Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

33 Pages«<30313233>
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#621 Posted : Friday, September 3, 2021 3:23:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)


Những tình khúc Pháp đẹp nhất qua giọng ca Michel Delpech

21/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) là tựa đề tập nhạc của Michel Delpech được trình làng vào mùa hè năm 2021. Đây là album tưởng niệm đầu tiên phát hành đúng 5 năm sau ngày nam danh ca người Pháp qua đời (đầu năm 2016) vì bệnh ung thư ở tuổi 69. Tuyển tập chọn lọc này bao gồm 11 nhạc phẩm ăn khách tiếng Pháp do Michel Delpech ghi âm cách đây gần hai thập niên.

Theo thông tin từ phía gia đình của nam danh ca, vào năm 1996, Michel Delpech đã nhận lời tham gia vào dự án thu thanh cho bộ đĩa ''Les plus belles Chansons Françaises'' (Những bài hát Pháp đẹp nhất) phản ánh nửa thế kỷ sáng tác nhạc Pháp từ năm 1946 đến năm 1996.

Dự án khá quy mô này bao gồm toàn là những bản ghi âm lại (cover) tập hợp rất nhiều giọng ca nổi tiếng, trong đó có Nicole Croisille, Guesch Patti, Gilbert Montaigné, Richard Anthony, Serge Lama... trình bày lại ca khúc của các nghệ sĩ đàn anh hay là các tác giả cùng thời. Về phần mình, Michel Delpech chủ yếu chọn trình bày các tác giả mà ông hằng ngưỡng mộ kể cả Gainsbourg, (Je suis venu te dire que je m'en vais / Nói với người ta ra đi), Nino Ferrer (Le Sud / Miền Nam) hay Michel Berger (Quelques mots d'amour / Vài lời thương yêu).

60 ca khúc ghi âm cho bộ đĩa Nửa thế kỷ nhạc Pháp

Theo lời vợ (Geneviève) của nam danh ca, Michel Delpech đã dành hơn hai tháng để ghi âm khoảng 60 bản nhạc cho bộ đĩa gồm 30 CD này. Để tưởng nhớ danh ca quá cố, gia đình ông đã chọn lựa trong 60 bài này, khoảng 10 ca khúc mà sinh thời ông cho là hay nhất. Các bài hát (ghi âm vào năm 1996) nay được hòa âm lại qua tài phối khí của Dominique Blanc-Francard, kỹ sư âm thanh từng đoạt giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique vào năm 1992 nhờ cộng tác với David McNeil và Julien Clerc.

Gia đình của nam danh ca đã mượn lại tựa đề bài hát ''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) của tác giả William Sheller để làm chủ đề cho tuyển tập chọn lọc của Michel Delpech. Bản thân ông, lúc sinh tiền vừa là ca sĩ kiêm tác giả, cho nên Michel Delpech chọn những bài hát của những nhà soạn nhạc mà ông mến phục tài năng. Theo lời con trai của nam danh ca (Emmanuel Delpech), lúc còn sống, bố anh đặc biệt yêu chuộng nhạc phẩm ''Quelques mots d'amour''. Michel Delpech khâm phục tài nghệ soạn giai điệu cũng như đặt ca từ của Michel Berger, dùng những lời lẽ rất đơn giản để diễn đạt chiều sâu nội tâm. Và ông từng cho biết ông ước gì viết được một bài hát như bài ‘‘Quelques Mots d’Amour’’ mà sau đây là phần phóng tác.

Nhìn mọi người xung quanh ; Mà vẫn như thiếu vắng ; Chút cảm giác hiu quạnh ; Cho hồn thêm vị đắng

Nhịp tim vẫn êm đềm ; Nhẹ đập chưa thay đổi ; Không gì xoa dịu nổi ; Tiếng nhạc buồn sâu đêm

Chỉ cần thiếu một người ; Vũ trụ vắng tất cả ; Ghép tim mạch hóa đá ; Đành muộn mất trọn đời

Chợt nghe hồn hóa bướm ; Vươn cánh tới sao trời ; Yêu thương chỉ mong đợi ; Nhắn đôi lời mà thôi

Trong số 10 ca khúc do Michel Delpech ghi âm lại, ngoài Gainsbourg, Sheller và Berger (Quelque chose de Tennessee / Một chút gì của Tennessee), còn có Michel Jonasz, Philippe Chatel, Julien Clerc, Alain Souchon hay Laurent Voulzy (Coeur Grenadine / Trái tim ngọt ngào), đa số đều là nghệ sĩ chủ yếu là phái nam của cùng một thế hệ. Album này cho thấy cái nhìn tinh tế của Michel Delpech về các bạn đồng nghiệp, nhưng đó cũng là cái thời (vàng son) của chính mình, khi giọng ca của Michel Delpech ngự trị trên đỉnh cao cho tới những năm 1984-1985, trước khi thoái trào và nhường chỗ lại cho thế hệ ca sĩ / tác giả Pháp cực thịnh những năm 1980 như Goldman, Berger hay Balavoine…

Những tấm ảnh kỷ niệm : Lời lẽ đơn giản, chiều sâu nội tâm

Như nam danh ca Michel Delpech có lần nhận xét : Bài hát, tiếng nhạc là một thứ gì đó có vẻ không quan trọng mà thật ra lại rất hữu ích. Đến một ngày nào đó, khi ta không còn được nghe những giai điệu thân quen trong cuộc sống, thì lúc ấy ta mới cảm nhận được sự trống vắng. Nói cách khác, có những bài hát đã đi vào tâm hồn từ lúc nào không hay, ngay cả khi chúng ta không chú tâm lắng nghe.

Sinh thời, Michel Delpech là một ca sĩ kiêm tác giả ăn khách những năm 1960 và 1970, khi thực hiện phần hòa âm lại, nhóm sản xuất giữ nguyên chứ không chỉnh sửa giọng ca của ông, khác hay chăng là ở trong cách phối khí mới, không quá tân kỳ hiện đại, nhưng đủ để nhấn mạnh ý tứ của tác giả bài hát nguyên tác : cách đọc của Michel Delpech cho thấy ông hiểu thấu lối dùng chữ của bạn đồng nghiệp, cách hát của ông vì thế có chiều sâu mà vẫn tự nhiên.

Một số ca khúc trên tuyển tập này từng là những sáng tác về đam mê đôi lứa, tình yêu đầu đời (''Fais moi une place'' hay là ''Coeur Grenadine'') Michel Delpech hát lại ở độ tuổi hồi xuân, với những tình cảm thiết tha của một người từng trải, biết đau khổ mất mát là như thế nào. Ngay trong những tình khúc thật buồn với nỗi đau vô hạn, giọng ca của ông vẫn thanh thản, thắm thiết dịu dàng. Tựa như một nhà nhiếp ảnh với lối quan sát tường tận tinh tế, với ánh mắt bao dung trìu mến, Michel Delpech nắm bắt được những cung bậc cảm xúc thật gần gũi, để rồi truyền tải những khoảnh khắc đẹp nhất của một đời người.

viethoaiphuong
#622 Posted : Saturday, September 4, 2021 1:40:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Chopin, những áng thơ trên phím ngà

04/09/2021 - Hoài Dịu / RFI
Trái ngược với những etude các thời kỳ trước, bản nhạc chỉ tập trung phát triển, rèn luyện kỹ thuật chơi đàn, thì etude ở giai đoạn âm nhạc lãng mạn như của Chopin hay Liszt là những tác phẩm nghệ thuật, được cô đọng từ nhiều cảm xúc khác nhau. Ấy là những áng thơ rạng rỡ, những hình ảnh như mơ, như thật, để lặng ngắm, để giữ chúng cho riêng mình.

Mười hai bản Etude , tập Op.25 mà Chopin đề tặng nàng Marie d’Agoult, người vợ sắp cưới của ông, một lần nữa minh chứng cho tài năng viết thơ bằng nhạc của nhạc sỹ xuất chúng đất Ba Lan.

Mở đầu tập này, bản Etude số 1 (op.25) « Dòng suối » hay còn gọi là « Etude của đàn harpe » với vô số dải hòa âm mờ ảo. Ở đây Chopin muốn ưu tiên kỹ thuật chơi hợp âm rải song song với giai điệu khá bay bổng ở phần tay phải. Theo như Schumann, nhà soạn nhạc lãng mạn người Đức, thì khi bản nhạc kết thúc, ta có cảm giác như vừa thấy điều gì đó nửa hư nửa thực, thoắt chạy trốn mất mà ta không kịp bắt lấy nó.

Niềm an ủi và những nốt nhạc lỗi

Được mệnh danh « Niềm an ủi », bản số 2 giọng fa thứ (Op.25) mà Schumann gọi nó là « bài hát của một đứa trẻ đang mơ ngủ ». Dưới nét lướt bồng bềnh của tiết tấu chùm ba, những nốt nhạc dịu nhẹ tựa theo đó mà trôi vào giấc nồng của bé. Cũng như những Etudes khác của Chopin, bản này là một trong nhiều lựa chọn thường xuyên trong các chương trình hòa nhạc. Bởi đó là sự hợp nhất hoàn hảo giữa yếu tố nghệ thuật và thử thách kỹ thuật.

Lúc sinh thời, Chopin không bao giờ có ý định gọi tên hình tượng âm nhạc cụ thể cho từng đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên mỗi giọt âm thanh, mỗi ý nhạc của ông luôn khiến người nghe có cảm giác như xem một bức họa , đọc một áng thơ, liên hệ một hình ảnh nghệ thuật nào đó. Nói cách khác, ông có một tiếng đàn rất riêng, một thứ ngôn ngữ cô đọng từ trái tim khát khao yêu thương và một tâm hồn thanh tao mang tên Chopin.

Etude số 5 (Op.25) đôi khi còn được gọi là « Nốt nhạc lỗi », là bởi hòa thanh của étude này có rất nhiều âm nghịch tai được đưa vào một cách cố ý. Tác phẩm có hai phần tương phản : phần thứ nhất với tiết tấu hoạt bát, có nhiều nốt chõi, đưa người nghe về với ký ức tuổi thơ, là nét mặt rạng ngời của những đứa trẻ đang nô đùa. Phần thứ hai, giai điệu thơ mộng (ở tay trái) trên nét chạy rộng dài (ở tay phải), là cánh đồng đầy gió, là chân trời xa vợi, chất chứa bao ước mơ thơ trẻ sáng trong.

« Đôi khi mỏng manh tựa làn khói, khi thì rung động hạnh phúc, khi lại tinh khiết như pha lê, không thì ồn ào bận rộn ». Tất cả được gói ghém trong bản Etude số 6 (Op.25) giọng son thăng thứ, còn gọi là Etude « Quãng ba ». Trong suốt toàn bộ tác phẩm, tay trái chạy quãng ba khi thì ở gam bán cung (gamme chromatique) khi lại ở gam nguyên cung (gamme diatonique). Cái khó ở đây là làm sao để không bị lẫn lộn giữa hai kiểu gam và việc sử dụng ngón tay thế nào cho phù hợp với từng gam. Trong khi đó, tay trái ngân nga giai điệu đồng quê : một điệu nhảy ngẫu hứng trên thảo nguyên ắt chăng sẽ buông đi những gánh nặng , lo âu thường nhật ?

Những cánh bướm đồng xanh

Một điểm lặng giữa ốc đảo étude thơ Chopin, bài số 7 (op.25) vang lên như một bản nocturne chậm rãi, u tối. Nỗi hoài niệm về cố hương với những đối âm xót xa và lời muộn phiền tuôn ra từ những ngón tay trên phím ngà. Bản nhạc này, đôi khi được người ta gọi tên là « Trên đàn cello », do bởi giai điệu mang tính tự sự viết trên các nốt trầm. Một số nhạc sỹ sau này đã chuyển soạn nó thành tác phẩm song tấu cho đàn cello và piano. Mặc dù mang hơi thở nocturne nhưng bản thân vẫn giữ chức năng của một étude, cho phép người nghệ sỹ rèn luyện kỹ thuật chơi nhạc phức điệu, đối âm xen kẽ với vài tính năng điêu luyện khác.

« Cánh bướm » là tên gọi của Etude số 9 (op.25), một bản nhạc nhanh và nhẹ nhàng được yêu chuộng nhất. Độ khó về kỹ thuật của bài này nằm ẩn sau tiết nhịp 2 /4, trong đó tay phải chơi hợp âm không ngừng nghỉ, xen kẽ với quãng tám, lúc phải đánh nhấn, liền tiếng(légato), lúc thì nảy ngón tay (staccato). Thế nên, để chinh phục bản này, người chơi phải rèn luyện sư mềm mại và dẻo dai đặc biệt ở phần cổ tay để đạt tới ngưỡng mà khi âm thanh thoát ra, nghe tựa hồ như những cánh bướm mỏng manh dập dờn, đậu rồi lại bay giữa đồng cỏ xanh. Một điều thú vị nữa mà không phải ai cũng biết, không hiểu do vô tình hay cố ý mà motif âm nhạc « Cánh bướm » của Chopin dường như cùng nguồn cảm hứng với bản Sonate giọng son trưởng, chương 3, opus 79 của nhà soạn nhạc Beethoven.

Chopin chưa bao giờ có ý nghĩ về một tác phẩm thơ văn khi đặt bút sáng tác. Tuy nhiên, mỗi nốt nhac, mỗi câu đàn vang lên là bài thơ rất đẹp. Dù có buồn bã hay hạnh phúc, dù là nước mắt hay tiếng cười, những trang thơ đó cứ theo hoài nhân thế, để rồi vỗ về , để mà thủ thỉ như một người bạn đường của chúng ta trên quãng đời này.

viethoaiphuong
#623 Posted : Monday, September 6, 2021 12:42:54 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

RFI - 06/09/2021

(AFP) - Ban nhạc Thụy Điển Abba dẫn đầu thị trường ca nhạc tại Anh Quốc. Hai ca khúc trong album mới sắp trình làng của Abba hiện nằm trong 10 bài hát ăn khách nhất tại Vương Quốc Anh. Theo thẩm định của giới âm nhạc được cập nhập hôm Chủ Nhật 05/09/2021, hai ca khúc I Still Have Faith in You - Tôi Vẫn Tin Người và Don't Shut Me Down - Xin đừng bỏ tôi, hiện tại chiếm hạng 6 và 7 trong Top 10 của làng nhạc Anh. Đó là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy hào quang của Abba vẫn sáng chói sau 40 năm xa sân khấu.


viethoaiphuong
#624 Posted : Saturday, September 11, 2021 11:44:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Khi ta hai mươi : Các bài phóng tác hay nhất của Everly Brothers

11/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Giai đoạn thành công của ban nhạc The Everly Brothers trùng hợp với thời kỳ phát triển của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 tại Pháp. Điều đó giải thích vì sao đã có khá nhiều bài hát ăn khách của ban nhạc này được phóng tác sang tiếng Pháp.

Hai anh em Phil và Don Everly bắt đầu đi hát từ khi họ lên 10. Thành ra khi trình làng những bản ghi âm đầu tiên vào năm 1957, ban song ca người Mỹ này tuy độ tuổi chỉ mới khoảng đôi mươi, thật ra lại có nhiều năm tay nghề. Một trong những bản nhạc ăn khách đầu tiên của họ chính là bài ''All I have to do …. is dream'' (của hai tác giả nhạc country người Mỹ Felice & Boudleaux Bryant) phát hành vào năm 1958. Trong tiếng Việt, bài này được tác giả Trường Kỳ đặt lời thành ''Khi ta hai mươi'', nhạc phẩm này từng ăn khách trước năm 1975 qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan và gần đây hơn đã được ca sĩ Phương Vy ghi âm lại.

Sau khi giành lấy ngôi vị quán quân trên thị trường quốc tế kể cả Anh, Úc, Canada và Hoa Kỳ, tình khúc ''All I have to do …. is dream'' trở thành bài hát của nhóm The Everly Brothers được phóng tác nhiều nhất. Tính tổng cộng, đã có đến hàng trăm phiên bản trong 10 thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng Ý, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Bồ Đào Nha …

Còn trong tiếng Pháp, bản nhạc này có đến ít nhất ba phiên bản khác nhau. Tại Canada, ban nhạc Les Bel Canto ghi âm ca khúc này với tựa đề ''Seul'' (Cô đơn), còn trên thị trường Pháp có phiên bản phóng tác ''Line'' của Eddy Mitchell thời ông là ca sĩ chính của nhóm Les Chausettes Noires, đồng thời vào năm 1963, một trong những thần tượng nhạc trẻ nổi tiếng nhất thời bấy giờ là Sheila ghi âm một phiên bản tiếng Pháp khác với tựa đề ''Pendant les Vacances'' hiểu theo nghĩa ‘‘Tình yêu trong kỳ nghỉ hè’’.

Richard Anthony và bản nhạc ''Khóc thầm trong mưa"

Một trong những gương mặt tiên phong của phong trào nhạc trẻ Pháp những năm 1960 chính là nam ca sĩ quá cố Richard Anthony (1938-2015). Vào lúc các thần tượng như Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Hervé Vilard hay Chrisophe vẫn còn ngồi ghế nhà trường, ông đã ký hợp đồng ghi âm vào năm 1958, thời ông phóng tác ca khúc ''You are my destiny'' của Paul Anka sang tiếng Pháp. Vào năm 1961, trong lúc đang đi công tác ở Luân Đôn, ông tình cờ nghe được cách hát bè điêu luyện nhuần nhuyễn của nhóm The Everly Brothers trong bản nhạc ''Crying in the Rain'' (Khóc thầm trong mưa).

Ca khúc này là bản nguyên tác của hai nhạc sĩ Carole King và Howard Greenfield. Khi về tới Paris, Richard Anthony mới chấp bút đặt lời tiếng Pháp thành ''J'irai pleurer sous la pluie'' (Khóc một mình dưới mưa) tình khúc ăn khách mùa hè năm 1962. Đây là một trong những bài hát tủ của nam danh ca. Bản thân ông ghi âm nhiều phiên bản tiếng Pháp cho các vòng lưu diễn trên sân khấu, mở đường cho các bản phóng tác sau này với nhiều lối hoà âm khác nhau.

Trong đời có ai hiểu thấu

Con tim vỡ đến độ nào

Mặc nhiên ngẩng cao mái đầu

Dù muôn vạn nỗi buồn đau

Người sẽ chẳng bao giờ thấy

Trái tim mảnh vụn còn đây

Hạt mưa sa vào đôi mắt

Bỗng dưng hóa mặn thật đầy

Chờ tới khi trời giông bão

Mưa tuôn thác đổ từ cao

Cho bao niềm đau chôn giấu

Thầm theo dòng lệ tuôn trào

Sau khi tạo dấu gạch nối giữa dòng nhạc tình của Paul Anka với dòng nhạc rock của The Beatles (nhạc phẩm ''Put your head on my shoulder'' sẽ có hai phiên bản tiếng Pháp ''Prouve moi que tu m'aimes'' và ''Pose ta tête sur mon épaule'') Richard Anthony chuẩn bị nhường ngôi lại cho các giọng ca trẻ như Christophe (Aline) và Hervé Vilard (Capri c'est fini) vào năm 1965. Dù muốn hay không, ông đã mở đường cho phong trào chuyển thể, phóng tác các ca khúc Anh Mỹ sang tiếng Pháp. Riêng về nhóm The Everly Brothers, có khá nhiều ca khúc của ban song ca đã được giới ca sĩ trẻ ở Pháp ghi âm lại.

Claude François thành danh nhờ ghi âm bài ''Made to Love''

Đó là trường hợp của bài ''Le p'tit clown de ton cœur'' (1960) của Johnny Hallyday gợi hứng từ nhạc phẩm ''Cathy's Clown'' của Don Everly. Cũng chính giai điệu ''Made to Love'' do Phil Everly sáng tác, một khi được dịch sang tiếng Pháp thành ''Belles Belles Belles'' đã giúp cho sự nghiệp của thần tượng nhạc trẻ Claude François cất cánh bay cao vào năm 1962, để rồi thành công liên tục trong hơn một thập niên liền.

Trong số những ca khúc để đời của nhóm The Everly Brothers, có nhạc phẩm ''Let it be Me'' ghi âm vào năm 1959 theo cách đặt lời tiếng Anh của tác giả Manny Curtis. Trong nguyên tác, đây là một bài hát tiếng Pháp (mang tựa đề ‘‘Je t'appartiens’’) của ca sĩ kiêm tác giả Gilbert Bécaud. Chính phiên bản tiếng Anh của ban song ca The Everly Brothers đã giúp cho tình khúc này trở nên nổi tiếng trên thị trường quốc tế vào đầu những năm 1960. Sau khi ban song ca chia tay nhau vào năm 1973, Phil Everly từng ghi âm lại ca khúc ''Let it be Me'' với một lối hoà âm mới, chất giọng tenor trong sáng của ông với lối phát âm nhẹ nhàng thướt tha, cách vuốt chữ đầy đặn mượt mà, nâng giai điệu hồn nhiên lên hàng kinh điển.



viethoaiphuong
#625 Posted : Friday, September 17, 2021 8:53:13 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Marguerite Duras, văn chương của điều không viết ra

17/09/2021 - Sơn Ca / RFI
"Con ruồi đã chết ở đó lúc ba giờ hai mươi." Ta nghĩ gì về một con ruồi đã chết, chết ở đó, chết vào lúc ba giờ hai mươi? Trong cuốn Viết, Marguerite Duras kể, khi bà chỉ vào con ruồi vừa chết và nói như vậy với cô Michelle Porte, người đến làm phim tài liệu, cô đã cười ngặt nghẽo, dù bà mỉm cười mong chuyện ấy chấm dứt, nhưng cô vẫn cười.

Duras đã dành nhiều trang sách để mô tả lại tỉ mỉ và phân tích về cái chết của con ruồi mà bà đã chứng kiến. Đằng sau cái chết vô danh đó, nỗi đau cũng tương tự như cái chết của viên phi công trẻ người Anh trong chiến tranh, hay cái chết của hàng triệu người Do Thái trong thảm họa diệt chủng. Với Duras, cái chết của con ruồi mang tính tổng quát trên bản đồ chung của cuộc đời trên trái đất.

" Đó là một cuốn sách.

Là một bộ phim.

Là đêm tối.

Giọng nói ở đây là giọng, được viết ra, ở cuốn sách.

Giọng nói mù lòa.

Không diện mạo.

Trẻ măng.

Lặng lẽ."

Những câu văn trên trong tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc của Duras nói lên điều gì? Là thơ, là văn, là kịch bản phim hay chỉ là những từ ngữ đơn lẻ xếp cạnh nhau vô nghĩa? Có gợi hình, có gợi cảm, có mang câu chuyện nào đằng sau đó chưa được viết ra không?

Ta, người đọc, đôi khi có thể sẽ giống cô Michelle Porte, ta chẳng cảm nhận gì, hoặc chỉ thấy đó là những câu chữ tầm phào. Nhưng Duras đã viết trong cuốn Viết: "Có một thứ văn chương của cái-không-viết-ra. Một ngày nào đó nó sẽ đến. Một thứ văn chương ngắn gọn, không ngữ pháp, một thứ văn chương chỉ toàn các từ. Những từ không có ngữ pháp làm nền tảng. Lạc lối. Đó, những tác phẩm."

