Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

16 Pages«<1011121314>»
Youtube _ Nhac & Tranh Ảnh & Thắng Cảnh _ Từ bạn bè cõi ảo !
viethoaiphuong
#221 Posted : Sunday, May 20, 2012 9:18:36 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Thành viên ban nhạc Bee Gees qua đời

BBC
- Cập nhật: 08:57 GMT - thứ hai, 21 tháng 5, 2012


Ca sỹ Robin Gibb đã bị ung thư một thời gian dài

Sáng lập viên ban nhạc Bee Gees, Robin Gibb, vừa qua đời ở tuổi 62 sau một thời gian dài chống chọi với bệnh ung thư.
Gia đình ông ra thông báo với "sự tiếc thương vô hạn".
Ca sỹ sinh ra tại Anh quốc khởi nghiệp khi cùng anh trai là Barry và em song sinh là Maurice thành lập ban nhạc Bee Gees vào năm 1958.
Trong suốt năm thập niên, Bee Gees nằm trong các ban nhạc bán được nhiều đĩa nhất, với các bài hát nổi tiếng như Stayin' Alive, How Deep Is Your Love, Massachusetts và Night Fever.

Gia đình ông Gibb viết: "Gia đình Robin Gibb, thuộc ban nhạc Bee Gees, xin thông báo với sự tiếc thương vô hạn rằng Robin đã qua đời hôm nay sau một thời gian dài chống chọi với bệnh ung thư và phẫu thuật ruột".
"Gia đình yêu cầu xin được tôn trọng sự riêng tư trong thời điểm khó khăn này."
Robin Gibb được coi như một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử âm nhạc Anh quốc.

Sự nghiệp sáng chói


Bee Gees là một trong các ban nhạc thành công nhất thế giới

Anh em nhà Gibb sinh ra trên đảo Man nhưng lớn lên tại Manchester, và sau đó di cư sang Australia.
Ban nhạc Bee Gees bán được hơn 200 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu kể từ khi có bài hát nổi tiếng đầu tiên những năm 1960.
Bee Gees chỉ đứng sau John Lennon và Paul McCartney về số bài hát thành công nhất trong nền nhạc pop Anh quốc.
Họ không chỉ viết bài hát cho riêng ban nhạc của mình, mà còn cho các ca sỹ danh tiếng như Barbra Streisand, Diana Ross, Dionne Warwick, Celine Dion, Destiny's Child, Dolly Parton và Kenny Rogers,
Người ta cho rằng Robin Gibb là mộ́t trong các ca sỹ da trắng hiếm hoi có giọng hát nhạc soul xuất sắc.
Cựu DJ của kênh truyền thanh BBC Radio 1 Mike Read, người cũng là bạn của Robin Gibb, nói: "Robin có giọng hát hay, nhạc cảm tốt và cách hành văn độc đáo".
"Ông có khả năng cảm nhận giai điệu cũng như ca từ và để lại đằng sau một di sản âm nhạc chưa từng thấy."
Năm 2010, Robin Gibb đã phải hủy một loạt buổi biểu diễn vì đau bụng khi đang diễn ở Bỉ.
Sau đó, ông đã qua phẫu thuật để chữa bệnh tắc ruột.
Người em song sinh của ông, Maurice Gibb, qua đời năm 2003 ở tuổi 53 cũng vì bệnh rối ruột.
Robin Gibb tiếp tục phải hủy các buổi hòa nhạc ở Brazil tháng 4/2011, cũng vì đau bụng.
Cuối năm ngoái ông bị chẩn đoán ung thư đại tràng khi phẫu thuật chữa một bệnh khác.
Sau đó, ông lại bị chẩn đoán ung thư gan, phải qua xạ trị và tiếp tục phẫu thuật.
Hình dáng tiều tụy của ông khiến người ta đồn đoán rằng ông chẳng còn bao lâu thời gian nữa.
Thế nhưng vào tháng Hai, Robin Gibb nói với BBC rằng ông đang hồi phục nhanh chóng và cảm thấy "rất khỏe".
Tháng trước, Gibb bị viêm phổi và lâm vào tình trạng hôn mê.
Sau 12 ngày, ông tỉnh lại và con trai ông, Robin-John, nói ông "hoàn toàn minh mẫn".
Mới đây Gibb được phẫu thuật đường ruột.


Bee Gees, Staying alive
http://www.youtube.com/w...Vq_vNAAI&feature=related
viethoaiphuong
#222 Posted : Saturday, May 26, 2012 3:15:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Bee Gees, ba nhân tài ghép lại thành một huyền thoại



Tuấn Thảo - RFI - THỨ BẢY 26 THÁNG NĂM 2012
Tháng 5 năm 2012 quả thật là thời điểm không may đối với làng nhạc quốc tế. Chỉ trong chưa đầy một tuần mà có đến hai tên tuổi lớn đột ngột từ trần. Sau nữ hoàng disco Donna Summer, lại đến phiên Robin Gibb, một trong ba thành viên sáng lập ban nhạc Bee Gees, vĩnh viễn ra đi. Cơn sốt đêm thứ bảy giờ đây hạ nhiệt.
Bee Gees là ký hiệu viết tắt của Brothers Gibb có nghĩa là anh em nhà họ Gibb, gồm ba anh em ruột là Barry, Robin và Maurice. Trong ban tam ca này, có hai giọng ca chính, nhưng do Robin không bảnh trai bằng người anh là Barry, cho nên trên các hình bìa đĩa hát, Robin ít khi nào được đặt ở giữa, trong khi Barry lại được đẩy lên đầu, trở thành tâm điểm của nhóm.

Nhưng công bằng mà nói thì trong ba anh em, Robin Gibb là người có chất giọng rất sang, vibrato trong sáng. Với âm vực sâu rộng, Robin có thể rung giọng kim đầy đặn, luyến láy khỏe khoắn ở những nốt nhạc cao nhất mà vẫn không hụt hơi. Nhờ vào kỹ thuật luyện thanh, mà chất giọng của Robin càng thanh thoát bay bổng, hát chính cũng hay mà ca bè cũng giỏi. Cách nhả chữ của Robin rõ trong từng ca từ, bén trong mỗi âm sắc. So với người em trai, Barry Gibb thường hay hát chẻ giọng óc (falsetto). Nhưng bù lại Barry cũng như Maurice lại có cái tài viết ca từ và soạn giai điệu.
http://www.youtube.com/w...feature=player_embedded

Về phần hòa âm, phối khí thì Maurice là người sành nhạc lý hơn cả, do biết chơi nhiều nhạc khí khác nhau, cho nên anh thường là người sắp đặt các bản dàn bè, phân đoạn lối hợp xướng để rồi ứng dụng cách hòa âm hầu làm nổi bật các phần đơn diễn hay đồng ca. Mỗi người một nét nhưng có thể nói là ban tam ca Bee Gees là một thực thể liền khối, quyện chặt vào nhau cho nên khó thể tách rời. Bằng chứng là Robin và Barry từng có giai đoạn hát solo, nhưng không thành công bằng thời kỳ hát chung của nhóm.

Sinh tại Isle of Man, một hòn đảo nằm giữa Anh Quốc và Ai Len, ba anh em nhà họ Gibb theo gia đình sang Úc định cư. Họ khởi đầu sự nghiệp từ năm 1959 tại bang Quensland, bên Úc, chọn Bee Gees làm nghệ danh và trình làng album đầu tay vào năm 1963. Đến Luân Đôn lập nghiệp từ năm 1967, nhóm này gây ấn tượng mạnh với bài To Love Somebody, để rồi trong hai năm liền ngự trị trên đỉnh cao với một loạt ca khúc như Holiday, Massachusetts, Words và I Started a Joke.


Trong giai đoạn này, những bản nhạc ăn khách của nhóm Bee Gees thường do Robin Gibb ghi âm với tư cách là giọng ca chính. Mãi đến vài năm sau đó, khi phong trào nhạc disco trở nên cực thịnh, thì lúc đó cách hát chẻ giọng óc của Barry mới được tận dụng, lối hát bè của nhóm được phát huy trọn vẹn, vừa tinh tế vừa phức hợp, xen kẽ giọng chính với ca bè, lúc thì đồng thuận, khi thì đối nghịch.

Tất cả những yếu tố này cộng hưởng thêm với các giai điệu du dương ngọt ngào, một lối hòa âm quyền quyện lớp lớp, tạo ra hiện tượng Bee Gees, ban tam ca xuất sắc nhất mọi thời đại. Từ những năm 1974-1975 trở đi, nhóm Bee Gees chuyển từ nhạc pop sang nhạc kích động (với Jive Talking) để rồi trở thành ban nhạc ăn khách nhất trong ba năm liền từ năm 1977 đến 1980 với ngày phát hành bộ phim Saturday Night Fever.

Giai đoạn thứ nhì cũng là thời kỳ thành công nhất trong sự nghiệp của nhóm. Các bài hát mà Bee Gees đã sáng tác cho cuộn phim này kể cả các bản nhạc slow và ca khúc với nhịp điệu kích động, chẳng những lập kỷ lục số bán mà còn tạo ra khuôn thước trong cách soạn giai điệu.

Với ban nhạc Bee Gees, trình độ của nhạc disco được tăng thêm một bậc, còn lối hát bè thì được nâng lên hàng nghệ thuật. Khép lại giai đoạn này có các bản kích động như Stayin’ Alive hay Tragedy, các tình khúc cực kỳ lãng mạn như How Deep is Your Love hay là Too Much Heaven.
http://www.youtube.com/w..._embedded&v=nREV8bQJ1MA

Từ những năm 1980 trở đi, nhóm Bee Gees cũng khá thành công với việc sáng tác cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác trong đó có Barbra Streisand (Woman in Love), Diana Ross (Chain Reaction), Dionne Warwick (Heartbreaker) và gần đây hơn nữa là Celine Dion (Immortality). Nhưng vào cuối những năm 1980, sự nghiệp của nhóm bắt đầu đi xuống cho dù Bee Gees chuyển sang pop rock, nối lại với nhạc nhẹ trong cách viết tình khúc.

So với các thập niên trước, thời mà Bee Gees giành lấy 14 lần ngôi vị quán quân thị trường Anh Mỹ, thì từ những năm 80 trở đi, ban tam ca này chỉ một lần chiếm hạng đầu thị trường Hoa Kỳ (với nhạc phẩm You Win Again -1987) Trong nửa thế kỷ sự nghiệp ca hát, nhóm Bee Gees đã đoạt 9 giải Grammy, trong đó có 3 giải thành tựu sự nghiệp và 6 giải dành cho album và giọng ca pop xuất sắc nhất trong hai năm liền 1978-1979. Ban nhạc này cũng đã bán trên dưới 240 triệu tập nhạc trên toàn thế giới, kể cả album studio (22), nhạc live và nhạc phim.

Từ ba thành viên sáng lập ban đầu, Bee Gees nay chỉ còn có một gương mặt duy nhất là Barry Gibb, cho dù theo tiết lộ của anh trong cuộn phim tài liệu From Our Own Time quay vào năm 2010, nhóm này vẫn còn một số ca khúc dở dang. Dự án quay phim về cuộc đời và sự nghiệp của nhóm do đạo diễn kỳ cựu Steven Spielberg xúc tiến, có nguy cơ bị gián đoạn.


