghệ thuật biểu diễn bị mất 72% doanh thu, tức là cao gấp đôi so với các viện bảo tàng và các di sản kiến trúc (-36%).

Họa người phúc ta. Các bộ môn văn hóa dễ dàng khai thác mô hình kinh doanh trực tuyến lại là những lãnh vực được hưởng lợi nhiều nhất trong thời kỳ phong tỏa vừa qua. Đó là trường hợp của các trò chơi video điện tử cũng như các nội dung phát hành trực tuyến : phim ảnh, ca nhạc, thể thao, thời trang trên mạng đã tăng thêm 15% doanh thu trong 6 tháng đầu năm 2020.

Sau khi biện pháp phong tỏa được dỡ bỏ, nếu như các tiệm sách, các rạp chiếu phim, các cửa hàng văn hóa dần dần hoạt động trở lại, tức là nguồn doanh thu vẫn còn chậm, thì ngược lại nhiều người Pháp vẫn giữ thói quen tiêu dùng, mua sắm trực tuyến và như vậy các nội dung văn hóa trên mạng vẫn ăn khách, cho dù không còn lệnh phong tỏa.

Theo đánh giá của cơ quan Deps, các lãnh vực như sách báo, âm nhạc, quảng cáo, thời trang, thiết kế, kiến trúc, triển lãm nhằm mục đích bán đấu giá sẽ từng bước mở lại và theo dự kiến sẽ tìm lại với mức hoạt động gần như bình thường vào cuối năm nay. Điều đó có nghĩa là ngành kinh doanh văn hóa phẩm sẽ được chuẩn bị kịp thời cho những ngày lễ cuối năm, vốn là mùa mua sắm và tiêu thụ truyền thống.

Ngược lại, tác động của dịch Covid-19 sẽ kéo dài đối với ngành biểu diễn sân khấu, các phòng trưng bày, các viện bảo tàng, nghề sản xuất phim nhưng chủ yếu là phim trường và các khâu tiền kỳ nhiều hơn là các khâu hậu kỳ như thu thanh lồng tiếng, ngành trùng tu các công trình kiến trúc cũng như các di sản văn hóa. Các ngành này theo dự kiến sẽ phục hồi chậm.

Theo phân tích của cơ quan Deps, một số cở sơ văn hóa là nạn nhân kép của dịch Covid-19. Chẳng hạn như các viện bảo tàng nhỏ có thể trông cậy vào khách tham quan là dân địa phương để khởi động lại các sinh hoạt, trong khi các viện bảo tàng lớn ở Paris như Louvre hay Orsay, do tiếp đón rất nhiều du khách nước ngoài, cho nên đà phục hồi sẽ rất chậm từ đây cho đến năm tới, bảo tàng Louvre chẳng hạn chỉ tiếp đón một phần năm lượng khách so với mức bình thường. Một cách tương tự, tiến độ thực hiện các dự án trùng tu di sản tại Pháp cũng sẽ gặp nhiều chậm trễ, vì cả hai ngành văn hóa và xây dựng đều là nạn nhân kinh tế trực tiếp của dịch Covid-19.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/13/2020(UTC)
viethoaiphuong
#484 Posted : Wednesday, July 15, 2020 5:09:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)
Nhiều rạp chiếu phim Pháp lại đóng cửa do vắng khách

Tuấn Thảo - RFI - 14/07/2020
Tại Pháp, các rạp chiếu phim đã được phép mở lại kể từ ngày 22/06/2020. Tuy nhiên, số lượng khán giả đến xem phim ở rạp, lại thấp hơn nhiều so với dự đoán. Trước tình trạng thiếu khán giả, nhiều rạp chiếu phim sau hai tuần lễ hoạt động, đã buộc phải đóng cửa một lần nữa, vì doanh thu phòng vé không đủ để trang trải các chi phí.

Một triệu lượt khách. Đó là số lượng khán giả Pháp đã mua vé đi xem phim trong vòng hai tuần lễ, khi các rạp chiếu được mở lại sau gần ba tháng bị phong tỏa do dịch Covid-19. Con số này thấp hơn nhiều so với dự đoán, vì theo thăm dò gần đây nhất của cơ quan Médiamétrie, có khoảng 21 triệu người Pháp cho biết họ sẵn sàng trở lại các rạp chiếu phim trong những tuần lễ đầu tiên dỡ bỏ phong tỏa.

Số liệu này cũng thấp hơn nhiều so với cùng thời kỳ năm trước, khiến cho giới phát hành phim cũng như các nhà quản lý các rạp chiếu phim càng thêm lo âu, bởi vì họ không ngờ gặp nhiều khó khăn đến như vậy. Theo lời ông Marc-Olivier Sebbag, chủ tịch Liên đoàn các rạp chiếu phim Pháp (FNCF), tình trạng vắng khách lại càng làm cho giới chuyên ngành bi quan hơn, nhất là trong bối cảnh rất nhiều sự kiện quan trọng như ‘‘Ngày Hội điện ảnh’’ (La Fête du Cinéma) đã bị hủy bỏ, trong khi các chương trình văn hóa này đã ra đời chủ yếu là nhằm kích thích mức cầu, với mục đích thu hút đông đảo khán giả vào rạp.

Các rạp chiếu phim Pháp đã trông cậy rất nhiều vào sự hưởng ứng của giới ghiền phim nói riêng, của công chúng nói chung. Tuy nhiên, các nhà quản lý đành phải thừa nhận rằng các phòng vé đã mở lại trong một bối cảnh không mấy thuận lợi : các suất chiếu phim đã giảm đi một nửa, trong khi việc tiếp đón người xem cũng bị hạn chế. Do các quy định giãn cách xã hội, các phòng chiếu phim khi sắp đặt chỗ ngồi, buộc phải tạo khoảng cách tối thiểu giữa các nhóm khán giả với nhau.

Theo khảo sát cuối tuần qua của mạng thông tin Box Office Pro, nhiều rạp chiếu phim ở Paris, Montluçon, Coulommiers hay là Chalon sur Saône, phải tạm thời đóng cửa một lần nữa. Các suất chiếu phim khó thể nào được duy trì, khi không có đủ khán giả mua vé đi xem phim. Đây là trường hợp của đa số các rạp chuyên khai thác dòng ‘‘phim nghệ thuật’’, như rạp Hémisphère ở thành phố Coulommiers, rạp hát Palace ở thành phố Montluçon gồm 5 phòng chiếu phim, đều quyết định tạm thời đóng cửa cho tới tháng 08/2020.

Rạp chiếu phim L'Épée de Bois nằm trên đường Mouffetard, ở khu phố La Tinh, giữa lòng thủ đô Paris cũng đành phải ngưng hoạt động trong suốt tháng này, do lượng khán giả đã giảm 80% so với cùng mùa hè năm ngoái. Rạp chiếu phim này nằm trong một trong những khu phố có đông đảo du khách qua lại, cho nên nhân dịp hè cũng thường chọn chiếu phim thương mại Anh ngữ có phụ đề tiếng Pháp. Thế nhưng năm nay, hẳn chắc là cũng không có thêm khán giả nào thuộc thành phần du khách, cho dù có chiếu phim thương mại hay không.

Về phần mình, công ty Megarama khai thác 23 rạp chiếu phim ở Pháp, đã buộc phải đóng cửa vô thời hạn hai rạp chiếu ở vùng Jura và Saône et Loire. Lượng khán giả đi xem phim ở rạp tại các vùng này đã giảm từ gấp 5 đến gấp 10 lần. Cả hai rạp chiếu phim đã không cho biết chừng nào mới mở cửa trở lại, điều đó dự báo là cả hai rạp chiếu phim này có nguy cơ bị đóng cửa luôn.

Theo giải thích của giới chuyên ngành, sở dĩ khán giả Pháp vẫn chưa vội trở lại xem phim ở rạp (ngoài các vấn đề liên quan tới các quy định ràng buộc về giãn cách xã hội) là vì vẫn còn thiếu các loại phim ‘‘thương mại’’ có khả năng lôi cuốn đông đảo khán giả thuộc mọi thành phần đến rạp. Theo thông lệ, mùa hè là mùa khai thác các bộ phim blockbusters, mang nhiều tính giải trí, chủ yếu nhắm vào đại đa số khán giả.

Trong năm 2019, các bộ phim Mỹ với kinh phí cao, đã góp phần thu hút đông đảo khán giả Pháp đến xem phim ở rạp. Các bộ phim như Vua sư tử, Toy Story 4, tập ngoại truyện Hobbs và Shaw của loạt phim Fast & Furious đã thu hút gần 35 triệu lượt khán giả Pháp trong tháng Bảy và tháng Tám. Năm nay, giới chuyên ngành đặt nhiều hy vọng vào hai bộ phim ‘‘Tenet’’ và ‘‘Hoa Mộc Lan’’. Tuy nhiên, việc các nhà sản xuất ở Hollywood đã dời lại ngày ra mắt hai bộ phim này lại càng làm cho giới phân phối phim ở Pháp thêm sốt ruột.

Theo khảo sát của mạng thông tin Box Office Pro, một số rạp chiếu phim Pháp chỉ thu hút 10% khán giả kể từ khi được mở lại vào ngày 22/06. Trước mắt, ban quản lý không có cách nào khác là cho giới nhân viên tạm thời nghỉ việc. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài, và nếu không có biện pháp kích cầu nào khác hầu lôi kéo khán giả trở lại, thì có khoảng 30% các rạp chiếu phim, nhất là các rạp phim độc lập, hay các công ty gia đình có nguy cơ bị đóng cửa luôn.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/15/2020(UTC)
viethoaiphuong
#485 Posted : Wednesday, July 22, 2020 4:03:50 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)




Julio Iglesias - Nếu cuộc đời là bản tình ca

RFI - 18/07/2020
Với sự nghiệp trải dài hơn 50 năm, Julio Iglesias ở tuổi 75 vẫn không ngừng nghỉ ca hát với niềm đam mê bất tận. Hầu hết khán giả biết đến Julio là giọng hát trữ tình sâu lắng với hơn 300 triệu đĩa hát tiêu thụ khắp toàn cầu.

Nhưng câu chuyện truyền cảm hứng nhất chính là tai nạn xe hơi thay đổi hoàn toàn cuộc đời Julio Iglesias, theo Gia Trình. Hơn thế nữa, thiếu đi tính kỷ luật và sự lãng mạn thì khó lòng ông có thể trở thành ngôi sao ca nhạc được yêu mến nhất như hiện nay.

Phong cách quan trọng hơn chất giọng?

Sở hữu chất giọng nam vô cùng ấm áp, ngôi sao nhạc pop sinh năm 1943 đã chinh phục hàng triệu trái tim người nghe nhạc với những bản ghi âm “đo ni đóng giày” như Crazy, When I need you, My Way, La Paloma.

Không chỉ hát solo, những bản song ca luôn là điểm nhấn khó phai của Julio vì lối hát tự nhiên, luôn biết cách giao tiếp với khán giả. Trả lời phỏng vấn của hãng AP, Julio từng khẳng định : “Trong cuộc sống, tự nhiên rất quan trọng vì nó tạo nên phong cách. Hát hay hoặc dở, thích hay không thích nhưng phong cách bạn sẽ không bao giờ bị lẫn lộn. Tôi cho rằng phong cách còn quan trọng hơn chất giọng.”

Tuy nhấn mạnh về phong cách, không ai phủ nhận giọng nam đẹp, trầm ấm mặc dù quãng hơi hẹp. Có lẽ điểm hấp dẫn nhất ở Julio là sự trung thực và chất lượng nghệ thuật một nghệ sỹ thực thụ có thể truyền tải. Đơn cử như ca từ hóm hỉnh trong bản hit năm 1986, To all the girls I’ve loved before (Gửi tới tất cả các cô gái tôi từng yêu) song ca với Willie Nelson rất ăn nhập với sự lãng mạn, hào hoa và lối hát tự nhiên. Phải chăng đây là thông điệp của Julio Iglesias về những mối tình lãng mạn của một nghệ sỹ tài hoa ?

To all the girls I once caressed ; And may I say, I've held the best ; For helping me to grow, I owe a lot, I know ; To all the girls I've loved before ; The winds of change are always blowing ; And every time I tried to stay.

Gửi tới tất cả những cô gái tôi từng ôm ấp, đã giúp tôi khôn lớn từng ngày. Tôi biết mình còn nợ nhiều lắm với tất cả những cô gái tôi đã từng yêu. Nhưng con gió thay đổi vẫn đẩy tôi xa dần mỗi khi tôi muốn dừng lại.

Tai nạn xe hơi - Ngã rẽ cuộc đời

Ngẫu nhiên đưa Julio đến với âm nhạc không phải là giọng hát hay tình yêu nghệ thuật mà do tai nạn xe hơi khủng khiếp năm ông 19 tuổi. Bị liệt nửa người từ ngực trở xuống, một sinh viên ngành Luật như Julio phải từ bỏ ước mơ theo đuổi sự nghiệp cầu thủ.

Tuy nhiên, vụ tai nạn là ngã rẽ vĩ đại nhất cuộc đời Iglesias nhờ tác dụng trị liệu của âm nhạc cũng như ý chí kỷ luật. Khi Julio vất vả luyện tập để cử động cánh tay và ngón tay, y tá chăm sóc ông đã tặng một món quá quý giá: cây guitar cổ điển. Đó vừa là liệu pháp tâm lý cho chứng bệnh trầm cảm trên gường bệnh, đồng thời là phương tiện luyện tập ngón tay và bàn tay.

Lúc đầu, Julio chưa thể chơi được nhiều hợp âm (chord) do cử động ngón tay chậm, cả thảy chỉ có năm hoặc sáu hợp âm. Ít ai ngờ rằng vốn liếng hợp âm ít ỏi và giọng hát tự nhiên, trầm ấm lại đưa ông đến thành công rực rỡ trong làng âm nhạc thế giới. Album solo Yo Canto trình làng năm 1969 thành công rực rỡ đưa tên tuổi Julio được biết đến trên toàn thế giới. Thành công của album phản ảnh tính kỷ luật và bền bỉ của Julio khi vượt qua bệnh tật đến với âm nhạc.

Hát đơn ca đã khiến đốn tim hàng triệu fan nhưng nếu nghe Julio hát song ca thì tầm ảnh hưởng nhân lên gấp bội. Bản hit When you tell me you love me hát cùng Dolly Parton, cover lại của Diana Ross, cũng đưa lên tầm cao mới về khát vọng và sự thăng hoa trong tình yêu. Một ví dụ khác, bản nhạc Hey cũng xuất sắc về sự phối hợp khi song ca cùng hai giọng ca nữ Natasha và Julie trên sóng truyền hình Pháp thu hút lượng lớn khán giả. Giọng Julio dày và êm làm nền tảng chắc, đồng thời hòa quyện và tôn cao giọng nữ. Đó là một trong những lý do cơ bản khiến cho bản song ca của Julio nghe rất bắt tai và có độ ép phê lý tưởng.

Gần đây, Julio cũng xuất hiện nhiều trên các chương trình thưc tế với bản hit I want to know what love is hát cùng nữ ca sỹ Cynthia Brown. Bài này cũng đươc Mariah Carey cover nhưng cách Julio chọn bài và tính toán thì dễ thở hơn. Đây là ca khúc khó thể hiện với phần đầu tông nhạc rất trầm và điệp khúc được đẩy lên những nốt rất cao. Julio tính toán rất hợp lý khi ông hát quãng trầm đúng tông giọng nam để dư địa cho giọng nữ bay vút. Bài hát trở nên rất thanh toát và sâu lắng không kém gì bản gốc của nhóm Foreigner.

Cuộc đời và gia đình

Không chỉ nổi tiếng về âm nhạc, Julio có thể tự hào về gia tài con cái khi ông trải qua hai lần kết hôn chính thức với 8 người con. Mới đây, tòa án thành phố Valencia kết luận ông là người cha hoàn toàn xa lạ với đứa con rơi 44 tuổi, Javier Sanchez-Santos. Đây được coi như kết quả mối tình chớp nhoáng với vũ công người Bồ Đào Nha, Maria Santos vào năm 1975 khi ông vẫn sống chung với người vợ đầu tiên Isabel Preysler, MC truyền hình.

Julio chính thức nâng tổng số con lên 9 người và thêm một người vợ chưa được thừa nhận. Ông thổ lộ rằng cuộc đời nghệ sỹ lưu diễn thường xuyên không thể dành quá nhiều thời gian cho gia đình và con cái. Bù lại, một người cha kỷ luật như Julio Iglesias có thể làm là truyền cảm hứng cho những đứa con tự khám phá con đường riêng như Enrique hay Julio Junior rất thành công.

Nếu cuộc đời là một bản tình ca, thì bản tình ca của Julio rất trầm bổng, không đơn thuần là may mắn như ông từng khắc họa trong ca khúc My Way (cover lại của Frank Sinatra). Đó là phải nghị lực, tính kỷ luật của người đàn ông bên trong lớp vỏ đam mê một nghệ sỹ trên chặng đường nửa thế kỷ ca hát.

Yes, there were times, I'm sure you knew ; When I bit off more than I could chew ; But through it all, when there was doubt ; I ate it up and spit it out ; I faced it all and I stood tall ; And did it my way; I've loved, laughed and cried ; I've had my fill, my share of loosing

Có những thời điểm, chắc rằng bạn hiểu ; Khi tôi gánh vác nhiều trách nhiệm hơn tôi có thể ; Nhưng sau tất cả, kể cả những nghi ngờ ; Tôi vượt qua mọi khó khăn bất cứ khi nào nó xảy đến ; Tôi đối diện sự thật và luôn tự tin ; Tôi làm điều đó theo cách tôi muốn ; Tôi đã yêu, đã cười và khóc ; Tôi đã trải qua tất cả cảm xúc đời người.

(Theo CNN, AP News)

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/22/2020(UTC)
viethoaiphuong
#486 Posted : Friday, July 24, 2020 8:15:40 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)



Paris duy trì liên hoan Nhạc cổ điển trong vườn hoa Vincennes

Tuấn Thảo - RFI - 23/07/2020
Sau nhiều tháng bặt tin, cuối cùng ban văn hóa thuộc Tòa Đô chính Paris đã thông báo duy trì việc tổ chức vào mùa hè năm nay các buổi hòa nhạc cổ điển trong vườn hoa Vincennes. Do các quy định giãn cách xã hội đang có hiệu lực, chương trình biểu diễn năm này đã được rút gọn lại, diễn ra từ ngày 15/08 đến ngày 19/09/2020.

Mang tên chính gốc là ‘‘Classique au vert’’ (trong tiếng Anh là The Green Classic Music Festival), đây là một liên hoan thường niên được thành lập vào năm 1993 và được tổ chức vào mỗi mùa hè trong một không gian rộng mở thoáng mát, lợp đầy bóng cây xanh. Đúng như tên gọi của mình, liên hoan ‘‘Classique au vert’’ ban đầu chủ yếu là các buổi trình diễn nhạc thính phòng để rồi được mở rộng với thời gian, năm tháng sang nhiều thể loại âm nhạc khác.