Điều này giống như họa sĩ người Pháp Pierre Soulages viết: "Tôi đã xóa bỏ hết những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, chỉ giữ lại những vùng đá khoáng sa mạc, sự bao la nơi những đàn gia súc và con người biến mất, đá trập trùng giữa đá." (1) Soulages không chỉ xóa bỏ những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, ông bỏ đi toàn bộ những màu sắc khác, chỉ giữ lại màu đen. Cách mà Duras đặt những câu văn ngắn gọn, không ngữ pháp, nơi ta chỉ thấy bề mặt thô ráp của ngôn từ, cũng giống như Soulages, họa sĩ bậc thầy của màu đen và ánh sáng, đã vẽ bằng cách chỉ đặt những nét cọ màu đen nằm cạnh nhau.

Marguerite Duras và phong trào tiểu thuyết mới

Nhắc đến Marguerite Duras không thể không nhắc đến phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp vào đầu những năm 1950 đến những năm 1970, là khuynh hướng tiên phong trong việc mở đường cho văn chương đến với điện ảnh. Tiểu thuyết mới đã phá bỏ lối kể chuyện truyền thống, nơi câu chuyện chỉ có một tuyến tính, một dòng chảy của thời gian, ngôi kể chuyện cố định, tên người và xuất xứ nhân vật rõ ràng. Alain Robbe-Grillet là người đầu tiên đưa ra khái niệm tiểu thuyết-điện ảnh, chú ý đến cái nhìn, chú trọng bút pháp miêu tả bằng ngòi bút-camera, đưa văn bản viết gần gũi hơn với các phân cảnh điện ảnh, các chương được phân chia thành các đoạn văn ngắn không theo trật tự thời gian, giống kỹ thuật dựng phim trong điện ảnh. (2)

Đập ngăn Thái Bình Dương, Người tình và Người tình Hoa Bắc của Duras đều có chung đề tài Đông Dương, đều có bi kịch liên quan đến mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt mà người mẹ bị lừa mua. Đập ngăn Thái Bình Dương được viết năm 1950, tuy vào đầu thời kỳ của phong trào tiểu thuyết mới, nhưng vẫn mang dáng dấp của lối kể chuyện truyền thống. Năm 1984, Duras viết tiểu thuyết Người tình, sau gần 30 năm kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được bà viết theo phong trào tiểu thuyết mới là cuốn Le Square (1955), nghệ thuật viết của bà đã đi xa hơn rất nhiều so với những gì mà phong trào tiểu thuyết mới đã định nghĩa, giúp bà dành giải Goncourt với kỷ lục sách được bán ra là 1,63 triệu bản. Kỷ lục này vẫn đứng đầu danh sách tiểu thuyết đoạt giải Goncourt được bán ra nhiều nhất cho đến nay.

Ở những trang đầu của Người tình, Duras viết: "Tôi đã viết nhiều về những thành viên trong gia đình tôi, nhưng lúc bấy giờ họ đều còn sống, mẹ tôi và những người anh tôi. Và tôi đã đi vòng quanh họ, đi vòng quanh tất cả những điều này mà không thực sự nắm bắt lấy họ." Như vậy, Người tình đã đi sâu hơn, đã nhìn trực diện hơn, đã viết ra được nhiều hơn những điều không viết hoặc chưa thể viết ở những tiểu thuyết trước. Không đồng tình với đạo diễn Jean-Jacques Annaud trong việc chuyển thể tiểu thuyết thành phim, Duras đã viết lại Người tình theo lối thể nghiệm văn bản, vừa là tiểu thuyết văn học vừa là kịch bản phim. Năm 1991, tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc đã được ra đời như thế. Tiểu thuyết sau không chỉ là sự tái cấu trúc về mặt phong cách so với tiểu thuyết trước, tác phẩm còn chứa đựng những điều mà Duras đã không viết ra ở tiểu thuyết trước.

Tiểu thuyết Người tình và Người tình Hoa Bắc

Người tình là một tiểu thuyết văn học chứa đựng nhiều ngôn ngữ điện ảnh như thể bản thân văn bản đã trở thành những thước phim giàu hình ảnh chạy qua tâm trí người đọc. Không gian, thời gian, ngôi kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật được dịch chuyển tài tình, khiến cho mỗi trường đoạn nhỏ của tác phẩm giống như những mảnh mosaïque được Duras tỉ mỉ sáng tạo riêng biệt, rồi đặt chúng cạnh nhau trong trạng thái rất phiêu của cảm xúc, khiến chúng trở nên mềm mại, mơ hồ, không cần hiểu, không cần lý giải.

Nhịp điệu của sự dịch chuyển này ban đầu được kéo giãn ở những chương đầu của tiểu thuyết. Trường đoạn cô gái trên chiếc phà qua sông được viết theo dòng ý thức, khi suy nghĩ của nhân vật chảy như những nhánh sông nhỏ, lúc trải ra, lúc bện chặt lấy nhau, để rồi trở đi trở lại điểm mốc chính là khi cô đang đứng trên phà. Đồng thời, Duras đã dùng đồ vật để kể chuyện, dùng mũ, áo, giầy...để khéo léo hé lộ cho bạn đọc biết về hoàn cảnh gia đình và người mẹ.

Nhịp điệu dịch chuyển mỗi lúc một nhanh hơn, ở những chương gần cuối tác phẩm, các phân cảnh thay đổi liên tục, nhòe vào nhau, chồng chéo lên nhau. Một trường đoạn đẹp nơi hình ảnh đan xen vào nhau là cảnh xen kẽ chuyện tình của bà Lớn với một thanh niên ở Savana Khét, người trẻ hơn bà nhiều tuổi đã tự sát bằng một viên đạn, với chuyện tình của cô gái cùng chàng triệu phú người Tàu. Nhưng đẹp và xúc động hơn cả có lẽ là trường đoạn trong hành trình cô gái trên tàu về Pháp, nơi cô kể về một người thanh niên trẻ nhảy xuống đại dương tự vẫn trong đêm; rồi một đêm khác khi nghe tiếng nhạc Chopin vang lên dưới bầu trời được thắp sáng bởi những vì sao rực rỡ, cô đã định đứng lên với ý nghĩ sẽ gieo mình xuống biển cả; và bất chợt cô nghĩ về người tình Trung Hoa: "Nàng không chắc chắn rằng nàng đã không yêu chàng với một tình yêu nàng không nhìn thấy, bởi vì tình yêu đó đã đánh mất chính nó trong cuộc tình như nước trong cát."

Trong cả hai tiểu thuyết, Duras chỉ dùng tình yêu ấy làm nền để kể những câu chuyện khác. Người tình còn kể về tình yêu thương quá đà của mẹ cho người anh cả, mối quan hệ khắc nghiệt giữa cô gái và mẹ, tình yêu cùng huyết thống của cô với người anh thứ, phức cảm đồng tính của cô và cô bạn Hélène. Câu chuyện về mảnh đất bị ngập mặn ở Cam Bốt và sự bất nhân của người anh cả cũng là những tình tiết không thể bỏ qua. Cách kể chuyện của tiểu thuyết đi từ ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ ba, sang ngôi người kể chuyện trung tính như trong kịch bản phim. Không gian trong tiểu thuyết còn được dịch chuyển sang Pháp ở giai đoạn sau khi gia đình đã rời Đông Dương còn thời gian luôn được đo bằng tuổi của cô bé.

Người tình Hoa Bắc đã hé lộ thêm những điều Duras chưa nói hết ở Người Tình, hoặc có thể, những điều viết thêm ra chỉ là tưởng tượng để bà có cơ hội được xoa dịu và nguôi ngoai đi những nỗi đau. Những điều viết thêm này như những cành cây trổ thêm nhánh, nơi xuất hiện thêm nhân vật Thanh và cộng thêm một tình yêu nữa của cô gái với nhân vật này. Không gian ở Pháp không được nhắc đến, thời gian chính xác bắt đầu câu chuyện vào năm 1930, nhưng những mối quan hệ tình cảm giữa các nhân vật trở nên chồng chéo và phức tạp hơn. Phức cảm đồng tính rõ hơn khi Hélène được xuất hiện nhiều hơn. Mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt và người anh cả cũng được đẩy ra làm phân cảnh chính, được đặt lên bàn để làm cuộc trao đổi về tiền bạc rõ ràng hơn. Cô gái, đã thực sự làm tình với người anh thứ của mình.

Người tình Hoa Bắc có thể như một sự thèm khát được giải đáp cho một câu hỏi, một niềm hy vọng hoặc một sự xoa dịu về tình mẫu tử giữa cô gái và mẹ. Đó là điểm quan trọng khác biệt nhất trong nội dung giữa hai tiểu thuyết. Ngay từ đầu, cô gái tha thiết hỏi mẹ tại sao mẹ lại yêu người anh cả như thế, mà chẳng bao giờ yêu cô và người anh thứ. Cô đã khóc về sự bất công khủng khiếp mà mẹ cô là nạn nhân trong sự lừa gạt của bọn người da trắng ở sở địa chính Pháp. Cô thương mẹ. Còn người mẹ cũng tỏ tình cảm với cô gái nhiều hơn qua lời nói, cử chỉ, hành động và đặc biệt bà đã quyết định tách rời người anh cả từ rất sớm để bảo vệ hai đứa con còn lại.

Trong những mối quan hệ yêu đương chằng chịt và những phức cảm nội tâm của nhân vật, ta có cần phải hiểu sâu xa đằng sau những mối quan hệ này thực chất ai yêu ai không? Hay những nhân vật Duras tạo ra chỉ là những ảo ảnh trong tâm trí bà được hắt lên tấm màn chiếu, như muốn viết ra những ẩn ức sâu xa của nhân vật trong tiểu thuyết hay của chính mình, đã phải chịu đựng những tác động và hậu quả từ bối cảnh sống, từ hiện thực.

Duras cho rằng, nỗi đau là thứ mà chúng ta không thể viết về nó một cách trọn vẹn nên khi không thể đi thẳng vào nó, người ta sẽ đi lòng vòng quanh nó. Các nhân vật cũng vậy, những cái tôi bị tổn thương và bị đè nén sẽ trổ những nhánh cây khác tạo nên những phức cảm nội tâm. Vì thế, tình yêu, nỗi đau, niềm khao khát thường được ẩn sâu hơn bên dưới lớp vỏ của ngôn từ. Đằng sau nỗi đau và thân phận con người, là hiện thực, chính là hiện thực mà Duras muốn nói đến.

Kết

Duras viết trong tác phẩm Viết:

"Văn chương, nó đến như cơn gió, nó trần trụi, nó là mực viết, nó là điều được viết ra, và nó trôi qua như không có bất kỳ điều gì khác trôi qua trong đời, không gì hơn, ngoài nó, cuộc sống."

Những điều ta thấy qua văn chương là những điều được viết ra, những điều có thể kể lại, và kể đi kể lại một câu chuyện, bằng nhiều cách khác nhau, thêm vào, bớt đi, trực diện hoặc né tránh, kể thật hoặc tưởng tượng, hoặc hoang tưởng, hoặc phân tách thành nhiều cái tôi trong vô thức, trong chấn thương, trong ẩn ức bị kìm nén. Còn trong cuộc đời, những nỗi đau câm lặng mà con người phải chịu đựng, đôi khi là những điều không được viết ra, hoặc không thể viết ra. Chính điều đó, một lần nữa Duras khẳng định trong tác phẩm Viết: "Viết văn cũng là không nói năng gì, là im miệng, là gào thét không thành tiếng". Điều này đã làm nên văn chương của điều không viết ra. Cô đơn, để rồi viết. Viết trong cô đơn. Viết nhưng không thể nói hết. Cô đơn, càng cô đơn sau khi viết, và vì thế nhà văn viết, viết mãi.

Chú thích:

(1) Pierre Soulages, Những phát ngôn về nghệ thuật. Fage éditions 2017.

(2) Khuynh hướng tiểu thuyết - Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX, Trần Hinh.

https://bitly.com.vn/c6bn5c

Những câu văn, đoạn văn in nghiêng trong bài được trích từ các tác phẩm:

Viết, Marguerite Duras, Trần Văn Công dịch. Nhã Nam và NXB Văn học năm 2010.

Người tình, Marguerite Duras, Lê Ngọc Mai dịch, Nhã Nam và NXB Văn học năm 2007.

Người tình Hoa Bắc, Marguerite Duras, Lê Hồng Sâm dịch, Bách Việt và NXB Văn Học, năm 1991.



viethoaiphuong
#626 Posted : Saturday, September 18, 2021 6:32:24 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

ABBA - Hành trình âm nhạc sau bốn thập niên

18/09/2021 - Gia Trình / RFI
Ban nhạc huyền thoại Thụy Điển, ABBA chính thức tái xuất trở lại sau 40 năm vắng bóng. Sức hút của Dancing Queen hay Mamma Mia vẫn là thỏi nam châm khổng lồ với khán giả hâm mộ. Album mới nhất có tên Voyage (Hành trình) sẽ trình làng vào tháng 11/2021, đồng thời, ABBA sẽ có buổi biểu diễn trực tiếp tháng 05/2022 tại Luân Đôn nhờ sự hỗ trợ tối tân của công nghệ.

Cỗ máy sản xuất những bản hit

ABBA hội tụ được nhiều điểm ưu việt mà hiếm có ban nhạc nào lập lại được kỳ tích như vậy. Thành lập từ năm 1972, bộ tứ làm rạng danh đất nước Thụy điển nhờ vào các sáng tác bằng tiếng Anh. Năm 1974, bản hit Waterloo giành chiến thắng cao nhất trên sân chơi âm nhạc Eurovision. Cú đột phá này mở ra cánh cửa danh vọng trên bình diện toàn cầu. Họ đóng góp cho kho tài nguyên âm nhạc bằng vô vàn ca khúc đi theo năm tháng. Trong thập kỷ 1970, sáu trong 7 bản hit của họ leo lên vị trí số 1 tại Bảng xếp hạng Anh Quốc gồm có Fernando, Mamma Mia, Dancing Queen, Knowing me Knowing you, Take a chance on Me. Ngoài các ca khúc nổi tiếng kể trên, nhóm còn có tới ba ca khúc đạt hạng 1 và hơn 19 ca khúc trong top 10 ca khúc được ưa thích.

Không chỉ âm nhạc, ban nhạc còn gây sự chú ý bởi hai cặp đôi: Lyngstad và Andersson, Faltskog và Ulvaeus. Đội hình cân bằng 2 nam, 2 nữ tạo nên sự khác biệt so với các ban nhạc nam giới lúc đó. Khá thú vị, Faltskog và Ulvaeus kết hôn vào năm 1971 cùng năm với cặp đôi Lyngstad và Andersson trao nhẫn đính hôn. Bất ngờ hơn, sau hơn 10 năm, cả hai cặp đôi cùng tuyên bố ly dị năm 1981. Bất chấp mâu thuẫn tình cảm, xung đột cá nhân, họ vẫn chung tay làm nên album cuối cùng năm 1981. Đáng chú ý là bản hít xuất sắc The Winner Takes It All (Người chiến thắng lấy đi tất cả) phơi bày được những trúc trắc tâm lý, cay đắng, cướp đi hàng triệu con tim khán giả. Ban nhạc chính thức tan rã vào năm 1983 mà không có tuyên bố chính thức.

Ảnh hưởng của ABBA tới các ban nhạc thời kỳ 1990-2000 vô cùng sâu sắc, đặc biệt như nhóm nhạc đồng hương Roxette. Giai điệu đẹp và cuốn hút luôn là kim chỉ nam cho những sáng tác của ABBA. Các bài hát của họ đều khác biệt và không nhàm chán nhờ lối hát bè ăn ý và phần phối khí bắt tai. Đặc biệt, hai thành viên nữ của nhóm tỏa sáng trên sân khấu và hai người bạn đời của họ lại chọn công việc “bếp núc” chuyên tâm sáng tác, phối khí. Ít người biết rằng, Ulvaeus và Andersson vẫn cùng hợp tác viết nhạc sau khi nhóm tan rã. Họ đã làm nên thành công của vở nhạc kịch Chess (Ván cờ) nhờ bản hit đình đám I know him so well (Tôi hiểu anh ấy quá rõ). Nếu thiếu bộ đôi Ulvaeus và Andersson, kho nhạc đồ sộ ABBA sẽ kém trọn vẹn.

Tin đồn tái hợp

Kể từ sau khi tan rã đến trước khi ra mắt Voyage, luôn có những tin đồn thất thiệt về việc ban nhạc sẽ tái hợp. Năm 2014, trả lời báo giới, Lyngstad từng nói “Chúng tôi chỉ có một câu trả lời là : Không. Tiền không thể khiến chúng tôi đổi ý. Có thể chúng tôi thỉnh thoảng nói rằng sẽ khá thú vị nếu hợp tác với nhau một ca khúc. Chỉ thu âm thôi và không có gì khác”.Hai năm sau, năm 2016, họ cùng chia lửa sân khấu để kỷ niệm 50 năm sự nghiệp sáng tác của Andersson và Ulvaeus. Ca khúc có tựa đề The Way Old Friends Do (Cách những người bạn tri kỷ thường làm) được chọn để trình diễn.

Bộ tứ Thụy Điển vẫn là bạn bè tri kỷ, ngay cả khi không còn là vợ chồng. Ulveus nói rằng “Thật khó tin chúng tôi có thể ở bên nhau. Không thể tưởng tượng được! Sau hơn 40 năm, chúng tôi vẫn là bạn bè thân thiết, ra mắt album nhạc mới. Liệu ai có thể trải nghiệm điều đó? ” Có lẽ không phải vì túng thiếu tiền mà là họ muốn lưu giữ kỷ niệm tình bạn đẹp nhất trên sân khấu và ngoài đời. Ông đã nói một lý do khiến người hâm mộ không khỏi ngỡ ngàng và xúc động: “Tại sao lại làm chung dự án này ư? Chúng tôi muốn hợp tác trước khi nhắm mắt lìa xa”.

Lý do tái hợp này càng thắp lửa mong mỏi của người hâm mộ bấy lâu nay. ABBA luôn đồng nghĩa là ký ức âm nhạc đẹp đẽ. Giá trị cốt lõi của nhóm chính là âm nhạc đẹp, tinh túy. Họ dành cho nhau những lời có cánh về thành quả hợp tác này. Andersson không chút do dự khi được hỏi về điều tuyệt vời nhất khi là thành viên ABBA: “Bạn chẳng bao giờ lo lắng về tiền bạc. Bạn hoàn toàn tự do làm thứ bạn muốn, chuyên tâm vào sáng tác nhạc”. Lyngstad, giọng nữ chính bộc bạch: “Chúng tôi hạnh phúc vì những gì mình làm, Andersson và Ulvaeus là những nhạc sỹ thiên tài”.

Họ sẽ biểu diễn live tại Luân Đôn (Anh Quốc) vào tháng 05/2022 để quảng bá cho album mới nhất Voyage. Tại sao không phải là Paris kinh đô ánh sáng hay thành phố châu Âu khác? Ulvaeus trả lời rằng “Khi nhắc đến giải trí, âm nhạc, nhà hát, Luân Đôn luôn là vị trí hàng đầu. Chúng tôi luôn cảm nhận rằng người Anh chào đón chúng tôi nồng nhiệt nhất”.

Quả thực nước Anh chưa bao giờ hết yêu mến ABBA. Tuyển tập các bản hit ABBA Gold ra mắt năm 1992 nắm giữ kỷ lục 1.000 tuần trên bảng xếp hạng âm nhạc xứ sở sương mù. Vở nhạc kịch Mamma Mia xây dựng trên nền nhạc ABBA được công chiếu lần đầu tại Anh năm 1999, giờ vẫn là show diễn ăn khách. Sức hấp dẫn của nhạc kịch Mamma Mia còn lan tỏa sang phim cùng tên Hollywood tạo nên cơn sốt phòng vé khắp toàn cầu.

Hành trình âm nhạc và kỹ xảo hiện đại

ABBA sớm tung ra 2 đĩa đơn đầu tiên trích từ album mới. Ca khúc I still have faith in you (Em vẫn đặt niềm tin ở anh) là một bản ballad có giai điệu vô cùng tươi sáng. Bài hát có tempo chậm rãi và thông điệp tình yêu rất truyền cảm. Bên cạnh đó, ca khúc Don’t shut me down (Đừng ngăn cản em) có tiết tấu nhanh hơn, khỏe khoắn hơn. So với bốn thập niên trước, yếu tố tuổi tác phản ánh rất rõ trên khuôn mặt, giọng ca và khả năng trình diễn của họ. Nhưng thời gian không làm suy xuyển được nhạc cảm và giai điệu chuẩn mực kiểu ABBA. Thú vị hơn, ban nhạc bật mí rằng trong album mới ra mắt tháng 11, sẽ kèm theo một ca khúc Giáng sinh.

Khi bước sang tuổi 80, họ phải biểu diễn trước hơn 3.000 khán giả với thể lực giảm sút hơn so với 40 năm trước. Yếu tố công nghệ sẽ giúp ích rất nhiều trong các buổi trình diễn trực tiếp giữa năm sau. Phiên bản digital điện tử của ABBA được sử dụng công nghệ lưu trữ chuyển động như kỹ xảo Hollywood. Các thành viên mặc bộ quần áo bó sát để ghi hình chuyển động. Công ty kỹ xảo phim ảnh của George Lucas sẽ chế tác ra avatar trẻ hóa của nhóm trong đoạn video. Công nghệ này khác hẳn với hologram, không sử dụng video clip cũ để tạo phiên bản ảo biểu diễn trên sân khấu. Thành viên của nhôm Anderson nói rằng “Nhờ sự trợ giúp phiên bản ABBA được trẻ hóa, chúng ta sẽ cùng du hành vào tương lai”. Giờ đây, ABBA không chỉ là ký ức âm nhạc đẹp nhất, mà là hành trình xuyên thời gian của âm nhạc đỉnh cao.

(Theo Guardian, AllMusic)



Vì sao trang phục ban nhạc ABBA lại kỳ quặc đến như vậy ?

11/03/2014 - Đức Tâm / RFI
Nếu ABBA là một ban nhạc huyền thoại đi vào lịch sử âm nhạc, với những bài hát lừng danh thế giới, như Mamma Mia, Dancing Queen, Waerloo…thì trang phục trên sân khấu của nhóm này, theo giới chuyên gia thời trang, cũng nổi tiếng không kém vì quá lòe loẹt, phô trương, chẳng giống ai.

Nhân kỷ niệm bốn mươi năm sau khi đoạt giải ở cuộc tranh tài Eurovision, ABBA cho ra mắt cuốn album ảnh « Super Trouper’ collector’s edition of ABBA – The Official Photo Book ». Trên nhật báo Daily Mail, ngày 15/02/2014, nhóm này mới tiết lộ thông tin vì sao bốn thành viên lại ăn mặc kỳ quặc như vậy : Đó là để phải trả ít thuế hơn.