Hầu hết các kế hoạch của nhóm Bee Gees đều bị lỡ làng, sau khi Maurice qua đời vào năm 2003, nay với ngày ra đi của Robin coi như là hoàn toàn tiêu tan. Nhờ vào công nghệ âm thanh hiện đại, người ta có thể làm sống lại một tiếng hát trong phòng ghi âm nhờ vào kỹ thuật song ca ảo. Nhưng riêng về điểm này, chưa chắc gì Barry Gibb muốn tiếp nối con đường khi chỉ còn một mình.

Vì cũng như anh đã từng tuyên bố từ năm 2003 là rất khó thể nào mà duy trì ban nhạc Bee Gees vì tên tuổi của nhóm gắn liền với ba thành viên, không hơn không kém. Kể từ nay, Barry Gibb chỉ còn có thể duy trì sự nghiệp solo, vì hơn ai hết anh thừa biết rằng một cánh én không làm nổi mùa xuân. Sự nghiệp của Bee Gees được kéo dài, tên tuổi có đi vào huyền thoại, trước hết là nhờ vào ba tài năng ghép lại.
viethoaiphuong
#223 Posted : Sunday, May 27, 2012 10:48:25 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Giải ca nhạc Eurovision 2012 về tay Loreen, nữ ca sĩ Thụy Điển gốc Maroc



Ca sĩ Loreen của Thụy Điển, người chiến thắng trong cuộc thi Tiếng hát truyền hình châu Âu- Eurovision tại Baku, Azerbaijan tối đêm 26/5/2012.
REUTERS/David Mdzinarishvili

Trọng Nghĩa - RFI - Chủ nhật 27 Tháng Năm 2012
Tối hôm qua,26/05/2012, ca sĩ Loreen đại diện cho Thụy Điển đã đoạt giải nhất cuộc thi tiếng hát truyền hình Châu Âu Eurovision 2012 tại Baku . Cuộc thi năm nay có 26 nước tham gia và 42 nước bỏ phiếu. Ca sĩ Loreen 28 tuổi, xuất thân từ một gia đình mà cha mẹ là người từ Maroc, di cư qua Thụy Điển một năm trước khi cô chào đời.

Trong cuộc thi, Loreen đã xuất hiện trong một bộ trang phục rất giản dị, hầu như không trang điểm, đi chân đất, nhưng với một phong cách diễn xuất tràn đầy xúc cảm. Nhạc phẩm Euphoria đã gần như đạt kỷ lục về điểm số, với 372 điểm trong đó có không biết bao nhiêu là điểm 12 tuyệt đối đến từ các quốc gia tham gia chấm điểm.

Tên thật là Lorine Zineb Noka Talhaoui, Loreen sinh ra tại Stockholm, đã bắt đầu ca hát từ năm 8 tuổi. Cha mẹ cô là người Maroc, qua Thụy Điển định cư từ năm 1983. Hai người sau đó ly dị nhau và Loreen chủ yếu sống với mẹ tại Vasteras cách thủ đô Stockholm 50 cây số về phía đông.

Đây là lần thứ năm mà Thụy Điển đoạt giải Eurovision, từ khi nhóm ABBA lừng danh, về nhất năm 1974 với ca khúc Waterloo.

Riêng đối với ca sĩ Pháp gốc Indonesia, Anggun, ca khúc Echo (You and I) của cô, dù được diễn xuất rất thành công, nhưng không chinh phục được khán giả cũng như ban giám khảo tại các nước. Anggun bị xếp thứ 22 trên 26 quốc gia, chỉ được vỏn vẹn 21 điểm.

Loreen - Euphoria - Live - Grand Final - 2012 Eurovision Song Contest
http://www.youtube.com/watch?v=Pfo-8z86x80
viethoaiphuong
#224 Posted : Friday, June 8, 2012 8:40:09 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Triển lãm Paris qua muôn ngàn bài hát




Tháp Eiffel và nghệ thuật ánh sáng
(RFI / Đức Tâm)

Tuấn Thảo - RFI - THỨ SÁU 08 THÁNG SÁU 2012
Paris muôn thuở là nguồn cảm hứng bất tận đối với giới văn nghệ sĩ. Nhưng bạn thử đoán xem đã có bao nhiêu bài hát viết về Paris ? Trước câu hỏi này, ngay cả những người dân sống lâu năm ở thủ đô Pháp chưa chắc gì đã biết câu trả lời. Nhưng theo thống kê chính thức, từ trước tới nay đã có hơn 2750 ca khúc với chủ đề Paris.

Ít ra đó là điều đầu tiên mà ta học hỏi được khi đến xem cuộc triển lãm mang tựa đề Paris en chansons - Paris qua những bài hát. Do hai Thư viện lưu trữ âm thanh và hình ảnh của thành phố Paris tổ chức, cuộc triển lãm sẽ kéo dài cho tới ngày 29 tháng 7 năm 2012. Tất cả những gì không được ghi chép đều có nguy cơ bị mai một, thất lạc.

Nhờ sưu tầm các bản thảo có từ nhiều thế kỷ trước, cho nên giới nghiên cứu có thể xác định rõ ràng là bản nhạc đầu tiên viết về Paris là bài Les cris de Paris của tác giả Clément Janequin, viết vào đầu thế kỷ thứ XVI khoảng những năm 1520. Do không có vết tích lưu trữ các bản in hay chép tay, cho nên trong hai thế kỷ XVII và XVIII, số bài hát viết về Paris có thể được đếm trên đầu ngón tay.

Từ đầu thế kỷ thứ XIX trở đi, các nguồn tư liệu tham khảo trở nên dồi dào, cho thấy là Paris bắt đầu chuyển mình trở thành kinh đô ánh sáng, sau thời kỳ phát triển đô thị song song với cuộc cách mạng kỹ nghệ. Vào thời đó, Paris được xem như là thủ đô văn hóa của châu Âu nếu không nói là của toàn thế giới. Thủ đô Pháp thu hút nhiều nhân tài từ khắp nơi đổ về, sự sáng tạo của họ không những được thể hiện qua âm nhạc, thi ca mà còn là văn chương, hội họa, điêu khắc, múa ballet và nhiều bộ môn nghệ thuật khác.
Paris, France 1080HD
http://www.youtube.com/w...feature=player_embedded

Nhưng dường như cái hình ảnh về Paris thời bấy giờ là một cách nhìn lý tưởng nhất là trong mắt người nước ngoài, nơi mà cuộc sống về đêm là một lễ hội tưng bừng hào nhoáng, không biết đến bao giờ mới tàn. Hình tượng lý tưởng ấy được duy trì qua tiểu thuyết văn chương và tồn tại cho đến tận bây giờ qua cách nhìn của các hãng phim Hollywood : Paris xinh như tranh, Paris đẹp như mơ.

Cuộc triển lãm Paris qua những bài hát ít ra khôi phục lại phần nào thế cân bằng. Bởi vì trong số 2750 bản nhạc viết về Paris, có cả những ca khúc ngợi ca vẻ đẹp của thủ đô Pháp, nhưng bên cạnh đó cũng có những bài nói về những thành phần dân cư nghèo xơ nghèo xác, những khu phố bụi bặm tối tăm, tức là đưa ra một cách nhìn khá phản diện về Paris. Nếu các tác giả thường phản ánh những trăn trở suy tư trong cái bối cảnh xã hội mà họ đang sống, thì có thể nói là dòng nhạc hiện thực của Pháp từ cuối thế kỷ XIX trở đi, đã tạo được thế đối trọng với nhãn quan lý tưởng của những tác giả chuyên mô tả Paris với những hình tượng khuôn sáo.

Cuộc triển lãm do các Thư viện của thành phố Paris tổ chức tập hợp hàng trăm tài liệu đủ loại : hình chụp, sách báo, âm thanh, phim ảnh, được chia thành nhiều chủ đề khác nhau. Khách đến xem triển lãm tùy theo sở thích có thể chọn nghe nhạc qua máy đeo tai, xem video clip và scopitone (tiền thân của video ca nhạc) trên màn hình hoặc là vào phòng chiếu phim để xem các trích đoạn về Paris qua cách nhìn của các nhà đạo diễn của làng nghệ thuật thứ bảy. Bà Emmanuelle Toulet, giám đốc Thư viện các bản thảo lưu trữ về lịch sử Paris cho biết :

Thư viện của thành phố Paris đã đóng góp rất nhiều tài liệu dưới dạng ấn bản cho cuộc triển lãm này. Các bức ảnh chụp thời xưa, các tấm bưu thiếp hay bích chương quảng cáo, các bộ sưu tập tranh ảnh, sách báo, tư liệu tham khảo, các bản dàn bè, các tập chép tay … Bên cạnh các ấn bản này còn có nhiều tài liệu dưới dạng âm thanh và phim ảnh, bao gồm những bản nhạc ghi âm đầu tiên hay là những đoạn phim và video clip minh họa cho các bài hát viết về thủ đô Paris.

Các tài liệu này là do Thư viện Âm thanh và Viện lưu trữ Phim ảnh của Pháp cung cấp. Nhờ vậy mà chúng tôi có đến 400 ca khúc được minh họa bằng hình ảnh mà khách đến xem triển lãm sẽ có dịp khám phá. Tính tổng cộng, có đến gần 2800 bài hát đã được viết về Paris. Có một điều rất lạ là trên toàn thế giới, Paris là thành phố được nhắc nhở, vinh danh nhiều nhất qua thi ca, nhưng mãi đến bây giờ mới tổ chức một cuộc triển lãm đầu tiên về chủ đề này. Nhưng theo tôi nghĩ, thà muộn còn hơn không.
PARIS JE T´AIME - I LOVE PARIS - COLE PORTER & ELLA FITZGERALD
http://www.youtube.com/w...feature=player_embedded

Nhắc đến phong trào viết ca khúc về Paris, người Pháp chủ yếu biết đến các khúc trứ danh qua các giọng ca ăn khách những năm 1950 như Edith Piaf, Yves Montand hay Juliette Gréco. Không phải ngẫu nhiên mà nữ danh ca Juliette Gréco là người đỡ đầu cho cuộc triển lãm này vì bà từng được mệnh danh là Nàng thơ phố Saint Germain des Prés. Theo lời bà Emmanuelle Toulet, các danh ca này duy trì một phong trào có từ gần nửa thế kỷ trước :

Người đầu tiên đã sáng lập ra phong trào sáng tác ca khúc về Paris từ cuối thế kỷ thứ XIX là ca sĩ kiêm tác giả Aristide Bruant (1851-1925), mà người Pháp thường hay nhầm lẫn với chính trị gia sống cùng thời là Aristide Briand (1862-1932). Nổi danh từ những năm 1890 trở đi, Bruant được xem như là một trong những cánh chim đầu đàn của trường phái thi ca hiện thực. Trường phái này chuyên dùng ca khúc để phản ánh các câu chuyện đời thường, dễ bắt gặp trong xã hội thời bấy giờ.