Trong chương trình năm nay, liên hoan Classique au vert giới thiệu 7 buổi biểu diễn khác nhau gồm cả nhạc thính phòng hay hòa tấu, giai điệu opera và dòng nhạc xướng âm, các màn độc diễn dương cầm, vĩ cầm bên cạnh các nhóm tứ tấu chơi xen kẻ với một dàn nhạc giao hưởng ….. có lẽ cũng vì nội dung khá phong phú đa dạng, cho nên liên hoan Nhạc cổ điển trong vườn hoa (Parc Floral de Vincennes) đã tạo được thêm nhiều uy tín, chương trình bao gồm cả giới nghệ sĩ nổi danh lẫn các tài năng mới, có thể làm hài lòng giới chuyên môn khó tính cũng như giới yêu nhạc dù còn chưa sành điệu.

Điển hình là đêm khai mạc liên hoan năm nay rơi vào ngày lễ Đức Mẹ lên trời (lễ Assomption 15/08/2020) được dành cho tài nghệ chơi đàn piano của Alexandre Kantorow, nghệ sĩ trẻ người Pháp đầu tiên từng đoạt giải quán quân trong cuộc thi quốc tế hàng đầu Tchaikovsky tại Nga vào năm 2019 (năm anh 23 tuổi). Khán thính giả chờ được nghe Alexandre Kantorow biểu diễn lại hai bản concerto của Brahms và nhất là của Tachaikovsky đã từng giúp cho anh vào mùa hè năm ngoái đoạt giải nhất một cuộc thi còn được xem như là Thế vận hội của dòng âm nhạc cổ điển. Do buổi biểu diễn rơi vào ngày lễ Đức Mẹ lên trời, cho nên không ít người ngưỡng mộ hy vọng được nghe Alexandre Kantorow biểu diễn thêm một vài trích đoạn, từ các tuyệt tác Ave Maria của Bach hay Gounod.

Còn trong các buổi biểu diễn khác, chương trình năm nay được đặt dưới chủ đề ‘‘song hành’’, bắt nhịp cầu đối thoại giữa các thế giới âm nhạc khác nhau, chẳng hạn như các giai điệu opera qua giọng ca muôn sắc trữ tình của Diana Tishchenko với nhịp điệu tango mới, thể loại sở trường của José Gallard, nghệ sĩ người Argentina. Hai nghệ sĩ này biễu diễn với nhau trên cùng một sân khấu vào buổi chiều chủ nhật 23/08.

Bước sang đầu tháng 09/2020, các buổi biểu diễn không còn đơn thuần là nhạc hòa tấu cổ điển mà sẽ được mở rộng sang âm nhạc thế giới, đề cao tài nghệ chơi đàn Balalaïka của Alexei Birioukov với dàn nhạc Sirba Octet phối hợp cùng lúc nhiều luồng ảnh hưởng phổ biến trong văn hóa dân gian xứ Nga, dân ca của người du mục tzigan hay truyền thống âm nhạc klezmer của người Đông Âu gốc DoThái.

Một cách tương tự, chương trình bế mạc liên hoan vào hôm 19/09 sẽ đối chiếu giọng ca soprano đầy kịch tính của Jodie Devos với tài nghệ biến tấu uyển chuyển linh hoạt của dàn nhạc Contraste (hiểu theo nghĩa tương phản), có khả năng chơi đàn theo lối xen kẻ hay phối hợp rất nhiều thể loại âm nhạc với nhau kể cả nhạc jazz, nhạc blues và gospel cũng như các nhịp điệu La Tinh.

Hầu hết các buổi hoà nhạc ‘‘cổ điển’’ đều diễn ra ngay giữa lòng vườn hoa Vincennes, tại sân khấu lớn có mái che hình cánh diều màu trắng nằm bên cạnh hồ nước lớn. Nếu như trong những năm trước, các buổi biểu diễn tập trung vào hai ngày cuối tuần (thứ bảy và chủ nhật), thì năm nay Liên hoan Classique au Vert được dàn trải, cứ khoảng 5 ngày là có một buổi biểu diễn, kể cả thứ tư thứ năm hay vào dịp week end.

Các buổi trình diễn âm nhạc nhân dịp hè đều hoàn toàn miễn phí. Đổi lại, khách tham quan phải chi 2,5 euro để mua vé vào cửa công viên Vincennes, miễn phí cho trẻ em dưới 7 tuổi. Lối vào vườn hoa được chỉ dẫn khi bạn xuống trạm Château de Vincennes, trạm cuối cùng đường xe điện ngầm số 1. Từ lúc rời khỏi trạm métro, bạn chỉ cần đi bộ khoảng vài phút là đến cổng vào công viên.

Điểm cần lưu ý là đa số các buổi trình diễn đều bắt đầu vào khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ. Khán giả không cần phải đăng ký trước như tại một số liên hoan, nhưng lại được yêu cầu đến trước giờ biểu diễn ít nhất là nửa tiếng. Tuy liên hoan diễn ra ở ngoài trời, nhưng khách tham quan vẫn được yêu cầu đeo khẩu trang trong những lúc di chuyển lui tới, và nhất là họ phải tuân thủ các khoảng cách tối thiểu, để tránh ngồi quá gần nhau, tùy theo chương trình biểu diễn khán giả có thể tụ họp đông đảo.
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/24/2020(UTC)
viethoaiphuong
#487 Posted : Saturday, July 25, 2020 4:30:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)



Hậu Covid-19 : Khó khăn của rạp phim và cơ hội của điện ảnh Pháp


Thùy Dương - RFI - 24/07/2020
Sau 99 ngày đóng cửa vì dịch bệnh Covid-19, các rạp chiếu phim tại Pháp chính thức được mở cửa trở lại vào ngày 22/06/2020. Nhưng thu hút khán giả trở lại rạp không phải là dễ dàng.

Đúng 00 giờ 01 ngày thứ Hai 22/06, trong một rạp phim ở khu phố Saint-Lazare, Paris, suất chiếu phim đầu tiên hậu Covid-19 bắt đầu, với tràng vỗ tay của 120 khán giả. Ông Louis Merle, giám đốc rạp phim Les 5 Caumartin, quận IX, chia sẻ : « Không có lời nào có thể mô tả những gì chúng tôi đang cảm nhận ! Đã 99 ngày nay chúng tôi chờ đợi được đón tiếp quý vị ! »

Hơn 3 tháng đóng cửa đã khiến hơn 2.000 rạp phim trên toàn quốc thiệt hại tới 400 triệu euro. Bộ phim đầu tiên được trình chiếu ở rạp Les 5 Caumartin là phim Pháp Les parfums. Để chào mừng sự kiện, rạp phim có pop-corn và soda miễn phí cho khán giả. Khán giả hào hứng tận hưởng cảm giác mà suốt 3 tháng qua họ không có được, còn các diễn viên, thành viên nhóm làm phim hiện diện trong buổi ra mắt phim cũng có nhiều cảm xúc.

Diễn viên Emmanuelle Devos chia sẻ với đài France 24 : « Rõ ràng là tôi đã không thể giới thiệu phim trong các điều kiện như bình thường và không thể hiện diện ở các rạp phim như thế này. Trước kia, đó là những điều rất quen thuộc đối với tôi, nhưng trong ba tháng qua tôi không được làm như vậy. Với tôi, đó là điều khó khăn mà tôi đã phải chịu đựng ».

Để có ngày mở cửa trở lại, các rạp phim đã phải chuẩn bị để đảm bảo an toàn vệ sinh tốt nhất, bởi đó là cách trấn an khán giả và kéo họ đến rạp, nhất là vì rạp phim là không gian kín và có những phòng chiếu lớn, có thể tập trung vài trăm, thậm chí hàng ngàn khán giả.

Đảm bảo vệ sinh, điều kiện tiên quyết

Cho đến giữa tháng 07/2020, Pháp đã ghi nhận hơn 30.100 ca tử vong vì virus corona, nằm trong số các nước có nhiều người chết nhất thế giới vì Covid-19. Dịch bệnh đã thuyên giảm, số ca nhiễm mới và nhập viện đều thấp hơn trước đây rất nhiều, nhưng nguy cơ làn sóng dịch thứ hai vẫn đang lơ lửng trên đầu dân Pháp. Vì thế, tuân thủ các quy định vệ sinh, giãn cách xã hội cũng là yêu cầu bắt buộc đối với các rạp phim khi mở cửa trở lại, cũng giống như đối với các cơ sở văn hóa khác, như nhà hát, bảo tàng...

Phát biểu trên đài France Info ngày 14/06, một tuần trước khi các rạp mở cửa, bà Sophie Dulac, đại diện của rạp Majestic Passy, quận 16, Paris giải thích chi tiết về công tác chuẩn bị trước ngày đón khách trở lại 22/06 :

« Các nguyên tắc vệ sinh rất đơn giản : Đeo khẩu trang trong đại sảnh của rạp phim là điều bắt buộc. Đương nhiên là chúng tôi có quy định về lối đi riêng một chiều vào và một chiều ra. Tất cả các phòng chiếu đều đã được và vẫn đang được lau chùi dọn dẹp vệ sinh hết tốc lực để tất cả đều phải thật, thật là sạch sẽ khi rạp mở cửa trở lại. Và tất nhiên, chúng tôi bố trí để dung dịch rửa tay khử trùng ở khắp nơi. Các phòng chiếu phim đều được lau dọn sau mỗi xuất chiếu »

Với phòng chiếu có thể chứa 2.700 khán giả, rạp phim Grand Rex, Paris, là một trong những rạp chiếu phim có phòng nhiều chỗ ngồi nhất ở châu Âu. Được quay trở lại với nơi vốn được mệnh danh là « rạp phim huyền thoại » này, các khán giả cũng phải tập thích nghi với những quy định hậu Covid-19. Trong một phóng sự của đài France 24, ông Stéphan Brouzet, giám đốc phụ trách các phòng chiếu phim, giải thích cụ thể :

« Ở rạp chiếu phim Grand Rex, những việc mà chúng tôi đã triển khai là sơn kẻ vạch dưới sàn nhà để quy định chỗ đứng cho khách, ở sảnh chờ cũng như ở khu vực khách đứng xếp hàng bên ngoài cửa rạp. Khi khách đến rạp, họ phải rửa tay với dung dịch rửa tay sát khuẩn, chúng tôi để dung dịch ở nhiều chỗ bên trong rạp. Ở quầy vé, mỗi người được quy định chỗ đứng riêng. Chúng tôi cũng sắp xếp lối đi một chiều để khán giả không va chạm ngược chiều nhau, không phải tiếp xúc trực diện với nhau khi đi vào và đi ra khỏi phòng chiếu phim. »

Nếu khán giả đi cùng gia đình theo nhóm nhiều người thì được ngồi ghế sát nhau, nhưng phải giữ ghế trống với các nhóm khán giả khác. Nếu khách đến rạp một mình thì phải để ghế trống ngăn với khách bên cạnh.

Chiến dịch truyền thông của Liên đoàn các rạp chiếu phim Pháp

Đã lường trước là khi mở cửa trở lại, các rạp phim vẫn sẽ gặp nhiều khó khăn vì dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, kinh tế giảm sút, nên Liên đoàn quốc gia các rạp phim Pháp đã tung ra chiến dịch « Tous au cinéma » (Tất cả mọi người đến rạp xem phim) để thu hút sự chú ý của công luận và kéo khán giả đến rạp. Nói cụ thể, đó là chương trình truyền thông quy mô lớn nhằm thông tin cho công chúng về việc mở cửa trở lại rạp phim : quảng cáo trên các kênh truyền hình, phát thanh nhà nước, mạng xã hội, áp-phích quảng cáo bắt mắt trên phố, trong các trung tâm thương mại, ở bến tàu xe…

Nhiều thành phố nhỏ ngoại ô Paris cũng có rạp chiếu phim riêng, ngoài việc quảng bá, chính quyền còn giảm giá vé để thu hút dân địa phương. Chẳng hạn, thành phố Saint-Maur-des-Fossés, ngoại ô Paris, có 2 rạp phim. Giá vé xem phim hiện giờ giảm đồng loạt xuống còn gần 5 euro, thấp hơn nhiều so với trước khi dịch bệnh xảy ra và thấp hơn so với giá vé ở các rạp phim của các hệ thống lớn như MK2, Gaumont, UGC…

Thực tế ảm đạm hơn cả dự báo bi quan nhất

Tuy nhiên, phải thừa nhận là trong tuần đầu mở cửa trở lại, các rạp phim không thu hút được nhiều khách : chỉ có 1 triệu lượt khán giả, tuần thứ hai còn tệ hơn, con số này chỉ đạt gần 838.000, trong khi vào 2 tuần cùng kỳ năm 2019, số lượt khách xem phim ở rạp đạt 3,8 triệu. Số khán giả năm 2020 như vậy đã giảm 78,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ngày 09/07, phát biểu trên đài France Inter, bộ trưởng Văn hóa Pháp, Roselyne Bachelot, khẳng định việc ít khán giả đến rạp không phải là tác động của các biện pháp giãn cách xã hội, đảm bảo vệ sinh y tế, mà chủ yếu là do không có nhiều phim mới được trình chiếu, nhất là thể loại phim "bom tấn" của Mỹ, mang tính giải trí cao, phù hợp với số đông khán giả.

Đài France Inter cho biết các nhà quản lý, khai thác rạp chiếu phim đã dự báo được khó khăn, trở ngại này từ trước khi mở cửa trở lại. Thế nhưng sau vài tuần hoạt động trở lại, họ mới càng thấy rõ hơn đây chưa phải thời điểm lý tưởng để kéo khách trở lại rạp. Tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn nhiều so với cả những dự báo bi quan nhất. Trên toàn nước Pháp, nhiều rạp phim ghi nhận chỉ đạt 10-15% số khách thường lệ. Hai tuần sau khi mở cửa, nhiều rạp phim lại phải đóng cửa vì « thu không đủ bù chi ».

Trên thực tế, báo Le Figaro ngày 09/07 cho biết vào năm 2019, chính các phim Mỹ, chẳng hạn Vua sư tử, Toy Story 4, Once Upon A Time... In Hollywood, Quá nhanh, quá nguy hiểm : Hobbs và Shaw, đã thu hút tới 34,4 triệu khán giả đến rạp trong hai tháng 07 và 08. Năm 2020, có lẽ chỉ có hai phim Mỹ Hoa Mộc Lan (Mulan) và Tenet là có khả năng tạo hiệu ứng kéo đông khách Pháp đến rạp, nhưng tình hình dịch bệnh tại Mỹ đang rất nghiêm trọng, nên những phim này dự kiến ban đầu ra rạp vào tháng 07, nay đã bị lùi đến giữa, thậm chí là cuối tháng 08.

Chính điều này đã khiến các rạp phim Pháp đau đầu. Ngành công nghiệp điện ảnh không phải vận hành theo kiểu ngay lập tức các rạp có phim để chiếu, hay có thể hủy bỏ ngay không chiếu phim nào đó. Ông Alexandre Hellmann, chủ rạp Grand Rex, Paris, nhấn mạnh với đài France 24 :

« Không, không phải là như thế. Để có một bộ phim thì cả cỗ máy phải vận hành và nhà phân phối phải lên lịch, phải xem phim được trình chiếu ở bao nhiêu phòng chiếu và như thế nào, phải thiết kế các áp-phích quảng cáo mới, phải thiết kế các quảng cáo mới trên mạng internet cũng như hoạt động quảng bá giới thiệu phim. Có rất nhiều việc phải chuẩn bị. Và cần có ít nhất 3 tháng để làm những việc đó. »

Cơ hội cho điện ảnh Pháp

Trong cái rủi lại có cái may ! Nếu nhìn nhận theo hướng tích cực, việc lùi lịch chiếu các bộ phim bom tấn của Mỹ Hoa Mộc Lan (Mulan) vàTenet có thể lại là cơ hội để điện ảnh Pháp được công chúng nước nhà quan tâm hơn. Quả thực, vào hai tuần đầu sau khi rạp phim mở cửa trở lại, hai bộ phim Pháp La Bonne Epouse và De Gaulle, vốn được khởi chiếu từ trước khi dịch bệnh nổ ra, nay lại được tiếp tục trình chiếu và thu hút lần lượt hơn 294.000 và gần 176.000 lượt khán giả.

Trong ngày ra mắt đầu tiên 08/07, bộ phim hài Tout simple noir của Jean-Pascal Zadi đã thu hút được 42.000 lượt khán giả, một con số cao kỷ lục ở Pháp thời hậu Covid-19. Ngày hôm sau, bộ trưởng Roselyne Bachelot nhấn mạnh trên đài France Inter rằng điều bộ Văn Hóa Pháp muốn là giúp đỡ ngành điện ảnh Pháp, thúc đẩy các hoạt động sáng tác, sản xuất điện ảnh thông qua Trung tâm Điện ảnh Quốc gia (CNC), để có những phim của Pháp sớm được khởi chiếu và thu hút công chúng.

Trả lời đài France Info ngày 01/07, ông Marc-Olivier Sebbag, đại diện Liên đoàn quốc gia các rạp phim Pháp (FNCF), cho biết nhiều nhà phân phối phim của Pháp nhân cơ hội này đã đẩy nhanh tiến độ để công chiếu phim sớm hơn so với kế hoạch ban đầu, tránh phải cạnh tranh với phim "bom tấn" của Mỹ.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/25/2020(UTC)
viethoaiphuong
#488 Posted : Monday, July 27, 2020 7:00:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Huyền thoại ‘Cuốn theo chiều gió’ Olivia de Havilland và tình yêu Paris

Thụy My - RFI - 27/07/2020
Nữ minh tinh Olivia de Havilland, nổi tiếng trong vai Mélanie của bộ phim kinh điển « Cuốn theo chiều gió », hôm qua 26/07/2020 đã qua đời tại quận 16 Paris, nơi bà sinh sống từ thập niên 50 đến nay, thọ 104 tuổi.

Sinh tại Nhật năm 1916 và mang quốc tịch Anh, trong thời kỳ Đệ nhất Thế chiến, Olivia de Havilland nhập tịch Mỹ năm 1941 vào thời Đệ nhị Thế chiến. Bà theo mẹ đến sống ở California lúc mới hai tuổi, khi người cha luật sư và người mẹ là diễn viên kịch ly dị.

Yêu thích kịch nghệ, Olivia được đạo diễn Áo Max Reinhardt phát hiện, mời diễn một vai trong vở « Giấc mộng đêm hè » của Shakespeare. Nữ diễn viên trẻ đóng tiếp vai này trong bộ phim cùng tên năm 1935 do Reinhardt và Warner đồng sản xuất.