Bởi vì hệ thống thuế Thụy Điển cho phép trừ chi phí trang phục nghề nghiệp trong tổng thu nhập phải khai để tính mức thuế, với điều kiện là những trang phục này rất đặc biệt, khác lạ, đến mức không thể mặc để ra ngoài đường, trong các sinh hoạt hàng ngày. Chính vì thế, ABBA đã cho may những bộ trang phục biểu diễn kỳ cục như vậy.

Khoản tiền tiết kiệm được này quả là quá ít ỏi so với mức thu nhập có được qua việc bán tới 380 triệu đĩa hát trên thế giới của nhóm ABBA.

Chính Björn Ulvaeus, người chơi đàn ghi ta trong nhóm thừa nhận : « Không một ai có thể mặc biểu diễn trên sân khấu xấu hơn chúng tôi vào thời đó. Theo thiển ý của tôi, vào thời đó, chúng tôi có vẻ điên khùng ». Vẫn theo lời ca sĩ này, « chúng tôi đã nghĩ rằng với trang phục như vậy, mọi người sẽ nhớ đến chúng tôi ».

Dường như chuyện thuế khóa ám ảnh nhóm ABBA. Báo Pháp Le Parisien cho biết, năm 2007, Björn Ulvaeus đã bị cáo buộc không nộp 85 triệu couronne, tương đương 9,7 triệu euro, tiền thuế, sau những vụ trốn thuế liên tiếp trong giai đoạn 1999 – 2005. Cuối cùng, tư pháp Thụy Điển cũng tha bổng ca sĩ này.

Tạp chí L’Express cho biết là các quy định về thuế liên quan đến trang phục nghề nghiệp vẫn có hiệu lực tại Thụy Điển. Cuối năm 2013, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trinh thám Camilla Läckberg đã bị truy thu thuế. Bởi vì, bà đã mua quần áo trong các cửa hiệu thời trang Zara, nhưng lại khai đó là tiền mua trang phục nghề nghiệp.

Về album ảnh The Official Photo Book của ABBA, tập ảnh được thực hiện với sự hợp tác của cả bốn thành viên ban nhạc là Björn, Benny, Frida và Agnetha, được phát hành vào tháng 03/2014 tại hơn 20 quốc gia, để kỷ niệm 40 năm nhóm ABBA giành được giải Eurovision. Album được phát hành hạn chế, chỉ có 5000 bản, được đánh số, có 460 trang với hơn 600 bức ảnh, trong đó có khoảng 100 bức chưa từng được công bố.

Ca sĩ Frida cho biết cô thích tất cả những tấm ảnh và có một số ảnh lần đầu tiên cô nhìn thấy.

viethoaiphuong
#627 Posted : Tuesday, September 21, 2021 12:16:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

New York mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway

20/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Sau hơn 18 tháng đóng cửa, rốt cuộc sân khấu nhạc kịch Broadway đã được mở lại hôm 14/09/2021 tại Manhattan, New York, Mỹ. Trong những ngày đầu tiên, các nhà hát xung quanh quảng trường Times Square đã chật kín chỗ ngồi. Còn khán giả nào chưa có vé thì vẫn chịu khó đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để mua vé đi xem nhạc kịch, thường là các vở diễn trong ngày hay hôm sau.

Theo ghi nhận của tạp chí chuyên ngành kịch nghệ Playbill, kể từ khi mở cửa đón khán giả trở lại, các vở kịch như ''Chicago'', ''Vua sư tử'' hay ''Aladdin và cây đèn thần'' đều đã bán sạch vé trong ba ngày đầu tiên. Nhưng vở nhạc kịch ăn khách nhất vẫn là vở ''Hamilton'', kể lại cuộc đời của Alexander Hamilton, xuất thân là một cậu bé mồ côi di cư, lớn lên làm trợ lý cho sĩ quan chỉ huy George Washington, sau này trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên (1789-1797). Sau thời kỳ ''nội chiến'', ông Hamilton hành nghề luật sư và có công trong quá trình lập quốc Hoa Kỳ.

Hamilton, Aladdin, Chicago : Các vở kịch nổi tiếng đều hết chỗ

Vở nhạc kịch ''Hamilton'' được diễn tại nhà hát Richard Rodgers, nằm ngay bên cạnh khách sạn Marriott Marquis và kể từ hôm 14/09, mặt tiền của nhà hát vào mỗi suất diễn đều có đông người tụ tập. Cảnh tượng chen chúc đó đã hoàn toàn thiếu vắng trong vòng một năm rưỡi do đại địch Covid-19, khi các nhà hát kịch Broadway dọc con đường số 46th ít còn lên đèn vào mỗi buổi tối, phố xá trung tâm Manhattan càng vắng lặng khiến khung cảnh tiêu điều hơn ngay cả vào những ngày cuối tuần.

Với việc mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway, thành phố đã New York đã thực hiện bước đột phá ngoạn mục trong việc nối lại với đời sống văn hóa, cho dù cơ hội phục hồi vẫn còn khá mong manh trước mối đe dọa của biến thể Delta. Dù vậy, đa số người dân Manhattan cảm thấy ấm lòng khi được nhìn lại các sinh hoạt thân quen thường ngày, sau các viện bảo tàng và rạp chiếu phim, nay đến lượt các nhà hát và các rạp kịch thu hút đông đảo khán giả trở lại, ít ra đám đông đứng xếp hàng chờ nhà hát mở cửa đủ để che kín vỉa hè Broadway, giữa lòng thành phố New York.

Theo đánh giá của mạng thông tin Broadway Shows, thật là một tin vui khi có khá nhiều vở nhạc kịch đã không còn vé để bán trong những ngày đầu, do đa số khán giả đã mua vé từ lâu, hy vọng rằng tình trạng đắt khách này sẽ tiếp tục kéo dài, chứ không phải là nhất thời, do ngành sân khấu Broadway nói riêng, ngành văn hóa ở Mỹ nói chung đã hứng chịu khá nhiều thiệt thòi. Thiệt hại kinh tế được ước tính đến hàng tỷ đô la.

Sân khấu Broadway mất 2,4 tỷ đô la sau 18 tháng đóng cửa

Hội đồng thành phố New York cũng thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy việc mở lại các nhà hát xung quanh phố Broadway đã diễn ra một cách tốt đẹp, đúng theo lịch trình ấn định từ hồi mùa xuân năm 2021. Sân khấu nhạc kịch cùng với các nhà hát lớn của thành phố là mảng sinh hoạt văn hóa cuối cùng được mở lại, chỉ một ngày sau khi Viện bảo tàng Metropolitan tổ chức thành công đêm dạ hội Met Gala nhằm gây quỹ từ thiện thường niên.

Đêm Met Gala đã quy tụ hàng trăm nhân vật tên tuổi trong làng thời trang, ca nhạc, điện ảnh, bước lên thềm đá trắng trong muôn ngàn kiểu áo dạ hội lấp lánh sắc vàng, rực rỡ hào quang. Thành công của buổi dạ hội sẽ mở đầu cho một loạt sự kiện quan trọng khác, mà thành phố New York rất cần để thu hút khách du lịch quốc tế trở lại, sau một thời gian khá dài buộc phải hạn chế việc đi lại.

Việc mở lại đa số các sinh hoạt văn hóa chỉ có thể được tiến hành với việc tôn trọng các quy định giãn cách xã hội cũng như về mặt chích ngừa. Tất cả các khán giả muốn vào xem nhạc kịch đều phải trình giấy chứng nhận tiêm chủng, cũng như toàn bộ giới nhân viên (kể cả những người không có tiếp xúc trực tiếp với công chúng), từ nghệ sĩ, chuyên viên kỹ thuật, hay nhân viên quầy vé đều phải chích ngừa nếu muốn làm việc trở lại. Khán giả cũng buộc phải đeo khẩu trang trong suốt buổi diễn và ngay cả trong giờ ''giải lao'', nếu buổi diễn kéo dài hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ.

Trong suốt mùa Covid-19, ngành sân khấu nhạc kịch Broadway đã mất khoảng 2,4 tỷ đô la doanh thu. Vào năm 2019, tính trung bình, các nhà hát Broadway thu về 33 triệu đô la mỗi tuần. Tựa như một lá phổi kinh tế, sân khấu Broadway chẳng những tạo nhiều việc làm, mà còn là nguồn thu hút du khách từ khắp nơi đổ về, đem lại lợi nhuận cho các ngành phục vụ như chuyên chở, ẩm thực hay lưu trú.

Vì thế, đà phục hồi từng bước của New York rất quan trọng, cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa. Cho tới giờ, Manhattan vẫn còn thiếu rất nhiều khách du lịch nước ngoài, tương đương với 2/3 số khán giả đi xem nhạc kịch Broadway. Nguồn khách quốc tế này lệ thuộc nhiều vào việc tái lập các tuyến hàng không dân dụng, và hiện thời du khách Pháp nói riêng và du khách châu Âu vẫn chưa được quyền đặt chân trở lại nước Mỹ.

Những dấu hiệu đáng mừng cho đà phục hồi của Broadway

Dù vậy, các nhà sản xuất vẫn giữ niềm lạc quan, vì kể từ mùa xuân năm 2021, hội đồng thành phố New York đã đầu tư vào các chiến dịch vận động thông tin hầu thu hút thêm nguồn khách nội địa đến New York. Theo mạng thông tin Broadway Shows, có hai dấu hiệu cho thấy du khách nội địa đang gia tăng.

Khi nhìn vào mã bưu chính của những người đặt mua vé đi xem nhạc kịch trên mạng internet, hơn một nửa số khán giả đến từ các bang dọc Đại Tây dương, tức bờ Đông Hoa Kỳ. So với năm 2019, trước khi có dịch Covid-19, lượng khán giả đến từ các bang này có phần gia tăng hay ít ra họ đi xem kịch Broadway thường xuyên hơn. Ngay cả những tác phẩm được mở lại trong tuần này như vở kịch ''Come from Away'', nói về đợt khủng bố ngày 11/09, cũng đã bán sạch vé từ nhiều tuần trước.

Dấu hiệu đáng mừng thứ nhì là các quầy bán vé giờ chót lúc nào cũng đông khách, kể từ khi hoạt động trở lại. Được thành lập từ năm 1973, các quầy bán vé TKTS là một truyền thống của New York. Thành phố này có 3 quầy vé như vậy, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quầy vé TKTS tại quảng trường Times Square, tọa lạc trong toà nhà mái đỏ với cầu thang ở trên nóc mà bất cứ du khách nào từng ghé chân viếng thăm Manhattan đều đã chụp hình kỷ niệm ít nhất một lần trong đời. Quầy bán vé này nằm ở góc đường 47th với đại lộ Broadway và chủ yếu bán vé giờ chót cho các buổi biểu diễn nội trong ngày. Nếu muốn mua cho những ngày hôm sau, thì khách nên ghé quầy vé ở South Street Seaport hay là Downtown Brooklyn

Tại quảng trường Times Square, hình ảnh tượng trưng đầu tiên cho việc mở lại sân khấu Broadway chính là dòng người rồng rắn xếp hàng bên quầy vé, hy vọng tìm được một tấm vé giờ chót cho các show trong ngày. Vé xem kịch Broadway không phải là rẻ, ngay cả khi có giảm giá, tính trung bình vé giờ chót của các vở nhạc kịch nổi tiếng là trên 100 đô la. Cho dù đắt, nhưng trong thời gian đầu, có lẽ mức cầu vẫn cao hơn mức cung.

Việc đóng cửa Broadway trong vòng một năm rưỡi đã tạo ra sự mong chờ rất lớn nơi giới hâm mộ. Hy vọng rằng cơn sốt ấy sẽ giúp khởi động lại một trong những guồng máy quan trọng nhất của làng giải trí, nơi biến hóa những ý tưởng "điên rồ" thành giấc mơ sân khấu khổng lồ.


viethoaiphuong
#628 Posted : Wednesday, September 22, 2021 6:00:06 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

K-Pop: Ngành công nghiệp hái ra tiền của Hàn Quốc

22/09/2021 - Nguyễn Hương / RFI
Trong thời đại của Youtube và các ứng dụng nghe nhạc trực tuyến, K-Pop hiện là một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la. Gần đây, Billboard công bố nhóm nhạc nổi tiếng BTS là một trong 5 ngôi sao âm nhạc kiếm nhiều tiền nhất thế giới năm 2020, với doanh thu khoảng 31,5 triệu đô la.

Theo thống kê thị trường âm nhạc Mỹ nửa đầu năm 2021 của MRC Data cho Billboard, BTS đã bán được 573.000 đĩa CD và trở thành nghệ sĩ bán được nhiều album CD nhất tại Hoa Kỳ. Album bán chạy nhất tại Hàn Quốc tính đến năm 2021 là Map of the Soul: 7 của nhóm nhạc nam này, với 4,1 triệu bản được bán ra trong vòng chưa đầy một tháng. BTS cũng là nghệ sĩ sở hữu nhiều album bán được hơn 1 triệu bản nhất, với 9 album.

Công ty HYPE quản lý của BTS đã trở thành công ty có lợi nhuận ròng cao nhất trong quý II/ 2021, lên tới 20,2 tỷ won (khoảng 17 triệu đô la). Lợi nhuận được BTS mang về cho công ty chủ yếu từ việc bán album, biểu diễn, các chương trình trực tuyến được phát trên khắp thế giới và các hợp đồng quảng cáo trị giá hàng triệu đô.

BTS không chỉ nổi tiếng với 7 nam ca sĩ trẻ đẹp, hay những màn trình diễn sôi động, mà còn nhờ vào thông điệp khích lệ trong nhiều bài hát, như nhận định của Nguyên, một du học sinh Việt Nam theo học thạc sĩ quản trị kinh doanh văn hóa nghệ thuật tại Hàn Quốc :

“Tôi là một người hâm mộ lớn đối với K-Pop và đặc biệt là nhóm BTS, bởi vì BTS là nhóm nhạc có nhiều bài hát mang ý nghĩa tích cực và truyền cảm hứng cho tôi và tôi nghĩ đó chính là một trong những yếu tố giúp BTS phát triển không chỉ ở Hàn Quốc, mà còn trên toàn thế giới. Tôi nghĩ là đối với nền công nghiệp K-Pop đang được đào tạo bài bản và thành công như hiện nay, thì trong tương lai K-Pop sẽ không chỉ gói gọn ở trong khu vực châu Á, mà còn lớn hơn ở các khu vực khác trên toàn thế giới, giống như sự phát triển của nền âm nhạc US và UK”.

Sức ảnh hưởng của sao K-Pop đến thời trang

K-Pop không chỉ là âm nhạc, K-Pop còn là khởi nguồn của những xu hướng thời trang mới cho giới trẻ: từ quần áo, phụ kiện cho tới cách trang điểm. Thần tượng “Idol” và nghệ sĩ K-Pop là nguồn khai thác cho các hãng thời trang, từ xa xỉ tới bình dân, để quảng cáo cho thương hiệu của họ tới thị trường người hâm mộ K-Pop. Chỉ cần được xuất hiện trên phương tiện truyền thông xã hội, các món đồ mà thần tượng sử dụng, dù là trên sân khấu hay ở sân bay, đều được người hâm mộ lùng mua.

Ví dụ như Rosé, thành viên của BlackPink và là gương mặt đại diện cho các chiến dịch quảng bá toàn cầu của hãng thời trang và mỹ phẩm Yves Saint - Laurent, hay thương hiệu trang sức Tiffany&Co. Nhờ Rosé mà Yves Saint - Laurent trở nên phổ biến hơn rất nhiều tại thị trường châu Á - một thị trường mới đầy tiềm năng mà các ông lớn ngành thời trang đều tìm cách khai thác. Theo tạp chí The Glossary, chiến dịch quảng bá toàn cầu của Rosé là một trong những chiến dịch ấn tượng nhất mùa thu 2020.

Jungkook - thành viên nhỏ tuổi nhất của BTS - được fan đặt cho biệt danh “Vua bán chạy” nhờ vào khả năng làm cho tất cả các sản phẩm mà anh dùng đều được bán hết veo. Ví dụ, khi tương tác trong buổi phát sóng trực tiếp trên VLive với người hâm mộ ngày 27/02/2021, Jungkook uống trà Kombucha của thương hiệu Teazen. Ngay sau đó, doanh số bán trà của Teazen tăng 500% nhờ người hâm mộ của Jungkook. Kho nước uống Kombucha cũng được bán hết sạch chỉ trong ba tháng. Và Teazen giành giải Thương hiệu của năm 2021.

K-Pop : Niềm tự hào của dân Hàn Quốc

Nhờ sức ảnh hưởng của K-Pop mà nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng một cách đáng kể. K-Pop trở thành một hiện tượng mới ở các nước phương Tây nhờ ca sĩ PSY và bài hát nổi tiếng Gangnam Style năm 2012. Điệu nhảy “cưỡi ngựa” phổ biến khắp thế giới và giúp PSY thu về 8 triệu đô la từ Youtube. Hiện nay, nhiều ông lớn trong ngành giải trí Hàn Quốc đã góp mặt trong danh sách tỷ phú đô la của tạp chí Forbes. SM Entertainment, YG Entertainment, HYPE Corp và JYP Entertainment được coi là bốn công ty giải trí lớn của Hàn Quốc. Năm 2019, làn sóng văn hóa Hàn Quốc như K-Pop, phim truyền hình đã đóng góp khoảng 12,3 tỷ đô la cho nền kinh tế nước này.

Không phải ngẫu nhiên mà K-Pop nổi tiếng toàn cầu như hiện nay. Vào cuối những năm 1990, khi châu Á đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính lớn, các nhà lãnh đạo Hàn Quốc quyết định sử dụng âm nhạc và điện ảnh để xây dựng hình ảnh văn hóa riêng. Chính phủ Hàn Quốc đã lập một ban chuyên về K-Pop và thực hiện nhiều chính sách phổ biến và cổ vũ yêu thích K-Pop, như đổi mới công nghệ hình ảnh, xây dựng phòng nhạc lớn và thậm chí điều hành các quán karaoke... Mục tiêu là để K-Pop trở lên phổ biến hơn nữa trên toàn cầu, tương tự như văn hóa Mỹ.

Là một công dân Hàn Quốc, Jieun đã trả lời một cách đầy tự hào khi nói về tầm ảnh hưởng của K-Pop :

“Hình ảnh thương hiệu quốc gia của Hàn Quốc đã được phổ biến hơn nhiều nhờ K-Pop. Càng ngày càng có nhiều người nước ngoài quan tâm hơn đến việc học ngôn ngữ Hàn Quốc, và K-Pop cũng đã được quảng bá khắp thế giới. K-Pop còn khai thác rất nhiều hướng đi mới để đóng góp phát triển cho nền công nghiệp”.

Đằng sau ánh hào quang

Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, việc đào tạo các ngôi sao K-Pop cũng được ban thành luật và điều hành hết sức nghiêm túc. “Idol” là từ chung để chỉ các nghệ sĩ hoạt động trong ngành công nghiệp K-Pop. Có hàng triệu người khao khát được trở thành “idol” ở Hàn Quốc, nhưng để làm được thì không hề dễ dàng.

Độ tuổi của các “idol” khi được ra mắt công chúng là vào khoảng cuối độ tuổi 10 và đầu độ tuổi 20 vì vậy các thực tập sinh thường rất trẻ. Khi đã trở thành thực tập sinh của một công ty giải trí, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, như tập luyện vất vả, trong khi được trợ cấp ít ỏi và phải sống xa gia đình. Nếu được nhận vào một công ty giải trí có tiếng thì các bạn trẻ sẽ được đào tạo miễn phí thanh nhạc, vũ đạo và diễn xuất. Công ty sẽ có những bài kiểm tra hàng tháng để đánh giá năng lực của học viên và sẽ quyết định, lựa chọn những thực tập sinh sáng giá để cho ra mắt.

Thời gian tập luyện có thể phải kéo dài từ vài tháng cho tới vài năm, nhưng không chắc các bạn thực tập sinh có thể được ra mắt với tư cách là một “idol”. Một số người đã phải từ bỏ ước mơ trở thành “idol” khi bước sang tuổi 20, vì quá tuổi, dù họ đã dành hết thanh xuân cho việc tập luyện. Thời gian đầu ra mắt, mọi thu nhập đến từ hoạt động của các nghệ sĩ sẽ được công ty giữ lại để chi trả cho việc đào tạo của “idol” đó khi còn là thực tập sinh. Có rất nhiều công ty không đủ điều kiện về tài chính đã bỏ ra một số tiền lớn để đào tạo “idol”, rồi sau đó vẫn phải để nhóm nhạc tan rã vì thu nhập của nhóm không đủ để bù lại vào đầu tư ban đầu.

Tuy nhiên, đằng sau ánh hào quang, nhiều “idol” phải đối mặt với nhiều khó khăn, như hợp đồng nô lệ, quấy rối tình dục, đời tư bị kiểm soát và hầu như mất tự do trong cuộc sống. Đó là mặt tối khác của ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc. Do vậy, những năm gần đây, tỉ lệ tự tử hoặc mắc các bệnh về tâm lý của idol K-Pop ngày càng tăng.

Cuộc truy quét văn hóa K-Pop tại Trung Quốc

“JIMINBAR”, tài khoản Weibo fanclub Trung Quốc của ca sĩ Jimin trong ban nhạc BTS Hàn quốc bị cấm đăng bài trong vòng 60 ngày vì “gây quỹ bất hợp pháp” khi kêu gọi quyên góp để đưa hình ảnh của nam ca sĩ 9X trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Jeju Air.

Thực ra, sao Hàn bị vạ lây trong chiến dịch "thanh lọc" ngành giải trí Trung Quốc, cũng là cái cớ để tiếp tục hạn chế văn hóa Hàn Quốc, được chính quyền Bắc Kinh chủ trương từ năm 2016.

Ngoài “JIMINBAR”, có khoảng 22 tài khoản mạng xã hội Sina Weibo khác của người hâm mộ K-Pop tại Trung Quốc đã bị khóa vì theo đuổi thần tượng “không lý trí”. Việc “cấm ngôn” một fanlcub của Jimin được cho là cái cớ nằm trong chiến dịch loại sao nam “yểu điệu”, để “nhấn mạnh đến văn hóa truyền thống Trung Quốc, văn hóa Cách mạng và văn hóa xã hội chủ nghĩa”, theo một hướng dẫn của Tổng cục Quảng bá Phát thanh Truyền hình Trung Quốc đầu tháng 09/2021.