Đặc điểm của Aristide Bruant là ông thường lồng câu chuyện mà ông muốn kể vào một bối cảnh rất cụ thể : đó thường là những khu phố nghèo của Paris. Tác giả này thường chọn tên của một góc phố để đặt tựa cho bài hát : Batignoles, Ménilmontant, Grenelle hay Clignancourt. Điều đó ảnh hưởng nhiều đến các thế hệ tác giả đi sau ông như Georges Ulmer hay Serge Gainsbourg khi họ sáng tác những ca khúc về nhà hát Moulin Rouge và phố Pigalle hoặc là phố Saint Germain và trạm xe điện ngầm Porte des Lilas.
Yves Montand Sous le ciel de Paris
http://www.youtube.com/w..._embedded&v=uUNKdTLQr3A

Cuộc triển lãm Paris qua những bài hát làm sống lại nhiều giai điệu mà thoạt nghe rất quen nhưng ta không còn nhớ tác giả là ai. Ngoại trừ một số tác giả hiện giờ như các ca sĩ Juliette hay Da Silva duy trì lối sáng tác hiện thực, có thể nói là dòng nhạc này đã bắt đầu lu mờ từ đầu những năm 1960 trở đi. Nhưng điều bất ngờ là các sáng tác về Paris tiếp tục được duy trì thông qua nhiều dòng nhạc khác nhờ vào tính đa dạng của các chủ đề, chứ không cần phải bám sát vào thực tế.

Những bài hát viết về Paris bao gồm khá nhiều chủ đề. Trước hết là chủ đề Tình yêu đối với Paris, mà qua đó các tác giả người Pháp cũng như nước ngoài bày tỏ sự gắn bó của họ với thủ đô nước Pháp. Về điểm này, những ca khúc tiêu biểu vẫn là Tôi yêu Paris vào tháng Năm (J’aime Paris au mois de Mai) của Aznavour, ca khúc Tôi có hai mối tình, quê hương tôi và Paris của Joséphine Baker, hay là I Love Paris (Tôi yêu Paris) của tác giả người Mỹ Cole Porter. Chủ đề thứ hai là nỗi lưu luyến đối với một Paris đã đánh mất. Gương mặt chuyên hát chủ đề này là danh ca Edith Piaf. Điều này cũng tương đối dễ hiểu vì Piaf sinh trưởng ở khu phố nghèo Belleville, khởi nghiệp ca hát tại Pigalle rồi Montmartre.

Theo đà phát triển đô thị, các khu phố này đều đã ít nhiều thay đổi, và Piaf thường hay gợi lại qua các ca khúc, những kỷ niệm của Paris thời ấu thơ. Chủ đề thứ ba là những sinh hoạt đời thường tại Paris, mà qua đó ta thường bắt gặp những phong cảnh rất quen thuộc, từ chuyện dùng xe điện ngầm hay chạy xe đạp trong thành phố, bờ sông Seine với những chiếc cầu thơ mộng, các công viên và những quán càphê vỉa hè, các mái nhà thờ và phiên chợ buổi sáng … Và dĩ nhiên là trong những cảnh sinh hoạt ấy, có nhiều bài hát mô tả đời sống của những người sống ở Paris. Đó có thể là những bức chân dung rất thật của người dân Parisien, hoặc là qua thủ pháp khi thì ẩn dụ lúc thì nhân cách hóa, Paris được mô tả như một phụ nữ thường là nhí nhảnh và có duyên.
Marc LAVOINE - Paris [1991]
http://www.youtube.com/w...feature=player_embedded

Từ những năm 1980 trở đi, thế hệ của các nghệ sĩ đi sau tiếp tục lấy cảm hứng từ Paris để soạn ca khúc. Nếu như vào những năm 1960, nhạc phẩm 5 giờ sáng Paris thức giấc (Il est cinq heures, Paris s’éveille) trở thành một bản nhạc kinh điển viết về Paris, thì vào đầu những năm 1990, Marc Lavoine chọn Paris làm tựa đề cho album thứ tư của mình. Cứ mỗi thập niên là có đến hàng chục bản nhạc, giúp cho thư mục về chủ đề này càng lúc càng dày đặc. Bà Emmanuelle Toulet nhận xét :

Trong số những nghệ sĩ đã góp phần khởi sắc phong trào viết ca khúc về Paris có thể kể đến các tên tuổi như Renaud với ca khúc Amoureux de Paname, chữ Paname là một từ tiếng lóng dùng để gọi Paris. Ngoài ra có các nhóm nhạc như Les Garçons Bouchers hay Pigalle cũng tái tạo khung cảnh của Paris trong một số bài hát của họ. Julien Clerc, Marc Lavoine, Pascal Obispo Etienne Daho hay Mathieu Chedid dùng thủ pháp hoán dụ, dùng một chi tiết nhỏ như khách sạn Caravelles, Đại lộ Capucines, trạm xe Châtelet Les Halles một góc chân cầu, hay bến sông Seine để nói về bối cảnh chung của Paris, và qua đó phản ánh nội tâm của một người đang thơ thẩn giữa lòng thủ đô.

Lối sáng tác của các tác giả sau này không giống như tác giả bậc thầy Bruant. Dòng nhạc hiện thực suy yếu từ giữa những năm 1960 trở đi để rồi nhường chỗ lại cho một phong cách sáng tác nhẹ nhàng lãng mạn hơn. Lối viết ca khúc những bài hát mà trong đó Paris là chủ đề trọng tâm hay được chọn làm bối cảnh, cho thấy là ở bất cứ thập niên nào, từ cuối thế kỷ thứ XIX cho đến đầu thế kỷ XXI, vẫn có các tác giả lấy cảm hứng từ Paris để đưa vào bài hát hay để viết thành nguyên một ca khúc. Rất có thể nó đã trở thành một truyền thống từ lúc nào không hay vì cũng như người Pháp thường nói ở Pháp mọi chuyện đều kết thúc bằng một bài hát.
viethoaiphuong
#225 Posted : Sunday, June 10, 2012 10:16:07 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Carrie Underwood đứng đầu bảng xếp hạng Billboard với album ‘Blown Away’



Tính tới nay, nữ ca sĩ Carrie Underwood đã bán 14 triệu album.


VOA - 07.06.2012
Giành chiến thắng tại một cuộc thi âm nhạc như ‘American Idol’ là một sự khởi đầu tuyệt vời đối với sự nghiệp âm nhạc của bất kỳ ai, nhưng để thành công, thì cũng cần tới sự cần cù, tính kiên nhẫn cũng như tìm ra được kẽ hở trên thị trường.

Một trong những ví dụ điển hình nhất là nữ ca sĩ Carrie Underwood. Cô đoạt giải ‘American Idol’ năm 2005, và hiện là một trong các ngôi sao nhạc đồng quê sáng giá nhất.

Tính tới nay, nữ ca sĩ này đã bán 14 triệu album. Con số đó tiếp tục tăng với đĩa nhạc mới phát hành đầu tiên của cô kể từ năm 2009.

‘Blown Away’ ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng album nhạc đồng quê Top Country Album của Billboard. Và cho tới ngày 1/6, đĩa nhạc này vẫn đứng đầu bảng xếp hạng Album nhạc đồng quê bán chạy nhất tuần thứ tư liên tiếp.

Carrie Underwood từng đoạt 5 giải Grammy và là nghệ sĩ nhạc đồng quê thứ hai trong lịch sử 47 năm của bảng xếp hạng này có 4 album đều đứng đầu bảng xếp hạng.

Hồi cuối năm 2011, Miranda Lambert trở thành nghệ sĩ đầu tiên đạt thành tích đó với album mới nhất của cô là ‘Four The Record’.

Ca sĩ Underwood tiếp nối ca sĩ Linda Ronstadt và Faith Hill để trở thành nữ nghệ sĩ thứ ba có ba album nhạc đồng quê leo lên vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 gồm nhiều thể loại âm nhạc.

Cô đồng sáng tác 8 trong số 14 bài hát trong đĩa nhạc mới, trong đó bao gồm bài ‘One Way Ticket’ có âm hưởng Carribe.

Carrie Underwood kết hôn với Mike Fisher, một cầu thủ chơi môn khúc côn cầu trên băng chuyên nghiệp, hồi tháng Bảy năm 2010 và mua bất động sản ở ngoại ô Nashville, nơi cặp vợ chồng này dự định sẽ xây ngôi nhà trong mơ của mình.

Cô cũng đã ký một số hợp đồng quảng cáo nổi bật và dành thời gian trong phòng thu cùng với các nghệ sĩ khác, trong đó có Tony Bennett, Randy Travis và Brad Paisley. Paisley cũng đã trả ơn Underwood bằng việc chơi guitar trong một bài hát trong đĩa nhạc mới của cô.

‘Blown Way’ thể hiện nhiều lĩnh vực tình cảm, từ tình yêu, sự chung thủy, sự phản bội, sự lạm dụng trẻ em tới việc mất đi một người thân trong gia đình vì căn bệnh Alzheimer.

Carrie Underwood sẽ thực hiện một buổi biểu diễn, hiện đã bán hết sạch vé, tại Royal Albert Hall ở London vào ngày 21/6. Sau đó, cô sẽ có các show diễn nổi bật đầu tiên tại Australia. Hơn 50 buổi biểu diễn tại Bắc Mỹ dự kiến sẽ được thực hiện trong năm nay.

Trả lời một trang mạng của Australia, Carrie Underwood nói rằng trong 7 năm qua, kể từ khi giành ngôi quán quân cuộc thi ‘American Idol’, cô đã trưởng thành rất nhiều trong cả cuộc sống đời thường lẫn cuộc đời làm nghệ thuật.

Khi được hỏi cô mường tượng ra sao về cuộc sống của mình trong 10 năm tới, Carrie Underwood nói rằng cô luôn đón nhận những gì cuộc sống mang tới, và không đặt ra nhiều dự định cũng như nhìn quá xa trong tương lai.

Hiện cũng leo cao trong bảng xếp hạng là ‘Good Girl’ - single đầu tiên từ album ‘Blown Away’. Nó trở thành đĩa đơn thứ 15 của Underwood lọt vào Top 10 bảng xếp hạng các bài hát ăn khách nhất.

Ngoài ra, cô còn là nghệ sĩ được đề cử nhiều nhất cho giải âm nhạc đồng quê 2012 với 5 đề cử.
Carrie Underwood - Good Girl
http://www.youtube.com/watch?v=7-uothzTaaQ
viethoaiphuong
#226 Posted : Friday, June 15, 2012 2:22:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)


Beach Boys tái hợp : Điệu ru mùa hè bất tận




Năm thành viên ban đầu của nhóm The Beach Boys (DR)

Tuấn Thảo - RFI - THỨ SÁU 15 THÁNG SÁU 2012
Đối với giới sành điệu, ban nhạc The Beach Boys được xếp vào hàng đại thụ của làng nhạc rock, có tầm cỡ ngang hàng với nhóm Tứ Quái The Beatles và Những hòn đá lăn The Rolling Stones. Vào mùa hè năm nay, nhóm The Beach Boys tái hợp nhân một vòng lưu diễn trên khắp thế giới, cùng với việc trình làng một tập nhạc mới.
Mang tựa đề That's Why God Made The Radio, album này gồm toàn những ca khúc chưa từng được phổ biến, đánh dấu ngày xuất hiện trở lại của ban nhạc huyền thoại sau 20 năm vắng bóng sân khấu. Tập nhạc trước (Summer in Paradise) mà ban nhạc đã trình làng là vào năm 1992. Lần này, nhóm Beach Boys chọn tháng sáu năm 2012 để ra mắt cuộn album mới.

Một thời điểm biểu tượng vì tập nhạc đầu tay của nhóm mang tựa đề Surfin’ Safari, đã được trình làng vào mùa hè năm 1962, tức cách đây đúng nửa thế kỷ. Có khác biệt hay chăng là lần này trong số 5 thành viên ban đầu của ban nhạc (gồm ba anh em và hai người bạn là Mile Love & Al Jardine), chỉ còn có ba gương mặt sáng lập là Brian Wilson, Mike Love và Al Jardine. Hai thành viên kia (Carl và Dennis Wilson) đã qua đời nhiều năm trước khi có dự án tái hợp.