Năm đó Olivia vừa 19 tuổi, hãng Warner ký hợp đồng bảy năm với cô, cánh cửa Hollywood rộng mở. Olivia de Havilland liên tục đóng nhiều bộ phim ăn khách. Nhưng nổi tiếng nhất là vai diễn để đời Melanie Wilkes trong bộ phim « Cuốn theo chiều gió », nhờ nhà sản xuất Selznick thuyết phục được Warner « cho mượn » nữ diễn viên trẻ đang lên.

Thành công vĩ đại của bộ phim dẫn đến một thắng lợi khác của Olivia : cô thắng kiện hãng Warner. Olivia phản đối do bị buộc đóng toàn những vai phụ nữ kiểu mẫu, trong khi luật thời đó cho phép hãng phim ngưng hợp đồng với các diễn viên từ chối vai. Phán quyết của tòa trở thành án lệ, làm chấn động Hollywood.

Olivia de Havilland đã diễn xuất trong 49 bộ phim, giành được hai giải Oscar nữ diễn viên xuất sắc nhất trong phim « To Each His Own »(Mỗi người một số phận, 1946) và « The Heiress » (Người phụ nữ thừa kế, 1949). Bà đóng phim ít hơn sau đó, nói rằng « không ai có thể ở trên đỉnh cao suốt mọi thời đại ».

Nữ minh tinh Hollywood khám phá Paris năm 1953 và đem lòng yêu mến nước Pháp, tuyên bố « Pháp là nước duy nhất mà tôi có cảm giác như ở nhà mình ». Ly dị tiểu thuyết gia Mỹ Marcus Goodrich năm 1954, một năm sau bà lấy nhà báo Pháp Pierre Galante, thư ký tòa soạn tuần báo Paris Match. Con gái của hai người hiện nay cũng là phóng viên Paris Match. Hai vợ chồng chia tay năm 1962, nhưng tiếp tục sống chung một nhà trong sáu năm sau.

Olivia quyết định sống ở Pháp suốt phần đời còn lại, khoảng nửa thế kỷ. Bà là minh tinh cuối cùng của thời đại vàng Hollywood thập niên 30-40. Olivia kể lại việc thích ứng với đời sống Pháp trong cuốn « Each french man has one » vào đầu thập niên 60.

Nước Pháp đền đáp cho bà khi trao cho Olivia de Havilland chức chủ tịch ban giám khảo Liên hoan điện ảnh Cannes năm 1965 – người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Cannes được mời giữ vai trò này. Năm 2010, tổng thống Nicolas Sarkozy tặng cho bà Bắc đẩu Bội tinh.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/27/2020(UTC)
viethoaiphuong
#489 Posted : Tuesday, July 28, 2020 7:47:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)



Phim Pháp thành công trên mạng Netflix

Tuấn Thảo - RFI - 28/07/2020
Phim truyền hình nhiều tập, phim truyện quay cho màn ảnh lớn, phim tài liệu theo chuyên đề, hay đơn giản hơn nữa là các tiết mục truyền hình thực tế, có khá nhiều chương trình giải trí được sản xuất tại Pháp lại được đông đảo khán giả nước ngoài hưởng ứng. Điều này một phần lớn là nhờ vào mạng Netflix. Người đăng ký dịch vụ có thể xem phim trực tuyến vào bất cứ lúc nào.

Trong số các phim Pháp đang ăn khách hiện nay, có bộ phim ‘‘Balle perdue’’ (Đạn lạc /Lost Bullet), một bộ phim hành động do Guillaume Pierret đạo diễn, quy tụ một dàn diễn viên trẻ như Alban Lenoir, Nicolas Duvauchelle, Stéfi Celma hay Ramzy Bedia. Phim đã được cho ra mắt khán giả từ đầu tháng 06/2020 và cho tới giờ vẫn nằm trên danh sách của 10 bộ phim lẻ ăn khách nhất trên mạng Netflix tại 21 quốc gia trên thế giới.

Dưới tựa đề ‘‘Balle perdue’’ (Đạn lạc), bộ phim kể lại câu chuyện của Lino, một anh thợ sửa xe tài ba, thời thanh niên đã từng phạm pháp, cho nên anh phải hợp tác với cảnh sát để dùng công chuộc tội. Đến khi bản thân Lino bị buộc tội giết người, bằng mọi cách anh phải tự điều tra, truy tìm chiếc xe bị đánh cắp, trong đó có vết tích của một viên đạn lạc, bằng chứng duy nhất cho thấy anh không phải là một kẻ sát nhân.

Ban đầu xem phim, khán giả tưởng chừng ‘‘Balle perdue’’ (Đạn lạc) gợi hứng từ dòng phim ‘‘Quá nhanh quá nguy nhiểm’’ của Mỹ, nhưng bộ phim Pháp không phải là một phiên bản mờ nhạt của loạt phim với thương hiệu Fast & Furious. ‘‘Đạn lạc’’ lồng chuyện phim vào bối cảnh xã hội đầy thực tế của Pháp, khi các băng đảng buôn ma túy sửa đổi động cơ xe hơi thành những chiếc xe đua ‘‘go fast’’ để giao hàng, có khả năng nhân đôi tốc độ trong chớp mắt để thoát khỏi các cuộc truy đuổi của cảnh sát hay hải quan lưu động.

Một cách tương tự, bộ phim ‘‘La Terre et le Sang’’ (Đất và Máu) của đạo diễn Pháp Julien Leclercq xoay quanh cuộc đối đầu nẩy lửa giữa hai băng đảng vũ trang để giành lấy các lô ma túy, đánh cắp từ một nhà kho, nơi giới cảnh sát lưu trữ hàng tịch thu. Được phát hành lần đầu tiên vào tháng 04/2020, bộ phim nói về cuộc chiến băng đảng tranh giành chiến lợi phẩm và quyền kiểm soát địa bàn hoạt động đã trở thành một trong 10 bộ phim nổi tiếng nhất tại 15 quốc gia trên thế giới. Cả hai bộ phim Pháp kể trên đều thành công ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada), tại các nước phía Bắc và phía Tây lục địa châu Phi, cũng như tại nhiều quốc gia Nam Mỹ.

Theo đánh giá của tuần báo chuyên ngành điện ảnh Première (nay là bán nguyệt san), cùng với phim tình cảm xã hội, thể loại phim hành động của Pháp dễ dàng chinh phục khán giả nước ngoài. Khác với các bộ phim ‘‘bom tấn’’ blockbuster của Mỹ, phim Pháp không có nhiều kinh phí đầu tư cho bằng, không có nhiều kỹ xảo ngoạn mục hay hiệu ứng hình ảnh độc đáo, nhưng đổi lại phim Pháp đầu tư rất nhiều vào khâu viết kịch bản, khai thác cách dẫn dắt câu chuyện cũng như các màn đấu trí, nhờ vậy mà làm tăng thêm các cảnh hồi hộp và gay cấn tâm lý. Dĩ nhiên, phim trước hết được thực hiện để nhắm vào thị trường nội địa, thế nhưng mạng Netflix chính là bàn đạp giúp cho phim Pháp lấy đà nhảy vọt, chinh phục thêm nhiều thành phần khán giả ở các quốc gia khác.

Bụt nhà không thiêng : Đôi khi một bộ phim ít được khán giả Pháp hưởng ứng nhưng lại được nhiều người xem ở nước ngoài đón nhận một cách nhiệt tình. Đó là trường hợp của bộ phim 6 tập do đài truyền hình Arte sản xuất với cựu ngôi sao bóng đá Éric Cantona trong vai chính. Mang tựa đề ‘‘Dérapages’’ hiểu theo nghĩa bóng là chệch hướng theo nghĩa bóng, trật đường rầy theo nghĩa đen, bộ phim kể lại câu chuyện của một người đàn ông lâm vào cảnh nợ nần chồng chất sau khi bị sa thải và buộc phải tìm lại nghị lực phấn đấu, tìm cơ hội vươn lên để không đánh mất nhân cách.

Bộ phim truyền hình nhiều tập ‘‘Marseille’’ (tổng cộng là 16 tập trong hai mùa) quy tụ một dàn diễn viên hùng hậu do Gérard Dépardieu và Benoît Magimel dẫn đầu. Phim nói về hậu trường của đợt vận động tranh cử giữa hai ứng cử viên xưa kia là bạn thân của nhau, sau đó lại trở thành kẻ thù không đội trời chung. Cả hai bộ phim nhiều tập nói trên đã không thành công rực rỡ như mong đợi tại Pháp, nhưng lại được khá nhiều khán giả nước ngoài hưởng ứng, một phần cũng vì Cantona hay Dépardieu đều là những nhân vật rất nổi tiếng, nhờ tầm vóc quốc tế mà có được một lượng khách hâm mộ đông đảo.

Trong số các chương trình ăn khách khác do Pháp sản xuất, có các mùa phim truyền hình ‘‘Dix pour cent’’ , ‘‘Mười phần trăm’’, tức khoản tiền lương của các ông bầu, các nhà quản lý diễn viên, các đại diện giới nghệ sĩ. Loạt phim truyền hình nhiều tập này đã được chuyển ngữ sang tiếng Anh thành ‘‘Call my agent’’ và phim sẽ được quay thành nhiều phiên bản trong nhiều thứ tiếng khác nhau.

Bên cạnh đó, có ‘‘The Circle France’’, kết hợp trò chơi với truyền hình thực tế theo kiểu Big Brother của Hà Lan. Chương trình này đã thành công một cách khá bất ngờ, được phổ biến tại 23 quốc gia và nhiều nước đã mua lại tác quyền để tạo ra những phiên bản phóng tác, thích nghi với khán giả của từng châu lục.

Về phía bộ phim tài liệu nhiều tập ‘‘L’Affaire Grégory’’ kể lại vụ án tại Pháp liên quan tới cái chết của cậu bé Grégory, sau hơn 30 năm mà vẫn chưa thật sự có hồi kết. Bộ phim tài liệu này đã thu hút đông đảo khán giả ở Hoa Kỳ và Canada, nơi mà từ lâu có truyền thống làm phim ‘‘true crime’’ dùng hoạt cảnh tái tạo và diễn viên nhập vai, để dựng lại những vụ án ‘‘động trời’’ trong quá khứ, từng khiến cho dư luận bàng hoàng xôn xao, làm tốn bao giấy mực của giới nhà báo.

Một trong những yếu tố giúp cho phim Pháp thành công, chính là mạng Netflix cung cấp các phiên bản phim lồng tiếng trong mười ngôn ngữ khác nhau. Phim với phụ đề lại càng có nhiều ngoại ngữ hơn nữa, có thể được xem trong 30 thứ tiếng. Điều đó giải thích vì sao khán giả không chỉ thích xem phim Pháp, mà còn hưởng ứng phim Thổ Nhỉ Kỳ ‘‘Koğuştaki Mucize’’ phóng tác từ tác phẩm Điều kỳ diệu trong phòng giam số 7 (Miracle in Cell No7) hay là phim Hàn Quốc ‘‘Vương quốc Thây ma’’ (Kingdom) đã một thời tung hoành trên mạng nhờ kết hợp các xác sống kinh dị zombie với dòng phim dã sử cổ trang, ngoạn mục, hoành tráng.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/28/2020(UTC)
viethoaiphuong
#490 Posted : Thursday, July 30, 2020 4:42:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)


Ennio Morricone, một Beethoven miền "Viễn Tây" Ý

Minh Anh - RFI - 25/07/2020
Từng nhịp trống gõ, vài nốt sáo dọc, và xa xa là tiếng sói hoang đồng cỏ… Thế đấy, nhà soạn nhạc người Ý, Ennio Morricone, đã mở đầu bộ phim « Thiện, Ác, Tà » do đạo diễn Sergio Leone dàn dựng. Tiếng nhạc mỗi lúc dồn dập như thôi thúc, dẫn dắt người xem bước vào một thế giới Viễn Tây Mỹ, thời kỳ Nội chiến, nửa cuối thế kỷ XIX. Một miền Viễn Tây rất ư là Ý !

Morricone – Leone : Bộ đôi huyền thoại « cao bồi spaghetti »

Ennio Morricone – cây đại thụ của làng nhạc phim điện ảnh đã vĩnh viễn ra đi ngày 06/07/2020 tại Roma sau một cú ngã. Ông ra đi một cách thanh thản, với một chút kiêu hãnh, khi đã để lại cho đời, cho các thế hệ sau cả một gia tài nghệ thuật đồ sộ : Hơn 500 bản nhạc phim gốc, trong số này, không ít các tác phẩm đã đi vào huyền thoại.

Sinh ngày 10/11/1928 tại Roma, âm nhạc đối với Ennio Morricone từng là một nơi trú ẩn lý tưởng giúp ông vượt qua mọi nỗi sợ hãi và những thiếu thốn trong suốt thời kỳ chiến tranh. Theo chân cha, ông trở thành nhạc công trumpet sau nhiều năm miệt mài học hỏi tại Nhạc Viện Sainte-Cecile ở Roma từ năm lên 10 tuổi. Tuy nhiên, sáng tác nhạc mới chính là niềm đam mê thật sự của Ennio Morricone, nhờ vào sự dìu dắt của người thầy Goffredo Petrassi, từng là tác giả nhạc phim gốc cho bộ phim « Gạo đắng » năm 1949.

Trong ký ức tập thể, khi nhắc đến Morricone, đấy không chỉ nói đến một con người duy nhất, mà là một bộ đôi huyền thoại : Ennio Morricone – Sergio Leone. Cùng với người bạn học cũ, sau 30 năm xa cách, Morricone đã bước vào một cuộc trải nghiệm mới : Phổ nhạc cho thể loại phim cao bồi Viễn Tây nhưng lại rất đậm chất Ý. Giới phê bình nghệ thuật thường hay ví von gọi đó là « Western Spaghetti ».

Hai mươi năm hợp tác (1964 – 1984), tám bộ phim cao bồi đã ra đời, trong đó có bộ « Dollars Trilogy » trứ danh (Tam bộ khách vô danh) với sự tham gia của Clint Eastwood : A Fistful of dollars (Tay súng bá vàng – 1964) ; For a few dollars more (Những đồng đô la sinh tử - 1965) và The Good, the Bad and the Ugly (Thiện, Ác, Tà – 1966).

Nhà soạn nhạc Benjamin Sire khi bày tỏ thương tiếc ông trên báo Le Figaro có viết rằng « mỗi lần chúng ta nhắm mắt chìm đắm trong một thế giới điện ảnh thần kỳ, những nốt nhạc không bao giờ đến đơn độc, càng gắn liền với từng thước phim cụ thể bao nhiêu, chúng càng cho thấy sự hòa quyện giữa một hành động kịch tính với một chủ đề nhạc phim bấy nhiêu ».

Thế nên, người xem mới không thể nào quên được hình ảnh chàng cao bồi Charles Bronson lạnh lùng trong « Ngày xửa ngày xưa ở miền viễn Tây » (1968) cùng với tiếng kèn harmonica lanh lảnh đậm mầu thù hận.

Với Morricone, âm nhạc không chỉ đến từ các loại nhạc cụ chính thống mà còn từ những thứ âm thanh bất thường khác : Những tiếng huýt sáo, tiếng chuông gõ, bước nhảy pikê, hay như tiếng còi xe hụ… Trong một lần trả lời phỏng vấn cho hãng tin Pháp AFP năm 2018, ông từng giãi bày :

« Điều đó chẳng mấy gì khó khăn để thuyết phục các nhà đạo diễn cả. Họ biết rằng tôi không ưa viết nhạc theo kiểu truyền thống, nên khi họ đến tìm tôi là cũng vì điều đó. Tôi yêu thích âm thanh thực thụ, đó là những thứ âm thanh chúng ta nghe hằng ngày. Những tiếng động bao quanh chúng ta cũng có chất nhạc riêng của chúng và có thể trở thành một thứ âm nhạc khác đối với tôi ».

Một Ennio Morricone « gangster »

Nhưng Stephane Lerouge, chuyên gia phục hồi các băng nhạc phim gốc, phụ trách bộ sưu tập đĩa nhạc chuyên đề « Ecoutez le cinema » (Hãy nghe điện ảnh) cho hãng Universal Music lưu ý : Đừng bao giờ nói với ông về « western spaghetti ». Morricone không ưa thuật ngữ đó và lấy làm buồn lòng khi người ta gán cả một sự nghiệp dài của ông chỉ với một loại hình điện ảnh này.

Bởi vì còn có một Morricone « gangster » trong bộ phim hình sự « Le Clan des Siciliens » (Tạm dịch là Băng đảng Sicilia - 1969) của đạo diễn người Pháp Henri Verneuil. Tiếng đàn ghimbac vùng Sicilia, pha chút âm hưởng dân gian, một chút khúc dạo đầu của Bach… đủ để biến một Jean Gabin của Pháp thành một kẻ bất lương xứ Sicilia hoàn hảo.

Chủ đề, giai điệu, những gì hằn sâu trong tâm trí và gắn liền với một bộ phim tưởng chừng như không có gì tách rời ra được. Thế mà, với bản nhạc Chi Mai lại là một chuyện khác. Từng được sử dụng làm nhạc phim chính cho một bộ phim khác của Ý, những giai điệu du dương man mác buồn của tiếng đàn violon trong Chi Mai đã mang lại cho « Le Professionnel » (Kẻ chuyên nghiệp – 1981) do đạo diễn Georges Lautner thực hiện, Jean-Paul Belmondo thủ vai chính, một thành công thương mại to lớn tại Pháp: 5,2 triệu lượt người xem. Riêng Chi Mai được trao giải Cesar cho nhạc phim hay nhất năm 1982 và một đĩa vàng với hơn 900 ngàn đĩa được bán ra.

Một nghệ sĩ dấn thân

Trong số các nhạc sĩ cùng thời, Ennio Morricone là một nhạc sĩ viết sung sức nhất. Ra đi ở tuổi 91, Ennio Morricone đã phổ nhạc cho hơn 500 bộ phim và các chương trình truyền hình, và đã bán ra hơn 70 triệu đĩa nhạc. Trong hơn 70 năm sự nghiệp, với hơn 27 đĩa vàng và 7 đĩa bạch kim cũng như là nhiều giải thưởng trong các kỳ liên hoan phim quốc tế tại Anh, Pháp, Ý…, Morricone cho đến tận năm 2007 mới được Viện Hàn Lâm danh tiếng của Mỹ trao giải Oscar danh dự.

Định mệnh như trêu ngươi, ông không thích nói đến những thành công của « Western Spaghetti » nhưng cuối đời Morricone lại được trao giải Oscar nhạc phim hay nhất vào năm 2016 cho bộ phim The Hateful Eight, một Western khác do đạo diễn Quentin Tarantino thực hiện.

Nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc, nhà biên soạn nhạc, và cũng là một chỉ huy dàn nhạc, nhưng Ennio Morricone còn là một nghệ sĩ rất dấn thân. Ông rất gắn bó với những gì ông đã làm cho điện ảnh dấn thân tại Ý, nhất là với Elio Petri cho « La classe ouvriere va au paradis » (Cành Cọ Vàng Liên Hoan Phim Cannes 1972), nhất là « Sacco et Vanzetti » do đạo diễn Giuliano Montaldo thực hiện năm 1971. Bộ phim gây xúc động mạnh mẽ người xem khi tường thuật lại một vụ việc có thật về hai người Mỹ gốc Ý bị kết án tử hình oan năm 1920. Bản nhạc phim chính nổi tiếng « Here’s to you », do ca sĩ Joan Baez viết lời và thể hiện, đối với ông còn là một điều gì đó mang tính biểu tượng.

« Nếu như lúc khởi thủy chúng ta là những âm thanh, tôi cũng muốn rằng chúng ta sẽ lại trở về với âm thanh » (Ennio Morricone).
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/30/2020(UTC)
viethoaiphuong
#491 Posted : Tuesday, August 18, 2020 4:16:33 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Chris Botti - Ngẫu hứng nhạc Jazz với cây kèn trumpet

RFI - 15/08/2020
Không chỉ là gương mặt điển trai, nghệ sỹ Chris Botti còn tạo nên dấu ấn riêng với cây kèn trumpet. Album Impression (2012) gặt hái thành công lớn với giải Grammy cho Album hòa tấu Pop xuất sắc nhất kể từ album đầu tay ra mắt 17 năm trước.

Hơn thế nữa, Chris Botti hợp tác với rất nhiều nghệ sỹ lớn, trong đó có tình bạn thân thiết với danh ca Paul Simon hay Sting. Gia Trình giới thiệu về sự nghiệp của Chris, chủ yếu gắn bó với cây kèn trumpet trên từng cây số lưu diễn hơn là trong studio.

Trumpet - Tài sản giá trị nhất cuộc đời

Trumpet là một nhạc cụ khá đặc biệt nếu chỉ đứng một mình. Âm thanh kém hấp dẫn hơn saxophone, chủ yếu phù hợp với nhạc jazz. Ngoài ra, các nghệ sỹ chơi trumpet thường chơi trong dàn nhạc giao hưởng thay vì tách ra trình diễn solo. Tuy nhiên, Chris Botti đã thay đổi quan niệm đó nhờ chiếc kèn trumpet hiệu Martin Committee, sản xuất từ năm 1939. Đó là tài sản quý giá nhất cuộc đời anh, một nghệ sỹ vô gia cư sống tại một căn khách sạn thuê ở New York, Mỹ.

Các tour lưu diễn miệt mài của nam nghệ sỹ khiến cho giá trị vô hình của cây trumpet nhân lên gấp bội. Không chỉ là nguồn thu nhập sống của nghệ sỹ sinh năm 1962, nó còn là tuyên ngôn nghệ thuật jazz cross-over. Trên thực tế, anh phải mất rất nhiều năm để tên tuổi được biết đến rộng rãi kể từ album đầu tay First Wish (Điều ước đầu tiên), ra mắt năm 1995. Xét cho cùng, trumpet không phải lúc nào cũng dễ nghe và dễ chơi.

Niềm đam mê với trumpet của Chris Botti đến từ rất sớm khi anh 9 tuổi. Từ đó đến nay, chưa bao giờ anh có ý định chuyển đổi sang chơi nhạc cụ khác. Anh từng trả lời phỏng vấn : “Trumpet là loại nhạc cụ gian nan nhất vì bạn phải luyện tập nguyên cả ngày. Rất nhiều vấn đề có thể xảy đến như lưng, dây thần kinh vì đó là thứ nhạc cụ đòi hỏi thể lực. Tuy nhiên, với cách ứng xử của trumpet, tôi rất hạnh phúc để tiếp tục chơi nó.”

Trong nỗ lực khuyếch trương hình ảnh hơn 30 năm, Chris Botti từng chia lửa sân khấu với nghệ sỹ hàng đầu trong làng âm nhạc, đặc biệt mối lương duyên với Sting trong tour lưu diễn Brand New Day. Ngoài ra, anh còn cộng tác với các tên tuổi gạo cuội khác như Paul Simon, Joni Mitchell, Barbara Streisand, Yo-Yo Ma, Lady Gaga, Josh Groban, Andrea Bocelli. Phải đến năm 2012, khán giả mới biết đến đến tài năng của Chris Botti, cũng như chấp nhận vai chính trên sàn diễn của chiếc kèn trumpet.

Lựa chọn con đường jazz cross-over

Thực tế, âm thanh trumpet của Chris Botti khá mượt mà khi anh đã áp dụng kỹ thuật nhạc cổ điển (bel canto) cộng thêm luyện tập vất vả để đạt được mục đích mong muốn. Chủ đích của anh là tạo được âm thanh có độ tối hơn, ngọt ngào hơn so với âm thanh trumpet truyền thống. Chiếc trumpet của Chris Botti được sản xuất năm 1939, cùng hãng sản xuất với chiếc kèn danh tiếng mà nghệ sỹ jazz Miles Davis chơi. Bên cạnh tình yêu với cây kèm trumpet, Chris còn phải lòng nhạc pop đương đại của Sting, Paul Simon, Peter Gabriel, Joni Mitchell.

Như bao nghệ sỹ khác, Chris Botti phải lựa chọn con đường riêng gắn với thể loại và gu âm nhạc. Trước ngã rẽ lớn : jazz truyền thống hay jazz cross-over (giao thoa), không có gì khó khăn với gu thẩm mỹ tinh tế và đầu óc sắc bén như Chris Botti. Lần đầu tiên tới New York, anh đã xem concert của Wynton Marsalis biểu diễn xuất sắc theo đúng kiểu jazz truyền thống của Armstrong hay Bubby Bolden. Anh nhận thấy rằng khó có nghệ sỹ trumpet nào vượt qua được cái bóng hay ngưỡng trần mà kèn trumpet tạo dựng. Vì thế, Chris Botti lựa chọn lối đi hoàn toàn khác biệt với Wynton Marsalis, không đụng độ với nhau và cả hai đều là fan của nhau.

Không thể phủ nhận rằng Chris Botti chịu ảnh hưởng của các ngôi sao đại thụ nhạc jazz chơi trumpet như Chet Baker hay Miles Davis. Anh thừa nhận màu sắc âm nhạc u ám nhưng đẹp của Miles Davis luôn là điều anh ngưỡng mộ. Hơn thế, anh theo đuổi không gian âm nhạc giàu cảm xúc (melancholy) xuyên suốt sự nghiệp. Vì vậy, phổ âm nhạc của Chris Botti còn lan tỏa rộng hơn thế và phiêu mạnh hơn thế khi anh chọn lối rẽ cross-over.

Cho dù là jazz nguyên bản hay sang nhạc cổ điển, soundtrack nhạc phim, hard rock, R&B/pop, Chris Botti không ngừng sáng tạo và thể nghiệm. Vì vậy, danh sách bài hát trong tour lưu diễn của Chris Botti luôn gây bất ngờ cho khán giả. Có thể là giây phút phiêu linh nhiệt huyết của The Look of Love (Cái nhìn tình tứ) với nữ ca sỹ da màu Sy Smith, Chris Botti có thể trình diễn bản nhạc đẹp, man mác buồn gợi nhớ về tuổi thơ trong Cinema Paradiso với nghệ sỹ cello YoYo Ma.

Cuộc đời lưu diễn và hợp tác

Nếu cuộc đời là những chuyến đi, thì những chuyến đi tour concert của Chris Botti dường như không có điểm dừng. Anh có quan điểm khá thú vị về live concert : phải tạo được cảm xúc cho khán giả, khác biệt với bản ghi âm album được đình hình và ít rủi ro.

Nghệ sỹ chia sẻ : “Tôi ghi âm các album để khán giả có thể thưởng thức tại nhà theo cách lãng mạn hay nghệ thuật. Nhưng nếu họ đến xem concert, mà tôi chơi lại đúng như trên đĩa nhạc, đó là cách tự sát. Nghề nghiệp của tôi phải tạo được cảm xúc mới mẻ, sự tự do hoàn toàn. Họ muốn khóc, vỡ òa, phiêu lưu cùng các nhạc công tài năng trong ban nhạc của tôi.”

Trên thực tế, concert của Paul Simon năm 1991 hoàn toàn thay đổi tầm nhìn của Chris Botti trong vai trò khán giả. Anh cho rằng trình diễn solo sẽ bó hẹp bản thân. Do đó, Chris Botti không ngừng hợp tác với các nghệ sỹ tên tuổi để mở rộng sân chơi và trải nghiệm mới mẻ. Tuy nhiên, ý tưởng đó không dễ dàng thực thi vì khớp lịch diễn với nghệ sỹ khác tương đối gian nan.

Chris đã tiết lộ lịch trình dày đặc trong việc ngỏ lời hợp tác : “Tôi đã phải săn đón các ca sỹ nổi tiếng trên khắp thế giới. Micheal Buble cũng lưu diễn nhiều như vậy, và tôi cuối cùng gặp được anh ấy ở Vancouver, Canada. Chúng tôi phải đến Las Vegas để gặp Gladys Knights, tới Philadelphia để hợp tác với Jill Scott, tới Anh để làm chung với Paul Buchanan.”

Ý tưởng cốt lõi của các concert cũng như âm nhạc của Chris Botti là sự giao thoa giữa giác quan nhạc pop với tinh thần phối hợp của nghệ sỹ jazz. Chiến lược này khiến anh trở nên trưởng thành và bài bản hơn.

Chris Botti chia sẻ mình không thể chơi trumpet giỏi năm 20 tuổi như cách Wynton chơi năm 17 tuổi. Tuy nhiên, khi kết hợp với pop music, lắng nghe các đồng nghiệp chơi jazz khác, anh nhận ra các nhược điểm bản thân và tìm cách khắc phục. Nam nghệ sỹ chứng minh một điều : sức sáng tạo là vô biên khi họ biết làm chủ kỹ thuật. Hơn thế nữa, tiếng kèn trumpet của Chris Botti trở thành điểm nhấn đẹp thay vì sự thờ ơ của khán giả.

(Theo JazzTimes)



viethoaiphuong
#492 Posted : Wednesday, August 19, 2020 5:12:15 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Covid-19 : Opéra de Paris và « nấc thang xuống địa ngục »

Thùy Dương - RFI - 19/08/2020
Đoàn ca vũ kịch quốc gia Paris (Opéra national de Paris), sau 350 năm thành lập, với dàn nhạc giao hưởng nằm trong tốp đầu thế giới, với 1.800 nhân viên cùng hai nhà hát Bastille và Garnier, đang trải qua một “tấn bi kịch” chưa từng có.

Sau 4 tháng « cửa đóng then cài » vì lệnh phong tỏa toàn quốc do dịch Covid-19, Opéra de Paris chính thức được mở cửa trở lại từ ngày 15/07. Thế nhưng, vì nhiều lý do, hai nhà hát opéra Bastille và Garnier vẫn đóng cửa lần lượt đến cuối tháng 11/2020 và đến tháng 01/2021. Trong chương trình Kinh Tế Văn Hóa phát trên đài France 24 ngày 25/07/2020, nhà báo Aude Kersulec, giải thích :

« Đó là một tấn bi kịch của năm nay. Đoàn ca vũ kịch Paris sẽ trải qua một mùa diễn thê thảm, mất tới 45 triệu euro. Điều này chưa từng xảy ra. Trong 7 tháng qua, bắt đầu từ tháng 12 năm 2019, Đoàn ca vũ kịch Paris đã phải hủy nhiều buổi công diễn do phong trào đình công của nhân viên trong đoàn. Họ đình công nhằm bảo vệ chế độ hưu bổng đặc biệt mà họ đang được hưởng. Rồi dịch bệnh bùng lên vào tháng 03, biện pháp phong tỏa đất nước đã đặt dấu chấm hết cho mùa diễn năm nay. »

Kéo dài từ ngày 05/12/2019 đến tận ngày 03/03, hai tuần trước khi cả nước Pháp bị phong tỏa vì dịch bệnh, đây là đợt đình công dài ngày nhất trong lịch sử Đoàn ca vũ kịch Paris kể từ khi được thành lập cách nay 350 năm. Tổng cộng trong 3 tháng đình công, 83 buổi diễn ballet và nhạc kịch, (61 buổi diễn của năm 2019 và 22 buổi diễn của năm 2020) đã bị hủy, thiệt hại lên đến 14,5 triệu euro (11 triệu eurro năm 2019 và 3,7 triệu euro năm 2020).

Thế nhưng, những mất mát nói trên vẫn chưa là gì so với những thiệt hại mà loại virus mắt thường không nhìn thấy được đã gây ra. Trong hơn 3 tháng đóng cửa vì dịch bệnh, Opéra de Paris phải hủy 156 buổi diễn và thất thu tới 31 triệu euro. Số khán giả bị ảnh hưởng do lịch diễn bị hủy lên tới 83.000 người.

« Tức giận », « buồn bã », « thất vọng » …, chừng đó vẫn chưa đủ để diễn tả hết những cảm xúc của ông Philippe Jordan, giám đốc âm nhạc của đoàn Opéra de Paris. Ông Jordan khẳng định: « Một dàn nhạc có thể vẫn trụ được nếu không chơi nhạc trong 3 tháng, nhưng 9 tháng thì quá dài và gây tác hại về mặt nghệ thuật. Một dàn nhạc không phải như một cái máy mà sau khi tắt, người ta chỉ cần bấm nút một cái mà khởi động lại được”. Còn một nhạc công chia sẻ trên Le Figaro : “Chúng tôi đang chết đói. Chúng tôi muốn và cần được chơi nhạc. »

Về tài chính, ngoài 45 triệu euro thất thu từ tiền vé, còn nhiều lý do khác khiến Đoàn ca vũ kịch Paris lâm cảnh khó khăn. Nhà báo Aude Kersulec, giải thích cụ thể :

« Đoàn ca vũ kịch Paris là một đơn vị công, không được hưởng các chế độ hỗ trợ của Nhà nước như đối với các các doanh nghiệp, không được hưởng các khoản vay được Nhà nước bảo lãnh và cũng không được hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp bán phần. Nhưng đoàn vẫn phải trả lương cho 1.800 người làm công ăn lương. Các khoản chi cố định thì đoàn vẫn phải bảo đảm, cho dù các nhà hát phải đóng cửa. Còn về các nguồn thu thì do không còn được biểu diễn nên Opéra de Paris đương nhiên là không còn khoản thu từ việc bán vé.

Không những thế, họ còn phải hoàn trả tiền cho những người đã mua vé. Trong khi đó, khoản thu từ hình thức thuê bao, đặt vé theo mùa, theo năm, không chỉ cho năm nay mà cho cả năm 2021, cũng sụt giảm. Bình thường thì đoàn Opéra de Paris có các nhà bảo trợ. Nhưng trong thời buổi khủng hoảng này, các doanh nghiệp cũng không thể hào phóng như trước đây, khoản tiền giới doanh nghiệp bảo trợ cho đoàn opera có lẽ giảm tới 30%.

Tóm lại, thật là khó để chúng ta có thể hình dung Đoàn ca vũ kịch Paris, cơ sở văn hóa được tài trợ nhiều nhất ở Pháp, làm thế nào để có thể trụ được nếu không được hưởng khoản tiền trợ cấp rất lớn của Nhà nước, thường chiếm tới 45% ngân sách hoạt động của đoàn ».

Tiền bảo trợ và nguồn thu từ thuê bao đều đang trên đà « rơi tự do »

Trong phiên điều trần trước Ủy ban văn hóa của Thượng Viện về những khó khăn của Đoàn ca vũ kịch quốc gia Paris, tổng giám đốc Stéphane Lissner và phó tổng giám đốc Martin Ajdari đã nói đến « đà rơi tự do » của khoản tiền bảo trợ từ các doanh nghiệp, cũng như thu nhập từ tiền thuê bao hàng năm.

Trong nhiệm kỳ lãnh đạo của tổng giám đốc Lissner, trong vòng 5 năm, số tiền bảo trợ Opéra de Paris có được đã tăng hơn 100%, từ 9 triệu eurro trong năm 2015 lên thành 19 triệu euro trong năm 2020. Đây là con số không hề nhỏ nếu so với khoản tiền tài trợ 95 triệu euro của Nhà nước. Thế nhưng, cú sốc Covid-19 đã khiến khoản tiền bảo trợ ước tính giảm 1/3 trong năm 2020, còn khoản thu từ thuê bao cho mùa diễn 2020-2021 sẽ giảm 35-45%.

Đài France Musique ngày 16/07 trích dẫn phó giám đốc Ajdari : « Chúng tôi có những đối tác lớn gắn bó, trung thành từ rất lâu nay, nhưng cũng có nhiều nhà hảo tâm, các nhà bảo trợ bậc trung có xu hướng rút lui, vì thế chúng tôi sẽ không thể dựa vào nguồn thu này ». Phó giám đốc Opéra de Paris, Martin Ajdari, giải thích là các doanh nghiệp, nhất là các danh nghiệp bậc trung còn « chần chừ, do dự trong việc đài thọ bởi vì chính họ cũng đang phải yêu cầu sự nỗ lực và hy sinh của người làm công ăn lương » do tác động khủng khiếp của đại dịch.

Không những vậy, theo tổng giám đốc Lissner, các cuộc đình công kéo dài kỷ lục của nhân viên Đoàn ca vũ kịch Paris đã khiến hàng trăm buổi diễn bị hủy, điều này khiến một phần công chúng và những người thuê bao vé xem biểu diễn cả năm sửng sốt. Nhiều nhà bảo trợ và công chúng đã rất giận dữ về những chuyện đó. Nhiều người không muốn đến các nhà hát opéra nữa, bởi nhiều khi họ phải đợi tới trước giờ diễn dự kiến ban đầu 30 phút mới biết hôm đó các nghệ sĩ có lên sân khấu hay không. Điều này đã gây ảnh hưởng đến nguồn thu của đoàn. Hàng năm, khoản thu từ vé xem biểu diễn lên tới 75 triệu euro (1/3 tổng ngân sách của Opéra de Paris).

Ngoài ra, còn phải kể tới khoản thất thu từ du khách tham quan hai nhà hát, đặc biệt là nhà hát Opéra Garnier, một trong những kiệt tác kiến trúc và lịch sử của Paris. Từ khi dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc và các nước châu Á khác, Paris hầu như không còn bóng du khách châu Á, nhất là khách Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, nhà hát opéra Garnier đẹp lung linh, tráng lệ, vốn thường ngày là một trong những điểm tham quan thu hút đông khách du lịch nhất Paris, cũng trở nên vắng vẻ khác thường, thậm chí còn bị ví mới một « lâu đài ma ».