Chính sách mới của Bắc Kinh đã buộc Seoul phải lên tiếng, nhưng đại sứ Trung Quốc ở Hàn Quốc trấn an là “không nhắm cụ thể đến bất kỳ quốc gia nào”. Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới, giúp cho các sao Hàn duy trì được độ nổi tiếng và có lực lượng fan đông đảo, hoạt động mạnh và chịu chi, dù K-Pop và Làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) ngày càng khẳng định được vị trí trên thế giới, không chỉ về mặt âm nhạc, phim ảnh và còn về thời trang và phong cách sống.



viethoaiphuong
#629 Posted : Saturday, September 25, 2021 4:21:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Paris tổ chức chương trình vinh danh Johnny Hallyday

25/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn 3 năm sau khi vĩnh biệt cuộc đời, giọng ca của Johnny Hallyday lại vang lên hôm 14/09/2021 vừa qua, tại nhà hát Accor Arena, Paris (sân khấu Bercy cũ). Vóc dáng rocker số 1 của Pháp lại xuất hiện trên màn ảnh lớn, đi kèm với một dàn nhạc giao hưởng. Với sự hỗ trợ của Tòa Đô chính Paris, nhạc trưởng Yvan Cassar cùng với Læticia Hallyday, vợ của nam danh ca quá cố, tổ chức một buổi trình diễn tưởng niệm nhằm gây qũy chống bệnh ung thư.

Lấy lại tựa đề ‘‘Que je t’aime’’, một bài hát rất ăn khách trước đây của Johnny Hallyday, đêm trình diễn đã được tổ chức trong khuôn khổ một chương trình hoành tráng, trong đó có lễ khai trương một quảng trường mang tên thần tượng nhạc rock, ngay bên cạnh nhà hát Accor Arena, quận 12 Paris vào buổi sáng 14/09. Sở dĩ nơi này được chọn là vì lúc còn sống, Johnny từng nắm giữ kỷ lục biểu diễn trên sân khấu này đến 101 lần.

Đàn ghita và xe môtô : hai biểu tượng của rocker số 1

Cũng trên quảng trường này, Paris đã làm lễ khánh thành một bức tượng cao 6 thước của nhà điêu khắc người Pháp Bertrand Lavier. Pho tượng này kết hợp cây đàn ghi ta Gibson với một chiếc xe môtô Harley Davidson, hai biểu tượng quan trọng, nếu không nói là gắn liền với cuộc đời của thần tượng nhạc rock Johnny Hallyday : sự nghiệp âm nhạc và hành trình xuyên Hoa Kỳ tựa như một tác phẩm điện ảnh ‘‘road movie’’.

Nếu như cả hai sự kiện này đều đi kèm với phần biểu diễn của 5 nhạc sĩ chơi lại các bài hát của Johnny Hallyday, thì quan trọng nhất trong chương trình sinh hoạt vẫn là đêm trình diễn 14/09 tưởng niệm thần tượng Johnny Hallyday. Trên sân khấu, người dẫn chương trình chính là Michel Drucker, ngoài đời là bạn thân của Johnny, hai người chỉ cách nhau có một tuổi. Một cách cảm động, Laeticia và Michel Drucker đã gợi lại những kỷ niệm với Johnny, trong khi phần biểu diễn triệu tập một dàn nghệ sĩ cực kỳ hùng hậu : phía nữ có các tiếng hát như Catherine Ringer (bài Gabrielle), Louane (bài Diego), Nolwenn (Chanteur abandonné) hay Jenifer, còn các giọng ca nam có Slimane, Calogero, tam ça Florent Pagny, Patrick Bruel và Patrick Fiori (ca khúc Vivre pour le Meilleur) hay Christophe Maé (Je te promets).

Đa số các nghệ sĩ này có một điểm chung : họ đã từng tham gia nhiều album vinh danh Johnny Hallyday, do hãng đĩa Universal phát hành từ cuối năm 2017 cho tới nay. Đổi lại, hai người con lớn là Laura Smet và David Hallyday cũng như người vợ đầu tiên của Johnny là Sylvie Vartan đều vắng mặt trong chương trình tưởng niệm nam danh ca Johnny Halyday.

Tầm ảnh hưởng của Johnny đối với thế hệ đàn em

Cũng như nam ca sĩ Kendji đã nói (trên sân khấu anh hát bài "L'envie"), giới nghệ sĩ trẻ của Pháp thời nay đã học hỏi rất nhiều từ thần tượng nhạc rock. Bản thân anh từ thời còn nhỏ đã nghe rất nhiều bài hát của Johnny Hallyday, để rồi học cách phát huy nội lực, tập trung sức mạnh vào giọng ngực để rồi phóng ra như một mũi tên bắn trúng vào tim. Đó chính là sở trường của Johnny, ngay cả trong những nốt nhạc cao nhất, nam danh ca này luôn hát với giọng ngực, ít khi nào dùng giọng kim hay giọng óc, có lẽ cũng vì thế mà chất giọng của Johhny thường hợp với những bản nhạc hùng hồn, những giai điệu dũng mãnh … tung hoành trên sân khấu khổng lồ giữa sân vận động dành cho hàng chục ngàn khán giả.

Nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ phiên bản tiếng Pháp của bài hát nổi tiếng ‘‘The House of the Rising Sun’’ có thể minh họa cho sở trường hát toàn giọng ngực của danh ca quá cố. Bài hát này được trích từ album vừa được phát hành trong tuần này mang tựa đề ‘‘Johnny Hallyday : Acte II’’. Tập nhạc này là album thứ nhì trong đó các bài hát của Johnny đã được phối lại với dàn nhạc giao hưởng, dưới sự chỉ đạo của Yvan Cassar.

Album rock giao hưởng thứ nhì của Johnny

Sau khi thành công với tập nhạc giao hưởng đầu tiên (Acte I) với hơn nửa triệu album bán chạy vào giữa năm 2019, nhạc trưởng Yvan Cassar lần này đã chọn ra 12 bài hát của Johnny (những bài ít ghi âm trong studio mà chỉ hát trên sân khấu) để rồi từ đó thực hiện những bản phối khác nhau. Có thể chia các bản nhạc này thành hai loại : lối hòa âm rất mộc, giọng ca chỉ được đệm với tiếng đàn ghi ta thùng, chẳng hạn như bản nhạc ‘‘Love Me Tender’’ mà Johnny đã hát trên sân khấu để bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Elvis Presley. Bên cạnh đó, còn có các bài hát được hòa âm như nhạc phim, đặc biệt các đoạn cao trào hoành tráng phối với nguyên một bộ đàn dây.

Riêng trong nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ hay bài hát ‘‘Je te Promets’’, nhạc trưởng Yvan Cassar cho biết là lúc sinh tiền Johnny Hallyday rất mê xem phim của đạo diễn người Ý Sergio Leone, vì thế từ lâu ông đã có ý tưởng đưa không khí nhạc phim cao bồi của Sergio Leone vào trong các bài hát của Johnny Hallyday, lối hòa âm trùng trùng lớp lớp gợi lên khung cảnh trời xanh bao la, đồi núi hùng vĩ, sa mạc mênh mông.

Khi nam danh ca còn sống, trong cuộc hành trình cuối cùng của đoàn biker xuyên đất Mỹ, từ New Orleans đến Los Angeles, Johnny Hallyday xuất hiện trong phim tài liệu "À nos promesse : Le Dernier Voyage" vào tháng 09/2016. Trong hành trình trên các vùng đất hoang vu, Johnny Hallyday ngồi trên một chiếc môtô Harley Davidson, tựa như cưỡi ngựa phi về cuối chân trời, nơi ông tìm được niềm vui ngàn đời, rong chơi tự do kiếp người.


viethoaiphuong
#630 Posted : Sunday, September 26, 2021 4:23:02 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Marc Riboud, kẻ đứng bên lề hay người nhập cuộc ?

26/09/2021 - Tưởng An / RFI
Bất cứ ai lang thang rảo qua từng bức ảnh trong cuộc triển lãm mang tên « Marc Riboud, những câu chuyện khả thể » (Marc Riboud, les histoires possibles), trưng bày tại Bảo tàng Viện Châu Á Guimée, quận 16 Paris, từ ngày 19/5 đến ngày 06/09/2021, cũng sẽ sựng lại khi tình cờ bắt gặp vài nét thân quen của chính quê hương mình.

Vì vậy chắc chắn không người Việt Nam nào không xúc động khi nhìn thấy Huế tang thương qua ống kính của nhiếp ảnh gia Marc Riboud – người tự cho mình là một kẻ đứng bên lề, nhưng thật ra đã dấn thân nhập cuộc vào từng nhịp thở của con người ở những nơi ông cố ý hay vô tình đi qua.

Trong tiếng Pháp, từ « histoire » mang hai ý nghĩa : Câu chuyện và Lịch sử. Cuộc triển lãm mang đậm dấu ấn thời gian : những hình ảnh ông thực hiện trong vòng gần 50 năm từ năm 1952 đến năm 1969, từ những chuyến đi xuyên lục địa, từ nước Pháp, Châu Âu, nơi ông sinh ra, đến Châu Á, Việt Nam.

Ai đã từng biết đến Henri-Cartier Bresson và Robert Capa sẽ hiểu ảnh hưởng từ hai nhiếp ảnh gia bậc thầy này. Bresson nổi tiếng với các bức ảnh nghệ thuật Siêu Hiện Thực và cả chính trị. Capa được biết đến như một ống kính chiến tranh, nhất là các hình ảnh do ông chụp về cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1936.

Marc Riboud đã chụp khoảng 50.000 bức hình phóng sự các loại. Cuộc triển lãm lần này giới thiệu 200 bức ảnh tiêu biểu nhất của ông. Trong đó, bức « Người thợ sơn tháp Eiffel » đã từng làm ông nổi tiếng. Hình chụp người đàn ông đang sơn lại tháp Eiffel, một tay cầm cọ, miệng ngậm điếu thuốc, tư thế như thể anh đang khiêu vũ trên cao. Bức hình được đăng ở tạp chí « Đời Sống » (Life) năm 1953.

« Tôi chụp hình như một nhạc sĩ đang hát nghêu ngao. Nhìn thấy, có nghĩa là được sống, là được thở, và mọi tình cờ đều mang đến cho tôi niềm vui » - vợ của ông, bà Catherine Riboud kể lại. Bức ảnh này đã đưa ông vào Agence Magnum, được thành lập bởi Bresson và Capa, nơi chuyên sưu tầm, lưu trữ và vinh danh quảng bá hình ảnh phóng sự. Chỉ những nhiếp ảnh gia có tay nghề cao mới được có tên ở Magnum, bởi sự tuyển chọn rất khắt khe. Magnum đưa ông lên cao từ đó. Vì quá yêu nhiếp ảnh, ông đã thôi không làm việc như một kỹ sư trong xưởng thợ tại Villeurbanne (gần Lyon nơi ông sinh ra), để dành hết thời gian và cả cuộc đời còn lại cho nhiếp ảnh.

Người xem triển lãm như được dịp đi du ngoạn tại chỗ qua nhiều quốc gia, bắt đầu từ thành phố Lyon của Pháp vào những năm 1940, tiếp theo là Anh, rồi Afghanistan, Iran, bay đến tận Hàn Quốc, Nhật Bản, vòng qua Cam Bốt, Việt Nam, sang Mỹ, rồi về Cuba… Người xem được chứng kiến những giai đoạn lịch sử và hình ảnh đặc trưng của từng nước, từng dân tộc. Cách ông bấm máy không bao giờ ở vị trí của người phê bình hay chỉ trích, mà đặt người nhìn ngang tầm với hình ảnh, như thể người xem và người chụp đang chia sẻ một cái nhìn chung. Cả những ảnh chụp nước Pháp, chúng cho thấy một đất nước nghèo xác xơ những năm 1953-1954. Như tấm hình dưới đây, Paris không hề mang vẻ tráng lệ, quần áo giăng phơi đầy dẫy dọc bờ sông Seine.

Luân Đôn năm 1954 được gợi lại qua những bức ảnh chụp người biểu tình ở Liverpool, với bố cục rất đặc biệt. Cũng như trong các tác phẩm chụp quần chúng, ánh nhìn của đám đông bao giờ cũng chiếm đầy khung hình, nói lên được tâm trạng chung của từng cá thể vào thời điểm cảm xúc được thu vào ống kính.

Mỗi bức hình là một câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều mang đậm tình người. Như tấm « Siem Reap, Cam Bốt » năm 1990, Marc Riboud chụp cảnh sông nước. Trong ảnh chỉ là dáng người, không chân dung. Một phụ nữ đang ngồi giặt đồ bên bờ sông Cửu Long, cánh tay với về phía trước, mặt nước phản chiếu hình bóng người đàn bà với dáng ngồi khắc khổ, sông nước và nhân vật như hòa nhập làm một. Xa xa, một cậu bé đang đứng trên thuyền, ngây ngất nhìn xoáy nước trong cảnh thiên nhiên lung linh ánh sáng. Bức ảnh này thể hiện tất cả tâm hồn và quan niệm về cái đẹp của Marc Riboud : yêu phụ nữ, yêu sông nước (sông Cửu Long, sông Seine, sông Rhône, sông Saône, …), yêu con người trong mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh, mọi đất nước.

Sau khi đến Ấn Độ, năm 1957, Marc Riboud là một trong những nhiếp ảnh gia đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc, ông đã chứng kiến sự thay đổi của cả một đất nước, lưu lại đấy đến 3 tháng trong chuyến đi đầu tiên, sau đó còn quay trở lại nhiều lần nữa đến tận năm 2010. Từ tỉnh Cam Túc đến Thượng Hải. Cái nhìn qua ống kính của Marc Riboud như xoáy sâu vào sự nghèo khổ của cả một dân tộc, dù vậy ông không hề có thái độ chỉ trích hay chê bai sự độc tài của Mao. « Phải xem những hình ảnh tôi để lại như những ghi nhận và những đánh dấu. Tôi chỉ kể lại những gì nhìn thấy bên lề » - ông giải thích trong một cuộc phỏng vấn năm 1996.

Thưởng thức bức « Những cửa sổ nơi phố cổ » ông chụp năm 1965 tại Thượng Hải, chúng ta càng hiểu thêm góc máy của ông, một bác phó nhòm đứng bên lề cuộc đời nhìn vào thế giới qua ống kính vuông vức, như qua các ô cửa : kẻ ngoài cuộc là ông, chỉ quan sát và ghi nhận, không ý kiến hay quan điểm.

Marc Riboud sang Việt Nam năm 1954, giai đoạn Nam-Bắc bị chia đôi theo hiệp định Genève. Ông đã ghi lại những hình ảnh chiến tranh vào những năm 1968, tại Huế, Hoàng Thành của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Đó là cảnh hoang tàn của một Huế đổ nát. Ông đã biến tang thương thành một bức tranh thật đẹp và sống động. Tờ báo Le Monde của Pháp đã từng viết vào ngày 13 tháng 4 năm 1968 « Huế (qua ống kính của Marc Riboud) là một Guernica của Việt Nam ».

Picasso vẽ bức Guernica năm 1937 vào thời điểm chiến tranh Tây Ban Nha đã gây xúc động mãnh liệt trong lịch sử hội họa và làm mồi lửa cho các phong trào phản chiến trên thế giới. Được so sánh với Guernica, ta thấy rõ tác động vô cùng lớn của tác phẩm Huế qua các cú lia máy của Marc Riboud. Quân đội Mỹ tiêu hủy gần như toàn bộ Hoàng Thành nhưng trong cảnh chết chóc, người phụ nữ, trong chiếc áo dài thanh lịch, vẫn toát lên vẻ đẹp quý phái. Ảnh chụp hay tranh vẽ đây? Marc Riboud khiến cho tác phẩm của mình chẳng những mang nhiều ý nghĩa mà còn nói lên cả niềm khát khao của con người, luôn muốn xây dựng lại cuộc sống từ những hoang tàn đổ nát.

Dù trong giai đoạn đau thương, bức « Đôi tình nhân » với bối cảnh Hà Nội vẫn mang nét bi hài. Hai người tình ngồi bên nhau nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm, sau lưng họ là cận cảnh một hố tránh bom.

Marc Riboud đã từng nhìn thấy chiến tranh ở nhiều nước khác nhau. Có lẽ chiến tranh Việt Nam để lại nơi ông rất nhiều ấn tượng. Trong số ảnh trưng bày, khá nhiều bức liên quan đến hình ảnh chiến tranh Việt Nam. Ông chụp các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam ở các nước khác nhau, đặc biệt tại Mỹ; những bức đặc trưng nhất : « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Thượng Hải, năm 1965 », « Thiếu nữ và bông hoa, Washington, 1967 », « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Washington 21 tháng 10 năm 1967 ».

Bức « Thiếu nữ và bông hoa » khiến ta không biết nên cười hay khóc. Bên trái là quân đội cầm súng, bên phải là người con gái với bông hoa trong tay. Người xem mang hai trạng thái : vừa lo ngại vì chiến tranh Việt Nam (cây súng mang tính chất đe dọa), vừa hy vọng một kết thúc tốt đẹp (bông hoa đại diện cho vẻ đẹp và sự bình an). Như thể cô gái không sợ súng đạn, vì tin tưởng ở những người lính trẻ, những người sẽ mang lại chiến thắng. Những người lính trong hình dường như cùng suy nghĩ với cô. Tấm hình ghi lại một cách nhìn từ Washington, trong khi một số hình ảnh khác nói lên sự tàn ác của Mỹ vì đã dội bom thành phố Huế.

« Ông ấy bao giờ cũng muốn làm chủ cách làm việc của mình và cả các chuyến đi của mình » - Catherine Riboud kể lại. Chính nhờ vậy, dù ông chụp con người trong bom đạn, trong thảm kịch hay trong cảnh sông nước bình an, mỗi bức hình của ông đều toát lên vẻ đẹp riêng và mang đậm tình người.

Loạt hình cuối của cuộc triển lãm là những tác phẩm Marc Riboud chụp núi Hoàng Sơn (tỉnh An Huy - Trung Quốc) đưa người xem về trạng thái tĩnh tại. Ai từng xem tranh họa sĩ Triệu Vô Cực (Zao-Wou-Ki) sẽ thấu cảm sâu sắc bức ảnh này : chập chùng cao nguyên ẩn hiện trong sương mù, chụp theo gam màu đen trắng ngược sáng, làm nổi bật các đường viền dọc triền núi, y như một bức tranh thủy mặc Trung Hoa.


viethoaiphuong
#631 Posted : Saturday, October 2, 2021 7:01:42 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Các bài hát hay của Michel Sardou được dựng thành nhạc kịch

02/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn ba năm sau khi tuyên bố giải nghệ, nam danh ca Michel Sardou đã bật đèn xanh cho dự án khai thác những bài hát quen thuộc của ông dưới dạng nhạc kịch. Một album gồm 20 bản nhạc vừa được trình làng hồi cuối tháng 09/2021, còn vở nhạc kịch sẽ ra mắt khán giả qua một vòng lưu diễn các sân khấu lớn vào mùa thu năm nay.

Mượn lại tựa đề "Je vais t'aimer'' (Ta sẽ yêu em), một nhạc phẩm cực kỳ ăn khách của Michel Sardou vào năm 1976, vở nhạc kịch này tập hợp 10 diễn viên, kể lại cuộc hành trình bằng du thuyền thưởng ngoạn từ nước Pháp sang New York. Được xây dựng theo mô hình của "Mamma Mia" nhưng lần này với toàn các bài hát tiếng Pháp, vở nhạc kịch không nói về tiểu sử của Michel Sardou mà lại dùng các giai điệu của nam danh ca để phản ánh tâm trạng của các nhân vật chính : giữa hoài niệm và hiện tại, giữa quá khứ và tương lai.

Thông qua những câu chuyện cá nhân, vở nhạc kịch muốn cho thấy quan hệ gắn bó giữa người Pháp với dòng nhạc Sardou. Từ các buổi văn nghệ cuối năm học, các bữa ăn gia đình cho tới đám hỏi, tiệc cưới, ít nhất là hai thế hệ khán giả tại Pháp đều có kỷ niệm riêng với Sardou, do sự nghiệp của ông trải dài trên nửa thế kỷ.

Đằng sau dự án nhạc kịch "Je vais t'aimer'' là hai nhà sản xuất người Pháp Roberto Ciurleo và Franck Montel, trước kia là giám đốc điều hành các đài phát thanh nổi tiếng (NRJ Radio và Chérie FM). Khi chuyển từ ngành truyền thông sang lãnh vực kinh doanh giải trí, họ đã từng thành công với các vở nhạc kịch như "Robin des Bois" (Hiệp sĩ rừng xanh) và "Les Trois Mousquetaires'' (Ba chàng lính ngự lâm). Nhờ có nhiều năm tay nghề, họ đã nhanh chóng thuyết phục Michel Sardou cho phép khai thác các bài hát của ông. Trong số này, dĩ nhiên có bài ''La Maladie d'Amour'' của tác giả Jacques Revaux. Tác phẩm này từng được Việt hóa với ít nhất là ba phiên bản khác nhau.

Nhạc phẩm ''La Maladie d'Amour'' có đến ba lời Việt

Trong phiên bản thứ nhất do Elvis Phương trình bày, tác giả Khắc Dũng đã giữ lại ẩn dụ tình yêu như căn bệnh để đặt lời thành "Cơn đau tình ái''. Phiên bản thứ nhì là của ca sĩ kiêm tác giả Phạm Khải Tuấn, đặt thêm lời Việt cho ca khúc này thành nhạc phẩm ''Tình Yêu Vụt Sáng''. Lời tiếng Việt thứ ba là của tác giả Lữ Liên và con trai của ông là nam ca sĩ Anh Tú đã ghi âm thành bài hát ''Người Yêu Muôn Đời''.

Trở lại với nhạc kịch Sardou, phần thực hiện đã được giao cho một êkíp người Canada : đạo diễn Serge Denoncourt, một trong những gương mặt tài ba nhất vùng Québec (từng sáng lập nhà hát Opsis) sau khi dàn dựng hơn 80 vở kịch, nay sẽ đảm nhiệm phần chỉ đạo các diễn viên. Về mặt âm nhạc, tác giả Scott Price, từng tốt nghiệp nhạc viện Toronto và hiện là giám đốc âm nhạc của thần tượng Céline Dion, sẽ là người tạo ra sợi chỉ đỏ, hầu kết nối các bài hát khá đa dạng của Michel Sardou thành một khối.



Nhớ vóc dáng tàng cây

Run rẩy ngọn gió đầy

Nghe tiếng thầm sóng dậy

Treo lơ lửng biển mây



Con lộ trước cổng nhà

Nhớ từng viên sỏi đá

Phơi tim khô mùa hạ

Cho đến tận đông qua



Đâu phải máu chan hoà

Cuộn siết trong tim ta

Tuôn nhánh sông tuổi nhỏ

Trở về với mẹ cha



Cớ chi hồn băn khoăn

Buồn trong ta thăm thẳm

Bỗng nhức nhối âm thầm

Vết chảy mòn tháng năm



Nay dòng sông tuổi già

Về siết chặt tim ta

Kỷ niệm đành hoá đá

Đông huyết mạch, vỡ oà



Vừa rồi là lời phóng tác của nhạc phẩm ''La Rivière de notre Enfance'' (Dòng sông tuổi thơ) từng ăn khách qua phần song ca của Michel Sardou với Garou. Bản thân nam danh ca đã giải nghệ cách đầy hơn 3 năm. Vòng lưu diễn nước Pháp tựa như một lời tri ân với giới hâm mộ trung thành đã chính thức kết thúc vào tháng 4 năm 2018. Ở tuổi 74, ông muốn tận hưởng cuộc sống an nhàn sau 50 năm sự nghiệp, cho đến cái ngày ông được nghe các bài ghi âm thử cho vở nhạc kịch, dưới dạng song ca hay tam ca. Ông cảm thấy phấn khởi hào hứng vì các diễn viên có chất giọng tốt, lối hòa âm cũng rất tài tình vì biết tạo sắc thái mới mà không bóp méo giai điệu nguyên tác. (Người đã thực hiện phần hoà âm là tác giả Pierre Billon, từng sáng tác ca khúc cho Johnny Hallyday và Michel Sardou trước khi hai danh ca này xích mích với nhau).