Được thành lập vào đầu những năm 1960 tại vùng ngoại ô Los Angeles - California, The Beach Boys là một trong những ban nhạc rock của Mỹ rất ăn khách trong nhiều thập niên, có khả năng cạnh tranh về mặt sáng tác với các ban nhạc đến từ Anh Quốc : ngoài Beatles và Rolling Stones, còn phải kể đến các nhóm như The Who hay The Byrds. Nổi tiếng nhờ tài soạn giai điệu mềm mại du dương, nhóm Beach Boys còn ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ đi sau, trong cách hòa âm đa tầng, lối hát bè phức hợp.

The Beach Boys thành danh ban đầu nhờ khai thác dòng nhạc gọi là surf music, một phong trào thịnh hành ở các thành phố ven biển miền tây Hoa Kỳ, gắn liền với các bộ môn thể thao ngoài trời như bơi lội, chèo thuyền, bóng chuyền trên cát, nhưng quan trọng nhất vẫn là lướt sóng. Ngay cả logo và ký hiệu của nhóm được vẽ như những cụm sóng biển, thể hiện một lối sống trẻ trung hồn nhiên, một cách nhìn thế giới bên ngoài khá lý tưởng, yêu đời. Nhóm này liên tục ăn khách trong 10 năm liền, với hàng loạt ca khúc kinh điển như Surfin’ USA, I Get Around, California Girls, Good Vibrations, một thành công hiếm thấy cho tới năm 1972.


Nắng vàng, gió lộng, biển xanh, cát ngà : những hình ảnh này thường được lặp đi lặp lại trong các bài hát của Beach Boys (ít ra là trong 5 album đầu), bởi vì đó là thế giới bao quanh những người đang lướt sóng. Có thể nói là nhóm Beach Boys đã góp phần tạo dựng huyền thoại, nếu không nói là lý tưởng hóa, một phong cách sống tại California : những làn da rám nắng, những nụ cười tươi rói, tâm hồn lành mạnh trong trắng cơ thể tráng kiện khỏe khoắn. Nhưng từ năm 1966 trở đi, dòng nhạc ‘‘lướt sóng’’ bắt đầu thoái trào, trước sự trỗi dậy của phong trào hippie. Cách nhìn lạc quan yêu đời của Beach Boys coi như là không còn thích hợp với nhiều tầng lớp thanh niên Mỹ, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và làn sóng các ca khúc phản chiến.

Vào lúc mà nhiều tác giả Mỹ tìm cách phản ánh những biến động xã hội xung quanh họ, thì nhóm Beach Boys tiếp tục xây dựng một thế giới đẹp như tranh, đầy màu sắc âm thanh hài hòa tươi mát. Âm nhạc của Beach Boys, gắn liền với cái tài soạn nhạc của Brian Wilson, được xem như là cột xương sống nếu không nói là linh hồn của nhóm. Brian Wilson nổi tiếng là người có tánh tình bất thường, bị chứng trầm cảm kinh niên. Nhưng những vấn đề tâm lý đó ít khi nào được thể hiện trong bài hát. Ngược lại, việc tạo dựng một thế giới an lành tựa như là một phương pháp trị liệu, một liều thuốc an thần đối với một kẻ luôn bị dằn vặt ám ảnh.


Một trong những nỗi ám ảnh của Brian Wilson là làm thế nào để soạn nhạc, sáng tác hay hơn nhóm Tứ Quái The Beatles. Kể từ năm 1964, ban nhạc này thường chiếm hạng đầu thị trường Hoa Kỳ, khởi đầu cho làn sóng đến từ Anh Quốc đổ ập vào nước Mỹ. Cũng từ đó mới nẩy sinh cuộc tranh tài giữa hai nhóm nhạc số 1 thời bấy giờ : một bên là nhóm Tứ Quái The Beatles và một bên là 5 thành viên của Beach Boys. Nhưng cũng từ cuộc thi đua này mà cả hai ban nhạc đóng góp nhiều album quan trọng trong lịch sử nhạc rock.

Vào năm 1966, Brian Wilson đang trên đường lưu diễn với nhóm Beach Boys, đột ngột tách ra riêng, và làm việc một mình trên album mang tựa đề Pet Sounds. Ngoài việc thay đổi phong cách sáng tác, Brian Wilson còn bắt tay vào việc thử nghiệm âm thanh, xen kẽ ca khúc với nhạc không lời, lồng thêm nhiều tiếng động tự nhiên, sử dụng các nhạc khí ít khi nào được sử dụng trong nhạc rock thời bấy giờ. Kết quả là Pet Sounds (một trong những tập nhạc tiên phong của thể loại album concept) trở thành một tập nhạc để đời, nâng tầm vóc của nhạc rock lên một độ cao mới. Tập nhạc này thường được giới chuyên gia nhạc rock Tây phương xếp vào danh sách 10 album quan trọng nhất mọi thời đại.


Khi được nghe album này phát hành vào năm 1966, Paul McCartney của nhóm The Beatles phải lắc đầu chịu thua. Paul McCartney tuyên bố là album này là tập nhạc hay nhất từ trước tới nay và nhạc phẩm God Only Knows do Brian Wilson sáng tác là ca khúc tuyệt vời nhất của làng âm nhạc. Điều đó gợi hứng cho nhóm Beatles một năm sau ghi âm cuộn album để đời của họ, mang tựa đề Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band, phát hành vào năm 1967.

Tuy rất thịnh hành tại Anh Mỹ, nhưng uy tín của The Beach Boys bắt đầu lu mờ từ giữa thập niên 1970 trở đi, một phần vì trạng thái tâm thần của Brian Wilson khiến cho anh ít còn sáng tác và tham gia các vòng lưu diễn. Một phần vì những tranh chấp nội bộ giữa hai giọng ca chính là Brian Wilson và Mike Love. Các hoạt động của nhóm Beach Boys vì thế mà trở nên thất thường, các bản nhạc sau cũng không còn ăn khách như trước vì lối sáng tác của các thành viên khác không sánh bằng tài nghệ của thành viên quan trọng là Brian Wilson. Dù vậy, tính đến nay, nhóm này đã bán được hơn 100 triệu album trên toàn thế giới kể từ khi được thành lập.


Ban nhạc Beach Boys đã nhiều lần tái hợp. Vào giữa thập niên 1980, nhóm này ăn khách trở lại với nhạc phẩm Kokomo và phiên bản mới của bài California Dreamin’, một sáng tác (1965) của nhóm The Mamas and the Papas. Nhưng vào năm 1988, ca sĩ kiêm tác giả Brian Wilson đoạn tuyệt hẳn với ban nhạc. Lần tái hợp thứ nhì của nhóm là vào năm 2006, khi các thành viên còn sống họp mặt lại nhân dịp 40 năm tập nhạc Pet Sounds.

Lần thứ ba The Beach Boys tái hợp là vào tháng 6 năm 2012 khi cả nhóm sẽ bắt đầu vòng lưu diễn quốc tế. Dù năm chìm bảy nổi, dù các thành viên có thay đổi, nhưng có người cho rằng The Beach Boys vẫn sống chừng nào Brian Wilson vẫn còn. Điều này có lẽ cũng đúng, bởi vì tác giả này đã sáng tác hầu hết các ca khúc kinh điển của nhóm, gieo vào lòng người những điệu ru lướt sóng thời gian trong tiếng vang mùa hè bất tận.
The Beach Boys - That's Why God Made the Radio (Lyric Video):
http://www.youtube.com/w...r_embedded&v=OGke6pnT1d0
viethoaiphuong
#227 Posted : Tuesday, July 10, 2012 4:00:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)
RFI - Thứ ba 10 Tháng Bẩy 2012
Liên hoan ca nhạc Francofolies tại La Rochelle 2012




Thanh Hà
Liên hoan ca nhạc Francofolies lần thứ 28 được tổ chức tại thành phố La Rochelle, Pháp, diễn ra từ ngày 11 đến 15/07/2012. Chương trình năm nay khá là phong phú với các thể loại từ nhạc điện tử đến dòng nhạc mang nặng âm hưởng từ thời Trung Cổ.

Nhạc sĩ Martin Solveig được mời khai mạc chương trình. Solveig từng hợp tác với những nghệ sĩ tên tuổi trên thế giới như Madonna. Trong buổi biểu diễn của Madonna vào ngày lễ Quốc khánh Pháp 14/07/2012 sắp tới tại sân vận động Stade de France, Solveig sẽ biểu diễn trước khi nữ hoàng nhạc Pop bước lên sân khấu. Tại liên hoan La Rochelle, Solveig chia sẻ sân khấu cùng với những danh ca Pháp như là Julien Doré, Brigitte hay Bénabar.

Vào đêm chủ nhật 15/07/2012, các ban nhạc 1995, Chinese Man, Shaka Ponk, Zebda và Birdy Nam Nam cùng với nam danh ca Joey Starr, hay Laurent Voulzy sẽ cống hiến khán giả một chương trình đặc biệt trước khi khép lại liên hoan. Đáng chú ý hơn cả là buổi biểu diễn đêm 12/07/2012 mang tên « Năm đó … 1968 ».

Chương trình này giới thiệu lại những tác phẩm từng đi vào lòng người được sáng tác trong năm qua, những tiếng hát vượt thời gian như Yves Montand hay Sheila. Francofolies 2012 cũng sẽ dành một đêm để tưởng niệm cố nhạc sĩ Michel Berger nhân kỷ niệm 20 năm ngày tác giả vở ca nhạc kịch "rock oper"a Starmania qua đời.

Ban tổ chức năm nay đưa vào chương trình liên hoan trong 5 ngày tổng cộng là 130 buổi trình diễn. Liên hoan Francofolies luôn là cơ hội để tìm lại những tiếng hát và gương mặt thân quen, nhưng đây cũng là nơi mà công chúng phát hiện những tài năng mới, những đĩa nhạc mới sắp được phát hành.

Laurent Voulzy - Belle Ile en Mer - Marie Galante

viethoaiphuong
#228 Posted : Friday, July 13, 2012 2:06:38 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)
RFI - Thứ tư 11 Tháng Bẩy 2012
50 năm sự nghiệp của các ông vua nhạc pop


5 thành viên ban đầu của nhóm The Beach Boys (DR)

Thanh Hà
Được coi là những nền tảng của dòng nhạc pop rock thế giới, năm 2012, cả ba ban nhạc The Beach Boys, The Beatles và The Rolling Stones kỷ niệm nửa thế kỷ đứng trên sân khấu nghệ thuật. Ban nhạc Mỹ Beach Boys cho ra đời một đĩa hát mới và tổ chức một vòng lưu diễn đặc biệt để mừng sự kiện trọng đại này.

Cách nay đúng 50 năm, 5 chàng nghệ sĩ xuất xứ từ vùng đất California, Hoa Kỳ đã nổi lên như cồn với đĩa hát đầu tiên « Surfin’Safari ». Trong 20 năm qua vì những hiềm khích cá nhân, những hiểu lầm và những vụ kiện tụng, 5 thành viên trong nhóm đã ít có cơ hội họp mặt để làm sống lại thời vàng son của ban nhạc The Beach Boys.