Vậy tương lai của Opéra de Paris, một trong những « tượng đài văn hóa nghệ thuật » của Pháp, sẽ ra sao ? Nhà báo Aude Kersulec nhấn mạnh :

« Quả thực là rất khó để chúng ta có thể hình dung được về các điều kiện để Đoàn ca vũ kịch Paris có thể hoạt động trở lại, công chúng khi đến nhà hát xem biểu diễn phải giãn cách thế nào, các nghệ sĩ trên sân khấu phải giữ khoảng cách thế nào … Nhà hát ca vũ kịch không giống như rạp phim. Để một buổi biểu diễn mang lại lợi nhuận, lượng khán giả đến xem phải đạt mức ngồi kín 80% khán phòng.

Tạm thời, các nhà hát opéra dự kiến phải đóng cửa đến tháng 11, nhưng có những việc sửa chữa trùng tu ban đầu dự kiến vào hè năm sau thì lại được đẩy sớm lên vào năm nay. Đoàn opéra sẽ khởi động trở lại với những buổi hòa nhạc quy mô nhỏ, trong khi các buổi biểu diễn vẫn được tải lên trang mạng của Opéra Paris. Các chương trình biểu diễn được trình chiếu miễn phí trên mạng, cư dân mạng thì vui sướng đón xem nhưng về vấn đề tài chính, thì Đoàn ca vũ kịch Paris sẽ không cảm thấy thoải mái lắm. »

Về công tác phòng chống dịch bệnh, giám đốc Stéphane Lissner cho rằng những yêu cầu giãn cách xã hội là rất khó thực hiện triệt để, nếu không muốn nói là không thể. Chẳng hạn, trong nhà hát Opéra Bastille với sức chứa 2.700 khán giả, việc theo dõi, đảm bảo khán giả giữ khoảng cách an toàn theo quy định quả thực không dễ chút nào. Đó là chưa kể đến việc giữ khoảng cách giữa các nhạc công, nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu cũng là điều không thể, không phù hợp với các yêu cầu về nghệ thuật. Nói cách khác, Opéra de Paris không thể « hạ giá nghệ thuật » để đảm bảo các yêu cầu giãn cách xã hội.

Ngoài ra, 80% nghệ sĩ của đoàn là người nước ngoài, trong đó 55% sống ngoài khối Schengen, mà hiện giờ thì với sự hoành hành của virus corona, chưa ai dám chắc điều gì sẽ còn chờ đón thế giới, biên giới ngoại khối liệu sẽ được mở ở mức độ nào, các nghệ sĩ có được phép nhập cảnh để biểu diễn theo đúng lịch hay không … Tương lai của Opéra de Paris vẫn như bị một làn sương mờ che phủ, chưa có gì được soi tỏ …
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/19/2020(UTC)
viethoaiphuong
#493 Posted : Saturday, August 22, 2020 7:03:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Cuộc thi hát truyền hình Mỹ phóng tác từ Eurovision

Tuấn Thảo - RFI - 12/08/2020
Tại châu Âu, cuộc thi hát truyền hình Eurovision là một trong những sự kiện lớn nhất làng giải trí. Được tổ chức hàng năm vào mùa xuân, Eurovision thu hút gần 200 triệu khán giả nhờ được phát sóng trực tiếp tại 40 quốc gia. Hơn 60 năm sau ngày ra đời, Eurovision được "xuất khẩu" sang Hoa Kỳ. Phiên bản của Mỹ dự kiến ra mắt vào cuối năm 2021.

Được đặt tên là ‘‘American Song Contest’’, cuộc thi sẽ diễn ra ở quy mô lớn, áp dụng những điều lệ giống như cuộc tranh tài Eurovision. Thí sinh có thể là ca sĩ hát đơn, song ca hay diễn theo nhóm, bất kể là nghiệp dư hay chuyên nghiệp, miễn là nghệ sĩ này trình bày một ca khúc mới không quá 3 phút, có thể là sáng tác của chính mình, hay của một tác giả khác.

Tính tổng cộng, sẽ có 50 thí sinh, mỗi người đại diện cho một bang của nước Mỹ và như vậy quá trình tuyển chọn có thể làm nổi bật những nét đặc trưng âm nhạc của từng vùng miền. Do có khá nhiều người tham gia, chắc hẳn cuộc thi sẽ bắt đầu với nhiều vòng sơ tuyển ở cấp địa phương, rồi sau đó mới tới các vòng bán kết và chung kết toàn quốc.

Cho dù các cuộc thi hát truyền hình chẳng có gì thật sự là mới lạ tại Hoa Kỳ (khán giả Mỹ vẫn còn hưởng ứng các cuộc thi như ‘‘The Voice’’,‘‘American Idol’’ và trong một chừng mực nào đó cuộc thi AGT cũng thu hút nhiều thí sinh trỗ tài ca hát), thế nhưng nhà sản xuất người Thụy Điển Anders Lenhoff hứa hẹn là ‘‘American Song Contest’’ sẽ mang đến cho khán giả nhiều điều thú vị, khác lạ. Tất cả các thể loại âm nhạc đều có thể đưa vào các vòng thi đấu. Trong 50 bang nước Mỹ, có những bang là chiếc nôi của dòng nhạc blues, country, jazz, folk, rock …. Một số bang nổi tiếng nhờ các trường đào tạo thanh nhạc, kể cả cổ điển opera hay nhạc kịch. Cuộc tranh tài giữa 50 tiểu bang Hoa Kỳ vì thế mà hứa hẹn nhiều màn quyết liệt, hào hứng.

Còn theo lời nhà đồng sản xuất người Mỹ Ben Silverman, dự án chuyển thể phóng tác cuộc thi châu Âu Eurovision thành một phiên bản tiếng Anh dành cho thị trường Bắc Mỹ đã có từ lâu. Nhóm sản xuất đã ấp ủ giấc mơ này trong 20 năm qua. Theo ông Ben Silverman, vào lúc nước Mỹ đang bị chia rẽ bởi nhiều vấn đề xã hội, điều thực sự giúp cho người Mỹ có thể đoàn kết với nhau chính là nền văn hóa quốc gia. Âm nhạc có thể giúp cho con người vượt qua nhiều biên giới hay rào cản vô hình.

Để thích nghi nội dung cuộc thi với thị hiếu của khán giả Hoa Kỳ, phía châu Âu đã ký hợp đồng với công ty Propagate Content, chuyên sản xuất các chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng, như ‘‘The Office’’ hay là ‘‘The Biggest Loser’’.

Thách thức đầu tiên của nhóm sản xuất là thành lập ban giám khảo sao cho hợp với các tiêu chuẩn của một cuộc thi ‘‘đa tài đa năng’’, tránh lặp lại khuyết điểm của một số chương trình thi hát, khi mà thí sinh khi hát trực tiếp, còn hay hơn cả một số thành viên trong ban giám khảo. Đồng thời, sự bình chọn của công chúng cũng mang tính quyết định, chứ không phải là chỉ để tham khảo, và như vậy có thể đi ngược lại với sự chọn lựa đầu tiên hay cách chấm điểm của ban giám khảo.

Theo ban giám đốc cơ quan châu Âu UER, chuyên về việc tổ chức và phát sóng truyền thanh cũng như truyền hình, nghiệp đoàn truyền thông này đã nhượng lại quyền khai thác và phát hành cuộc thi cho các đối tác Hoa Kỳ. Theo thông lệ, kể từ khi được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1956 cho tới nay, cuộc thi Eurovision luôn được phát trực tiếp trên kênh truyền hình nhà nước, tại Pháp kênh France 2 luôn phổ biến chương trình này vào tháng 5. Nhưng tại Mỹ, điều này không có gì là chắc chắn cả, hiện vẫn chưa có đài truyền hình nào được tuyển chọn để phát sóng cuộc thi ‘‘American Song Contest’’ trên toàn nước Mỹ.

Trong gần 65 năm hoạt động, Eurovision chưa bao giờ bị hủy bỏ. Thế nhưng năm nay, dịch Covid-19 đã buộc ban tổ chức châu Âu lần đầu tiên phải dời lại cuộc thi hát chính thức cho tới tháng 5 năm 2021. Thay thế vào đó là một phiên bản trực tuyến, nơi các nghệ sĩ biểu diễn trên mạng để bày tỏ tình đoàn kết với giới nhân viên y tế ở tuyến đầu chống dịch.

Còn trong kỳ thi năm 2019 tổ chức tại Israel, với sự tham gia đặc biệt của Madonna trong lúc chờ đợi phần công bố bảng điểm, rốt cuộc giải nhất đã về tay ca sĩ Duncan Laurence, đại diện cho Hà Lan. Chính nhân cuộc thi này, mà mạng Netflix đã quay khá nhiều cảnh phim cho tác phẩm hài hước ‘‘Eurovision Song Contest : The Story of Fire Saga’’ với cặp diễn viên Will Ferrell và Rachel McAdams trong vai chính.

Bộ phim kể lại câu chuyện khôi hài nhưng không kém phần dí dỏm, châm biếm về một ban song ca nghiệp dư, nuôi tham vọng đại diện cho Iceland tham gia cuộc thi hát truyền hình châu Âu, kể từ khi họ được xem ‘‘bộ tứ thần kỳ’’ Abba đoạt giải nhất cuộc thi vào năm 1974 với nhạc phẩm Waterloo. Ban đầu bị mọi người dèm pha chê bai, thậm chí chế nhạo giễu cợt, ban song ca Will Ferrell-Rachel McAdams bất chấp mọi chỉ trích vẫn đeo đuổi cho tới cùng giấc mơ của họ.

Theo lời Will Ferrell, vợ của anh là người gốc Thụy Điển và cuộc thi Eurovision đối với nhiều người Bắc Âu là một thứ gì đó khiến cho họ cảm thấy tự hào. Qua câu chuyện của những nghệ sĩ ‘‘ngoại khổ, lập dị’’, bộ phim The Story of Fire Saga cũng là câu chuyện ngụ ngôn về các cộng đồng thiểu số, buộc phải có nghị lực để phấn đấu vươn lên. Bộ phim còn khá thành công nhờ sự xuất hiện của các tên tuổi như ca sĩ người Áo Conchita Wurst, ca sĩ Pháp Bilal Hassani hay là thần đồng vĩ cầm người Na Uy Alexander Rybak. Phần âm nhạc do tác giả Savan Kotecha đảm trách, người đã từng hợp tác với Britney Spears hay là ban nhạc One Direction, để tạo ra những giai điệu dễ lọt tai, nằm lòng.

Một phần cũng vì bộ phim này được phát hành trên mạng Netflix, khán giả ở Bắc Mỹ bắt đầu làm quen với cuộc thi châu Âu Eurovision cách đây một năm, trước khi họ chính thức xem cuộc thi tại Mỹ dự trù diễn ra vào cuối tháng 11. Trong chiến lược đa dạng hóa các nội dung, mạng Netflix cũng đã khôn khéo quay một bộ phim truyện về Eurovision, để rồi sắp tới đây khi cuộc thi hát truyền hình châu Âu diễn ra trực tiếp, mạng Netflix mua lại quyền phát hành Eurovision dành cho khán giả Bắc Mỹ.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/22/2020(UTC)
viethoaiphuong
#494 Posted : Sunday, August 23, 2020 5:43:14 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Whitney Houston - Cơn sốt của giọng ca bất tử

RFI - 22/08/2020
Nếu Whitney Houston vẫn còn sống, giọng ca R&B/pop sinh năm 1963, chắc chắn sẽ mỉm cười hạnh phúc khi chứng kiến con sốt mang tên mình. Số lượng bài hát gắn liền tên tuổi Whitney được cover lại, cũng như tần suất dày đặc xuất hiện hình ảnh và giọng hát Whitney song ca nhiều nghệ sỹ tên tuổi.

Bi kịch cuộc đời không nhấn chìm được sức sống và tầm vóc của giọng hát bất tử đó. Theo Gia Trình, sự qua đời của Whitney Houston không phải là dấu chấm hết mà là sự mở đầu cho những nuối tiếc về một giọng ca đẹp.

Cơn sốt mang tên Whitney

Nổi tiếng từ năm 1985 với album đầu tay Whitney Houston, nhưng mất gần một thập kỷ sau, cô đạt độ chín và đỉnh cao nghề nghiệp với Giải thưởng Grammy Album của năm cho album The BodyGuardnăm 1994. Album này cùng với ba ca khúc nổi bật Run to you, I have nothing, đặc biệt là I will always love you, trở thành một dấu ấn cá nhân mang tên Whitney. Đồng thời là đỉnh cao của pop ballad thập niên 90 theo nhận xét của nhiều tạp chí âm nhạc uy tín như Rollingstone, USAToday.

Phải chăng vì thế Whitney trở thành nỗi ám ảnh các ca sỹ nhạc pop đương đại khi họ bị thôi miên, thách thức để cover các ca khúc của nữ hoàng R&B ? Từ các sự kiện lớn như giải Grammy, Billboard, các nghệ sỹ tên tuổi như Jennifer Hudson, John Legend, thậm chí nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin đều cover lại ca khúc của Whitney. Ngoài ra, DJ người Nauy, Kygo cũng cover lại ca khúc này năm 2019 với chất giọng Whitney trên bản phối đậm chất dance club cũng gặt hái thành công lớn. Thậm chí Glenis Grace, ngôi sao được phát hiện từ cuộc thi America’s got talent chuyên cover lại nhạc Whitney đến mức được gọi là bản sao Whitney Houston.

Không có gì lạ khi Whitney có thể phù phép bản nhạc đồng quê buồn bã I will always love you do Dolly Parton sáng tác năm 1974 thành một ca khúc pop sáng chói, lạ lẫm so với nguyên bản. Single này trụ hạng nhất trong 14 tuần liên tiếp của bảng xếp hạng Billboard. Giọng ca đầy nội lực, mượt mà, quãng rộng cũng như kỹ năng xử lý bài điêu luyện khiến cho Whitney trở thành một thần tượng mà hầu hết các sỹ đều ngưỡng mộ. Hơn thế nữa, kho bài hát của Whitney rất đa dạng, phong phú. Cô có nhiều bản hit pop ballad, R&B, dance/soul dễ nghe nhưng không dễ xử lý với tiết tấu nhanh, làn hơi khỏe.

Thế hệ diva của thời kỳ MTV

Cùng với hàng loạt ngôi sao pop cùng thời như Madonna, Mariah Carey, Whitney được tôn vinh như trong hàng ngũ diva nhạc pop hàng đầu vì tài năng cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng. Trong số đó, Whitney Houston hội tụ được hai yếu tố bản lề trong nghề nghiệp: giọng hát mượt như nhung và phong cách không thể lẫn.

Sự thăng hoa của Whitney Houston chọn được đúng điểm rơi khi khán giả thập niên 80-90 rất ưa thích các ca khúc pop về tình yêu với lời lẽ hoa mỹ. Thập niên này coi là thời điểm vàng son của nhạc pop kèm theo sự bành trướng của văn hóa MTV (kênh truyền hình âm nhạc). So với thế hệ ngày nay, ít có ca sỹ nào lập lại được kỳ tích và tầm ảnh hưởng như Whitney Houston xét về nghề nghiệp.

Hãy nghe các ca sỹ tên tuổi cover lại bài hát Whitney để có sự so sánh rõ nét. Đơn cử như Kelly Clarson dũng cảm cover lại ca khúc How will I Know của Whitney. Nhờ có chất giọng khỏe và tràn năng lượng của Kelly, chúng ta cảm nhận được làn hơi dày dặn của ca sỹ quá cố và sự nhẹ nhàng uyển chuyển. Không chỉ là vẻ đẹp của giọng hát, các ca khúc Whitney Houston hàm ý nội dung sâu sắc như The Greatest Love of All (Tình yêu vĩ đại nhất) nói về nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Chúng ta sẽ cảm nhận phần nào được tinh thần bài hát khi nghe John Legend cover để chứng kiến nghị lực vươn lên cô ca sỹ người Mỹ gốc Phi trong làng âm nhạc ra sao.

Ở một góc độ khác, giọng ca Christina Aguilera biểu diễn song ca với Whitney nhờ công nghệ hologram, tỏ ra cuốn hút khán giả và bộc lộ nhiều điểm thú vị. Chất giọng tốt như Christinacó thể làm hài lòng người nghe, nhưng không lấn lướt được đàn chị Whitney Houston. Khó ai có chuyển tông giọng nhịp nhàng và không phá hỏng bài hát như giọng ca quá cố.

Ngoài ra, cách xử lý bài hát cũng là điểm mạnh của Whitney mà khi hát solo hay song ca, giọng hát không hề mờ nhạt hay bị lấn át. Ít có ca sỹ chọn lối cách tân đột phá mà tạo được cao trào đặc sắc hơn Whitney từng làm trong các ballad như I have nothing hay I learn from the best. Cùng với sự nhảy vọt của công nghệ biểu diễn, khi đặt giọng ca trẻ bên cạnh thần tượng Whitney Houston chúng ta cảm nhận được rõ nét tài năng cũng như tầm vóc của diva nhạc pop.

Tài năng - bi kịch cuộc đời

Sinh trưởng trong gia đình trung lưu có truyền thống nghệ thuật, mẹ của Whitney là Cissy Houston, ca sỹ dòng nhạc gospel, chị họ Diana Warick cũng ca sỹ nhạc R&B. Điểm xuất phát của Whitney Houston khá thuận lợi khi được nuôi dưỡng trong môi trường âm nhạc gia đình. Tuy nhiên, không ai phủ nhận được nỗ lực vươn lên của cô khi vấn đề chủng tộc luôn nhức nhối nhất và chia rẽ nhất trong xã hội Mỹ. Sai lầm nhất của Whitney Houston có lẽ là lựa chọn người bạn đời chơi bời và đầy tai tiếng, ca sỹ R&B da màu Bobby Brown. Họ kết hôn năm 1992 sau 3 năm quen biết tại giải thưởng âm nhạc Soul Train Music Awards.

Được đánh giá là con người ấm áp, cởi mở và khá hài hước, Whitney vẫn được nhớ tới hình ảnh “gái ngoan” không có scandal nào từ thập niên 1980 đến đầu những năm 1990. Tuy nhiên, nửa cuối năm 1990, chứng kiến sự tụt dốc không phanh của nữ hoàng nhạc R&B pop với hàng loạt hủy lịch diễn, đến muộn các buổi tập hay chụp hình kèm theo hình ảnh sút cân nghiêm trọng.

Sự việc chỉ được sáng tỏ năm 2000 khi cô và chồng Bobby Brown bị bắt giữ trên phi trường Hawaii với nửa kilogram cần sa (1 ounce). Sau đó, Whitney và Bobby chính thức ly dị năm 2007 và cô giành được quyền nuôi con gái duy nhất Bobbi Kristina. Bi kịch chưa rời bỏ Whitney cho đến khi cô được phát hiện qua đời tại khách sạn Beverly Hilton ngày 11 tháng 2 năm 2012 với chẩn đoán bệnh tim và sử dụng cocaine.