Vở kịch ra mắt khán giả sau đĩa hát

Đối với đoàn diễn viên vở nhạc kịch "Je vais t'aimer", thời điểm quan trọng nhất vẫn là ngày 21/10/2021, khi tác phẩm này sẽ được diễn lần đầu tiên trên sân khấu Zénith tại thành phố Lille. Cả đoàn kịch sau đó sẽ thực hiện một đợt lưu diễn tại các nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Sau khi đi một vòng các tỉnh thành, vở nhạc kịch này sẽ ra mắt khán giả Paris với một loạt live show trên sân khấu khổng lồ của nhà hát La Seine Musicale, vùng ngoại ô Paris, kể từ ngày 20/05/2022.

Để hỗ trợ cho chiến dịch quảng cáo đĩa hát và giới thiệu vở nhạc kịch này với công chúng tại Pháp, có ít nhất ba đĩa đơn đã lần lượt được phát hành. Đầu tiên hết là nhạc phẩm "La rivière de notre enfance" (Dòng sông tuổi thơ) lần đầu tiên được soạn lại cho một nhóm tam ca (Tony Bredelet, Boris Barbé và Hakob Ghasabian). Kế đến là bản nhạc ''Je viens du Sud'' (Tôi đến từ phương Nam) từng ăn khách trước đây qua giọng ca Chimène Badi, nay được Sofia Mountassir ghi âm lại. Bài hát thứ ba là một liên khúc tập hợp 8 nhạc phẩm chọn lọc trong ''tủ nhạc'' gồm toàn là các giai điệu ăn khách của Michel Sardou ("La java de Broadway", "Être une femme", "Chanteur de jazz", "Je vais t’aimer", "Les lacs du Connemara", "En chantant", "Je vole", "Musulmanes").

Michel Sarsou đã thành công trong 50 năm sự nghiệp ca hát, cho nên thật không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi toàn bộ các bài hát trong nhạc kịch đều quen thuộc gần gũi với công chúng, còn giới yêu nhạc Pháp hẳn chắc cũng từng nghe qua ít nhất một lần trong đời.

viethoaiphuong
#632 Posted : Saturday, October 9, 2021 7:35:50 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Lorde - Nhạc Pop của thế kỷ 21

09/10/2021 - Gia Trình / RFI
Năm 2021, nữ ca sỹ New Zealand, Lorde, tái xuất ngoạn mục sau gần 4 năm vắng bóng trên sân khấu ca nhạc. Album mới nhất Solar Power (Năng lượng mặt trời), đánh dấu cột mốc mới trên sự nghiệp của Lorde. Nữ ca sỹ vẫn mê hoặc được người nghe lẫn giới phê bình nhờ âm nhạc Pop được coi là của thế kỷ 21.

Đột phá với album đầu tay Royals - 2013

Tên thật của Lorde là Ella Marija Lani Yelich-O'Connor. Nữ ca sỹ sinh năm 1996 tại thành phố Auckland, New Zealand. Mẹ cô vốn là một nhà thơ gốc Croatia và bố cô là kỹ sư xây dựng gốc Ireland, nhập cư vào New Zealand. Thành công mỉm cười với Lorde khá sớm khi cô mới 17 tuổi. Single đầu tay Royals (Hoàng Gia), được đón nhận nhiệt liệt trên đất Mỹ, trở thành bệ phóng ngôi sao cho Lorde. Tháng 6 năm 2013, đĩa đơn lọt thẳng vào Top 100 Bảng xếp hạng Billboard trụ hạng trong 9 tuần. Hiếm có nghệ sỹ New Zealand thành công như cô, và kể cả những nữ nghệ sỹ khác thành danh trên xứ sở cờ hoa.

Ca khúc giản dị và mộc mạc, được đánh giá là viên kim cương sáng giá. Âm nhạc xây dựng trên nền tiếng bass đập mạnh, giọng hát Lorde nổi bật như người kể chuyện nhạc pop. Lorde hầu hết viết lời ca khúc của mình, như một nhà thơ xuất sắc truyền cảm hứng từ mẹ cô. Ban giám khảo Viện Hàn Lâm Âm Nhạc Hoa Kỳ sớm nhận ra ngay một ngôi sao triển vọng.

Royals đoạt giải Grammy Ca khúc của Năm và Trình diễn Pop Solo Xuất sắc nhất năm 2014. Nhà sản xuất Joel Little đã thốt lên : “Royals đã thay đổi hoàn toàn cục diện âm nhạc lúc đó. Vốn dĩ tầng tầng lớp lớp hòa âm, tiết tấu nhanh. Và giờ chúng tôi đem tới một bài hát chỉ có tiếng hát mộc và rất ít lớp âm thanh nền”. Thậm chí, có ý kiến cho rằng album 1989 của công chúa nhạc Pop Taylor Swift học hỏi kỹ thuật sản xuất tối giản như Lorde và lối hát như đang nói.

Album phòng thu tiếp theo của Lorde, Melodrama, thậm chí còn được đánh giá cao hơn cả Royals. Melodrama có phần hơi tăm tối nhưng các bản hit có giai điệu rõ nét, tiết tấu mạnh và uyển chuyển như Green Lights (Tia sáng xanh), Perfect Places (Nơi chốn hoàn hảo). Về âm nhạc, Lorde vẫn tập trung chủ đạo vào electropop, indie-pop với chất giọng tự sự nổi bật.

Đáng chú ý, nữ ca sỹ được chọn là giọng ca chính trong bữa tiệc âm nhạc tưởng nhớ rocker vĩ đại David Bowie với ca khúc Life on Mars (Cuộc sống trên sao Hỏa). Gia đình rocker Bowie thực sự thích thú với Lorde và cho rằng cô gái trẻ chính là “tương lai của âm nhạc”. Lorde chứng tỏ sự trưởng thành theo thời gian nhờ độ chín trong các sáng tác và hồi tưởng ký ức đổ vỡ tình yêu trong âm nhạc. Cùng với album thứ hai, Lorde tổ chức tour lưu diễn toàn cầu có tên Melodrama. Nhưng tour lưu diễn này gặp phải trục trặc chính trị tại Israel nên phải hủy bỏ.

Biểu tượng âm nhạc nữ tính và gợi cảm

Bên cạnh âm nhạc, nữ ca sỹ chọn cho mình hình ảnh nữ tính và gợi cảm trước công chúng. Tên nghệ danh Lorde của cô luôn mặc định gắn với sự quý tộc và hoàng gia. Lorde luôn chứng tỏ sự tương đồng giữa hình ảnh mà cô thể hiện và tính cách ngoài đời. Cô ủng hộ phong trào feminist, cho rằng phụ nữ yếu đuối hơn nam giới một cách tự nhiên và chân thật.

Về phương diện tài năng, tờ New York Times nhận định Lorde là thần đồng nhạc Pop, trong khi tờ Billboard cho rằng nữ ca sỹ là biểu tượng sáng giá của nữ giới trong rock/alternative. Lorde cho biết cô chịu ảnh hưởng lớn của nhạc jazz, soul Mỹ thập niên 1940-1950 như Billie Holiday, Etta James, và tất nhiên cảm hứng thơ ca từ mẹ cô, bà Sonja Yelich.

Sự lựa chọn dòng nhạc của Lorde khá ngẫu nhiên, không dập khuôn theo gì cô thích. Sáng tác của cô xuất phát điểm từ ý thơ sau đó mới viết nhạc. Trước album Melodrama, gần như Lorde chỉ tập trung hát với chất giọng nôị lực, uyển chuyển và hơi khàn nhẹ. Nhưng sau đó, cô tập chơi piano để tăng sự đa đạng trong trình diễn.

Album mới Solar Power (Năng lượng mặt trời)

Trở lại với album phòng thu mới nhất Solar Power, Lorde đem tới cho người nghe trải nghiệm mới mẻ. So với hai album trước, rõ ràng đây là một Lorde điềm đạm, tươi sáng hơn hẳn. Bìa album khá gây tranh cãi vì cú shot quay phía dưới chân nữ ca sỹ. Có ý kiến chế nhạo sự sáng tạo này sexy quá lố như củ cà rốt hình thù kỳ quái.

Về phần âm nhạc, ca khúc chủ đề Solar Power khá dễ chịu, nhẹ nhàng và cuốn hút. Bình luận của tờ Billboard cho ca khúc này như “vị mặn của nước biển bắn lên khuôn mặt khán giả trong ngày hè nóng nực”. Lorde khá tài tình khi cài cắm gu thẩm mỹ vào ca khúc đơn giản, tinh tế nhờ phần hoà âm có trumpet và saxophone.

Các ca khúc dễ nghe khác như California, Oceanic Feeling chú trọng âm thanh acoustics (mộc) hơn là âm nhạc điện tử. Qua album này, nhà sản xuất kiến tạo một thế vững chắc cho âm nhạc Lorde. Tiết tấu chậm, giọng hát tự sự, thiên hướng pop/acoustic hơn hẳn các album electropop trước đây. Mười hai ca khúc truyền tải sự trẻ trung, tâm trạng đang yêu, tận hưởng ánh nắng mặt trời (nói đúng hơn trăn trở với biến đổi khí hậu). Nhà sản xuất Jack Antonoff biên tập các ca khúc theo hướng indie-folk, mộc mạc và phần hòa âm giàu giai điệu thu hút người nghe không thua kém giọng hát Lorde. Album đậm chất New Zealand từ khung cảnh trong video clip, có sự tham gia của nhạc sỹ kiwi Marlon Williams hát nền.

Về phong cách sáng tác, album này có thể chịu ảnh hưởng của Folklore (2020) của Taylor Swift. Chất tự sự trong ca khúc The Man with the axe (Người đàn ông với cây rìu) là một ví dụ điển hình. Bài hát như một câu chuyện bất tận của Lorde trên nền guitar mộc, lớp nền âm thanh rất duyên dáng. Lorde thú nhận với khán giá về tình yêu dành cho một người đàn ông không nổi tiếng, công việc văn phòng, có mái tóc bạch kim.

Nếu như Melodrama hé lộ một Lorde giận dữ vì thất tình, Solar Power chào đón hình ảnh đắm thắm đang yêu của Lorde trong Mood Ring. Ca khúc Mood Ring (Nhẫn tâm trạng) là bộc bạch những cô gái trẻ không chắc chắn cảm xúc nội tại, họ tìm chỗ trú ẩn trong những chiếc nhẫn đổi màu theo cảm xúc. Tuy không có nhiều bản hit nổi bật, Solar Power là một khám phá mới lạ của Lorde. Nó thiên về các bản tình ca, cho chú chó bị lạc (Big Star) hay với gia đình (Oceanic Feeling).

Nhìn tổng thể, sản phẩm mới nhất của Lorde khá dễ chịu với người nghe về phương diện giải trí, các ca khúc có độ đồng đều, phối khí bài bản. Tờ Guardian đã bình luận “Album phòng thu thứ ba của Lorde là sự trăn trở với biến đổi khí hậu, từ chối sự nổi tiếng của ngôi sao New Zealand. Nó đạt độ chín và ngọt ngào như các ngôi sao như Taylor Swift hay Lana Del Rey”.

Tựa đề album Solar Power đưa khán giả chìm ngập trong không khí mùa hè, nắng ấm ngọt ngào trong thơ ca của Lorde. Cô muốn nói với cả thế giới rằng tình yêu là điều tuyệt vời nhất.

(Theo Guardian, Billboard, New York Times, AllMusic)


viethoaiphuong
#633 Posted : Sunday, October 17, 2021 11:47:10 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Sylvie Vartan : 60 năm tình khúc còn nhớ mãi

16/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Cách đây 6 thập niên, khi nam ca sĩ Frankie Jordan đang chuẩn bị ghi âm một bài song ca, thì bỗng nhận được tin là cô bạn đồng nghiệp sẽ không đến kịp. Nhạc sĩ phụ trách phần hòa âm lúc bấy giờ là Eddie Vartan mới đề nghị gọi cô em gái 16 tuổi vào thay thế phần thu thanh giọng nữ. Bài hát ăn khách vào mùa hè năm 1961 mở đầu cho một trong những sự nghiệp dài lâu nhất trong làng nhạc Pháp : thần tượng tóc vàng Sylvie Vartan.

Bản thân nữ danh ca Sylvie Vartan cũng không ngờ rằng mình sẽ thành công lâu đến như vậy. Bài song ca ''La Panne d'esence'' mà cô ghi âm với Frankie Jordan (giải nghệ vào năm 1968) là phiên bản chuyển ngữ tiếng Pháp của nhạc phẩm ''Out of Gas'' ăn khách lần đầu tiên qua giọng ca của Floyd Robinson. Bản nhạc này mở đường cho Sylvie Vartan ghi âm nhiều bài hát ăn khách khác, cũng như Françoise Hardy và France Gall, cô trở thành một trong những thần tượng nhạc trẻ sáng giá nhất nước Pháp. Trong những năm sau đó, hầu như thập niên nào Sylvie cũng đều có album ăn khách, nhờ phong cách mà trụ vững qua bao phong trào.

Một sự nghiệp hiếm thấy với hơn 1.500 bản ghi âm

Khi sự nghiệp cất cánh vào đầu thập niên 1960, Sylvie từng đứng chung sân khấu với nhóm The Beatles tại nhà hát Olympia vào năm 1964, thành hôn với rocker số 1 của Pháp Johnny Hallyday, ghi âm những bản nhạc tiêu biểu nhất của phong trào nhạc trẻ kể cả nguyên tác (''La plus belle pour aller danser'' Em đẹp nhất đêm nay của tác giả Aznavour mà quý thính giả và các bạn đã nghe trong phần đầu) hay phóng tác (''En écoutant la pluie'' Nghe tiếng mưa rơi do Richard Anthony chuyển ngữ từ bài ''Rhythm of the Rain'' của John Claude Gummoe).

Lắng nghe nhịp mưa rơi

Thì thầm như muốn nói

Gõ nhẹ khung cửa sổ

Cho lòng thêm bối rối



Tình lạc cánh vực sâu

Giấu tim ta chốn nào

Mang theo trời hạnh phúc

Dìm trong bể khổ đau



Nhịp mưa chưa ngừng rơi

Tiếng yêu đâu mất rồi

Xưa nói dùm mong đợi

Nay quên hết một người



Ta muốn nuốt nắng trời

Thắp trong tim lửa mới

Hứng mưa đem nước tưới

Cho nhạt phai sáng ngời

Vừa rồi là bản phóng tác của nhạc phẩm ''Rhythm of the Rain''. Trong tiếng Việt, bài hát này có tới hai lời khác nhau. Tác giả Trường Kỳ từng chuyển ngữ bào này thành nhạc phẩm ''Tiếng buồn đêm mưa'' do hai ca sĩ Thanh Mai và Tùng Giang ghi âm trước năm 1975, với những câu mở đầu như sau : "Lắng nghe mưa rơi rơi sao trong lòng ta bồi hồi, phút chia ly ngày nào lệ tràn hoen mi. Còn nhớ chăng em khi xưa mưa rơi kề nhau nghẹn ngào, cùng mong ước sao sẽ đừng chia phôi".

Về phần mình, tác giả Lữ Liên đặt lời Việt cho bài này thành nhạc phẩm ''Nghe tiếng mưa rơi'' do Khánh Hà ghi âm, gần giống với nguyên tác ở trong tựa đề nhiều hơn là trong ca từ : "Chiều vắng em nghe mưa rơi như muôn ngàn cung nhạc buồn, rớt bên hiên gợi niềm thương đau. Lệ bỗng như mưa trong tim em chiều nay mỏi mòn, chờ nhau những đêm vắng lạnh cô đơn".

Để kỷ niệm 60 năm sự nghiệp, Sylvie Vartan chẳng những phát hành một album mới mà còn xuất hiện trong khá nhiều dự án khác nhau. Tập nhạc vừa được phát hành hồi đầu tháng 10/2021 là album phòng thu thứ 50 của Sylvie Vartan bao gồm toàn là những ca khúc mới do thế hệ nghệ sĩ thời nay sáng tác cho cô (chưa kể tới hơn 20 album live và các tuyển tập chọn lọc khác). Trong số các ngòi bút trẻ tuổi ăn khách hiện thời, có khá nhiều nữ tác giả như Clara Luciani, Rose, Clarika, La Grande Sophie, về phía các nam nghệ sĩ có Joseph d'Anvers, Jean-Jacques Nyssen hay Léonard Lasry, trích đoạn đầu tiên là nhạc phẩm ''Merci pour le Regard'' (hiểu theo nghĩa : ánh nhìn nào cho tâm hồn bớt cô đơn), cũng là ca khúc chủ đề của album cùng tên.

60 năm sự nghiệp qua tập nhạc, phim tài liệu và hồi ký

Đĩa nhạc thứ 50 là dịp để cho Sylvie Vartan tìm lại khán giả hâm mộ trung thành. Sau khi hoãn lại 4 lần đợt lưu diễn trong năm qua, Sylvie lại lên đường đi hát trong tháng này tại Bỉ, Thụy Sĩ, Luxembourg. Đợt trình diễn tái ngộ này sẽ trở lại Paris tại nhà hát Pleyel vào cuối mùa thu năm nay (tháng 11/ 2021). Song song với đợt biểu diễn, Sylvie Vartan còn tham gia vào một bộ phim tài liệu truyền hình Pháp kể lại cuộc đời và sự nghiệp của cô mà theo dự kiến sẽ được khởi chiếu vào cuối năm nay, muộn lắm là vào mùa xuân năm tới. Bên cạnh đó, có khá nhiều album ăn khách trước đây của Sylvie được tái bản dưới dạng đĩa nhựa 33 vòng chủ yếu dành cho giới chuyên sưu tầm, hoặc phát hành trên các mạng trực tuyến, bổ sung cho bộ vựng tập quan trọng nhất nhì của làng nhạc Pháp. Cũng như Johnny Hallyday, Sylvie Vartan đã ghi âm hơn 1.500 bài hát trong 10 thứ tiếng khác nhau và trong vòng 60 năm sự nghiệp, cô đã bán gần 50 triệu album trên thế giới.

Thời điểm kỷ niệm 6 thập niên ca hát cũng là dịp để cho Sylvie Vartan ra mắt quyển hồi ký dày hơn 400 trang mang tựa đề ''Le Tourbillon d’une vie'' (Cơn lốc của một cuộc đời) của hai tác giả Christian và Éric Cazalot. Sylvie thú thật là thời gian tựa như như một cơn lốc, mới đó mà 60 năm đã trôi qua. Cô cảm thấy rất may mắn khi được theo đuổi đến tận cùng giấc mơ âm nhạc của mình trong hơn nửa thế kỷ. Với thời gian, Sylvie đã khám phá rằng cô có đến có hai gia đình : một bên là chồng con và người thân, còn bên kia là thành phần khán giả trung thành hàng chục năm qua, từ cái thuở Sylvie mới tập tễnh vào nghề. Trong những giây phút trống trải cô đơn nhất, Sylvie lúc nào cũng tìm thấy nơi người hâm mộ niềm tin không thay đổi, lời an ủi tuyệt đối. Tựa đĩa nhạc ''Merci pour le regard'' chính là lời tri ân của một đời nghệ sĩ cho bao ánh mắt trìu mến, cho tình thương vô bờ bến.

viethoaiphuong
#634 Posted : Tuesday, October 19, 2021 7:04:23 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Jean-Philippe Toussaint: Nhìn bằng con mắt đương đại để giữ văn chương không ngừng lại

15/10/2021 - Sơn Ca / RFI
Mùa thu năm 1979, trên chuyến xe bus từ quảng trường République tới quảng trường Bastille, Paris, một thanh niên người Bỉ đột nhiên quyết định viết cuốn sách đầu tiên của đời mình. Nhiều năm sau, khi trở thành nhà văn nổi tiếng, anh vẫn còn nhớ rõ câu văn mở đầu cuốn sách ấy: "Tình cờ tôi khám phá ra trò chơi cờ vua." Đó là nhà văn, nhà làm phim, nhiếp ảnh gia Jean-Philippe Toussaint với tiểu thuyết đầu tay không xuất bản có tên gọi Cờ vua.

Câu chuyện trở thành nhà văn của Toussaint cũng là một khám phá tình cờ. Hồi đó, niềm đam mê duy nhất của ông là điện ảnh. Trong cuốn Những bộ phim của đời tôi, đạo diễn điện ảnh nổi tiếng của phong trào Làn sóng mới là François Truffaut đã khuyên những người trẻ nuôi mộng làm phim nếu không đủ nguồn lực thì viết sách, chuyển kịch bản thành sách. Cùng thời gian đọc cuốn sách của Truffaut, Toussaint đã đọc tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt của Dostoïevski. Tác phẩm của Dostoïevski đã để lại trong ông những cảm xúc mạnh mẽ và ngay sau đó một tháng, trên chuyến xe bus mùa thu Paris, Toussaint bắt đầu quyết định viết văn, và viết mãi cho đến bây giờ. (1)

Tiểu thuyết Cờ vua được Toussaint viết đi viết lại trong 5 năm, với 9 phiên bản khác nhau, là những thử nghiệm văn chương sáng tạo, dịch chuyển từ ngôi kể chuyện thứ nhất sang thứ ba, từ thì hiện tại sang thì quá khứ. Tuy không xuất bản chính thức nhưng tiểu thuyết này là một chìa khóa quan trọng để mở lối vào những tiểu thuyết khác sau này của Toussaint, đặc biệt là tác phẩm Buồng tắm, ra mắt năm 1985 tại nhà xuất bản Minuit.

Sự thành công của Buồng tắm đã chính thức giúp Toussaint đặt chân vào lĩnh vực văn chương, xuất bản hàng loạt tác phẩm nổi tiếng, giành nhiều giải thưởng và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Thực hiện nhiều triển lãm về nhiếp ảnh, viết kịch bản và làm phim nhưng Toussaint vẫn được biết đến nhiều hơn ở vai trò nhà văn. Ông chia sẻ trên đài France Culture rằng, dù điện ảnh là tình yêu đầu, nhưng về sau, càng đọc, càng viết ông càng yêu văn chương, càng cảm thấy đây chính là niềm đam mê đích thực.