Lần này thì khác. Đầu năm nay, ba thành viên cột trụ ban đầu là Brian Wilson, Mike Love và Al Jardine đã cùng với hai thành viên sau của nhóm là Bruce Johnston và David Marks bất ngờ loan báo sẽ trình làng một đĩa hát mới gọi là để đáp lại cảm tình mà giới hâm mộ đã luôn dành cho họ trong suốt 50 năm qua.

Ngày 05/06/2012 vừa qua, nhạc phẩm « That’s why God made the radio » được phát trên tất cả các kênh truyền thông thế giới. Kể từ tháng 5/2012, nhóm Beach Boys bắt đầu một vòng lưu diễn vòng quanh trái đất với một cách tượng trưng : 50 buổi biểu diễn khác nhau. Điểm khởi đầu đương nhiên là nước Mỹ và vòng lưu diễn đó sẽ kết thúc vào tháng 8/2012 tại Hồng Kông.

Kín đáo hơn, hai nhóm Beatles và Rolling Stones không cho ra đời đĩa hát mới và cũng không dự trù một vòng lưu diễn đặc biệt đánh dấu 50 thành công trong thế giới âm nhạc. Nhóm Rolling Stones thoạt đầu đã dự kiến họp mặt nhân một vòng lưu diễn thế nhưng xích mích giữa Keith Richards và ông vua Mick Jagger đã không cho phép thực hiện giấc mơ này.

Lần cuối nhóm Stones sáng tác chung là vào năm 2005 với album « A Bigger Bang ». Giới hâm mộ phải đợi đến tháng 9/2012 mới được xem một bộ phim tài liệu kể lại với những nhân chứng thời đó về sự hình thành và huyền thoại của ban nhạc nổi tiếng Rolling Stones.

Cuối cùng, hai ngôi sao còn lại trong ban nhóm Tứ Quái The Beatles, Paul McCartney và Ringo Starr mỗi người mỗi ngả. McCartney vừa hoàn tất một album mới « Kisses on the bottom » với những bài hát (chủ yếu là nhạc jazz) từng đi vào lòng người và nhất là đêm trình diễn đặc biệt 04/06/2012 để mừng 60 năm ngày nữ hoàng Anh, Elizabeth đệ nhị đăng quang. Trong lúc đó Ringo Starr cũng vừa trình làng đĩa hát « Ringo 2012 ».

The Beach Boys - Surfin’ USA
viethoaiphuong
#229 Posted : Sunday, July 15, 2012 7:31:29 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)
RFI - Chủ nhật 15 Tháng Bẩy 2012
Rolling Stones kỷ niệm 50 năm sự nghiệp ca nhạc


Các thành viên Rolling Stones, từ trái qua Charlie Watts, Keith Richards, Ronnie Wood và Mick Jagger trước triển lãm "Rolling Stones 50" tại Sumerset House Luân Đôn ngày 12/7/2012.
REUTERS/Ki Price

Thanh Phương
Hôm thứ năm vừa qua, 12/07/2012, đúng 50 năm sau lần đầu tiên bước lên sân khấu, nhóm nhạc rock đầy huyền thoại của Anh quốc Rolling Stones đã khai trương tại Somerset House ở Luân Đôn một cuộc triển lãm miễn phí về sự nghiệp của ban nhạc đã làm nên cuộc cách mạng trong lịch sử nhạc rock thế giới.

Cuộc triển lãm, mở cửa cho công chúng từ ngày 13/07 đến ngày 27/08, mang tên rất đơn giản : « Rolling Stones 50 », trưng bày 70 bức ảnh chụp trong những chuyến lưu diễn của Rolling Stones hoặc sau hậu trường, tiêu biểu cho sự nghiệp của một nhóm đã làm nên một cuộc cách mạng trong lịch sử nhạc rock thế giới.

Ngoài cuộc triển lãm ở Luân Đôn, một cuốn sách ảnh về Rolling Stones cũng đã được phát hành ngày 12/07 ở khoảng một chục nước, trong đó có nước Pháp. Cuốn sách có tổng cộng hơn 700 bức ảnh, trong đó có nhiều bức ảnh hiếm hoặc chưa từng được đăng, trích từ kho tư liệu của nhật báo Daily Mirror và của các nhiếp ảnh gia đã từng theo chân Rolling Stones trong suốt nữa thập kỹ. Kèm theo các bức ảnh là những lời bình của chính Mick Jagger, Keith Richards, Charlie Watts và Ronnie Wood, cùng với sự đóng góp của chuyên gia về nhạc rock Richard Havers.

Tháng 9 tới đây một phim tài liệu về lịch sử của nhóm Rolling Stones cũng sẽ được trình chiếu, bao gồm những hình ảnh từ kho tư liệu cá nhân của ban nhạc và những bài phỏng vấn mới.

Nhóm Rolling Stones, lúc đầu gồm Brian Jones, Mick Jagger và Keith Richards, cùng với 3 nhạc sĩ khác, đã ra mắt công chúng lần đầu tiên vào ngày 12/07/1962 tại quán Marquee Club, ở số 165 Oxford Street. Đúng 50 năm sau, ngày 12/07 vừa qua, Mick Jagger, Keith Richards, Charlie Watts và Ronnie Wood đã tập hợp lại trước Marquee Club ( nay là trụ sở của một ngân hàng ) để chụp một bức hình kỷ niệm.

Lúc ban nhạc Rolling Stones khởi đầu, Jagger và Richards, vốn là bạn thân từ thuở nhỏ, chỉ mới tròn 18 tuổi, còn Brian Jones 20 tuổi ( sau đó đã chết đuối trong hồ tắm của nhà vào năm 1969 ).

Tiếp đến, Bill Wyman và Charlie Watts gia nhập nhóm Rolling Stones, mà lúc đó không hề nghĩ là một ngày nào đó họ sẽ lại trở thành một nhóm nhạc thần tượng của nhiều thế hệ nhạc sĩ, bán được hơn 200 triệu album, với những ca khúc nay đã đi vào huyền thoại như “( I cant’t get no ) Satisfaction”.

Mặt dù qua nhiều xáo trộn, căng thẳng nội bộ giữa cặp bài trùng Mick Jagger và Keith Richards, Rolling Stones vẫn sống sót cho đến nay. Nhóm này vẫn không tan rã ngay cả sau khi vào năm 2010, Keith Richards ra một cuốn tự truyện, chỉ trích Jagger nhiều chuyện, trong đó có việc ca sĩ chính của nhóm Rolling Stones chấp nhận để cho Nữ hoàng Anh Elizabeth đệ nhị phong tước hiệu quý tộc. Các thành viên ban nhạc nay đã gần tuổi 70, nhưng vẫn gìữ được phong cách sôi động như thời trẻ, vẫn mang đến sự cuồng nhiệt cho khán giả trong mỗi lần trình diễn.

Khi khai trương một cuộc triển lãm về sự nghiệp của họ, Rolling Stones đã làm dấy lên những tin đồn về việc nhóm này sắp tới đây sẽ tổ chức một buổi trình diễn kỷ niệm 50 năm. Mặc dù chưa có thông báo chính thức, nhưng chính tay guitare của Rolling Stones Keith Richards trước đó đã nhắc đến khả năng này khi trả lời phỏng vấn trên đài BBC. Tạp chí nhạc rock Rolling Stones vào tháng trước cũng loan tin rằng đây là một khả năng đang được dự trù.

Tuy vậy, vào tháng 3 vừa qua, Keith Richards đã tuyên bố với tạp chí Rolling Stones rằng năm 2012 này họ chưa chuẩn bị để lưu diễn trở lại và cho rằng phải đến năm tới mới có thể tái ngộ khán giả. Mick Jagger gần đây cũng đã bác bỏ tin cho rằng nhóm Rolling Stones sẽ trình diễn nhân Thế vận hội Luân Đôn, khai mạc ngày 27/07. Lần cuối cùng mà nhóm Rolling Stones lưu diễn là vào thời kỳ 2005-2007, nhân dịp ra mắt album « A Bigger Bang ».

Rolling Stones-Satisfaction (HD)
viethoaiphuong
#230 Posted : Monday, July 16, 2012 4:07:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)
RFI - Chủ nhật 15 Tháng Bẩy 2012
Đảng cực hữu Pháp sẽ kiện ca sĩ Madonna vì tội phỉ báng


Nữ ca sĩ nổi tiếng Madonna trong buổi trình diễn tại Stade de France, ngoại ô Paris, đêm 14/07/2012.
REUTERS/Benoit Tessier

Thụy My
Đảng cực hữu Pháp Mặt trận Quốc gia hôm nay 15/07/2012 loan báo sẽ đưa đơn kiện nữ ca sĩ Madonna về tội « phỉ báng ». Đó là vì trong buổi trình diễn của Madonna tại Pháp hôm qua có chiếu một video clip, trong đó hình ảnh chủ tịch đảng Mặt trận Quốc gia là Marine Le Pen xuất hiện với một chữ thập ngoặc trên trán.

Phó chủ tịch đảng này là Florian Philippot cho AFP biết, đơn kiện sẽ được nộp trong tuần tới, nhấn mạnh là « không thể chấp nhận được sự bêu riếu đó. Bà Marine Le Pen sẽ bảo vệ danh dự của chính mình cũng như của các đảng viên, cảm tình viên và hàng ngàn cử tri của đảng Mặt trận Quốc gia ».

Ông Philippot cho rằng việc chiếu đoạn video này là « một sự khiêu khích mới trong vòng lưu diễn thế giới của Madonna, nhằm thu hút sự chú ý. Vòng trình diễn này đã thất bại, sân vận động Stade de France hôm thứ Bảy còn nhiều chỗ trống ».

Trong buổi trình diễn tối qua của Madonna tại Stade de France ở gần Paris, đến bài hát « Nobody knows me », trên sân khấu đã chiếu một đoạn video cho thấy khuôn mặt của ngôi sao ca nhạc Mỹ, trộn lẫn với chân dung nhiều nhân vật nổi tiếng như Đức Giáo hoàng Benedicto thứ 16 hay cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak. Hình ảnh bà Marine Le Pen hiện ra trong vài giây, trước một nhân vật trông rất giống Adolf Hitler. Đám đông đã reo hò trước hình ảnh này.

Cách đây mấy hôm, khi Madonna khởi đầu vòng lưu diễn tại Tel Aviv ngày 31/5, chủ tịch đảng cực hữu Pháp đã cảnh báo là nếu ngôi sao ca nhạc này « làm như thế tại Pháp, thì chúng tôi sẽ đáp trả ngay khi có dịp ».

Sau buổi trình diễn tại Stade de France, « Material Girl » sẽ tiếp tục biểu diễn tại Nice, thuộc vùng Côte d’Azur của Pháp ngày 21/8 tới. Trong vòng lưu diễn thế giới lần thứ 9, nữ ca sĩ Madonna - sẽ mừng sinh nhật thứ 54 trong tháng tới - trình diễn trên 80 buổi tại khoảng ba mươi nước tại Cận Đông, châu Âu và châu Mỹ. Vòng lưu diễn « MDNA Tour » sẽ kết thúc vào đầu năm 2013 tại Úc, nơi ngôi sao ca nhạc này chưa đặt chân đến kể từ 20 năm qua.