Nửa cuối cuộc đời của Whitney phơi bày mặt trái của sự nổi tiếng nhưng nó không thể che khuất được độ sáng của tài năng, một giọng hát đẹp có tầm ảnh hưởng lớn thế giới nhạc pop. Dù cô đã ở thế giới bên kia, nhưng chúng ta vẫn cần học hỏi những điều tốt đẹp nhất từ Whitney Houston. Một nỗ lực phi thường tạo dựng vị trí trụ cột trong làng âm nhạc.

(Theo Rollingstone, USA Today)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/23/2020(UTC)
viethoaiphuong
#495 Posted : Monday, August 24, 2020 5:23:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)


Covid-19 : Xem kịch Avignon miễn phí tại Paris

Tuấn Thảo - RFI - 24/08/2020
Liên hoan sân khấu và kịch nghệ thành phố Avignon diễn ra vào mỗi mùa hè, đã bị hủy bỏ do dịch Covid-19. Sau nhà hát độc lập ‘‘Théâtre 14’’, đến phiên Tòa đô chính Paris mời 8 đoàn nghệ sĩ đến biểu diễn tại thủ đô Pháp trong vòng hai tuần lễ, kể từ hôm nay 24/08 cho đến ngày 06/09/2020.

Trong khuôn khổ chương trình ‘’Tháng 8, tháng Văn hóa’’, thành phố Paris đã triệu mời các nghệ sĩ đến giới thiệu với công chúng thủ đô 8 tác phẩm chọn lọc. Các vở kịch này từng được lên lịch biểu diễn tại thành phố Avignon, trong khuôn khổ ‘‘Festival Off’’, tức là chương trình bên lề liên hoan chính thức, dành riêng cho giới nghệ sĩ cũng như các đoàn kịch độc lập. Tính tổng cộng, 8 đoàn nghệ sĩ được mời tới Paris lần này sẽ biểu diển đủ loại tác phẩm, bao gồm cả kịch nói, kịch múa, nhạc kịch hay là chuyện cổ tích kể cho thiếu nhi.

Trong số các tác phẩm đến từ liên hoan sân khấu thành phố Avignon, khán giả đặc biệt chú ý đến vở kịch ‘‘Callas, il était une voix’’ (Callas, huyền thoại một giọng ca) của tác giả Pháp Jean-François Viot, vở nhạc kịch ‘‘Une vie de pianiste’’ (Đời nghệ sĩ dương cầm) của hai đạo diễn Pháp và Rumani Agnès Boury và Paul Staïcu và nhất là phiên bản phóng tác tiếng Pháp của vở kịch mới ‘‘Boxing Shadows’’ của nam diễn viên kiêm tác giả người Mỹ Timothy Daly.

Do rất nhiều sân khấu cũng như nhà hát tại thủ đô Paris vẫn còn chưa hoạt động trở lại trong thời hậu phong tỏa, cho nên thành phố Paris đã biến các quảng trường, khuôn viên, vườn hoa hay sân trường học thành những sân khấu biểu diễn miễn phí ở ngoài trời. Phần biểu diễn các tác phẩm chọn lọc của liên hoan Avignon chủ yếu được tổ chức tại quảng trường mặt tiền Tòa thị chính quận 1 và quận 4, khuôn viên của Viện Văn hóa Thụy Điển (quận 3) hay là trong công viên Square Saint Lambert ở quận 15. Mỗi ngày đều có suất diễn miễn phí, cuối tuần có từ hai suất trở lên và khán giả được vào cửa tự do nhưng cũng nên đăng ký trước trên mạng, vì do các quy định giãn cách xã hội, cho nên số chỗ ngồi có giới hạn.

Sự kiện Paris mời các đoàn nghệ sĩ đến thủ đô biểu diễn, là một cách để hỗ trợ các tác giả, các đạo diễn và diễn viên trong thời hậu phong tỏa, những người mà đáng lẽ ra phải biểu diễn vào mùa hè này trong khuôn khổ chương trình Festival Off của Avignon. Sau khi liên hoan bị hủy bỏ, mặc dù ban điều hành đã tổ chức chương trình “Avignon Online”, giới thiệu các vở kịch trên mạng, qua các phần video trích đoạn, mục tiêu là tạo điều kiện cho giới nghệ sĩ độc lập cũng như các đoàn kịch ký được hợp đồng biểu diễn với các nhà hát trong năm tới, nhưng chương trình trực tuyến này đã không mang lại nhiều kết quả như mong đợi.

Về phía Paris, Tòa đô chính đã hợp sức với Nhà hát thành phố Théâtre de la Ville để chi trả toàn bộ các chi phí, khi mời 8 đoàn nghệ sĩ đến biểu diễn tại thủ đô. Các đoàn kịch có thêm cơ hội giới thiệu với khán giả việc làm của họ, nhưng đồng thời có thể thuyết phục giới quản lý các sân khấu kịch cũng như các nhà hát tại Paris ký thỏa thuận hợp tác với những đoàn kịch hoạt động theo quy chế độc lập. Các đoàn kịch này tự tìm nguồn vốn đầu tư tài trợ và vì thế cho nên cũng ít khi nào nhận được các khoản trợ cấp từ phía chính phủ.

Cho dù vào đầu tháng 08/2020, Bộ Văn hóa Pháp đã thông báo thành lập một quỹ đặc biệt với 800.000 euro, nhằm hỗ trợ các đoàn kịch tham gia Festival Off của Avignon nói riêng, giới nghệ sĩ độc lập nói chung, tuy nhiên biện pháp này chỉ mang tính ngoại lệ và tạm thời. Các khoản trợ cấp đều có mức hạn chế, được tính theo thu nhập trung bình và các doanh thu hoạt động sân khấu trong năm trước. Đối với các nhà quản lý rạp hát, biện pháp này tạo luồng dưỡng khí cho các rạp kịch bị đóng cửa, phải ngừng hoạt động trong một thời gian dài và giúp hoàn trả lại các khoản tiền đặt cọc, do liên hoan Avignon đã bị hủy bỏ trong mùa dịch Covid-19.

Đối với giới yêu chuộng kịch nghệ, sân khấu Avignon được xem là một trong những liên hoan lớn nhất thế giới dành riêng cho bộ môn kịch thoại nói riêng và cho nghệ thuật thứ sáu nói chung. Tương tự như Liên hoan điện ảnh Cannes, không những có uy tín nhờ giải Cành cọ vàng mà còn quan trọng nhờ Hội chợ phim quốc tế, liên hoan kịch Avignon là một tủ kính trưng bày hấp dẫn với gần 1.500 buổi biểu diễn và hơn 1.000 đoàn kịch cũng như nghệ sĩ đến tham gia hàng năm.

Liên hoan kịch Avignon được xem như là lễ hội lớn nhất của ngành sân khấu biểu diễn ở Pháp: khoảng 25% các hợp đồng kinh doanh phân phối các vở kịch tại Pháp được thực hiện tại Avignon. Còn đối với chính quyền địa phương, một mùa hè mà không có tổ chức liên hoan sân khấu và kịch nghệ, thành phố Avignon bị thất thu nặng nề, ở một mức chưa từng thấy, hơn 70 năm sau ngày liên hoan được thành lập.

Theo báo cáo gần đây nhất của Hội đồng cấp vùng, tuy thành phố Avignon có khoảng 90.000 dân, nhưng trong hai tháng hè, dân số tại chỗ được nhân lên gấp 8 lần, số khách tham quan lên đến gần 700.000 người. Nhờ vậy mà vào mỗi mùa hè, liên hoan kịch đem về cho thành phố Avignon khoảng 150 triệu euro doanh thu. Vì thế cho nên, ngoài các tác hại về mặt văn hóa kịch nghệ, dịch Covid-19 đối với thành phố Avignon, còn là một ‘‘thảm họa kinh tế’’.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/24/2020(UTC)
viethoaiphuong
#496 Posted : Tuesday, August 25, 2020 4:49:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Huyền thoại Verdi, niềm tự hào của dòng nhạc opéra Ý

Thanh Hà - RFI - 21/06/2020
2013 kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi. Với 28 vở ca nhạc kịch opéra để đời, Verdi đã khéo kết hợp nghệ thuật sân khấu với âm nhạc. Cho đến tận ngày nay Verdi vẫn còn là một trong hai nhà soạn nhạc opéra mà các tác phẩm được diễn nhiều nhất trên thế giới, bởi nhạc của ông dễ đi vào lòng người. Chương trình của các rạp hát opéra uy tín nhất không thể thiếu những Nabucco, Rigoletto, La Traviata hay Aida của Verdi. (Tạp chí phát lần đầu ngày 20/10/2013)

Vậy mà thiếu chút nữa Verdi đã gác bút sau nhiều tai họa đầu đời. Giuseppe Verdi sinh ngày 10/10/1813 tại một ngôi làng ở miền Bắc nước Ý, gần thành phố Parme trong một gia đình tương đối nghèo. Năm lên 6, Verdi được học nhạc và khi lên 10, Giuseppe được vinh dự đệm đàn trong mỗi buổi thánh lễ ở nhà thờ của làng. Khi mới vừa 15 tuổi, Verdi bắt đầu sáng tác, chủ yếu để tìm kế sinh nhai. Dù vậy Verdi đã sớm khẳng định mình vừa là một nhà soạn nhạc có tài, vừa là một nhạc sĩ chơi đàn Clavecin đầy triển vọng, dù chủ yếu tự học.

Năng khiếu của Verdi đã sớm khiến thương gia Antonio Berezzi động lòng trắc ẩn. Ông là người giúp đỡ tài chính và giới thiệu Giuseppe Verdi vào Nhạc viện Milano. Thế nhưng cánh cổng của học viện âm nhạc nổi tiếng đó đã khép chặt khi Giuseppe tìm đến – khi đó Verdi 19 tuổi. Và thế là Verdi phải tự tìm thầy học đạo. Dù có tài và được một vài người danh tiếng đỡ đầu, nhưng con đường sự nghiệp đã không mở rộng thênh thang trước mắt Verdi. Trớ trêu là sau này, chính nhạc viện Milano lại được vinh dự mang tên là Nhạc việnVerdi.

Chật vật lắm Verdi mới tìm được một chỗ đứng ở Milano. Năm 1836 ông lập gia đình với Margherita, cô con gái của ân nhân Antonio Berezzi. Margheritta chóng sinh cho Verdi hai đứa con, một gái một trai. Hạnh phúc gia đình bên vợ đẹp con khôn là nguồn cảm hứng giúp Verdi sáng tác và ông chủ yếu bắt đầu hướng tới thể loại opéra. Năm 1838 Giuseppe hoàn tất vở opéra đầu tiên Oberto, conte di San Bonifacio.

Đầy tự tin và kiêu hãnh, Verdi đề nghị thẳng với giám đốc điều nhà hát nổi tiếng La Scala của Milano cho diễn vở ca nhạc kịch opéra đầu tay. La Scala là nơi chỉ dành cho những vở opéra được coi là giá trị nhất, nơi phải là những tên tuổi như Rossini hay Bellini mới có chỗ đứng.

Nabucco điểm khởi đầu

Oberto vừa hoàn tất và trong lúc đang kỳ vọng được dựng vở diễn của mình trên sân khấu La Scala thì Verdi chẳng để lãng phí thời gian. Ông bắt tay ngay vào việc soạn một vở opéra thứ nhì. Chẳng ngờ định mệnh lần lượt cướp đi của ông cô con gái cả, cậu con trai mới hơn một tuổi và người vợ xinh đẹp Margherita.

Năm 1840, cửa nhà tan tác, Giuseppe Verdi rơi xuống tận cùng của tuyệt vọng. Chưa đầy 30 tuổi, Verdi đã cỗi già. Hơn một lần ông có ý định từ bỏ tất cả để tìm lại vợ con bên kia thế giới. Thành công của vở Oberto chỉ còn lại vị đắng đối với Verdi.

Vở nhạc kịch thứ nhì đang soạn giở trong ngõ cụt. Mùa đông năm đó, trên con đường trở về mái nhà đơn độc, Verdi tình cờ gặp Merelli, giám đốc điều hành nhà hát La Scala. Verdi nói với Merelli ông sẽ không bao giờ sáng tác nữa. Nhưng cũng chính cái đêm tối trời, lạnh giá hôm ấy, định mệnh của Verdi bước sang một ngã rẽ khác, khi Merelli dúi vào tay Verdi một bản thảo và khẩn khoản yêu cầu Verdi hãy đọc qua.

Trở về căn phòng lạnh lẽo, Verdi đọc lại Kinh Thánh, đoạn kể về nỗi khổ của người Do Thái lưu vong bị bắt về thành Babylone làm nô lệ, phục vụ cho tên bạo chúa Nabuchodonosor… Thế rồi đôi mắt đã khô lệ của Verdi vô tình đặt lên trên mớ giấy mà giám đốc nhà hát La Scala đã trao vội cho ông.

Verdi bị câu thơ đầu tiên trong bản thảo thôi miên : « Va, pensiero, sull’ali dorate … ». Suốt đêm ông đọc đi đọc lại những vần thơ của Temistocle Solera, dựa trên Thi Thiên 137 trong kinh thánh : Năm 589 trước Công Nguyên, nhà vua Nabuchodonosor của Babylone chiếm đóng Jérusalem, sát hại rất nhiều người Do Thái, đập phá không biết bao nhiêu đền thờ, cung điện của thành Jerusalem, đày người Do Thái về thành Babylone làm nô lệ.

Một dân tộc đi tìm dự do

« Va, pensiero, sull’ali dorate … » là nỗi đau của một dân tộc bị lưu đày hướng về quê cũ, là khát vọng tự do, là tiếng gọi vùng lên, là niềm tin nơi Thiên Chúa … Những tâm tư đó đã ngấm vào từng hơi thở của Verdi.

Cố hương của Verdi là thiên đường, nơi Verdi từng sống trong hạnh phúc với người vợ trẻ và hai đứa con thơ. Khát vọng tự do của nhà soạn nhạc là được giải phóng khỏi khổ đau, cô đơn và tuyệt vọng. Thế nhưng nỗi lòng người xa xứ trong Kinh thánh gần sáu trăm ngăm trước Công Nguyên cũng là tâm tư của một dân tộc, một đất nước đang bị vương quốc Áo đô hộ.

Người Ý ở vào thế kỷ XIX cũng ấp ủ giấc mơ tự do như người Do Thái sáu thể kỷ trước Công Nguyên. Chính vì thế mà Nabucco được coi là vở opéra mang nặng màu sắc chính trị nhất của Verdi.

Đêm ngày 09/03/1842 vở ca nhạc kịch Nabucco ra mắt khán giả lần đầu tiên trên sân khấu nhà hát La Scala, Milano. Những nốt nhạc đầu tiên của bản hợp ca « Va, pensiero … » của Verdi đã thôi miên khán giả Ý, tương tự như chính Verdi đã bị cuốn hút lần đầu tiên ông đọc bản thảo của Solera chưa đầy hai năm trước đó.

Một giai điệu dễ nhớ, cộng với lời ca rút tự đáy lòng là bí quyết đưa Nabucco lên đỉnh cao nghệ thuật. Sau này, bản thân tác giả nhìn nhận sự nghiệp của ông chỉ sự thực bắt đầu với vở opéra Nabucco. Giuseppe Verdi « đăng quang » với Nabucco để liên tục trị vì trên thế giới âm nhạc nghệ thuật của Ý trong suốt 61 năm, cho đến khi ông từ dã cõi đời ngày 27/01/1901.

Nhiều nhân chứng kể lại rằng, trong buổi ra mắt khán giả đầu tiên, Verdi trong bộ y phục đen từ đầu đến cuối đã vụng về bước ra sân khấu để cảm tạ nhiệt tình của khán giá và trong những tiếng hoan hô vang dậy, Verdi đã khóc rất nhiều : khóc vì tuyệt vọng vì ông hiểu rằng Margherita không bao giờ bước lên đỉnh cao danh vọng. Nhưng rồi, rồi những tràng pháo tay bất tận của khán giả đã phần nảo sưởi ấm cõi lòng Verdi. Thoạt đầu được dự trù cho tám buổi diễn, nhưng trước phản ứng của công chúng, Nabucco đã được ra mắt khán giả Milano đến 57 lần trong ba tháng ròng rã. Đây là một kỷ lục kể từ khi nhà hát nổi tiếng La Scala được hình thành.

Bản « hợp ca của những người nô lệ « Va, pensiero … » được cả nước Ý thuộc nằm lòng và thậm chí còn được xem là « bản quốc ca không chính thức » của một dân tộc trên con đường đi tìm tự do. Nhưng Giuseppe Verdi không chỉ là một nhà yêu nước, không chỉ là một nghệ sĩ dấn thân, là ngọn cờ kháng chiến chống ngoại xâm. Verdi trước hết là một nhà soạn nhạc để xưng tụng tình yêu và hơn thế nữa, ông là người đã đổi mới sân khấu nghệ thuật và âm nhạc của thế giới trong thế kỷ thứ XIX.

Làn gió mới của nghệ thuật sân khấu

Tình yêu luôn là cột trụ trong mỗi tác phẩm của Verdi. Lồng trong bối cảnh chính trị và lịch sử, Nabucco còn là một câu chuyện tình tay ba, khi Abigaille và Fenena, hai cô con gái của bạo chúa Nabuchodonosor cùng yêu tên nô lệ Do Thái Ismael. « Motif » một câu chuyện tình tay ba, giữa « người thắng và kẻ thua » này được Verdi lập lại qua vở ca nhạc kịch mang tên cô nô lệ Aïda, sáng tác năm 1870. Bị bắt về hầu hạ công chúa Amneris, con gái hoàng đế Ai Cập, Aida lại thầm yêu Radamès, một viên dũng tướng của triều đình. Nhưng Aïda không đơn thuần là một tên nô lệ mà cô chính là con gái của vua xứ Ethiopia, Amonasro.

Khi người yêu ra trận, Aïda thầm mong anh sống sót trở về, dù biết Radamès phải dẫm lên xương máu của dân tộc mình để có được ngày về. Tình yêu hóa Aïda và Radamès thành những kẻ thông đồng với giặc, phản lại tổ quốc. Trích đoạn nổi tiếng nhất trong vở Aïda là khúc khải hoàn chào mừng dũng tướng Radamès chiến thắng trở về. Ở đây Verdi đã huy động một dàn nhạccùng một ban hợp xướng hùng hậu để minh họa cho sức mạnh, vẻ oai nghi của nền văn hóa Ai Cập cổ đại.

Opéra Aïda được diễn lần đầu tiên tại nhà hát Cairo ngày 24/12/1871 trong khuôn khổ chương trình khánh thành thành kênh đào Suez. Thành công lại đúng hẹn với Verdi. Nhưng nhà soạn nhạc người Ý này không hoàn toàn mãn nguyện bởi vì buổi diễn đầu tiên chỉ mở cửa đón các hàng chức sắc mà không đến được với đại chúng.