Toussaint và các tác giả của Nhà xuất bản Minuit

Nhà xuất bản Minuit là nơi cho ra đời các tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Samuel Beckett từ năm 1951. Đặc biệt, vào năm 1953, khi vở kịch Trong khi chờ Godot của Beckett xuất hiện trên sân khấu và tạo nên tiếng vang cũng là lúc Alain Robbe-Grillet, người gây chú ý bởi bài viết về vở kịch này trên tạp chí Phê bình, cho ra mắt tác phẩm đầu tay Những cục tẩy. Robbe-Grillet làm nên tiền đề của phong trào Tiểu thuyết mới và biến nhà xuất bản Minuit trở thành cái nôi của phong trào văn chương này. (2)

Xuất hiện sau hơn 30 năm tại nhà xuất bản Minuit, Jean-Philippe Toussaint khẳng định Beckett là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới sự nghiệp văn chương của mình và chia sẻ những đồng tình với lý thuyết về Tiểu thuyết mới của Robbe-Grillet. Tuy nhiên, ở những tác phẩm sau những năm 2000, Toussaint đã nỗ lực đi ra khỏi cái bóng lớn của Beckett (3). Đối với Robbe-Grillet, Toussaint cho rằng việc xây dựng nhân vật trong tác phẩm của mình có sự khác biệt với người đặt nền móng cho phong trào Tiểu thuyết mới. Theo Toussaint, vẫn cần phải giữ lại những yếu tố lãng mạn của tiểu thuyết và việc Robbe-Grillet triệt tiêu tính con người của nhân vật sẽ làm mất đi cảm xúc, mất đi sợi dây giao cảm giữa người viết và người đọc. (4)

Văn chương của Toussaint là một dòng chảy không ngừng, khi mỗi tác phẩm mới ra đời, là một lần ông để cho nhân vật của mình nỗ lực rời khỏi không gian khép kín để mở cửa với thế giới. Cờ vua và La Clé USB của Toussaint là hai tác phẩm được viết cách nhau 40 năm, từ khi lần đầu tiên Toussaint lúng túng gõ bằng hai đầu ngón tay trên chiếc máy chữ cũ, đến thời của hiện tại, khi ông ghi lại những câu văn của mình trên điện thoại smartphone vì ông phải đi bộ và di chuyển nhiều.

Cờ vua là một tác phẩm kể về hai người đấu cờ với nhau trong một thế giới khép kín, tách biệt với hiện thực, một tác phẩm trừu tượng về một cuộc đời trừu tượng. Một thế giới khép kín, trong tiếng Pháp là "un huis clos" còn là tên một vở kịch của Jean-Paul Sartre, là biểu tượng của Chủ nghĩa hiện sinh, một phong trào văn chương của Pháp đầu thế kỷ 20, nơi con người được định nghĩa, được xác định bởi hành động của họ. Cờ vua là chìa khóa để mở ra tác phẩm Buồng tắm của Toussaint.

Chuyển động và bất động trong tác phẩm Buồng tắm

Buồng tắm được mở đầu bằng lời đề từ trích dẫn định lý của Pythagore:"Trong một tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông." Cấu trúc tiểu thuyết chia làm 3 phần với tên gọi: Paris, Cạnh huyền, Paris tương ứng với câu chuyện về một thanh niên trẻ ở Paris một ngày quyết định sống trong buồng tắm, rời Paris đi nghỉ ở Venise, quay trở về buồng tắm. Nếu vẽ một tam giác vuông tương ứng, ta có thể thấy trạng thái của cạnh huyền ở phân cảnh nhân vật có sự di chuyển là trạng thái cheo leo hơn trạng thái cân bằng của hai cạnh góc vuông còn lại.

Trong tác phẩm này, Toussaint viết: "[...] tôi trần tình với Edmondsson là có lẽ không được lành mạnh cho lắm khi, hai mươi bảy tuổi đầu, sắp sang hai mươi chín, mà lại sống co mình về bồn. Tôi phải liều, [...] liều xâm phạm sự tĩnh tại trong cuộc đời trừu tượng của mình để mà. Tôi bỏ lửng câu." Nhân vật của Buồng tắm đã suy tư về việc sẽ liều mình đi ra khỏi vùng an toàn của mình để làm gì, câu nói ấy, dù được nhắc đến ở cả phần đầu và phần kết trong tiểu thuyết thì vẫn là một câu nói bỏ lửng.

Đồng thời, việc để nhân vật đọc cuốn Suy tưởng của Pascal và trích dẫn lời của Pascal trong tiểu thuyết, Toussaint chia sẻ một tư tưởng của triết gia này thông qua tiểu thuyết là: "Mọi bất hạnh của loài người đều đến từ một điều duy nhất, đó là không biết cách ngồi yên lặng trong một căn phòng."

Xây dựng hình ảnh một người thu mình trong thế giới riêng, một mặt, tác giả đề cao trạng thái yên tĩnh của con người trong một không gian, mặt khác, tác giả lại để nhân vật của mình trăn trở về sự bất động của mình. Chuyển động và bất động, được nhắc đến xuyên suốt trong tiểu thuyết Buồng tắm, cũng là một đề tài quen thuộc trong các tác phẩm của Toussaint sau này.

Trong Buồng tắm, xen giữa những đoạn văn với giọng kể trung tính về những câu chuyện phi lý hoặc tầm phào của nhân vật, những đoạn văn tác giả viết về chuyển động và bất động đều là rất đẹp, đáng nhớ và gợi mở nhiều suy ngẫm như: đoạn văn có hai cách ngắm mưa, đoạn văn nhân vật ngồi trên tàu đi Venise cảm nhận về sự chuyển động bên ngoài và sự chuyển động bên trong, đoạn văn khi nhân vật dùng tất cả mọi sức lực của mình để bất động thì lại cảm thấy sự chuyển động đang chảy bên trong mình.

Nhưng hay nhất vẫn là đoạn tác giả dùng hội họa và cờ vua để nói về chuyển động và bất động:

"Tôi thích tranh Mondrian ở sự bất động. Không họa sĩ nào tiệm cận bất động gần tới độ ấy. Bất động không có nghĩa vắng chuyển động, mà là vắng toàn bộ viễn cảnh chuyển động, bằng với cái chết. Hội họa, nhìn chung, không bao giờ bất động. Giống như trong cờ vua, bất động của hội họa thì động. Mỗi bức tranh, uy lực bất động là một tiềm lực chuyển động. Còn ở Mondrian, bất động là bất động. Có lẽ Edmondsson thấy Mondrian chán òm là vì thế. Tôi thì lại được ông trấn an."

Trong đoạn văn này, Toussaint nhắc đến trò chơi cờ vua, thực chất, đây là một mảnh ghép có liên quan đến tác phẩm Cờ vua. Có một chi tiết nhỏ trong Buồng tắm dẫn đến Cờ vua thông qua một cái tên. Nhân vật họa sĩ đến sơn tường trong Buồng tắm tên là Kabrowinskigần giống với Koronskis tên nhân vật chính trong tiểu thuyết Cờ vua, người đã dành cả đêm để chơi cờ trong một căn phòng phía sau quán café. Khi Koronskis tìm được cách thắng trong ván cờ tưởng chừng mình sắp thua, anh thốt lên rằng: "Tôi đã hiểu rõ hơn sự chuyển động của uy lực bất động." (5)

Trên bàn cờ, mỗi quân cờ đứng yên nhưng bản thân sự bất động của nó có ẩn chứa một khả năng, một uy lực của sự chuyển động. Điều này gợi lên sự liên tưởng về một người khi đang đứng yên hoặc ở trong một thế giới khép kín, không có nghĩa là đã chết mà bên trong họ vẫn ẩn chứa một tiềm năng chuyển động, một khả năng đi ra khỏi vị trí của mình, thậm chí đôi khi, có thể như quân cờ trên bàn cờ của Koronskis, giành phần thắng trong ván cờ tưởng đã sắp thua. Nhưng sự chuyển động đó, như trong đoạn văn đã trích bên trên, người đó cần phải liều mình trước những rủi ro khi ra khỏi trạng thái đứng yên: "Tôi cần phải liều xâm phạm sự tĩnh tại trong cuộc đời trừu tượng của mình để mà." Toussaint để bỏ lửng câu nói của nhân vật, có lẽ để mỗi người đọc tự điền vào vế sau của mình.

Ta cũng có thể tìm kiếm câu trả lời cho nhân vật của tác phẩm khi lần theo dấu vết của một cái tên nữa trong Buồng tắm. Hãy để ý đến cái tên Eigenschaften mà nhân vật chính bịa ra khi được hỏi tên tại Đại sứ quán Áo. Eigenschaften trong tiếng Đức nghĩa là "phẩm chất" nằm trong tiêu đề tiểu thuyết nổi tiếng Người đàn ông không có phẩm chất của nhà văn Robert Musil. Ulrich trong tác phẩm của Musil được cho là có nhiều điểm tương đồng với nhân vật chính của Buồng tắm, đã quyết định nghỉ ngơi trong một năm để tìm kiếm những khả năng tiềm ẩn bên trong mình. (6)

Toussaint trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 2005 chia sẻ, nếu là người kết thúc câu nói bỏ lửng trên, ông sẽ nói rằng: "Tôi cần phải liều xâm phạm sự tĩnh tại trong cuộc đời trừu tượng của mình để mà nói về tôi, nói về hiện tại, về thời đại của mình. Đó cũng chính là điều mà tôi đã không ngừng làm sau đó." (7)

Cái nhìn trong văn chương của Toussaint

Buồng tắm là tiểu thuyết đầu tay của Toussaint, nơi dấu ấn của Beckett vẫn còn in đậm trong phong cách, nên cấu trúc nối điểm mở đầu và kết thúc của tác phẩm thành một vòng tròn khiến người đọc liên tưởng tới cuốn sách đầu tay Molloy tại nhà xuất bản Minuit năm 1951 của Beckett. Trong tác phẩm Molloy, Beckett sử dụng lối viết xây dựng một thông điệp liên tục được loại bỏ, khẳng định cùng lúc với phủ định, như câu văn dưới đây: "Nửa đêm. Mưa quất mạnh vào cửa kính. Không phải nửa đêm.Trời không mưa." Thông điệp chuyển động hay đứng yên, thu mình lại trong thế giới khép kín hay đi ra khỏi vùng tĩnh lặng cũng trở đi trở lại trong tác phẩm Buồng tắm của Toussaint.

Nhân vật tôi là người suy tư nhiều hơn chuyển động và hành động. Ngược lại, Edmondsson hành động nhiều hơn nhưng ta hầu như không biết đến suy tư của cô. Hai nhân vật này gắn bó với nhau bằng một mối quan hệ kỳ lạ nơi họ không cảm được nhau nhưng họ không rời xa nhau. Cách xây dựng hai nhân vật có tính cách đối lập như thể bù trừ cho nhau khiến ta liên tưởng tới truyện ngắn Kino của Haruki Murakami, nơi Murakami xây dựng nên nhân vật Kino và Kamita là hai mảnh ghép yếu đuối và mạnh mẽ, như thể lý trí của Kamita là phần Kino mong ước có được. Trở lại với Buồng tắm, "tôi" và Edmondsson là hai nhân vật tách rời nhưng cũng có thể là hai mảnh ghép của cùng một con người. Đây chỉ là một cách hiểu trong vô vàn cách hiểu về tác phẩm.

Buồng tắm không chỉ là bàn về sự bất động và chuyển động, mà còn viết về cái nhìn, nơi mỗi một ánh mắt nhìn thực chất là một ánh sáng soi rọi vào một thế giới khép kín. Theo thuyết hiện sinh của Jean-Paul Sartre, “người là một kẻ bị nhìn bởi người khác”, “tha nhân là kẻ nhìn tôi”, do đó “sống là thấy mình bị nhìn”. Cái tôi của một con người sẽ được tạo nên bởi việc anh ta nhìn thế giới, anh ta nhìn bản thân và anh ta bị/được nhìn bởi tha nhân. Nhân vật tôi trong Buồng tắm cảm thấy khó chịu khi cảm thấy ánh mắt của Edmondsson lúc nào cũng đặt lên mình. Một người khi chủ động mở cửa không gian riêng tư với thế giới, nếu cảm nhận được tha nhân chiếu ánh mắt tới, thì đó là ánh sáng. Còn khi người đó chỉ muốn được tĩnh lặng, thì ánh mắt của người khác nhìn mình sẽ chỉ mang lại cảm giác tiêu cực và bất an. Ngoài viết về cảm giác nhân vật tôi bị Edmondsson nhìn, Toussaint cũng viết nhiều đoạn văn để nhân vật nhìn ngắm chính mình trong gương và nhìn ra cuộc sống bên ngoài bằng thế giới quan riêng mình. Mỗi cái nhìn, dù hướng nội hay hướng ngoại, vẫn thường mang đến những câu hỏi về ý nghĩa của sự tồn tại trong đời sống này.

Nhân vật trong Buồng tắm được xây dựng theo lối viết của phong trào Tiểu thuyết mới, không rõ ràng về danh tính, nguồn gốc, mờ nhạt trong tính cách, mơ hồ trong công việc. Nhưng Toussaint đã đi ngược lại thuyết xây dựng nhân vật của Robbe-Grillet, là để cho nhân vật tôi có chiều sâu của suy tư, những quan sát tinh tế, hiểu biết về nghệ thuật, dù luôn cảm thấy cô đơn, buồn bã, lạc lõng trong cuộc đời. Những đặc điểm này đã khiến người đọc có sự kết nối và cảm được nhân vật.

Hình ảnh nhân vật vào một buổi sáng thức giấc thấy một ngày mới đến như biển đen vô tận dâng lên sau đôi mắt nhắm nghiền đã để lại một xúc cảm buồn khó phai. Được mệnh danh là nhà văn của sự tối giản, nhưng văn chương Toussaint vẫn đầy tinh tế, không chỉ gợi mở nhiều cách đọc khác nhau, nhiều liên tưởng khác nhau, mà còn mang đến xúc cảm cho người đọc.

Là một nghệ sĩ thị giác, làm việc với nhiếp ảnh và điện ảnh, Toussaint rất chú trọng đến cái nhìn. Toussaint luôn tìm cách chọn lọc những từ ngữ gợi lên nhiều hình ảnh liên tưởng trong tâm trí người đọc. Ông nói rằng, văn chương rất giàu có, văn chương chính là một bộ môn nghệ thuật hoàn chỉnh. Là nhà văn sống ở trong thời hiện tại cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, Toussaint mang tư duy của nhà văn đương đại, đã làm những thí nghiệm quan sát sự kết nối giữa miêu tả của nhà văn với não của người đọc. Trong triển lãm về nhiếp ảnh thực hiện tại bảo tàng Louvre năm 2012, ông đã thực hiện những bức ảnh chụp, những video ghi lại não của mình và của mọi người trong khi đọc. (8)

Toussaint đặc biệt quan tâm đến cái nhìn về thế giới hôm nay. Khác với thời của Robbe-Grillet, khi câu chuyện bắt đầu là Cục tẩy, Bức mành, thì câu chuyện của Toussaint là Ti vi, Máy ảnh, USB. Đặc biệt tác phẩm La Clé USB xuất bản năm 2019 của Toussaint khai thác đề tài về big data, bitcoin, blockchain. Ông đã được giới phê bình đánh giá một gạch nối quan trọng trong việc kế thừa những di sản của thế hệ trước, tạo nên một bản sắc mới, một diện mạo mới cho Tiểu thuyết mới, mà người ta gọi là Mới của Tiểu thuyết mới. Toussaint chia sẻ rằng, nhìn thế giới bằng con mắt đương đại để là để giữ cho văn chương không ngừng lại. (9)

Dẫn nguồn:

(1) Ngày đầu tiên khi tôi bắt đầu viết, Jean-Philippe Toussaint: http://www.bon-a-tirer.com/volume1/jpt.html

(2) Website của Nhà xuất bản Minuit:

http://www.leseditionsde...historique-1-1-0-1.html

(3) J.-Ph., "Phỏng vấn với Michèle Ammouche-Kremers", trong cuốn Jeunes auteurs de Minuit, Michèle Ammouche-Kremers et Henk Hillenaar Eds., Amsterdam, Atlanta, Rodopi, CRIN 27, 1994.

(4) Gặp gỡ với Jean-Philippe Toussaint:

https://www.lesinrocks.c...aint-132478-25-09-2009/

(5) Tác phẩm Cờ vua của Jean-Philippe Toussaint viết từ năm 1979 đến 1984.

(6) Musil et Toussaint, en congé de la vie, Joachim Unseld, Le Monde, 2005.

(7) Un roman minimaliste? Phỏng vấn Jean-Philippe Toussaint thực hiện bởi Laurent Demoulin tại Bruxelles năm 2005.

(8) và (9) Jean-Philippe Toussaint trên France Culture:

https://www.francecultur...magination-est-visuelle

https://www.francecultur...jean-philippe-toussaint

* Những trích đoạn từ tác phẩm Buồng tắm của Jean-Philippe Toussaint sử dụng trong bài viết do Hồ Thanh Vân dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, năm 2021.




viethoaiphuong
#635 Posted : Saturday, October 23, 2021 2:35:05 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Richard Marx - Những kỷ lục thầm lặng

23/10/2021 - Gia Trình / RFI
Nếu bình chọn một nam ca sỹ có chất giọng đặc biệt, có lẽ Richard Marx là một trong những cái tên được nghĩ tới đầu tiên. Ca khúc kinh điển Right here waiting (Chờ đợi em nơi này) như đo ni đóng giày cho tiếng hát nam nghệ sỹ. Tài năng của Richard không dừng lại ở vai trò nghệ sỹ biểu diễn mà còn ở kỷ lục sáng tác và sản xuất mà ít người biết.

Vườn ươm nghệ thuật

Nam nghệ sỹ sinh năm 1963 sinh trưởng trong gia đình có truyền thống nghệ thuật tại thành phố Chicago, Mỹ. Cha anh là Dick Marx, một nghệ sỹ piano chuyên nhạc jazz, mẹ anh là Ruth Marx, ca sỹ hát trong ban nhạc lớn. Con đường nghệ thuật của Richard rộng mở từ khi anh 5 tuổi. Anh biểu diễn ca khúc I wanna be free của nhóm The Monkees ở trường tiểu học.

Richard Marx có khởi đầu thuận lợi nhờ cả kế thừa gene nghệ thuật cha mẹ. Anh vừa có khả năng hát, biểu diễn, sáng tác, chơi guitar và piano. Đặc biệt chất giọng Richard Marx không thể lẫn vào bất cứ giọng nam nào. Giọng anh dày, ấm, nhiều lớp và rất phù hợp các pop ballad trữ tình.

Thú vị hơn, nam ca sỹ của bản nhạc bất hủ Hello, Lionel Richie là người khuyên nhủ Richard Marx tới Hollywood lập nghiệp khi anh 18 tuổi. Tình tiết này được đưa vào trong cuốn hồi ký Stories to tell (Những câu chuyện kể) ra mắt tháng 7 năm 2021. Anh từng hát đệm cho Madonna trong album True Blue, hay làm nền cho danh ca Cher trong ca khúc Love Hurts.

Từ ca sỹ chuyên hát đệm, Richard chuyển mình thành ca sỹ solo với tần suất sáng tác, biểu diễn dày đặc. Năm 1987, đĩa đơn đầu tay mang tên chính anh, Richard Marx chính thức gây bão táp trên bảng xếp hạng Billboard. Album lên hạng bạch kim và ca khúc Don’t Mean Nothing (Không ý nghĩa) leo lên hạng 3 của Top 10 ca khúc ưa thích nhất.

Điểm mạnh mà Richard khai thác tối đa là những nốt cao nghe cuốn hút, mà không chói tai. Chất giọng giữ được cường độ ngân và độ vang một cách bền bỉ. Don’t Mean Nothing có tiết tấu, nhịp điệu đậm chất pop/rock, khỏe khoắn và mạnh mẽ. Các ca khúc anh sáng tác hầu hết có giai điệu rất mạch lạc, rõ ràng như Angelina, Hold On To The Nights, Endless Summer Nights. Các nhà phê bình cho rằng album này như sản xuất để phát sóng trên radio vì các ca khúc có mãnh lực thu hút người nghe.

Hai năm sau, anh lại tái hiện được sức hút nam châm qua album Repeat Offender (Kẻ xúc phạm tái diễn). Album này được coi là “mật ngọt” với các thiếu nữ nhờ bản hit đình đám Right here waiting. Ca khúc kinh điển này gắn với tên tuổi Richard Marx suốt sự nghiệp. Nó hội tụ đầy đủ các yếu tố của bản tình ca đi cùng năm tháng: chất giọng nam tính, giai điệu lắng đọng khó quên, kỹ thuật thể hiện có bản sắc riêng. Bản nhạc này kẻ một ranh giới chia tách những sáng tác của Richard Marx thành hai mảng màu khác biệt: trữ tình sâu lắng pop ballad và mạnh mẽ theo thiên hướng rock.

Những kỷ lục thầm lặng của nghệ sỹ sáng tác

Tính đến hiện tại, Richard Marx tiêu thụ hơn 30 triệu đĩa hát khắp toàn cầu. Nói vậy, chưa đủ thuyết phục để phác họa tài năng của Richard Marx. Anh là nam nghệ sỹ duy nhất lập kỷ lục có 14 đĩa đơn đạt hạng nhất trên cương vị nghệ sỹ biểu diễn, sáng tác và nhà sản xuất. Trong đó, 7 đĩa đơn đầu tiên lọt vào Top 5 ca khúc ưa thích nhất. Tạp chí âm nhạc Billboard nói rằng Richard nắm giữ kỷ lục hiếm có : sở hữu các ca khúc được ưa thích trên các bảng xếp hạng âm nhạc khác nhau trong suốt bốn thập niên (thập niên 80 đến 2010).

Anh từng cộng tác với rất nhiều tên tuổi lớn làng âm nhạc như Barbara Streisand, Madonna, NSYNC, Keith Urban, Luther Vandross. Ít người biết rằng, Richard là tác giả bản hit xuất sắc cho nhóm NSYNC - This I Promise You. Hơn thế, Richard Marx cần mẫn mở rộng hợp tác với các nghệ sỹ trong việc sáng tác và biểu diễn.

Anh tự nhận rằng mình hứng thú với sáng tác nhạc và những giai điệu luôn thôi thúc anh chắp bút. “Tôi là người bị thôi thúc bởi giai điệu, do vậy, thứ đầu tiên xảy đến trong đầu tôi phải là giai điệu. Khi nó bắt đầu phát ra tín hiệu không phải trình tự tuyến tính, tôi đã hiểu phải ghi âm ra sao, chơi theo thể loại gì, pop, rock hay country, có khi chỉ là nhạc hòa tấu.” Những ví dụ thành công không thể bỏ qua được Now and Forever, bản tình ca khác gắn với phong cách mộc mạc của Richard Marx. Lời ca rất thâm thúy và triết lý : “Until the ocean doesn’t touch the sand, now and forever, I will be your man” (Cho tới khi nào đại dương không còn sóng xô bờ cát, bây giờ và mãi mãi, anh vẫn là người đàn ông của em).