Madonna - MDNA Tour - Nobody Knows Me (Interlude) - Tel Aviv 5/31/12 HD Jaan Roose
viethoaiphuong
#231 Posted : Tuesday, July 17, 2012 12:37:46 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Nữ danh ca Nhạc Đồng Quê Kitty Wells qua đời


VOA - 16.07.2012
Ca sĩ Kitty Wells người Mỹ được các fan và giới phê bình gọi là nữ siêu sao nhạc đồng quê đầu tiên, đã từ trần ở tuổi 92 sau một cơn đột quỵ.

Tên tuổi của Kitty Wells nổi lên hàng đầu trên danh sách các bản nhạc đồng quê được yêu chuộng nhất vào lúc mà hầu hết các tên tuổi lớn đều thuộc phái nam.

Bà là nữ ca sĩ nhạc đồng quê đầu tiên chuyên hát solo những đề tài như tình phụ và vợ chồng lừa dối nhau.

Đĩa nhạc của ca sĩ Wells phát hành năm 1952 “It Wasn’t God Who Made Honky Tonk Angels ” là đĩa nhạc đồng quê đầu tiên do một phụ nữ trình diễn đứng đầu bảng các nhạc phẩm hay nhất.

Các fans gọi Wells là nữ nghệ sĩ nhạc đồng quê số một từ năm 1953 tới năm 1968. Bà tiếp tục trình diễn nhiều năm sau tuổi 80.

Kitty Wells It Wasn't God Who Made Honky Tonk Angels
viethoaiphuong
#232 Posted : Friday, July 27, 2012 10:50:47 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Lễ khai mạc Olympic London 2012 = pháo bông music




La reine Elizabeth déclare ouverts les Jeux de la 30e Olympiade

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Khánh Linh on 7/30/2012(UTC)
Khánh Linh
#233 Posted : Monday, July 30, 2012 9:40:09 AM(UTC)
Khánh Linh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 1,703
Points: 1,071

Thanks: 106 times
Was thanked: 92 time(s) in 83 post(s)
Viet Nam cũng tham dự Olympic ở London. Phóng viên nhà báo tường thuật chương trình nói phái đoàn VN gồm 18 người nhưng camera chiếu quá ít thời gian cho VN thành ra chỉ thấy có 3, 4 người và một tà áo dài màu vàng.
viethoaiphuong
#234 Posted : Saturday, August 25, 2012 5:28:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)
RFI - THỨ SÁU 24 THÁNG TÁM 2012

Vì sao Elvis được mệnh danh là Ông hoàng nhạc rock



Elvis Presley sinh ngày 08/01/1935 - mất ngày 16/08/1977 (DR)

Tuấn Thảo
Nếu không có Elvis, thì chẳng bao giờ có ban nhạc The Beatles. Sinh thời, ca sĩ John Lennon đã nói câu này để ghi nhận tính tiên phong của người được mệnh danh là - The King - ông hoàng nhạc rock. Hơn 3 thập niên sau ngày qua đời, Elvis Presley không chỉ để lại dấu ấn trong làng nhạc pop - rock, mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lãnh vực văn hóa đời sống.

Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày Elvis qua đời, chương trình Góc vườn Âm nhạc đài RFI hoà âm cho quý thính giả và các bạn nhiều liên khúc. Đầu tiên hết là liên khúc nhạc tình Are you Lonesome tonight & Fame and Fortune. Kế đến là liên khúc nhạc rock gồm các bản Jailhouse Rock & Teddy Bear & Hound Dog & Don't Be Cruel. Thứ ba là liên khúc Las Vegas gồm các bản Always on my Mind & Let it Be Me (phiên bản tiếng Anh của bài Je t'appartiens).

Cũng như ngôi sao màn bạc Marilyn, Elvis (1935-1977) trước hết là biểu tượng của một thời đại, là hiện thân của rock and roll, hiểu theo cả hai nghĩa phong cách và thể loại âm nhạc. Chất giọng thiên phú, điệu bộ khiêu khích, sự nghiệp vinh quang, cuộc đời ngắn ngủi : tất cả những yếu tố đó khoác lên vai nhân vật này một bộ áo giáp ngời sáng, tuy không đủ dày để chống đỡ lại mũi tên của định mệnh, nhưng vầng hào quang đủ nhiệm mầu để hóa thân anh thành một hình tượng bất tử.

Sở dĩ Elvis Presley được tặng cho cái biệt danh ông hoàng nhạc rock, bởi vì anh được xem như là gương mặt da trắng đầu tiên giúp cho dòng nhạc rock and roll trở nên phổ biến rộng rãi. Dòng nhạc rock and roll gợi hứng từ rythm and blue của người Mỹ da đen, bằng cách chuyển đổi nhịp điệu tam phân (của R&B) thành nhịp điệu nhị phân. Dòng nhạc này hình thành và phát triển từ cuối những năm 1940. Đến đầu thập niên 1950, nhiều nghệ sĩ da trắng như Bill Haley, Buddy Holly và Jerry Lee Lewis lao vào sáng tác theo phong cách này.

Bill Haley viết bài Rock around the Clock vào năm 1952, nhưng vì anh mới khởi nghiệp, chưa có hợp đồng ghi âm, cho nên Bill Haley chỉ thu bài này vào giữa năm 1954. Bài hát sau đó trở thành bản nhạc rock đầu tiên chiếm hạng đầu thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bài hát được xem như là bản tuyên ngôn, khởi nguồn dòng nhạc rock (theo nghiên cứu của sử gia người Mỹ Joseph Burns, thuộc đại học Southeastern Louisiana) là nhạc phẩm That’s Allright (Mama) do tay đàn nhạc blues da đen Arthur Crudup viết vào năm 1946.

Vào cuối năm 1953, khi Elvis ghi âm bài này với lối chuyển đổi phân nhịp (từ tam phân thành nhị phân), thì cậu thanh niên mới 18 tuổi này trở thành nghệ sĩ da trắng ghi âm bản nhạc rock đầu tiên (dù rằng chuyển thể) trong lịch sử âm nhạc. Sự thành công nhanh chóng của Elvis tạo ra một tác dụng bất ngờ : vào cái thời chưa có phong trào đòi quyền bình đẳng màu da, nhiều khán giả trẻ tuổi người Mỹ da trắng khám phá và yêu chuộng nghệ sĩ đa đen. Tuy không cố tình, nhưng Elvis đã mở đường cho sự thành công của nhiều nghệ sĩ da màu như Chuck Berry, Bo Diddley và Little Richard : âm nhạc của họ trước đó bị hạn chế, không được phổ biến rộng rãi để đi vào dòng chính.

Ngoài chất giọng mượt mà trời ban, Elvis còn có một cách thể hiện rất riêng biệt. Nếu giọng ca vàng Frank Sinatra (The Voice) thường hất câu đá chữ, thì ông hoàng Elvis hay uốn giọng nấc quảng. Trên sân khấu, anh được mệnh danh là Elvis the Pelvis vì có lối ‘‘lắc hông’’ rất gợi tình gợi cảm : Phái nữ điêu đứng mê mệt, phái nam bắt chước khuôn mẫu : đầu tóc chải mượt, tướng mạo trau chuốt. Do xuất hiện 10 năm trước các ban nhạc huyền thoại (Beatles, Rolling Stones), cho nên Elvis đã ảnh hưởng đến lối sáng tác của họ. Tại châu Âu, tất cả các nghệ sĩ hát nhạc rock những năm 1960 như Cliff Richard hay Johnny Hallyday đều vay mượn nếu không nói là bắt chước phong cách biểu diễn của Elvis.

Nổi danh từ năm 1955 cho tới tận ngày qua đời, Elvis thành công một cách ngoạn mục chớp nhoáng : anh là ca sĩ đầu tiên chiếm hạng đầu thị trường trong ba thể loại : rock, country và gospel. Tuy nhiên sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp của Elvis là việc ký hợp đồng độc quyền 20 năm với ông bầu Tom Parker (còn được mệnh danh là Đại tá - Colonel). Do Tom Parker chỉ quản lý một nghệ sĩ duy nhất, theo đó ông được 15% trên mỗi hợp đồng của Elvis (đến cuối đời là 50%), cho nên ông Tom Parker đã nhận hầu như mọi lời mời biểu diễn, chỉ nhắm tới số lượng mà không màng đến chất lượng.

Chính trong giai đoạn này mà Elvis đã ngưng ca hát và lưu diễn, để chuyển sang đóng phim ca nhạc (và như vậy chỉ ghi âm ca khúc cho các bộ phim) từ năm 1960 trở đi, tức là sau thời gian anh đi lính. Trong vòng gần 10 năm, Elvis đóng 27 bộ phim nhưng không để lại dấu ấn nào thực sự đáng ghi nhớ trong làng điện ảnh. Dù kiếm được tiền, nhưng Elvis không bao giờ được công nhận như một diễn viên thực thụ. Sự thành công ‘‘nửa vời’’ đó, khiến cho anh chán nản, thất vọng. Gò bó, tù túng nhưng không có đủ can đảm để đoạn tuyệt với ông bầu Tom Parker, ông hoàng Elvis dần dần xa rời với thực tế, lún sâu vào chứng nghiện thuốc kích thích và an thần. Giọng ca Elvis vẫn thiên thần, nhưng hình hài bắt đầu tự hủy hoại.

Mãi đến năm 1969, Elvis mới ngưng đóng phim và nối lại với sân khấu ca hát, mở ra giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp của anh, ít còn là nhạc rock mà chủ yếu là nhạc pop cường điệu hoành tráng, hợp với phong cách của các crooner, biểu diễn tại các sòng bạc Las Vegas. Chính cũng vì thế mà các nhà phê bình âm nhạc đánh giá rằng : Elvis ít còn sáng tạo sau khi giải ngũ trở về. Ông hoàng nhạc rock đã chết khi bán linh hồn để đổi lấy hợp đồng kếch sù, thù lao hậu hĩnh. Nhưng Elvis vẫn thu hút nhiều tầng lớp fan mới. Khi chuyển qua hát nhạc phổ thông, nhạc nhẹ, nhạc chuyển dịch, tuy chất lượng của các ca khúc có thể không đồng đều, nhưng ít có ai thổn thức biểu cảm bằng Elvis trong cách thể hiện nhạc tình lãng mạn ướt át, dù hát nguyên tác hay hát cover.

Ngoài chất giọng high baritone (giữa tenor và baritone) trải dài trên gần ba cung bậc, tiếng hát Elvis còn đặc biệt mùi mẫn trong những nốt trầm. Cách rung giọng luyến láy của anh không đơn sắc đơn âm, mà lại đa màu biểu cảm. Nhờ vào thính giác hơn hẳn người thường, mà Elvis khi thoáng nghe qua một điệu nhạc, vẫn có thể hát lại mà không lạc điệu, sai nhịp và nhất là đúng với độ dài của từng nốt. Nhờ vào cái năng khiếu bẫm sinh này, mà Elvis hát nhạc gospel rất có hồn, hát nhạc country rất có duyên, và hát nhạc nhẹ rất có tình. Có thể nói Elvis trở thành nghệ sĩ cross over đầu tiên của làng âm nhạc, vượt qua ranh giới, xuyên các thể loại.

35 năm sau ngày qua đời, đĩa hát của Elvis mỗi lần tái bản đều được bán chạy. Theo thống kê chính thức, tính đến nay, Elvis đã bán gần 1 tỷ đĩa nhạc, 700 triệu thời anh còn sống và hơn 300 triệu sau ngày anh mất. Ông hoàng nhạc rock đứng đầu danh sách các nghệ sĩ quá cố nhưng giọng ca vẫn tiếp tục ăn khách, qua mặt Frank Sinatra và Bố già James Brown, hơn xa Dalida và Claude François, dù số bán có gộp lại.