Trong toàn bộ gần 30 vở opéra trong sự nghiệp, ông đã kết hợp nghệ thuật sân khấu với âm nhạc sao để dễ chinh phục khán giả, bất luận giàu nghèo, tuổi tác, bất luận vị trí trong nấc thang xã hội hay màu da.

Cũng để đến gần với khán giả, Verdi đã không ngừng đổi mới từ nội dung đến hình thức để tất cả mọi người cũng có thể cảm nhận được cái đẹp của thể loại opéra.

Về nội dung, Giuseppe Verdi luôn chọn những chủ đề rất gần gũi và dễ hiểu với mọi người như là sự hận thù, lòng đố kỵ, nỗi đam mê, tình yêu và hận thù, trăn trở của kẻ tha hương, sự hy sinh cao cả của một người tình như để chuộc lại lỗi lầm, sự giày vò của một nàng công chúa khi phải chọn giữa bên hiếu, bên tình …

Verdi thường mượn một vài tác phẩm nổi tiếng của những nhà văn đã được công chúng biết đến rộng rãi như là Voltaire, hay Victor Hugo, như Shakespear, Lord Byron, Schiller hay Alexandre Dumas … để sáng tác.

Vị trí riêng biệt của các bản đồng ca

Về hình thức Verdi đã thực sự đem lại một cuộc cách mạng trên sân khấu ở nhiều điểm.

Thứ nhất trong tất cả các vở opéra của Verdi đều được dàn dựng một cách hết sức sống động. Ông đem rất nhiều gam màu vào các tác phẩm của mình –từ trang phục của diễn viên cho đến nền phông sân khấu, từ chất giọng của các nghệ sĩ đến âm hưởng, tiết tấu và nhất là Verdi sử dụng rất nhiều nhạc cụ khác nhau để tạo nên sắc thái riêng biệt đó cho dòng nhạc của mình.

Nét tiêu biểu thứ nhì trong phong cách của Verdi là ông luôn dành hẳn một chỗ đứng riêng biệt cho các dàn hợp xướng. Khác với những soạn giả khác, những bản đồng ca trong các vở opérat của Verdi không chỉ để minh họa hay làm nền đệm cho những nhân vật chính trong vở tuồng. Những bài đồng ca của Verdi đều có cái hồn riêng của nó, đều có một vị trí độc lập trong tác phẩm của ông. Verdi soạn những bản đồng ca đó như ông tạo dựng một nhân vật trong vở ca nhạc kịch của mình.

Điển hình là bài hợp xướng trong hai tác phẩm Nabucco và Aida ở trên. Tác phẩm La Traviata, dựa trên cốt truyện Trà hoa nữ - La Dame aux Camélias của nhà văn Pháp, Alexandre Dumas (con), mở ra trong bầu không khí vui nhộn, trong một buổi tiếp tân tại nhà riêng của cô gái giang hồ Violetta Valéry. Bài hợp xướng Brindisi với nội dung xưng tụng rượu ngọt và tình yêu thể hiện được nếp sống buông thả của cô gái làng chơi thả mình trong hơi men và vòng tay của những bậc quân tử.

Bản hợp ca này tự nó đủ đem lại cho người nghe một bầu không khí vui nhộn,nhẹ nhàng dễ nghe và dễ nhớ. Thế nhưng nếu nhìn tổng thể vở diễn, thì những âm hưởng đó phản ánh cuộc sống bề ngoài và buông thả của cô gái làng chơi Violetta. Khía cạnh đó hoàn toàn tương phản với thế giới nội tâm của một má hồng phận bạc. Vai trò của bản hợp ca đó là nhằm báo trước tấn bi kịch sắp mở màn.

Nhưng bước đột phá về nghệ thuật sân khấu và âm nhạc của Giuseppe Verdi không dừng lại ở đó. Cũng chính với La Traviata, sáng tác năm 1853, nhà soạn nhạc người Ý này đã đưa thách thức công luận thời đó : lần đầu tiên nhân vật chính trong một vở nhạc opéra lại không phải là một người đàn bà đoan trang hiền thục, mà đó chỉ là một cô gái điếm hạng sang, quay cuồng với những cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Xưng tụng tấm còng cao cả của một cô gái giang hồ là một chủ đề quá mới mẻ và không phù hợp với đạo đức của thời bấy giờ. Một phần công luận Ý ở vào giữa thế kỷ thứ XIX không thể chấp nhận điều đó cho dù Violetta hy sinh cả tình yêu và sinh mạng để chuộc lại lỗi lầm.

Lại cũng lần đầu tiên Verdi chọn sáng tác dựa trên một tác phẩm văn học còn « mới tinh » chỉ vừa được Dumas hoàn tất trước đó một năm. La Traviata khi được trình làng đã bị chỉ trích gay gắt. Nhất là khi Verdi đã không ngần ngại đưa nhiều chi tiết riêng tư trong cuộc sống của ông vào tác phẩm : chỉ cần tinh ý một chút, sẽ thấy ngay trong nhân vật nữ của La Traviata, Violetta phảng phất bóng hìn diva Giuseppina Strepponi. Strepponi từng là người tình của giám đốc nhà hát La Scala, Milano, và trong một thời gian dài, bà đã chung sống ngoài hôn nhân với Verdi.

Verdi đã đi trước thời gian, và công luận Ý vào năm 1853 chưa sẵn sàng đón nhận một vở opéra như La Traviata. Buổi ra mắt đầu tiên tại nhà hát La Fenice ở Venise là một thất bại nặng nề. Nhưng riêng với tác giả, ông vẫn tin rằng công luận cần có thêm thời gian để đến với tác phẩm này.

Verdi đã không nhầm. Chỉ một năm sau thì cũng tại Venise, La Traviata đã được hoan nghênh hết chỗ nói và vở ca nhạc kịch này đã được diễn đi diễn lại nhiều lần trên đất Ý cũng như ở nước ngoài. Đến nay, La Traviata được xem là một trong những vở opéra công phu nhất, hoàn chỉnh nhất, được diễn nhiều nhất trên thế giới và được yêu chuộng nhất của mọi thời đại, kể từ khi nghệ thuật sân khấu opéra ra đời vào thế kỷ XVII.
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/25/2020(UTC)
viethoaiphuong
#497 Posted : Thursday, August 27, 2020 4:02:04 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Bản Symphony số 9 của Beethoven và thế giới đại đồng

Thanh Hà - RFI
2020 là năm thế giới vinh danh Beethoven nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh người dành 30 năm cuộc đời để có được bản Symphony số 9. Qua tác phẩm này, Ludwig van Beethoven (1770-1827) đã tiến hành nhiều cuộc cách mạng cùng một lúc : Ông phá cách, đưa một dàn hợp xướng vào thể loại nhạc giao hưởng, đồng thời biến tác phẩm này thành một bản tuyên ngôn vì một thế giới đại đồng, xóa bỏ giai cấp.

Nhạc sĩ dương cầm François Frédéric Guy thổ lộ ông thật "hết ý" với Khúc Hoan Ca –Ode à la Joie (Ode an die Freude) trong bản Giao Hưởng Số 9 của Beethoven. Trong tác phẩm này, nhạc sĩ người Đức đã dùng một ngôn ngữ âm nhạc rất đơn giản – vừa dễ nghe, vừa dễ đàn, để đến gần với đại chúng, để thổi vào hồn người nghe tinh thần đấu tranh, tình yêu đồng loại, lý trí của những con người muốn được cùng nhau sống trong niềm hân hoan, tương ái. Chỉ cần nghe một vài nốt nhạc ấy cũng đủ để ta nở được nụ cười và cùng hướng đến một tập thể.

Beethoven là người mở đường cho cả một thế hệ các nhạc sĩ của trường phái lãng mạn, từ Schumann đến Chopin hay Liszt, Mendelssohn. Những bản giao hưởng của ông được xem là những tượng đài của âm nhạc thế giới. Trong số những đại tác phẩm ấy, bản Symphony số 9 được nhắc đến nhiều hơn cả bởi đấy chẳng những là di chúc ông để lại cho hậu thế, là tác phẩm khép lại sự nghiệp đồ sộ của Beethoven, mà nhạc phẩm ấy còn là "điểm đến cuối cùng" của thể loại Symphony như Richard Wagner, một cây đại thụ khác của nghệ thuật âm nhạc thế giới, từng nhận xét.

Không phải ngẫu nhiên mà bản thảo của Symphony số 9 được tổ chức UNESCO công nhận là di sản thế giới. Cũng không phải tình cờ tác phẩm này là nguồn cảm hứng vô tận cho các thể loại nghệ thuật từ sân khấu đến văn chương, từ hội họa đến điện ảnh. Vì sao bản Giao Hưởng số 9 được cất lên khi bức tường Berlin sụp đổ và đã được chọn là nhạc hiệu của Liên Hiệp Châu Âu ?

Được cho mắt công chúng lần đầu tại thành Vienne, vương quốc Áo, năm 1824, bản Symphony số 9 đã khẳng định chỗ đứng riêng biệt trong khu vườn âm nhạc của nhân loại.

Về hình thức, tác phẩm này gồm bốn phần và có độ dài hơi quá khổ. Khác với những người đi trước, trong phần mở đầu, tác giả cố tình bắt chúng ta đợi chờ, để rồi mãi đến khuông nhạc thứ 16 ông mới từng bước hé lộ tâm tư. Đằng sau vẻ ban đầu tĩnh lặng là những băn khoăn sôi sục, là khát vọng dâng trào, là những xung đột nội tâm, là con đường dài của sự tranh đấu.

Nếu như thông thường, sau chương một sôi động thì ở phần thứ nhì luôn có nhịp điệu dịu dàng hơn, trầm lắng hơn. Nhưng ở đây Beethoven lại chọn vũ điệu Scherzo vừa dồn dập vừa vũ bão. Các nhạc cụ ở đây lao vào một màn rượt đuổi, mãnh liệt và đam mê.

Dù vậy tất cả mọi chú ý đều tập trung vào phần cuối bản Symphony số 9. Beethoven là người đầu tiên đưa dàn hợp xướng và bốn tiếng hát đơn vào thể loại giao hưởng. Chương bốn bản Symphony số 9 cũng có thể xem như một bản giao hưởng hoàn toàn độc lập.

1792 là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời Beethoven : ông từ bỏ hẳn Bonn đến định cư tại Vienne, theo lời mời của một nhạc sĩ bậc thầy đang ngự trị trên vương quốc Áo, là Joseph Haydn. Đấy cũng là thời điểm Beethoven bắt đầu tìm tòi để phổ nhạc bài thơ An die Freude hay còn được gọi là Ode An Die Freude – Khúc Hoan Ca thi sĩ Friedrich Schiller sáng tác năm 1785.

Bốn năm trước cuộc Cánh Mạng Pháp 1789, trong xã hội phong kiến của vương quốc Áo cuối thế kỷ 19, Schiller đã ngợi ca công bằng, bác ái, một xã hội mà người người bình đẳng không chỉ trước Phán Xét Cuối Cùng của Thượng Đế. Nhân loại bình đẳng dưới vòm trời của hạnh phúc và niềm hân hoan. Beethoven đồng cảm với khát vọng tự do, với lý tưởng về một thế giới đại đồng, nơi mà :

"Triệu triệu con người mở rộng vòng tay,

Là anh em một nhà"

Lời thơ của Schiller là ngọn đuốc dẫn đường, là tiếng chuông ngân vang suốt tuổi trẻ và cả cuộc đời của người nhạc sĩ. Đến nỗi trong 30 năm liền, Beethoven biến mỗi tác phẩm của ông như một cuộc thử nghiệm, như một viên đá lót đường để có được bản Giao Hưởng số 9.

Từ năm 1795 khi mới 25 tuổi Beethoven đã phác họa sơ cho một dàn đồng ca và piano. Tiết tấu đó được ông sử dụng lại trong một bản Fantaisie, sáng tác năm 1808. Mãi gần chục năm sau, vào quãng 1817, Beethoven mới thực sự phác họa sườn bản Symphony số 9. Ông chỉ giữ lại khoảng 1/3 lời thơ của Schiller để phổ nhạc, nhưng đã có chiếc đũa thần, để bài thơ của văn hào Đức Friedrich Schiller chắp ánh bay cao, để những dòng suối nhỏ cùng vươn ra biển lớn.

Bài thơ Ode à la Joie -Ode an die Freude của Friedrich Schiller và bản Giao Hưởng số 9 là một bản tuyên ngôn nhân quyền trước thời đại.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 8/27/2020(UTC)
viethoaiphuong
#498 Posted : Tuesday, September 1, 2020 1:19:10 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Âm nhạc trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ


Gia Trình - RFI - 29/08/2020
Cuộc đua vào Nhà Trắng năm 2020 đang nóng lên từng ngày. Truyền thông là phương tiện bản lề trong chiến dịch tranh cử, trong đó, âm nhạc không thể nằm ngoài chiến lược truyền thông. Ý tưởng cốt lõi là truyền tải thông điệp chính trị qua các ca khúc và tận dụng lượng fan trung thành bỏ phiếu. Hãy cùng điểm lại các danh sách nhạc đã và đang được lựa chọn trong vòng 30 năm qua.


Nguyên tắc “Không tắm hai lần trên cùng dòng sông”

Mọi thứ đều có tính thời điểm và một bài hát được ưa thích, hâm mộ đều có lý do riêng. Vì thế, mỗi ca khúc thường chỉ sử dụng một lần duy nhất trong chiến dịch tranh cử, rất hiếm để “tua lại” trong đợt tái tranh cử. Mỗi chiến dịch đều cần những thông điệp mới mẻ, phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội diễn biến phức tạp như xứ sở Cờ Hoa.

Năm 2008, chiến dịch của tổng thống Barack Obama gắn với bản nhạc soul Signed, Sealed, Delivered I'm Yours của nam danh ca da màu Stevie Wonder. Một ca khúc vui nhộn, hào hứng với ca từ “Signed, sealed, delivered, I'm yours. Here I am, baby. You got my future in your hands.” (Hãy ký, niêm phong, và chuyển nó đi và tôi đã thuộc về bạn. Cả tương lai của tôi nằm trong tay bạn).

Hết nhiệm kỳ đầu tiên của Obama, cuộc khủng hoảng tài chính khởi nguồn từ Mỹ năm 2008 đã lan rộng toàn cầu, gây ra suy thoái nghiêm trọng. Ca khúc vui nhộn của Stevie Wonder giờ không còn phù hợp với bối cảnh xã hội lúc này. Khi tái tranh cử năm 2012, đảng Dân Chủ của ông Obama sử dụng ca khúc sâu sắc hơn We Take Care of Our Own (Chúng ta tự chăm lo bản thân) của ngôi sao rock Bruce Springsteen. Bài hát khắc họa con người trở nên khô khan, lạnh lùng hơn và không còn sẵn lòng giúp đỡ nhau sau những năm tháng kinh tế trở nên khó khăn : “I've been stumblin' on good hearts turned to stone. The road of good intentions has gone dry as a bone” (Tôi đã từng ngã vào những trái tim nhân hậu giờ đã hóa đá. Những con đường mang tên thiện chí đều khô cạn như những bộ xương khô).

Tuy nhiên, phần điệp khúc lại có phần lạc quan, tươi sáng hơn với giấc mơ Mỹ “Wherever this flag is flown/We take care of our own” (Bất cứ khi nào quốc kỳ tiếp tục tung bay, Chúng ta sẽ tự chăm lo cho bản thân mình). Thông điệp này khá phù hợp, khơi gợi với trọng tâm cải cách hệ thống y tế Obamacare do đảng ông Obama đề xuất. Phải chăng hiệu ứng lan tỏa của âm nhạc sẽ nâng tầm thông điệp tranh cử của các ứng viên?

Ngoài ra, chuyện “cũ người, mới ta” được xem khá bình thường khi hai ứng viên khác nhau có thể khai thác cùng một ca khúc, miễn là khác thời điểm. Đơn cử như ca khúc Only in America (Chỉ có ở nước Mỹ) do bộ đôi country Brooks & Dunn’s thể hiện lọt vào mắt xanh của ông George W. Bush, lúc đó trong chiến dịch năm 2000. Ca khúc này cũng được ứng cử viên Dick Cheney chọn năm 2004, và thậm chí cả chiến dịch tổng thống Barack Obama sử dụng năm 2008 (dù không phải là ca khúc chủ đạo).

Lựa chọn nào cho đảng Dân Chủ và đảng Cộng Hòa?

Các chính trị gia Hoa Kỳ khá ưa thích các ca khúc rock với thể loại đa dạng: từ folk-rock nhẹ nhàng của Fleetwood Mac đến punk-rock, rock and roll như nhóm Rolling Stones, Neil Young. Cho dù thể loại nào thì nội dung bài hát phải hợp tông, cùng màu với thông điệp tranh cử của các chính trị gia.

Tuy nhiên, một số ứng viên có những lựa chọn khác thường. Ví dụ như ứng cử viên đảng Cộng Hòa, John McCain, người qua đời năm 2008 vì bệnh ung thư não, đã chọn ca khúc của ABBA Take a Chance on Me năm 2008. Ông tự nhận mình là fan ruột của nhóm ABBA với ca từ vui nhộn hơn là thông điệp chính trị : “Honey, I'm still free. Take a chance on me. Gonna do my very best.” (Em yêu, Anh vẫn còn tự do, hãy trao cho anh một cơ hội, anh sẽ làm tốt nhất có thể). Ca khúc này khiến ông trở nên nhẹ cân trước các đối thủ tiềm năng với câu hỏi xoáy “Anh có gì để mất không?”

Ở một khía cạnh khác, sinh ra trong gia đình giàu có, nghị sỹ John Kerry tham gia tranh cử năm 2004 với ca khúc Fortunate Son (Chàng trai may mắn) của nhóm rock CCR thập niên 70. Đây là một ca khúc phản chiến vào thời điểm chiến tranh Việt Nam, điệp khúc nhấn mạnh “It ain't me, it ain't me, I ain't no millionaire's son, no.” (Không phải là tôi, tôi không phải là con nhà triệu phú). Sự thất bại của John Kerry, đảng Dân Chủ, trước ứng cử viên nặng ký của đảng Cộng Hòa, George W. Bush, có thể lý giải phần nào từ việc lựa chọn không hợp lý với phần âm nhạc. Bài hát nhấn mạnh vào thành tích quá khứ tham gia quân ngũ của Kerry hơn là thông điệp hành động cho tương lai.

Ở góc độ thú vị khác, các chính trị gia nước Mỹ dường như đều yêu mến nghệ sỹ Tom Petty và các ca khúc của ông. Tom Petty là nhạc sỹ-ca sỹ, kiêm guitar chính của nhóm rock Tom Petty and the Heart Breakers.Ông sinh năm 1950 và qua đời năm 2017 do sử dụng thuốc kê đơn quá liều. Âm nhạc của Tom Petty có giai điệu giản dị nhưng cuốn hút, tiết tấu vừa phải, đặc biệt tính nội dung sâu sắc.