Xuyên suốt sự nghiệp, cuộc đời Richard Marx gắn với các tour lưu diễn. Anh cho rằng cuộc sống nghệ sỹ sáng tác và biểu diễn là hoàn toàn khác biệt. Nhưng tần suất lưu diễn đem lại động lực tinh thần và nuôi dưỡng tài chính cho sự nghiệp âm nhạc. Anh cũng khá bất ngờ khi những khán giá trẻ tuổi hát lại bản hit hơn 30 năm trước của anh. Đó là món quà khích lệ tinh thần cho nghệ sỹ tài năng khi sở hữu khán giả trung thành qua nhiều thế hệ.

Truyền thống âm nhạc được kế thừa

Bản thân Richard Marx tận hưởng sự nghiệp âm nhạc được kế thừa lại cho thế hệ con anh. Trong album gần nhất Limitless (2019), Richard cùng cậu con trai Lucas cùng sáng tác hai ca khúc All Along và Another One Down. Cả hai ca khúc lọt vào Top 14 Billboard như đánh dấu nỗ lực hợp tác giữa cha và con.

Lucas Marx là người con thứ hai trong số ba con trai với người vợ đầu tiên Cynthia Rhodes; Brandon 31, Lucas, 29 và Jesse, 27 tuổi. Anh nói rằng tôi gần gũi với cả ba cậu con trai vì chúng đều thực sự tài năng nhưng Lucas là hợp với anh nhất về định hướng âm nhạc và sự sáng tạo. Trong khi đó, Brandon thiên hướng về nhạc electronic/hiphop, cậu út Jesse lại tập trung vào hardcore rock. Hạnh phúc lớn nhất của một nghệ sỹ tài năng là tìm được sự đồng điệu với các thế hệ kế cận.

Ngoài ra, cảm hứng của người vợ thứ hai Daisy Fuentes, kết hôn năm 2015, luôn được anh đề cao. Daisy khích lệ Richard bằng những thành công của mình. Richard Marx đáp lại một cách khiêm nhường, anh ít khi nhìn lại thành công trong quá khứ. Tuy nhiên, anh biết tận hưởng những trái ngọt của thành quả lao động miệt mài khi đánh giá cẩn trọng.

Từ giọng ca từng hát đệm cho Madonna hay Cher, Richard trưởng thành theo năm tháng nhờ lao động miệt mài và tham vọng đáng trân trọng. Với con mắt lâu năm trong nghề, anh sớm nhận ra thị trường âm nhạc thay đổi ra sao trong suốt 40 năm qua : “Khá dễ dàng để bạn có thể trình làng ca khúc mới nhưng việc khó khăn hơn làm sao tạo nên sự khác biệt. Một ca khúc mới có thể dễ dàng bị nhiễu bởi đủ mọi tạp âm”.

Một nghệ sỹ nắm giữ nhiều kỷ lục như Richard Marx luôn tìm cách di chuyển giữa những gì quen thuộc và nét mới mẻ với khán giả.

(Theo Billboard, Washington Post)

viethoaiphuong
#636 Posted : Monday, October 25, 2021 11:35:07 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

(AFP) - 11 tác phẩm của danh họa Picasso được bán ở Las Vegas với giá hơn 108 triệu đô la. Số tác phẩm này thuộc sở hữu của tập đoàn khách sạn-casino MGM Resorts, trong đó có bức « Người phụ nữ đội mũ nồi đỏ-cam », một trong những bức chân dung Marie-Thérèse Walter, nàng thơ và là người tình của danh họa người Tây Ban Nha trong những năm 1930. Theo nhà bán đấu giá Sotheby’s, tác phẩm được thẩm định ban đầu từ 20 đến 30 triệu đô la, cuối cùng đã được bán 40,47 triệu đô la trong buổi đấu giá ngày 23/10/2021. / RFI

viethoaiphuong
#637 Posted : Friday, October 29, 2021 10:57:45 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Pháp : Triển lãm Thierry Mugler tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí

28/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Tuy không hẹn, nhưng trong tháng này Paris lại khai mạc hai cuộc triển lãm dành cho hai tên tuổi lớn của làng thời trang Pháp. Ngoài cuộc trưng bày ''CinéMode'' của nhà thiết kế Jean-Paul Gaultier, còn có triển lãm ''Couturissime'' của nhà tạo mốt Thierry Mugler tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí (MAD), tại Paris quận nhất, nằm ngay bên cạnh bảo tàng Louvre.

Được tổ chức từ đầu mùa thu năm nay cho tới cuối tháng Tư năm 2022, cuộc triển lãm "Thierry Mugler : Couturissime" phản ánh 35 năm sự nghiệp của nhà tạo mốt người Pháp qua gần 150 hiện vật kể cả phụ kiện thời trang, nhiếp ảnh video, tài liệu lưu trữ, các bản minh họa và dĩ nhiên là các bộ y phục thời trang cao cấp theo cách nhìn độc đáo của ''Manfred'' Thierry Mugler. Ở đây cần phải phân biệt cá nhân nhà thiết kế Manfred và thương hiệu ''Thierry Mugler'' do tập đoàn l'Oréal mua lại kể từ năm 2019. Có lẽ để tránh các vấn đề tác quyền mà tác giả này thường dùng tên gọi ''Manfred'' T.M cho các sáng tác sau này của ông, trong khi thương hiệu Thierry Mugler vẫn được dùng thường xuyên trong ngành kinh doanh nước hoa, mỹ phẩm và phụ kiện thời trang.

Ánh đèn nghệ thuật sân khấu : Niềm đam mê đầu đời

Cuộc triển lãm "Thierry Mugler : Couturissime" do Viện Bảo tàng Mỹ thuật Montreal đề xướng và tài trợ kể từ năm 2019 thông qua một cuộc triển lãm lưu động. Sau hai thành phố Montreal (Canada) và Rotterdam (Hà Lan), giờ đây cuộc trưng bày các bộ sưu tập thời trang Thierry Mugler cũng được mở ra tại Paris. Đối với nhà tạo mốt Manfred T.M (chủ yếu sống tại thành phố New York), cuộc tái ngộ với thủ đô Paris là một vinh dự lớn. Năm nay 72 tuổi, ông cho biết từ khi còn nhỏ, ông luôn bị mê hoặc bởi vóc dáng của người phụ nữ. Đến khi lớn lên, ông đã sử dụng tất cả các công cụ và hình thức nghệ thuật để thăng hoa vẻ đẹp của người đàn bà qua trang phục, mỹ phẩm, video, nhiếp ảnh …..

Sinh trưởng ở thành phố Strasbourg trong một gia đình khá giả, bố ông là bác sĩ, Manfred Thierry Mugler thời còn nhỏ lại không giống bao đứa trẻ khác. Cậu bé thích mơ mộng, ở nhà đọc truyện tranh hay tiểu thuyết minh họa, chứ không thích chơi bóng ở ngoài trời. Thierry học múa ballet cổ điển từ năm 9 tuổi và sau đó tham gia vào đoàn múa của Opéra du Rhin, nhà hát lớn Strasbourg. Thế giới ballet giúp cho cậu bé khám phá ánh đèn trên sàn diễn, đạo cụ và trang phục cũng như đam mê dàn dựng hoạt cảnh sân khấu. Từ thời thơ ấu này, nhà tạo mốt học hỏi được ngôn ngữ cơ thể, diễn đạt ý tưởng qua tư thế và vóc dáng chứ không cần đến ngôn từ. Nhưng quan trọng hơn nữa sau nhiều năm học múa ballet chính là tinh thần kỷ luật, nhẫn nại chịu khó và không bao giờ bỏ cuộc. Có lẽ cũng nhờ vào đức tính ấy, mà ông trở thành một trong những gương mặt sáng giá của làng thời trang Pháp sau này, cho dù ông không được các bậc thầy trong nghề tận tâm dìu dắt.

Sau khi tốt nghiệp Trường Nghệ thuật trang trí Strasbourg, ông đến Paris lập nghiệp từ năm 21 tuổi (1969). Ông chọn nghề vẽ mẫu và thiết kế độc lập, làm việc cho các công ty thời trang và hiệu áo quần may sẵn tại Paris, Luân Đôn, Milano hay Barcelona. Thương hiệu Thierry Mugler được thành lập vào năm 1975 và chưa đầy một thập niên sau, ông trở nên nổi danh trong làng thời trang quốc tế. Theo lời mời của Liên đoàn ngành thời trang cao cấp, Thierry Mugler vào đầu những năm 1990, trình làng bộ sưu tập thời trang ''Haute Couture'' đầu tiên của mình. Cùng với hai đồng nghiệp Vivienne Westwood và Jean-Paul Gaultier, Thierry Mugler nâng biễu diễn thời trang lên hàng nghệ thuật sân khấu, khi các bộ y phục được biểu diễn trong những hoạt cảnh hoành tráng khổng lồ, ngập tràn âm thanh lộng lẫy ánh sáng.

Những kiệt tác Mugler luôn thăng hoa nữ tính

Theo ông Olivier Gabet, giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật trang trí Paris (MAD), từ đầu những năm 1970 cho đến năm 2002, Thierry Mugler đã khẳng định mình như một trong những nhà sáng tạo tài ba nhất trong số các đồng nghiệp cùng thời. Nhờ vào sự đóng góp không nhỏ của nhà thiết kế này, làng thời trang hạng sang của Pháp đã được tái sinh, phát triển cùng lúc với các kênh truyền hình ca nhạc, nghệ thuật video clip và các sản phẩm giải trí trong dòng văn hóa đại chúng.

Cuộc triển lãm ''Thierry Mugler : Couturissime'' giới thiệu các bộ trang phục tiêu biểu nhất của nhà thiết kế, kể cả các kiểu ''áo giáp'' lưng ong giống như là vỏ cứng của côn trùng kết hợp cách cắt may với nghệ thuật luyện kim, hay là kiệt tác MaschinenMensch, khi trang phục phụ nữ lại giống như thân người máy nhưng lại đầy nữ tính. Được sáng tác vào năm 1995 nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập thương hiệu, kiểu áo ''robot'' này gợi hứng từ bộ phim ''Metropolis'' của đạo diễn Fritz Lang, và cho thấy ngoài cái tài thiết kế, Thieetry Mugler còn có một trình độ kỹ thuật cao trong việc chế tạo các mảnh kim loại, rồi ghép nối lại nhờ các miếng da và cao su, tạo điều kiện cho người mặc cử động dễ dàng hơn.

Vào đầu những năm 1970, khi thế giới khám phá phong trào hippie và các kiểu áo quần tiêu biểu cho cái mốt để tóc dài, Thierry Mugler đi ngược lại với các xu hướng thời thượng, khi cho ra mắt những kiểu áo ''glamazone'', những chiến binh amazone thanh lịch quý phái, qua các kiểu áo túm lưng ong, hai vai vuông rộng, giày cao gót như ''lưỡi kiếm'' dẹp mỏng . Kiểu áo lúc nào cũng bó sát thân hình hầu đề cao vòng ngực, vòng eo và nhất là vòng mông của người đàn bà. Nhiều thập niên trước khi có hiện tượng Kim Kardashian, Manfred Thierry Mugler đã nâng vóc dáng phụ nữ ''nhìn từ phía sau'' lên hàng nghệ thuật. Sau hơn 20 năm không sáng tác, nhà tạo mốt đã thiết kế bộ áo thời trang dạ hội của Kim Kardashian, nhân kỳ Met Gala vào năm 2019 tại New York.

Có thể nói là nhờ vào tính sáng tạo cao, Thierry Mugler đã tạo ra một vóc dáng mới, tất cả với mục đích thăng hoa nữ tính. Ngoài những kiểu áo dễ nhận dạng, không thể nhầm lẫn với người khác, ông còn thử nghiệm nhiều về mặt hình thức và vật liệu qua việc sử dụng đồ da, kim loại, nhựa vinyl, sợi hỗn hợp. Lối tiếp cận ấy, do không còn bị hạn chế trong ngành dệt may hay vải sợi khiến cho giới phê bình mệnh danh Thierry Mugler là ''kiến trúc sư'' của làng thời trang quốc tế.

Khi nhà thiết kế khám phá nghệ thuật nhiếp ảnh

Ngoài các kiểu áo haute couture, cuộc triển lãm còn dành riêng ra hai gian phòng lớn để nói về hai khía cạnh thành công khác của Manfred Thierry Mugler là thế giới mỹ phẩm và nghệ thuật nhiếp ảnh. Vào năm 1992, ông tung ra kiểu chai nước hoa Angel (Thiên thần) chạm trổ hình ngôi sao màu xanh dương. Trong vòng nhiều thập niên, đây là một trong những hiệu nước hoa Pháp ăn khách nhất, không kém gì Chanel số 5 và J'adore của Dior. Thierry Mugler đặc trách việc thiết kế hình mẫu, quay phim quảng cáo cho dòng sản phẩm này trước khi nhượng lại toàn bộ quyền khai thác thương hiệu cho công ty Clarins vào năm 2003, rồi sau đó nữa là l'Oréal vào năm 2019.

Trong suốt thời gian hoạt động trong làng thời trang, Manfred Thierry Mugler còn đeo đuổi nghệ thuật nhiếp ảnh, mà ông từng khám phá vào năm 1978, sau khi gặp bất đồng lớn với nhiếp ảnh gia nổi tiếng Helmut Newton. Nhà nhiếp ảnh này đã nói với Thierry Mugler hãy tự lo công việc nếu không bằng lòng với cách làm của người khác. Đam mê nhiếp ảnh đến với Manfred T.M từ đó và ông đã cho xuất bản nhiều cuốn sách với các bức ảnh chụp của mình trong những thập niên qua, chủ yếu là hình chụp các người mẫu như Iman (bạn đời của David Bowie), Jerry Hall (vợ của Mich Jagger), Edwige Belmore hay Farida Khelfa trong những bối cảnh hùng vĩ ngoạn mục như núi băng Groenland, sa mạc Sahara, Biển chết ở vùng thung lũng Jordan …..

Kể từ năm 2013 trở đi, sau khi chính thức giải nghệ thời trang, ông hoạt động với tên gọi Manfred T.M trong lãnh vực thiết kế trang phục sân khấu, đạo diễn xiếc và vũ kịch, dàn dựng các tiết mục biểu diễn tại các hội trường lớn tiêu biểu qua các tác phẩm "Mugler Follies" ở Paris cũng như "The Wyld" ở Berlin tại nhà hát nổi tiếng Friedrichstadt-Palast. Cuộc triển lãm "Thierry Mugler : Couturissime" là dịp để cho công chúng khám phá lại một tác giả chẳng những tài ba trong ngành thiết kế mà còn giỏi trong nhiều lãnh vực khác như nhiếp ảnh, quay phim video, chỉ đạo sân khấu. Một nghệ sĩ có nhiều năng khiếu thẩm mỹ, thành công dù không chạy theo thời, không lỗi thời nhờ có tầm nhìn xa.

viethoaiphuong
#638 Posted : Monday, November 1, 2021 9:09:39 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Nửa thế kỷ nhạc Pháp qua các giọng ca trẻ

30/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Từ các giai điệu bất hủ như "Aline" của Christophe, "Capri c'est fini" của Hervé Vilard, "Voyage Voyage" của Desireless cho tới bài hát "D'amour & d'amitié" của Céline Dion, giới nghệ sĩ trẻ đã nhận lời mời của mạng âm nhạc trực tuyến Deezer của Pháp để trình bày lại những nhạc phẩm quen thuộc của làng nhạc Pháp trong hơn 50 năm vừa qua.

Bất kể nghệ sĩ nào, trước khi trở nên nổi tiếng, đều có những thần tượng mà họ hằng ngưỡng mộ, những bài hát mà họ luôn yêu thích từ khi còn nhỏ. Dựa vào khái niệm này, nền tảng âm nhạc trực tuyến Deezer của Pháp đã yêu cầu thế hệ thời nay ghi âm lại những nhạc phẩm ăn khách thời trước, những bài hát ở đây dĩ nhiên đều gắn liền với thời thơ ấu của các nghệ sĩ.

Với chủ đề "Souvenirs d’enfance" (Những kỷ niệm tuổi thơ), dự án ghi âm trực tuyến này tập hợp hàng chục nghệ sĩ Pháp lừng danh nhất hiện thời, mỗi người chọn một bài hát có ý nghĩa quan trọng đối với mình. Trong khá nhiều trường hợp (Louane, Clara Luciani, Amel Bent, Kendji Girac, Soolking, Hoshi, Julien Doré, Camellia Jordana hoặc ban nhạc Boulevard des Airs), giai điệu nhạc phẩm đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của người nghệ sĩ trẻ tuổi, đủ để thúc đẩy họ chọn hẳn con đường sân khấu chuyên nghiệp sau này. Đôi khi, một ca sĩ chuyên hát nhạc rock thuần chất thời còn nhỏ lại thích nghe nhạc Abba. Một cách tương tự, các nghệ sĩ xuất thân từ dòng nhạc hip hop & urban lại thích nghe và hát lại Céline Dion, đó là trường hợp của Dadju (D'amour et d'amitié) hay Slimane (Pour que tu m'aimes encore).

Từ giai điệu bất hủ ''Aline'' (Gọi tên người yêu) của Christophe cho tới bài ''Hélène'' của Roch Voisine, nhìn chung thế hệ nghệ sĩ thời nay đã tuyển chọn các nhạc phẩm từng tạo ra nhưng cột mốc quan trọng trong làng nhạc Pháp suốt nửa thế kỷ vừa qua, trong đó có những tình khúc mùa hè của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 (kể cả France Gall và Hervé Vilard) cho tới những giai điệu thịnh hành đầu những năm 2010, chẳng hạn như ca khúc Formidable (2013) của danh ca Stromae, vừa xuất hiện trở lại dưới ánh đèn sân khấu sau 6 năm vắng bóng. Về phía hai nghệ sĩ Vitaa và Slimane, được xem như ban song ca thành công nhất trong hai năm vừa qua, hai ca sĩ này đã ghi âm lại bản "Sous le Vent'' (Cánh thuyền trong gió) từng ăn khách trước đây qua hai giọng hát thần tượng Céline Dion và Garou. Đây là cơ hội cho Vitaa & Slimane chứng minh một lần nữa sự ngưỡng mộ tuyệt đối của họ đối với hai nghệ sĩ người Canada.

Đây không phải là lần đầu tiên nền tảng âm nhạc trực tuyến Deezer của Pháp thực hiện các dự án ghi âm tập thể theo chuyên đề. Hồi mùa hè năm trước, Deezer đã phát hành ''Souvenirs d'Été'' (Những kỷ niệm mùa hè). Còn trong năm nay, có đến hai tập ''Souvenirs d'Enfance'' (Những kỷ niệm tuổi thơ) được cho xuất bản, tuyển tập đầu tiên vào mùa xuân, còn tập thứ nhì vừa được trình làng hồi trung tuần tháng 10/2021. Các dự án thu thanh này nằm trong chiến lược của Deezer, khai thác thế mạnh của mình là bộ sưu tập nhạc Pháp hầu phát hành những nội dung gốc, cạnh tranh lại với các nền tảng trực tuyến quan trọng khác (như Spotify, YouTube, Amazon Music, Tidal ….) Điều đó không có nghĩa là giới nghệ sĩ Pháp không thích hát nhạc pop Anh Mỹ. Trên danh sách playlist của Deezer, có hẳn những ca khúc thịnh hành những năm 1980 và 2000, chẳng hạn như ''Heart of Glass'' của Blondie hay ''Hung Up'' của Madonna, qua lối trình bày của ca sĩ Faouzia.

''Những kỷ niệm tuổi thơ'' cũng có ý muốn truyền đạt và tiếp nối một phần di sản nhạc Pháp cho các thanh niên mới lớn thời nay, rất nhiều bạn trẻ khám phá lại Piaf, Brel, Brassens, Ferré hay Dalida không phải qua các bản nguyên tác mà là qua lối trình bày hay diễn đạt lại của các nghệ sĩ đương thời. Bằng chứng là trong các bản hòa âm mới, các nghệ sĩ hip hop Pháp đã đưa một chút âm thanh thành thị (urban sound) vào trong các khúc nhạc tình ăn khách từ nhiều thập niên trước. Dù được phối lại theo thể điệu gì đi chăng nữa, để cho giới trẻ dễ tiếp cận, sáng tác trước hết cần có giai điệu nhẹ nhàng du dương, nhịp điệu lôi cuốn vấn vương.

Trong số các phiên bản ghi âm cho dự án ''Souvenirs d' Enfance'' (Những kỷ niệm tuổi thơ), đáng chú ý hơn cả là trường hợp của Kendji Girac với nhạc phẩm ''La Gitane'' (Cô gái du mục). Bài hát này lần đầu tiên lập kỷ lục số bán trên thị trường Pháp vào năm 1988, qua tiếng hát của Félix Gray ca sĩ người Pháp gốc Tunisie. Sau một thập niên ăn khách nhờ vào giọng hát của mình, Félix Gray (65 tuổi) sau đó thành công chủ yếu nhờ soạn nhạc kịch hay sáng tác bài hát cho các nghệ sĩ khác (chủ yếu là cho Patrick Bruel với ca khúc ''Le Café des Délices'').

Về phần Kendji Girac (25 tuổi), anh thành danh nhờ đoạt giải nhất cuộc thi hát truyền hình The Voice năm 2014 (mùa thứ ba) và tính đến nay anh đã cho ra mắt 4 album phòng thu. Lần đầu tiên, Kendji được nghe bài hát ''La Gitane'' (Cô gái du mục) của Félix Gray năm anh mới 8 tuổi. Bản nhạc gây nhiều ấn tượng với cậu bé, phần lớn cũng vì anh sinh trưởng trong cộng đồng người du mục ở miền Nam nước Pháp, vào thời bấy giờ ngoại trừ nhóm Gipsy Kings, thì ít có ai thành công với thể loại rumba flamenco hòa trộn với nhịp điệu pop la tinh.

Tuy không xuất thân từ cộng đồng du mục, nhưng ca sĩ kiêm tác giả Félix Gray đã thành công trong việc sáng tác một trong những giai điệu tiếng Pháp trở nên cực kỳ quen thuộc với cộng đồng này. Đã từ lâu, Kendji hy vọng có dịp ghi âm lại bài hát này theo thể điệu sở trường của anh là ''gypsy pop''. Nhờ vào dự án ''Souvenirs d'Enfance'' (Những kỷ niệm tuổi thơ) của mạng âm nhạc Deezer, nhiều ca sĩ Pháp hiện thời đều có thêm cơ hội vinh danh các tác giả đàn anh, sân chơi âm nhạc cũng đủ rộng để cho giới nghệ sĩ thỏa mãn khát vọng.

viethoaiphuong
#639 Posted : Wednesday, November 3, 2021 7:23:31 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Ý: Kinh đô vĩ cầm Cremona, nơi khai sinh "nữ hoàng nhạc cụ"

03/11/2021 - Chi Phương ? RFI
Được mệnh danh là kinh đô vĩ cầm, nghề làm vĩ cầm ở thành phố Cremona, phía bắc nước Ý, được Unesco công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại năm 2012. Các nghệ nhân làm đàn vẫn cố gìn giữ những giá trị truyền thống từ thế kỷ 16, nhưng cũng không tránh khỏi các thách thức đặt ra đối với nghề thủ công : sự mai một của nghề và cạnh tranh từ các thị trường khác.