Được tạp chí phê bình âm nhạc Rolling Stone xếp vào hạng ba trong số 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại, chỉ thua có nữ hoàng nhạc soul Aretha Franklin và kỳ tài nhạc blues Ray Charles, ông hoàng Elvis đã lót đường cho các nhóm nhạc trẻ thay đổi cục diện của làng nhạc rock Tây phương. Không có Elvis thì chẳng có Beatles, câu nói của John Lennon vẫn còn hiệu nghiệm, chừng nào con tim còn biết nỗi niềm, chừng nào hồn người chưa quên kỷ niệm.
Elvis Presley - Are You Lonesome Tonight w/lyrics




PS.
hello KL,
Olympic kỳ nầy, VHP theo dõi tin tức rất kỹ hồi chưa mở màn, nhưng sau đó thì hổng còn theo được xíu nào, dù là VHP vẫn ở nhà đây thôi...
một mùa hè... nghĩ lại còn thấy 'vì sao Trời làm cơn đại hạn hán khắp Tây Âu'......!!!???
chúc KL những ngày cuối hè an vui nhé
VHP

viethoaiphuong
#236 Posted : Sunday, September 2, 2012 12:45:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Người viết ca khúc huyền thoại Mỹ Hal David từ trần, thọ 91 tuổi




Ban nhạc The Beatles tại sân bay Kennedy vào năm 1964


VOA - 01.09.2012
Người viết ca khúc huyền thoại Mỹ Hal David, cùng với nhà soạn nhạc Burt Bacharach, viết một số nhạc khúc được nhớ đến trong những năm 1960 và 1970 từ trần vì những biến chứng của tai biến mạch máu não.

Ông thọ 91 tuổi.

David hợp tác với Bacharach trong những năm cuối thập niên 1950.

Làm việc với ca sĩ Dionne Warwick, những ca khúc của Bacharack - David trở thành những đĩa nhạc của đời sống Mỹ trong những năm cuối thập niên 1960. Những bản nhạc nổi tiếng nhất gồm Walk on By, Alfie, Do You Know the Way to San Jose, và What Do You Get When You Fall in Love.

Nhóm nhạc được giải Oscar và Grammy, viết nhạc cho phim và truyền hình và được nhiều biểu tưởng nhạc khác yêu cầu như ca sĩ Frank Sinatra và ban nhạc The Beatles.

Tổng thống Barack Obama trao tặng hai ông David và Bachrach Giải thưởng Gershwin của Thư viện Quốc hội về Ca khúc Được Ưa chuộng tại một buổi lễ ở Tòa Bạch Ốc vào tháng Năm năm nay.


PS.
Dionne Warwick Alfie 1967 Grammy Hall of Fame 2008


Alfie, from the 1966 Michael Caine classic, was written by Burt Bacharach and Hal David, and was an Adacemy Award nominee for Best Song From A Motion Picture for 1966 (Born Free, the title track from the film of the same name, won). Bacharach wrote the tune with Warwick specifically in mind, but when the tune was pitched for the movie in London, Bacharach was overridden because the producers wanted a British singer to record the tune. Cilla Black recorded the tune and her version died at number 95 in the USA, although a hit in England. Ironically, Cilla's version was not used in the UK and European prints of the film; Sonny Rollins is heard in Australian prints of the film. When the film was released in the USA, United Artists felt a singer on their label should record the tune, so for the American prints of the film, Cher can be heard over the final credits, and her version peaked at 34 on the charts in 1966. Alfie was recorded by 42 other singers before Burt finally got his wish to record Alfie with Dionne and she took it all the way to # 5 on Billboard's Hot R&B Chart and #15 on Billboard's Hot 100. Dionne has stated Burt insisted that she record the tune since he had written it specifically for her to sing in the film, and she was reluctant after 42 other versions had been released and asked Burt, "How many more recordings of Alfie do you need?" Burt's reply? "Just one more, yours." She agreed to cut the tune because she needed one more track to complete the album according to Steve Tyrell. Originally released on the Here Where There Is Love LP in early 1967, the track was pulled from the album and played frequently by DJs all over the country. Dionne sang Alfie at the Academy Awards Ceremony in March to a world wide audience to much critical acclaim and the public began snap up her LP containing the tune. In March 1967 Scepter released the tune as the "B" side of The Beginning of Loneliness, a little known but beautiful Bacharach/David ballad. But, DJ's once again had the final word on the single and flipped it to make Alfie a huge hit, after Dionne's stunning performance of Alfie at the Academy Awards. The Here Where There Is Love LP hit the top twenty on the Billboard album chart and received an RIAA gold record award.
In 2008, Dionne Warwick's recording of Alfie was chosen for the Grammy Hall of Fame. Previous Warwick recordings honored by the Hall of Fame: Walk on By-1998, and Don't Make Me Over-20.
Khánh Linh
#235 Posted : Wednesday, September 5, 2012 2:58:33 PM(UTC)
Khánh Linh

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 1,703
Points: 1,071

Thanks: 106 times
Was thanked: 92 time(s) in 83 post(s)
viethoaiphuong;109262 wrote:

PS.
hello KL,
Olympic kỳ nầy, VHP theo dõi tin tức rất kỹ hồi chưa mở màn, nhưng sau đó thì hổng còn theo được xíu nào, dù là VHP vẫn ở nhà đây thôi...
một mùa hè... nghĩ lại còn thấy 'vì sao Trời làm cơn đại hạn hán khắp Tây Âu'......!!!???
chúc KL những ngày cuối hè an vui nhé
VHP


VHP check PM nhé!

Rose

1 user thanked Khánh Linh for this useful post.
viethoaiphuong on 9/10/2012(UTC)
viethoaiphuong
#237 Posted : Monday, September 10, 2012 10:34:07 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Huyền thoại Bob Dylan trở lại với album mói « Tempest »



Bob Dylan.
REUTERS

Thanh Hà - RFI - Thứ hai 10 Tháng Chín 2012
"Tempest" đĩa hát mới nhất của Bob Dylan ra mắt khán giả Pháp. Hội ngộ với những người mến mộ trước khi trình làng cuốn album mới nhất nhân kỷ niệm 50 năm sự nghiệp, đêm ngày 08/09/2012 Bob Dylan biểu diễn tại Uncasville, một thành phố nhỏ gần New York.

Ngày 10/09/2012 album "Tempest" được công bố ở Pháp trước khi ra mắt công chúng Hoa Kỳ vào ngày mai 11/09/2012. Đêm ngày 08/09/2012 nhạc sĩ Bob Dylan biểu diễn tại một thành phố nhỏ gần New York. Ông không một lời chào hỏi khán giả khi bước lên sân khấu và cũng không một lời dã từ, nhưng điều đó không làm phật lòng những người mến mộ.

Chỉ sau một vài bài hát, huyền thoại Dylan đã được làm sống lại trong lòng hàng ngàn fan. Giọng hát từng làm mê hoặc nhiều thế hệ ngày nào, ở tuổi ngoại thất tuần, không còn được phong độ như xưa. Có lẽ vì thế mà giới phê bình cho rằng buổi trình diễn của ông vừa qua « không đều tay ». Thế nhưng phong cách của Dylan và chỉ cần ông xuất hiện trên sân khấu với chiếc mũ panama màu ngà cũng đủ để những khán giả trung thành nhất hài lòng.

Nhiều thế hệ khán giả có mặt tại buổi trình diễn vừa qua tại Uncasville. Một người hâm mộ theo gót Dylan trong sự nghiệp ca hát của ông nhận xét : khác biệt giữa Bob Dylan với những ngôi sao nổi tiếng khác của làng nhạc rock là ông luôn đem lại một cái gì mới lạ cho khán giả. Trên con đường nghệ thuật và sáng tác Dylan không bao giờ ngừng lại. Điển hình là đĩa hát mới ông cho ra mắt công chúng vào đầu tuần này.

« Tempest » là album thứ 35 trong sự nghiệp vừa tròn một nửa thế kỷ của Bob Dylan. Giới phê bình đánh giá rất cao đứa con tinh thần này của ông vua nhạc pop người Mỹ. Thoạt đầu tác giả dự kiến dành trọn đĩa hát mới để nói lên tình yên Thiên chúa, nhưng rốt cuộc, Bob Dylan đã đổi ý. Dù vậy những tác phẩm mới của ông đề cập rất nhiều đến đến phần tín ngưỡng, đến những gì cao thượng và hèn hạ nhất trong tâm tư, đến tình yêu và khát vọng phục thù, đến sự bạo tàn và cõi chết …

Trong bản nhạc cùng tên với đĩa hát, dài 14 phút và trên nền nhạc mang nặng âm hưởng truyền thống của Ai Len, Bob Dylan kể lại tai họa của vụ đắm tàu Titanic. Còn « Roll on John" được coi là ca khúc cảm động nhất trong album khi tác giả của Blowin' in the Wind nhắc đến sự kiện một cây đại thụ khác của làng nhạc pop, rock là thần tượng John Lennon bị ám sát vào năm 1980.

Cuối cùng theo giới phê bình, về mặt nhạc lý « Tempest » được coi là rất cô đọng nhưng lại khá đa dạng và dễ nghe. Bob Dylan « như chắt được tất cả những gì tinh tú nhất từ các dòng nhạc rock, blues, folk và jazz » để hoàn thành tác phẩm mới nhất của mình.

viethoaiphuong
#238 Posted : Sunday, September 16, 2012 2:21:41 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Crooners : Vuốt chữ mượt mà, thấm mềm tim đá



John Barrowman, ca sĩ crooner trẻ tuổi người Scotland (DR)

Tuấn Thảo - RFI - THỨ BẢY 15 THÁNG CHÍN 2012
Trong tháng này, bộ sưu tập Latest & Greatest Crooners vừa được tái bản. Bộ đĩa rất ăn khách này bao gồm ba cuộn CD, tập hợp 60 tình khúc quốc tế vượt thời gian qua phần thể hiện ướt át của các giọng ca crooner hay nhất mọi thời đại, từ các gương mặt thành danh từ thập niên 1950 cho tới thế hệ trẻ của những năm sau này.
Làng nhạc Anh Mỹ có rất nhiều giọng ca lãng mạn trữ tình. Nhưng khi nhắc đến chữ crooner, người nghe nghĩ đến ngay các giọng ca nam, với cách diễn đạt biểu cảm tình tứ, nhả chữ mê hồn. Người Pháp gọi các ca sĩ với lối thể hiện mơn trớn là chanteur de charme. Chữ này không có từ tương đương dành cho phái nữ, chứng tỏ là lối hát crooner là một sở trường của phái nam.

Trong làng nhạc quốc tế, giọng ca crooner đầu tiên không phải là Frank Sinatra hay Nat King Cole, mà chính là ca sĩ người Mỹ Tony Martin. Cho dù ông không nổi danh bằng hai đồng nghiệp, nhưng Tony Martin lớn hơn họ vài tuổi và khởi nghiệp ca hát ít nhất là ba năm trước khi Frank Sinatra và Nat King Cole vào nghề.