Không quá ngạc nhiên, khi ứng viên Đảng Dân Chủ, bà Hillary Clinton sử dụng ca khúc American girl (Cô gái Mỹ) trong chiến dịch tranh cử năm 2016. Về phía đảng Cộng Hòa, George W.Bush (con) và kể cả tổng thống đương nhiệm Donald Trump cũng khá mê nhạc bản nhạc I won’t back down (Tôi sẽ không lùi bước). Âm nhạc Tom Petty vẫn tiếp tục vang lên trong chiến dịch tranh cử của Bush và Trump sau 4 năm.

Well, I know what's right ; I got just one life ; In a world that keeps on pushin' me around ; But I'll stand my ground ; And I won't back down.

Tôi hiểu rõ đúng sai ; Tôi chỉ có một cuộc đời ; Thế giới này đẩy tôi đi xa khắp nơi ; Nhưng tôi vẫn đứng vững ; Và sẽ không bao giờ lùi bước

Ồn ào quanh chuyện bản quyền

Vấn đề bản quyền trở nên khá căng thẳng nếu chiến dịch tranh cử sử dụng ca khúc thiếu sự đồng thuận của tác giả. Đơn cử như tổng Thống đương nhiệm Donald Trump đối mặt với liên tiếp các vụ kiện tụng liên quan tới bản quyền âm nhạc. Ông từng thành công trong chiến dịch tranh cử năm 2016 sử dụng ca khúc rock sôi động của Neil Young Rocking in the free world (Rung chuyển thế giới tự do).

Mới đây, Neil Young đã chính thức kiện Trump vì sử dụng bài hát trái phép, đòi bồi thường với số tiền 150.000 đô la Mỹ. Chi tiết khá thú vị là Neil Young phớt lờ việc kiện tụng trong quá trình đổi quốc tịch từ Canada sang Mỹ trong suốt 5 năm. Sau chiến dịch của ông Trump tại Tulsa, Oklahoma và núi Rushmore, Young, giờ đây trở thành công dân Mỹ, mới chính thức khởi kiện.

Không chỉ riêng Neil Young, nhóm rock lừng lẫy The Rolling Stones lên tiếng cáo buộc ông Trump sử dụng âm nhạc họ khi chưa được sự chấp thuận. Chiến dịch của ông Trump đã sử dụng bản hit lừng lẫy You Can't Always Get What You Want (Bạn không dễ dàng có những thứ bạn muốn) tại Oklahoma và trước đó, trong đợt tranh cử năm 2016. Nhóm nhạc này không ủng hộ Trump. Kể cả gia đình nghệ sỹ Tom Petty cho rằng ca khúc của Petty không phù hợp với màu sắc chính trị của Trump.

Cuộc đua gay cấn giữa hai Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa vẫn chưa có hồi kết giữa hai ứng cử viên Joe Biden và Donald Trump. Bên cạnh đó, cuộc đua về âm nhạc cũng tỏ ra không hề thua kém với nhiều bài học nhãn tiền về lựa chọn không phù hợp. Để giải bài toán khó về âm nhạc, luôn cần sự kiên nhẫn và giác quan nhạy bén.

(Theo BBC, Variety)


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/1/2020(UTC)
viethoaiphuong
#499 Posted : Sunday, September 6, 2020 5:42:36 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)


Celine Dion - Phía sau ánh hào quang

Gia Trình - RFI - 05/09/2020
Bốn thập kỷ ca hát, giọng soprano đặc biệt của Celine Dion vẫn giữ lửa sân khấu bằng nguồn năng lượng hiếm có. Sau sự mất mát của người chồng khiêm nhà sản xuất Rene Angelil năm 2016, diva của nhạc phim Titanic (My heart will go on) phải ôm trọn nhiều khối lượng công việc khổng lồ hơn.

Không chỉ là ca sỹ, cô phải tham gia vai trò nhà sản xuất, quản lý, tổ chức tour lưu diễn thay thế cho người chồng yêu dấu hơn 22 năm gắn bó. Album Courage (Sự can đảm, 2019) là minh chứng rõ nét cho nỗ lực không ngừng nghỉ của Celine khi thiếu vắng Rene.

Nỗ lực khi đứng một mình

Thành công rực rỡ của Celine Dion không thể thiếu vai trò của người chồng quá cố, từ việc ông phát hiện tài năng, tham gia sản xuất, ủng hộ cô học tiếng Anh để phát triển sự nghiệp. Vắng bóng đi người bạn đời tri kỷ, câu hỏi rất lớn đặt ra là liệu cô ấy sẽ xoay sở ra sao khi chỉ có một mình. Sự xuất hiện trở lại của Celine Dion trong Courage (2019) là đáp án cho câu hỏi đó. Khán giả khá hoài nghi về vấn đề sức khỏe cũng như stress ảnh hưởng tới diện mạo mới của Celine. Ca sỹ trông già hơn, sút cân kèm theo những trang phục khác lạ.

Thay vì chỉ tập trung vào luyện thanh, ca hát, giờ đây Celine phải đối mặt với tất cả công việc sản xuất. Chia sẻ với kênh tạp chí Today, cô nói rằng album này được sản xuất với hình ảnh người chồng trong tâm trí của tôi : “Courage tái hiện được nỗi đau mất đi người chồng yêu quý, mất đi người quản lý, con tôi mất đi người cha. Và đó sẽ quá trình tìm lại sức mạnh để tôi tiếp tục.” Lời ca trong album mới toát lên được thông điệp mạnh mẽ đó : ”Yeah, I got my own imperfections / I got my own set of scars to hide” (Tôi có những khiếm khuyết riêng. Tôi có những vết sẹo cần phải dấu đi).

Ở một góc độ khác, Celine xuất hiện trong video clip với gương mặt mộc và khoác lên người nhiều trang phục hàng hiệu xa xỉ. Theo sự bộc bạch của diva, “Xuất hiện không trang điểm là sự can đảm, và tôi luôn nghĩ mình là người như vậy”. Lời ca cũng truyền tải được thông điệp về nghị lực đó của nữ ca sỹ : “Before I can trust you / I need to learn to trust myself” (Trước khi em có thể tin tưởng anh. Em cần tin tưởng chính bản thân mình).

Album mới Courage thiếu vắng nhưng bản ballad đẹp, giai điệu cuốn hút như Because you loved me, The power of love hay All by myself. Nhưng bù lại, các ca khúc có điệp khúc khá dễ nghe và có một điểm nhấn chung vào thông điệp yêu thương chính bản thân mình. Hơn thế nữa, một fashionista như Celine đang muốn sử dụng thời trang để khuếch trương một diện mạo mới khi đứng trên đôi chân của mình. Cô liên tiếp xuất hiện trong các tạp chí thời trang uy tín như Vogue hay Vanity Fair nhờ gu ăn mặc riêng. Ngoài ra, diva còn dựng lại các hit tên tuổi như It’s all coming back to me now cho Instagram để quảng bá cho dấu ấn fashion của riêng mình.

Nữ hoàng biểu diễn live

Tour lưu diễn đầu tiên của Courage diễn ra ngay tại thành phố Québec, quê hương của diva, diễn ra trong vòng một năm liên tiếp. Celine chia sẻ : “Tôi không chỉ tham gia vào việc ghi âm album mà còn sản xuất các show biểu diễn. Tôi luôn có ý tưởng, có thể nó sai lầm. Tôi chỉ yêu cầu để được lắng nghe”.

Lượng fan trung thành của Celine khá đa dạng : từ thế hệ X, 17 tuổi cho đến thế hệ già 60 tuổi đều say mê giọng ca mạnh mẽ, khỏe khoắn của cô. Để đạt được thành tích này, diva 52 tuổi phải cố gắng không ngừng nghỉ trong việc học hỏi và trau dồi kỹ năng trình diễn.

Với cùng một ca khúc River deep, Mountain High, Celine Dion sau 10 năm tỏa sáng trên sân khấu Las Vegas hoàn toàn khác biệt với Celine Dion khi mới bắt đầu nổi tiếng, những năm 1994 -1996. Cô hoàn toàn làm chủ sân khấu, biết cách giao tiếp với khán giả, di chuyển nhịp nhàng với vũ đạo. Trở thành nghệ sỹ biểu diễn live thành công, Celine chứng tỏ cô không chỉ có giọng hát xuất chúng mà còn sự khéo léo trong giao tiếp. Nhờ đó, diva có thể bộc lộ cái tôi mạnh mẽ trong ánh đèn sân khấu sáng lạn.

Sự khôn ngoan của nữ nghệ sỹ, tất nhiên nhờ vai trò nhà quản lý của người chồng Rene, đã bắt tay với sòng bài Caesars Palace ở Las Vegas rất sớm. Nhờ tổ chức show liên tục từ năm 2003 đến 2007, concert A New Day thu hút tổng cộng hơn 3 triệu khán giả với 717 show liên tục sáng đèn. Hợp đồng 3 năm với sòng bạc Las Vegas này đem lại cho cô hơn 100 triệu đôla Mỹ cùng 50% lợi nhuận show diễn. Mặc dù hợp đồng gốc chỉ 3 năm nhưng được kéo dài thêm 2 năm tới 2007 do thành công đột biến về thương mại, thu về tổng cộng 385 triệu đôla Mỹ.

Năm 2011, cô quay trở lại Las Vegas với show thứ hai Celine với bản hợp đồng kéo dài tới năm 2019. Nhờ những bản hợp đồng màu mỡ này, Celine lột xác trở thành nữ nghệ sỹ biểu diễn thành công nhờ sự hài hòa giữa yếu tố nghệ thuật và giải trí.

Nếu nói Celine Dion thành công chỉ nhờ yếu tố thiên bẩm là giọng hát, điều này không hoàn toàn chính xác. So với các ngôi sao cùng thời như Mariah Carey hay Whitney Houston, Celine vẫn giữ được phong độ tốt hơn hẳn dù đã bước sang tuổi 52. Cô vẫn hát được những nốt cao, quãng rộng một cách nhẹ nhàng. Đồng thời, thể lực cô cũng được duy trì để hát liên tục trong live concert kéo dài 90 phút. Điều đó nói lên luyện tập chăm chỉ không bao giờ thừa đối với một ngôi sao ca nhạc trên đỉnh cao thành công. Ngoài ra, giọng hát không thôi chưa đủ, kinh nghiệm biểu diễn tại Las Vegas Residency đã giúp Celine trau dồi tốt hơn về diễn xuất hình thể, biểu đạt cảm xúc cũng như kỹ năng phối hợp ăn ý với một vũ đoàn và dàn nhạc khổng lồ.

Thiếu vắng đi Rene Angelil, album Courage lật một trang mới của cuộc đời diva nhạc pop. Đó là sự can đảm khi đối mặt với cả thế giới rộng lớn trên đôi chân riêng của cô bằng giọng ca trời phú và nghi lực mạnh mẽ.

(Theo CBS, Today, People)
viethoaiphuong
#500 Posted : Monday, September 7, 2020 7:55:41 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,742
Points: 12,381

Thanks: 785 times
Was thanked: 351 time(s) in 350 post(s)

Covid-19: Bảo tàng Pháp ở tỉnh bị thiệt hại nhẹ hơn

Tuấn Thảo - RFI - 07/09/2020
Nước Pháp vắng khách du lịch nước ngoài trong vòng hơn 6 tháng liền. Tình trạng đó đã tác động mạnh mẽ đến các viện bảo tàng cũng như các địa điểm tham quan. Bị thiệt hại nặng nhất vẫn là các bảo tàng quốc gia, vốn thu hút đông đảo khách ngoại quốc, trong khi các bảo tàng cấp tỉnh lại tiếp đón nhiều khách nội địa, khi đa số dân Pháp chọn đi nghỉ mát ở gần nhà.

Từ bảo tàng Louvre, trung tâm văn hóa Pompidou cho đến lâu đài Versailles, tình trạng vắng khách tham quan trong hơn nửa năm đã khiến cho mức doanh thu bị sụt giảm nghiêm trọng. Vào mùa hè năm 2019, cứ trên 10 người đi tham quan bảo tàng Louvre hay bảo tàng Orsay, là có đến 7 khách nước ngoài. Còn tại cung điện Versailles, số khách ngoại quốc mua vé vào cửa lên đến 80%. Tính theo quốc tịch, số khách tham quan đông nhất vẫn là Người Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc, Canada, Nga ….. còn khách đến từ các nước châu Âu láng giềng đông nhất vẫn là Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Thụy Sĩ.

Tính trung bình, thành phần du khách ngoại quốc đem lại hai phần ba doanh thu cho các viện bảo tàng, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong suốt 6 tháng qua. Số khách đến từ Đức, Ý hay Hà Lan đã phần nào xuất hiện trở lại sau ngày nước Pháp dỡ bỏ lệnh phong tỏa (22/06/2020) nhưng vẫn còn quá ít ỏi để có thể bù đắp cho những khoản thất thu khổng lồ của các viện bảo tàng Pháp trong suốt mùa dịch Covid-19.

Một cách cụ thể, doanh thu của viện bảo tàng Louvre đã giảm hơn 60% so với cùng thời kỳ năm 2019. Trong hai tháng hè vừa qua, số khách tham quan ‘‘viện bảo tàng lớn nhất thế giới’’ đã giảm đến 75%, điều chưa tưng thấy kể từ khi Louvre được thành lập. Mức thiệt hại của bảo tàng Louvre được ước tính khoảng 40 triệu euro. Cũng cần biết rằng, doanh thu của Louvre trong năm 2019 đã đạt mức kỷ lục 149,5 triệu euro, trong đó có hai phần ba (99 triệu) là nhờ bán vé vào cửa và quà lưu niệm cho du khách. Theo giám đốc bảo tàng Louvre Jean-Luc Martinez, ban điều hành đã yêu cầu chính phủ Pháp hỗ trợ tài chính để có thể cầm cự từ đây cho tới mùa xuân năm 2021.

Tình trạng của viện bảo tàng Orsay cũng không sáng sủa cho lắm. Tuy đã được mở lại sớm sau hơn 3 tháng đóng cửa, nhưng lượng khách tham quan vẫn sụt giảm hơn 70% trong mùa hè vừa qua. Khoản thất thu của viện bảo tàng Orsay trong năm 2020 lên tới 28 triệu euro, trong đó có tới 80% (22 triệu euro) đến từ quầy bán vé. Viện bảo tàng Orangerie, thuộc trách nhiệm của ban điều hành Orsay cũng phải hủy bỏ hay dời lại một số sinh hoạt cho tới đầu năm sau.

Về phía trung tâm văn hóa Pompidou, bảo tàng nghệ thuật đương đại đang lên chương trình sinh hoạt văn hóa vào đầu mùa thu, bao gồm cả cuộc triển lãm đồ sộ về danh họa Matisse. Tuy nhiên, ngân sách hoạt động của Pompidou cũng phần nào bị hạn chế, do trung tâm này đã mất 20 triệu euro doanh thu tính từ đầu năm 2020. Theo giám đốc truyền thông Agnès Bénayer, để có thể tổ chức đàng hoàng cuộc triển lãm Matisse, ban điều hành buộc phải tiết kiệm và gác lại một số dự án quan trọng khác cho tới chừng nào các điều kiện trở nên thuận lợi hơn.

Về phần mình, bà Catherine Pégard giám đốc điều hành điện Versailles cho biết, số lượng khách đến tham quan lâu đài Versailles đã giảm ba phần tư tức 75% so với mức bình thường.Tính từ đầu tháng 3 cho tới cuối tháng 8 năm nay, cung điện Versailles đã mất khoảng 45 triệu euro doanh thu. Theo ông Philippe Bélaval, chủ tịch của Trung tâm quản lý các bảo tàng và di tích quốc gia (CMN), thủ đô Paris bị thiệt hại nặng nề do phụ thuộc nhiều về lượng khách ngoại quốc, các bảo tàng càng thu hút nhiều khách đi theo đoàn chừng nào, càng dễ bị thiếu hụt doanh thu chừng nấy. Việc đình chủ các tour du lịch khiến cho các bảo tàng quốc gia bị mất ngay một nửa lượng khách thăm viếng. Các địa điểm tham quan nổi tiếng thế giới, cũng rơi vào tình trạng tương tự : tu viện Mont Saint-Michel hay cổ thành Carcassonne bị mất 50% doanh thu so với cùng thời kỳ năm 2019.

Trong khi các danh lam thắng cảnh ở thủ đô Paris vẫn vắng khách, thì ngược lại các di sản kiến trúc quan trọng ở các tỉnh như biệt thự Villa Cavrois của kiến trúc sư Robert Mallet-Stevens ở thành phố Lille, tu viện Thoronet ở miền Provence hay là bảo tàng Louvre-Lens đều đã thu hút thêm đông đảo khách tham quan người Pháp, chủ yếu là thành phần du khách nội địa, vào lúc họ chọn đi nghỉ mát ở gần nhà, chứ không đi đâu xa. Số khách thăm viếng đã tăng gấp đôi trong mùa hè so với cùng thời kỳ năm 2019.

Theo chủ tịch Trung tâm quản lý các bảo tàng và di tích quốc gia Philippe Bélaval, các địa điểm tham quan ít nổi tiếng đối với dân các đô thị lớn, nhưng lại có nhiều giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc, khảo cổ đều đã thu hút thêm nhiều lượt người thăm viếng. Dân Pháp nhân các chuyến đi thăm gia đình, cũng tranh thủ cơ hội để khám phá các di tích lịch sử, các di sản văn hóa địa phương.

Còn đối với cô Magalie Vernet, thuộc ban tổ chức các sự kiện tại bảo tàng Louvre-Lens, tuy chỉ là một chi nhánh của Louvre, và như vậy diện tích triển lãm rất khiêm tốn so với bảo tàng quốc gia, nhưng trong năm nay Louvre-Lens chỉ mất khoảng 25% khách tham quan. Viện bảo tàng địa phương này đã tổ chức hàng trăm sinh hoạt lớn nhỏ, song song với việc trưng bày bộ sưu tập thường trực.

Các sinh hoạt diễn ra ở ngoài trời hoặc là được tổ chức trong những không gian rộng lớn, dễ kiểm soát về mặt giãn cách xã hội, đã thu hút rất nhiều người tham dự. Một cách tương tự, các lâu đài vùng sông Loire đã phần nào gỡ gạc thất thu, khi tổ chức thêm nhiều sinh hoạt thưởng ngoạn các công viên hay vườn bách thảo, thay vì chỉ đơn thuần viếng thăm nội thất các lâu đài của những vì vua chúa Pháp thời xưa.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 9/7/2020(UTC)
Users browsing this topic
Guest
26 Pages«<23242526>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.