Nước Ý nổi tiếng với những di sản văn hoá La Mã cổ đại, là quê hương của nhà soạn nhạc nổi tiếng Vivaldi với bản giao hưởng Bốn Mùa du dương trên kênh đào thành phố Venise. Đất nước hình chiếc giày còn được biết đến như cái nôi của nghề chế tạo nhạc cụ thủ công, nghề chế tác vĩ cầm ở Cremona, cách thành phố Milano một tiếng đi tàu, ở vùng Lombardia, phía Bắc nước Ý.

Hành trình từ nhạc cụ đường phố thành nhạc khí hoàng gia

Để có được như ngày hôm nay, vĩ cầm đã phải trải qua nhiều thay đổi, về hình dáng cũng như vị trí của nó trong nền âm nhạc cổ điển. Ra đời vào đầu thế kỷ 16, vĩ cầm chỉ là một nhạc cụ bình dân chơi ở trên đường phố. Mãi cho đến khi hoàng hậu của nước Pháp, Catherine de Medicis, đặt làm nhạc cụ tại xưởng của nghệ nhân Andrea Amati tại Cremona nhằm phục vụ cho buổi hoà nhạc mừng sinh nhật cho con trai của mình, hoàng tử Charles IX, sau này là vua của nước Pháp. Khoảng hơn 40 nhạc cụ khác nhau đã được chế tạo một cách đặc biệt nhân dịp này. Chiếc vĩ cầm đầu tiên, dưới hình dáng mà chúng ta biết ngày nay, từ đó, ra đời. Được mệnh danh là cha đẻ của vĩ cầm, Amati đã biến thứ nhạc cụ đường phố thành nhạc khí hoàng gia, được giới quý tộc thời đó ưa chuộng. Nếu như gọi piano là vua của các loại nhạc cụ, ghi ta là chàng hoàng tử thì vi-ô-lông là vị nữ hoàng kiêu sa.

“Kinh đô vĩ cầm”, nơi khai sinh ra đàn vĩ cầm, hay còn gọi là đàn vi-ô-lông, Cremona là trung tâm sản xuất các nhạc cụ bộ dây nổi tiếng nhất mọi thời đại. Thành phố thu hút các nghệ nhân làm nhạc cụ và nghệ sỹ đến từ mọi nơi trên thế giới. Trong đó có Bruce Carlson, nghệ nhân làm đàn vĩ cầm. Sinh ra ở Mỹ nhưng đã đến Cremona mở xưởng làm đàn từ 30 năm trước, ông Carlson chia sẻ với hãng tin AP :


Tất cả bắt đầu từ thế kỷ 16, khi Andrea Amati làm ra chiếc vĩ cầm đầu tiên mà chúng ta biết ngày nay, ông đã dán thương hiệu riêng của mình bên trong thân đàn, chính vì thế mà chúng ta biết ông ấy đã tồn tại. Kỹ năng làm ra chiếc vĩ cầm « đích thực » đầu tiên của nhân loại, sau đó được truyền lại cho con cháu ông tại Cremona. Những nhạc cụ đẹp nhất, với âm thanh tuyệt vời nhất được làm ra trên mảnh đất Cremona này
”.
Thành phố Cremona cũng là quê hương của Antonio Stradivius, bậc thầy sản xuất vĩ cầm ở thế kỷ 17. Những chiếc vĩ cầm Stradivari, tên viết tắt của ông, vẫn luôn là ẩn số lớn cho những người trong giới chuyên môn về cách tạo ra âm thanh mà không ai có thể bắt chước được. Đàn Stradivari là một trong những cây vĩ cầm cổ, đắt nhất thế giới. Cả cuộc đời Stradivius đã sản xuất ra hơn 1000 đàn vi-ô-lông, đàn viola hay đàn cello. Hiện nay, còn khoảng 600 nhạc cụ do ông làm vẫn được lưu giữ. Đàn vĩ cầm Stravivari được bán với giá lên đến 45 triệu USD.

Họ là những nghệ nhân này đã làm lên tên tuổi của Cremona, kinh đô vĩ cầm. Năm 2012, nghề thủ công vĩ cầm truyền thống ở Cremona đã được UNESCO thêm vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của nhân. Bảo tàng vi-ô-lông của thành phố được xây dựng lưu giữ những chiếc vĩ cầm cổ nhất thế giới như đàn Stradivari năm 1715, hay đàn của Amati năm 1566, là một trong 38 nhạc cụ bộ dây được hoàng hậu Pháp đặt làm.

Tại sao đàn vĩ cầm lại ra đời ở Cremona ?

Bởi vì thành phố luôn có truyền thống điêu khắc gỗ. Trong thời kỳ Phục hưng, thành phố phát triển thịnh vượng, âm nhạc được quan tâm nhiều hơn các nơi khác. Một lý do khác đó là nguồn nguyên liệu gỗ. Các nghệ nhân đã có được loại gỗ vân sam tốt nhất đến từ thung lũng Fiemme, từ dãy núi Alpes, phía bắc của Cremona. Nơi đây còn được gọi là “Il Bosco Che Suona" nghĩa là "rừng cây âm nhạc", là ngôi nhà của các cây vân sam hàng trăm tuổi. Loại gỗ có vân cực nhỏ, siêu nhẹ nhưng chắc chắn và có độ rung lớn. Stradivius, Amati hay Guarneri được cho là đã đến tận nơi, tự tay chọn cây làm gỗ cho đàn vĩ cầm của họ.

Không giống như những nghề thủ công truyền thống bị tàn lụi vì cạnh tranh với công nghiệp hiện đại, nghề làm vĩ cầm vẫn vẫn tồn tại. Biển hiệu « xưởng thủ công » ở khắp các đường phố Cremona. Khoảng hơn 300 nghệ nhân vẫn đang ngày ngày cần mẫn đục đẽo thử dây đàn.Các nghệ nhân vẫn sử dụng các công cụ và vật liệu lâu đời để chế tác nhạc cụ thủ công. Kỹ thuật sử dụng không có nhiều khác biệt từ thế kỷ 16.

Không bao giờ có hai cây vĩ cầm giống hệt nhau. Vì mỗi cây đàn được làm bởi một nghệ nhân duy nhất, chứa đựng cảm xúc, tính cách của nghệ nhân. Mỗi bộ phận của đàn được làm từ một loại gỗ riêng biệt. Nghệ nhân thử âm thanh dây đàn qua chính đôi tai của mình. Gỗ được lựa chọn cẩn thận và để phơi khô một cách tự nhiên.

Một cây đàn vĩ cầm có thể mất hàng tháng để hoàn thành, vì vậy mỗi nghệ nhân chỉ có thể làm ra từ ba đến sáu cây đàn mỗi năm. Giá thành cho một chiếc vĩ cầm từ 20.000 € đến 30.000 € cho một cây đàn chất lượng hảo hảng, mang thương hiệu “made in Cremona”.

Cạnh tranh từ thị trường quốc tế

Nếu như các nghệ nhân Cremona có thể sống tốt bằng nghề của mình vào những năm 1960 của thế kỷ trước, khi đàn vĩ cầm Cremona được các nghệ sỹ săn đón, thì ngày nay, họ phải đối mặt với cạnh tranh từ khác thị trường khác, đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Thay vì trả hàng nghìn đô để có được một chiếc vĩ cầm, chỉ cần bỏ ra 200 đô để mua được một chiếc đàn có âm thanh tốt, có đủ cả cung vĩ và bao đựng đàn.

Đối với bà Bénédicte Friedmann, nghệ nhân người Pháp ở Cremona, đàn Cremona hướng tới giới nghệ sỹ chuyên nghiệp, còn đàn sản xuất ở Trung Quốc thì cho người mới bắt đầu. Nhưng sự phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất vĩ cầm ở Trung Quốc cũng tạo một sức ép không nhỏ cho Cremona, khi mà xu hướng sử dụng nhạc cụ cổ điển từ thế kỷ 16 không còn được ưa chuộng như trước. Bà Friedmann giải thích :


Có một sự khác biệt lớn giữa vĩ cầm làm tại Trung Quốc và Cremona. Ở Trung Quốc, một chiếc đàn được làm từ nhiều người khác nhau, dù là làm thủ công, nhưng theo dây chuyền. Trong khi vĩ cầm làm ở Cremona chỉ do một người duy nhất làm, đàn mang tính cách của người nghệ nhân làm ra nó. Theo tôi, điều này rất quan trọng
”.
Năm 2019, Trung Quốc xuất khẩu 1,5 triệu đàn vi-ô-lông ra toàn thế giới. Đàn được làm ra nhanh hơn và rẻ hơn. Theo số liệu của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Trung Quốc là nhà sản xuất nhạc cụ hàng đầu thế giới, với kim ngạch xuất khẩu lên đến 77,8 triệu USD trong năm 2019, chiếm hơn một nửa thị trường toàn cầu. Về phần Ý, nước này đứng ở vị trí thứ năm, với 4,6% số lượng nhạc cụ xuất khẩu thế giới, sau Vương quốc Anh và Đức.

Khách hàng chính của Ý đến từ Nhật Bản và Hoa Kỳ. Những nghệ nhân làm đàn của Ý cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh từ hàng giả. Một số nhạc cụ ghi “made in Cremona” nhưng lại được sản xuất ở nơi khác với giá thành rẻ hơn rất nhiều.

Nguy cơ “mai một nghề chế tác đàn vĩ cầm”

Cũng như các nhóm ngành khác, nghề làm vĩ cầm thủ công cũng không tránh khỏi ảnh hưởng của đại dịch. Năm 2020, vùng Lombardia của Ý là ổ dịch đầu tiên bùng phát tại Châu Âu. Một trong những ca tử vong đầu tiên của châu lục này xảy ra ở Cremona. Thời điểm đó, Cremona trở thành một trong những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất hành tinh, khi một phần ba của gần 70 000 dân bị nhiễm Covid-19. Những hình ảnh thương tâm về bệnh viện quá tải, nhân viên y tế kiệt quệ do có quá nhiều ca nhiễm, nhà xác không còn chỗ để.

Các xưởng làm đàn vĩ cầm cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, các nghệ nhân không được phép đến làm tại xưởng trong suốt thời gian phong toả. Điều này khiến Unesco lo ngại đến sự suy giảm “tính liên tục của nghề ” và nguy cơ “mai một nghề làm đàn vĩ cầm” do quá trình “thầy truyền trò nối” bị gián đoạn trong một thời gian dài. Những thách thức nhằm bảo vệ sự tiếp nối của nghề được đặt ra từ trước trở nên khó khăn hơn bởi đại dịch. Chính quyền địa phương kêu gọi cộng đồng di sản thế giới “giúp đỡ xác định các chiến lược tốt nhất để bảo vệ ngành làm vĩ cầm thủ công”.

Theo bà Virginia Villa, giám đốc bảo tàng vĩ cầm, Museo del Violino, việc lưu giữ những giá trị truyền thống của Cremona cần được quan tâm hơn nữa :


Vĩ cầm có lẽ là loại nhạc cụ ít bị thay đổi nhất. Và trên tất cả, Cremona đã được ghi danh vào Unesco như là di sản văn hoá về kỹ thuật làm vĩ cầm, chính vì thế, kỹ năng của những nghệ nhân làm vĩ cầm tại Cremona từ quá khứ cho đến hiện tại cần phải được bảo tồn và duy trì. Lịch sử cần được bảo vệ, đó là những quy tắc rất quan trọng. Chính việc đàn vĩ cầm cho đến tận ngày nay vân gần như là nhạc cụ hoàn hảo nhất đã nói lên tất cả

Luồng gió mới cho thành phố trung cổ

Hiện nay, Cremona đang dần quay trở lại quỹ đạo bình thường, cùng với việc xuất khẩu “âm nhạc”. Ý đã mở cửa lại với khách du lịch đã trích ngừa Covid-19 từ nhiều quốc gia. Cộng đồng vi-ô-lông của Cremona đang phục hồi nhờ sự trở lại của hội chợ âm nhạc vào tháng 9 năm 2021.

Thành phố vừa ra mắt công chúng yêu âm nhạc vào đầu tháng 10 năm 2021, Học viện dành riêng cho các nhạc cụ bộ dây, học viện ‘Stauffer Center for Strings’. Giáo viên là các nhạc sĩ nổi tiếng thế giới, học viện đào tạo những người chơi vĩ cầm, viola, cello và bass tài năng. Một số sinh viên có năng khiếu ở học viện có thể được phép sử dụng các nhạc cụ được chế tác ở chính Cremona.

Francesca Dego là một trong những nghệ sỹ vi-ô-lông nổi tiếng nhất ở Ý, cô đã tốt nghiệp tại Học viện âm nhạc Stauffer Foundation, thành lập cách đây 50 ở Cremona, là "công ty mẹ" của Học viện Staffer Center for String. Theo Francesca Dego, không có nơi nào lý tưởng hơn để học và nghiên cứu về đàn vĩ cầm như ở Cremona :


Cremona là một lớp học tuyệt vời dành cho những bậc thầy về hòa nhạc, trường học cho các nhạc trưởng, tất nhiên vì là một trong những nghề “đứng đầu” chỉ huy cả dàn nhạc nên có rất ít giáo viên. Không có nhiều sinh viên có thể tham gia khóa học và gặp mặt trực tiếp với rất nhiều nhạc trưởng khác nhau từ các dàn nhạc hàng đầu thế giới như ở đây. Vì vậy tôi thấy điều này thật tuyệt với. Nhiều cuộc hội thảo được tổ chức, các sinh viên quốc tế có cơ hội đến đây gặp gỡ những bộ óc sáng tạo khác từ Cremona, chẳng hạn như từ thế giới chế tạo đàn vĩ cầm
.”
Sự xuất hiện của Học viện mới, đào tạo chuyên môn về nhạc cụ bộ dây ở Cremona, như là một luồng gió mới thổi vào thành phố trung cổ. Điểm đến Cremona trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhạc sỹ và những người yêu vĩ cầm. Cremona có dây đàn của riêng mình để đánh lên những bản nhạc du dương.


viethoaiphuong
#640 Posted : Thursday, November 4, 2021 5:42:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,736
Points: 15,366

Thanks: 852 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Truyện tranh mới Astérix : Liều thuốc tiên hái ra tiền

01/11/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Được phát hành từ cuối tháng 10/2021, chuyến phiêu lưu mới của anh hùng xứ Gaule mang tựa đề ''Astérix et le Griffon'' (tạm dịch Astérix và con linh vật). Đây là tập thứ 39 trong bộ truyện tranh cực kỳ ăn khách của Pháp, nhưng lại là tập truyện đầu tiên được xuất bản sau khi đồng tác giả Albert Uderzo qua đời hồi tháng 03/2020.

Đằng sau tập truyện tranh mới của nhà xuất bản Albert René, hai tác giả Jean-Yves Ferri (kịch bản) và Didier Conrad (minh họa) một lần nữa đã thành công trong việc tái tạo thế giới của đôi bạn Astérix và Obélix với giọng điệu dí dỏm khôi hài mà vẫn có chiều sâu. Từ cách dùng ngụ ngôn hay ẩn dụ, dựng cốt truyện với nhiều cách đọc, lối chơi chữ bóng bẩy trong cách đặt tên các nhân vật, hai tác giả Ferri và Conrad đều rất trung thành với phong cách sáng tác của hai bậc thầy là René Goscinny (1926-1977) và Albert Uderzo (1927-2020).

Khi Astérix không thể trông cậy vào thần dược

Cặp bài trùng René Goscinny (kịch bản) và Albert Uderzo (minh họa) đã khai sinh nhân vật anh hùng Gô loa Astérix vào năm 1959. Trong vòng nhiều năm liền, họ đã làm việc chung với nhau, để hoàn thành một trong những bộ truyện tranh nổi tiếng nhất của Pháp, không kém gì nhân vật phóng viên Tintin của họa sĩ Hergé người Bỉ. Tính tổng cộng, trong vòng hơn 6 thập niên, đã có hơn 365 triệu cuốn được bán trên toàn cầu, nâng Astérix lên hàng bộ truyện tranh Pháp ăn nhất thế giới.

Về nội dung, ''Astérix et le Griffon'' (Astérix và con linh vật) kể lại câu chuyện của hoàng đế César phái binh đoàn La Mã sang Trung Á để săn bắt một con ''Griffon'', một loài thú thần thoại có cánh, nửa sư tử nửa đại bàng. Theo sự hướng dẫn của nhà địa lý Terrainconnus, đoàn quân La Mã đột nhập vào lãnh thổ của bộ tộc người du mục Sarmate, trên đường họ cũng gặp các chiến binh Amazon.

Trước đà thẳng tiến của đội quân La Mã, pháp sư Sarmate CékanKondine yêu cầu sự giúp đỡ của các anh hùng xứ Gaule. Linh thú Griffon là vật tổ của người Sarmate, một biểu tượng linh thiêng lâu đời, phù hộ cho bộ tộc du mục chuyên sống trên lưng ngựa, tự do rong ruổi tận chân trời, giữa các vùng thảo nguyên mênh mông bát ngát. Ở đây hai tác giả Ferri và Conrad đã cài vào trong truyện một vài yếu tố táo bạo, anh hùng Astérix buộc phải dùng mưu kế và tài trí để giúp người du mục đánh bại quân La Mã. Thuốc tiên của pháp sư Panoramix giúp cho Astérix có sức mạnh kỳ diệu vô song, lại hoàn toàn không hiệu nghiệm khi được uống vào trên các vùng đất đóng băng.

Truyện Astérix được tung ra thị trường như blockbuster

Cứ hai năm một lần, nhà xuất bản Albert René lại cho ra mắt một tập truyện mới. Lần này, truyện ''Astérix et le Griffon'' được in ở mức 5 triệu bản, trong đó có 2 triệu bản bằng tiếng Pháp và 3 triệu bản phát hành trong 16 ngôn ngữ khác, chưa kể đến các phiên bản sang trọng deluxe (13 ngàn cuốn) và tuyển tập artbook (1.050 quyển) với giá cao hơn gấp 10 lần so với một tập truyện tranh thông thường.

Tựa như các hãng phim lớn của Hollywood khi cho ra mắt phim blockbuster với kinh phí cao, kế hoạch trình làng truyện Astérix được tính toán kỹ lưỡng. Tất cả các điểm bán hàng trên toàn cầu đồng loạt cho ra mắt tập truyện vào cùng một ngày. Để tránh bị rò rỉ thông tin, tác phẩm bị sao chép lậu, truyện tranh không được gửi sớm cho giới truyền thông báo chí. Nước Pháp vẫn là thị trường đầu tiên thu hút nhiều độc giả tìm mua bộ truyện tranh này, kế theo sau là các nước Đức, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha. Tập đoàn Hachette nắm giữ quyền khai thác các tập truyện do Albert René xuất bản từ năm 2008. Từ đó trở đi, mỗi album được phát hành thường đạt số bán kỷ lục từ 5 đến 7 triệu bản, đây cũng là món quà mà các gia đình thường đặt dưới chân cây thông, nhân mùa Giáng Sinh về.

Cho dù Goscinny và Uderzo, hai đồng tác giả khai sinh nhân vật Astérix, nay đều đã qua đời, nhưng chưa bao giờ anh hùng xứ Gaule lại thành công đến như vậy. Có rất nhiều dự án phóng tác đang chờ được phát hành từ đây cho đến năm tới. Chẳng hạn như chú chó con Idefix đã được chuyển thể thành phim hoạt hình nhiều tập trên đài truyền hình Pháp France Télévisions. Phiên bản điện ảnh thứ năm ''Chuyến phiêu lưu của Astérix trong Đế quốc Trung Hoa'' với các diễn viên Marion Cotillard, Guillaume Canet, Gilles Lellouche hay Vincent Cassel trong các vai chính. Ban đầu dự trù quay ở Trung Quốc, bộ phim rốt cuộc đã được thực hiện tại Pháp và Maroc. Bộ phim truyện với ngân sách hơn 60 triệu euro, sẽ được cho ra mắt khán gải vào cuối năm tới.

Bốn dự án hợp tác lớn về Astérix trong thời gian tới

Bên cạnh đó, nền tảng trực tuyến Netflix và nhà xuất bản Albert René đã ký hợp đồng cộng tác để chuyển thể tập truyện tranh "Le Combat des Chefs" (Trận đấu của các thủ lĩnh) thành phim hoạt hình nhiều tập. Dự án này được lên kế hoạch cho cuối năm 2022 đầu năm 2023, và được giao cho Alain Chabat. Đạo diễn người Pháp đã từng quay vào năm 2002 bộ phim "Astérix : Mission Cléopâtre" và lập kỷ lục doanh thu phòng vé với hơn 14 triệu lượt khán giả tại Pháp trong 4 tháng. Về phần các dòng sản phẩm khác, tập đoàn Hachette đã ký thỏa thuận sản xuất trò chơi với hãng Playmobil và thiết kế game video điện tử với công ty Microids.

Về phía Công viên giải trí Astérix, đây là chi nhánh quan trọng của tập đoàn 'Compagnie des Alpes. Nếu như thời kỳ phong tỏa do đại dịch Covid-19 đã khiến cho tất cả các công viên giải trí cuộc phải đóng cửa trong nhiều tháng, thì kể từ khi được mở lại Công viên Astérix đã có phần bội thu đặc biệt là vào mùa thu năm nay, cho dù chưa thể tìm lại mức doanh thu kỷ lục của năm 2019, với hơn 2,3 triệu lượt khách tham quan (tính từ đầu tháng 10/2018 cho tới cuối tháng 09/2019).

Có lẽ cũng vì thế mà ban giám đốc điều hành Parc Astérix tỏ ra lạc quan về tương lai, vì cũng như những kỳ trước, công viên giải trí Astérix vẫn thường thu hút được thêm nhiều khách viếng thăm do tác động dây chuyền của thời điểm phát hành các tập truyện tranh kể lại các chuyến phiêu lưu của anh hùng Gô loa và những người bạn đồng hành.

Hai tác giả Goscinny và Uderzo vào năm 1970 đã từng vẽ thống đốc La Mã Gracchus Garovirus cất giấu một khối vàng khổng lồ vào trong kho lưu trữ, như thể đó là tài khoản tại một ngân hàng lớn ở Thụy Sĩ. Nếu còn sống, có lẽ bản thân cả hai tác giả này cũng không thể ngờ rằng nhân vật Astérix chính là công thức thần dược, là liều thuốc tiên biến anh hùng xứ Gaule thành một thương hiệu hái ra tiền.


Users browsing this topic
Guest (3)
33 Pages«<30313233>
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.