Tên thật là Alvin Morris, ông nổi danh từ giữa những năm 1930 trở đi, ban đầu trên sân khấu ca nhạc rồi sau đó trong làng điện ảnh. Ngoài đời, Tony Martin còn là chồng trong vòng 60 năm của ngôi sao màn bạc Cyd Charisse, còn được mệnh danh là cặp chân dài và đẹp nhất của làng phim Hollywood. Mùa hè vừa qua (cuối tháng 7 năm 2012), Tony Martin qua đời tại Mỹ, hưởng thọ 98 tuổi, để lại gần 40 bộ phim và 500 bài hát.


Theo các nhà phê bình, Tony Martin cùng với nam danh ca Bing Crosby đã mở đường cho trường phái sweet and low (ngọt và trầm), vạch ra khuôn thước, lập nên tiêu chuẩn cho rất nhiều nếu không nói là hầu hết các giọng ca crooner đi sau, kể cả Dean Martin, Tony Bennett, Paul Anka, Harry Belafonte và Andy Williams.

Trong số các bài hát tủ của những giọng ca crooner có nhạc phẩm What a Difference a Day Makes, ban đầu ăn khách qua tiếng hát của Dinah Washington, một trong những diva của làng nhạc jazz. Khi được trình bày lại bởi các giọng ca nam, nhịp điệu bài hát vốn đã chậm rãi, lại càng khoan thai.

Từ Dean artin, Ingram Washington, cho đến lớp ca sĩ trẻ tuổi thời bây giờ như Jamie Cullum, John Barrowman các ca sĩ crooner buộc phải tôi luyện cách nhả chữ. Một trong những bậc thầy trong lãnh vực này là ông hoàng Nat King Cole, nổi tiếng nhờ cách luyến láy đầy đặn, lối phát âm tròn vành.


Có thể nói là cho tới giờ này, không có ai diễn bài Fascination (Mê Hoặc) hay bằng ông hoàng Nat King Cole. Nổi danh ban đầu như là một tay đàn dương cầm nhạc jazz, ông có cái tài biến tấu phá cách trên từng độ dài của nốt nhạc. Sở trường của Nat King Cole, ngoài chất giọng sang trọng quý phái, còn nằm ở trong cách nén câu, níu chữ. Nghe ông hát, mà trái tim có cảm tưởng thổn thức rung động trong mỗi ca từ, níu lại từng chữ như thể cầm chân người yêu, quấn quýt bên nhau không nỡ lìa xa.

Nhạc phẩm Fascination trong nguyên tác là một ca khúc tiếng Pháp, do hai tác giả Maurice de Féraudy và Fermo Marchetti viết vào năm 1932, tức cách đây vừa đúng 80 năm. Ban đầu là một điệu valse, bài hát khi được chuyển thể nhịp điệu và ca từ, trở thành một bản nhạc kinh điển của các giọng ca crooner. Theo các chuyên gia, phong cách diễn đạt này ban đầu gắn liền với nhạc jazz, rồi sau đó trở nên phổ biến nhờ nhạc pop và nhạc nhẹ.

Lối hát crooner chỉ thật sự phát triển với thời kỳ phát minh máy vi âm và đĩa nhựa. Crooner đến từ động từ to croon có nghĩa là thì thầm. Một khi chiếc micro (microphone) đã ra đời thì khi thu thanh, người ca sĩ không cần phải hát lớn tiếng, mà có thể thì thầm mơn trớn như thể đang thủ thỉ bên tai. Lối hát rất gần đó rất hợp với các giọng ca nồng ấm trung trầm, càng tự nhiên bao nhiêu, càng biểu cảm bấy nhiêu.


Không phải ngẫu nhiên mà thời kỳ hoàng kim của làng phim Hollywood trùng hợp với sự cực thịnh của các giọng ca crooner. Điện ảnh nhờ vào lối thu hình và thu âm rất gần, đã thay đổi cung cách diễn xuất của làng kịch nói. Phim ảnh cũng giúp tạo dựng định hình phong cách của các ca sĩ trữ tình, thường có tướng mạo bảnh bao, vóc dáng đào hoa bởi vì đối tượng mà họ muốn quyến rũ, mê hoặc thường là phái nữ.

Frank Sinatra, Dean Martin, Tom Jones, Matt Monro, và ngay cả Elvis ở giai đoạn thứ nhì trong sự nghiệp, chẳng những crooner trong cách hát mà còn ít nhiều ở trong dáng dấp điệu bộ. Lối diễn đạt ấy ảnh hưởng cho đến tận bây giờ. Những nghệ sĩ trẻ tuổi như Harry Connick Junior, John Barrowman và Michael Bublé hát pop jazz nhưng với phong cách đậm đặc chất crooner.

Riêng trong làng nhạc Pháp, giọng ca crooner đầu tiên là Jean Sablon từ giữa những năm 1930. Ngay sau ông, thì có Yves Montand, Gilbert Bécaud, Guy Marchand, Sacha Distel, Joe Dassin, trẻ hơn nữa thì có Marc Lavoine và Dany Brillant, cho dù họ rất khác biệt trong thể loại âm nhạc. Marc Lavoine thiên về pop, còn Dany Brillant chủ yếu theo đuổi dòng nhạc La Tinh, gần đây anh có ghi âm lại bài Bambino của Dalida, nhân dịp 25 năm ngày giỗ của nữ danh ca.


Thời gian gần đây, nhiều ca sĩ khai thác trở lại lối hát crooner. Những ca sĩ người Ý có hát tiếng Pháp như Toto Cutugno hay Boby Solo đều trình làng phiên bản mới của các điệu ca vang bóng một thời nhưng vay mượn phong cách crooner. Các tên tuổi gắn liền với nhạc rock, chẳng hạn như Eddy Mitchell và Johnny Hallyday khi hát tình khúc cũng trở nên mơn trớn hơn thay vì gân cốt cường điệu.

Trong làng nhạc nhẹ, Herbert Léonard trên album mang tựa đề Déclarations d’Amour (Những lời tỏ tình), kết hợp lối hòa âm rất mộc với cách hát vuốt ve mơn trớn. Những bài hát mà anh chọn nằm trong répertoire của các danh ca crooner nổi tiếng từ Joe Dassin cho đến Luis Miguel và Julio Iglesias.

Khá nhiều tình khúc của Julio, tiêu biểu nhất là bài No vengo No voy (Je n’ai pas changé) và Pobre Diablo (Pauvres Diables) từng được chuyển dịch sang nhiều thứ tiếng, trở thành các bản nhạc gối đầu của các giọng ca trữ tình. Bản nhạc Pauvres Diables buộc phải thay đổi tựa đề ban đầu vì được người nghe biết đến nhiều hơn nhờ câu hát Vous les Femmes. Nhờ vào phong cách đào hoa, mà ca sĩ crooner còn được gọi là giọng ca đánh cắp trái tim ngọc ngà. Tiếng hát đậm đà nên thấm mềm sỏi đá, quyến rũ hồn ta nhờ vuốt chữ mượt mà.

John Barrowman, The Winner Takes It All
viethoaiphuong
#239 Posted : Monday, September 17, 2012 9:52:37 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)


Đường đua Marina Bay nhìn từ trên không lung linh ánh đèn lúc chiều tà trước giải đua xe Formula One Grand Prix ở Singapore. Giải đua ban đêm này sẽ diễn ra từ 21 đến 23 tháng 9.(Reuters) / VOA - 17-09-2012
viethoaiphuong
#240 Posted : Tuesday, September 18, 2012 11:42:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 6,563
Points: 2,703

Thanks: 378 times
Was thanked: 38 time(s) in 37 post(s)

Danh sách các nghệ sĩ được Trung Tâm Kennedy vinh danh năm 2012



Ba thành viên trong nhóm nhạc rock Led Zeppelin của Anh quốc - nhạc sĩ keyboard và trống bass John Paul Jones, nhạc sĩ guitar Jimmy Page và ca sĩ Robert Plant

VOA - 18.09.2012
Tài tử điện ảnh từng đoạt giải Oscar Dustin Hoffman, người dẫn chương trình truyền hình hài hước David Letterman, và Buddy Guy, ca nhạc sĩ thể loại blue xuất thân ở Chicago là 3 trong số 7 nhân vật sẽ được Trung Tâm Kennedy vinh danh trong năm nay.

Ba nhân vật vừa kể, cùng với nữ nghệ sĩ ballet sinh ở Nga, bà Natalia Makarova và 3 thành viên trong nhóm nhạc rock Led Zeppelin của Anh quốc - nhạc sĩ keyboard và trống bass John Paul Jones, nhạc sĩ guitar Jimmy Page và ca sĩ Robert Plant, sẽ được vinh danh tại Trung tâm Nghệ thuật trình diễn John F. Kennedy ở thủ đô Washington nhờ các đóng góp của họ vào nền văn hóa Mỹ qua nghệ thuật.

Những người được vinh danh sẽ được tuyên dương trong một dạ tiệc với sự tham dự của nhiều nhân vật danh tiếng tại Trung tâm Kennedy vào ngày 2 tháng 12, và buổi lễ sẽ được truyền hình toàn quốc sau đó.

7 người nhận giải sẽ được mời tham dự một bữa tiệc long trọng tại Bộ Ngoại giao dưới sự chủ tọa của Ngoại trưởng Hillary Clinton, sau đó sẽ là một buổi tiếp tân tại Tòa Bạch Ốc do Tổng thống Barack Obama chủ trì.

Các buổi lễ này là điểm nổi bật trong mùa văn hóa của thủ đô Hoa Kỳ.

Tài tử điện ảnh Hoffman đã được trao giải Oscar nhờ vai đóng trong hai cuốn phim Kramer vs. Kramer, và Rain Man. Ông cũng đã xuất hiện trong các cuốn phim của Hollywood đã trở thành cổ điển như All the President’s Men, The Graduate và Tootsie. Letterman, người dẫn chương trình hội thoại tối khuya đã có từ nhiều năm nay, được Trung Tâm Kennedy ca ngợi là “một trong các nhân vật gây nhiều ảnh hưởng nhất” trong lịch sử truyền thông.

Buddy Guy, 76 tuổi, được trung tâm ca ngợi là “có ảnh hưởng” to lớn đến các nhạc sĩ guitar trong nửa thế kỷ vừa qua. Bà Makarova, rời quê hương Nga của bà năm 1970, và bắt đầu sự nghiệp với Nhà hát Ballet Mỹ lừng danh cùng năm đó, đã “thắp sáng các sân khấu của những đoàn vũ ballet vĩ đại nhất thế giới” trong suốt sự nghiệp của bà.

Trung tâm Kennedy nói các ca nhạc sĩ Jones, Page và Plant đã “chuyển hóa âm thanh nhạc rock-and-roll bằng ca từ và các cấu trúc ca khúc đầy sáng tạo của họ.”

Chủ tịch Trung tâm Kennedy, ông David Rubenstein tuyên bố, “Với tài năng tuyệt luân, sự sáng tạo và tính kiên trì, 7 người được Trung Tâm Kennedy vinh danh đã đóng góp đáng kể vào đời sống văn hóa của đất nước chúng ta và của cả thế giới.”

Trung tâm Kennedy bắt đầu công bố các giải thưởng vào năm 1978. Những người từng được vinh danh gồm các ca sĩ Aretha Franklin, Babra Streisand và Luciano Pavarotti, nữ diễn viên Carol Burnett, ca sĩ và người sáng tác ca khúc nhạc đồng quê Willie Nelson và người dẫn chương trình hội thoại truyền hình Oprah Winfrey.

Led Zeppelin - Stairway to Heaven
Users browsing this topic
Guest
16 Pages«<1011121314>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.