Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

32 Pages«<303132
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#621 Posted : Friday, September 3, 2021 3:23:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)


Những tình khúc Pháp đẹp nhất qua giọng ca Michel Delpech

21/08/2021 - Tuấn Thảo / RFI
''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) là tựa đề tập nhạc của Michel Delpech được trình làng vào mùa hè năm 2021. Đây là album tưởng niệm đầu tiên phát hành đúng 5 năm sau ngày nam danh ca người Pháp qua đời (đầu năm 2016) vì bệnh ung thư ở tuổi 69. Tuyển tập chọn lọc này bao gồm 11 nhạc phẩm ăn khách tiếng Pháp do Michel Delpech ghi âm cách đây gần hai thập niên.

Theo thông tin từ phía gia đình của nam danh ca, vào năm 1996, Michel Delpech đã nhận lời tham gia vào dự án thu thanh cho bộ đĩa ''Les plus belles Chansons Françaises'' (Những bài hát Pháp đẹp nhất) phản ánh nửa thế kỷ sáng tác nhạc Pháp từ năm 1946 đến năm 1996.

Dự án khá quy mô này bao gồm toàn là những bản ghi âm lại (cover) tập hợp rất nhiều giọng ca nổi tiếng, trong đó có Nicole Croisille, Guesch Patti, Gilbert Montaigné, Richard Anthony, Serge Lama... trình bày lại ca khúc của các nghệ sĩ đàn anh hay là các tác giả cùng thời. Về phần mình, Michel Delpech chủ yếu chọn trình bày các tác giả mà ông hằng ngưỡng mộ kể cả Gainsbourg, (Je suis venu te dire que je m'en vais / Nói với người ta ra đi), Nino Ferrer (Le Sud / Miền Nam) hay Michel Berger (Quelques mots d'amour / Vài lời thương yêu).

60 ca khúc ghi âm cho bộ đĩa Nửa thế kỷ nhạc Pháp

Theo lời vợ (Geneviève) của nam danh ca, Michel Delpech đã dành hơn hai tháng để ghi âm khoảng 60 bản nhạc cho bộ đĩa gồm 30 CD này. Để tưởng nhớ danh ca quá cố, gia đình ông đã chọn lựa trong 60 bài này, khoảng 10 ca khúc mà sinh thời ông cho là hay nhất. Các bài hát (ghi âm vào năm 1996) nay được hòa âm lại qua tài phối khí của Dominique Blanc-Francard, kỹ sư âm thanh từng đoạt giải thưởng âm nhạc Pháp Victoires de la Musique vào năm 1992 nhờ cộng tác với David McNeil và Julien Clerc.

Gia đình của nam danh ca đã mượn lại tựa đề bài hát ''Photos Souvenirs'' (Những tấm hình kỷ niệm) của tác giả William Sheller để làm chủ đề cho tuyển tập chọn lọc của Michel Delpech. Bản thân ông, lúc sinh tiền vừa là ca sĩ kiêm tác giả, cho nên Michel Delpech chọn những bài hát của những nhà soạn nhạc mà ông mến phục tài năng. Theo lời con trai của nam danh ca (Emmanuel Delpech), lúc còn sống, bố anh đặc biệt yêu chuộng nhạc phẩm ''Quelques mots d'amour''. Michel Delpech khâm phục tài nghệ soạn giai điệu cũng như đặt ca từ của Michel Berger, dùng những lời lẽ rất đơn giản để diễn đạt chiều sâu nội tâm. Và ông từng cho biết ông ước gì viết được một bài hát như bài ‘‘Quelques Mots d’Amour’’ mà sau đây là phần phóng tác.

Nhìn mọi người xung quanh ; Mà vẫn như thiếu vắng ; Chút cảm giác hiu quạnh ; Cho hồn thêm vị đắng

Nhịp tim vẫn êm đềm ; Nhẹ đập chưa thay đổi ; Không gì xoa dịu nổi ; Tiếng nhạc buồn sâu đêm

Chỉ cần thiếu một người ; Vũ trụ vắng tất cả ; Ghép tim mạch hóa đá ; Đành muộn mất trọn đời

Chợt nghe hồn hóa bướm ; Vươn cánh tới sao trời ; Yêu thương chỉ mong đợi ; Nhắn đôi lời mà thôi

Trong số 10 ca khúc do Michel Delpech ghi âm lại, ngoài Gainsbourg, Sheller và Berger (Quelque chose de Tennessee / Một chút gì của Tennessee), còn có Michel Jonasz, Philippe Chatel, Julien Clerc, Alain Souchon hay Laurent Voulzy (Coeur Grenadine / Trái tim ngọt ngào), đa số đều là nghệ sĩ chủ yếu là phái nam của cùng một thế hệ. Album này cho thấy cái nhìn tinh tế của Michel Delpech về các bạn đồng nghiệp, nhưng đó cũng là cái thời (vàng son) của chính mình, khi giọng ca của Michel Delpech ngự trị trên đỉnh cao cho tới những năm 1984-1985, trước khi thoái trào và nhường chỗ lại cho thế hệ ca sĩ / tác giả Pháp cực thịnh những năm 1980 như Goldman, Berger hay Balavoine…

Những tấm ảnh kỷ niệm : Lời lẽ đơn giản, chiều sâu nội tâm

Như nam danh ca Michel Delpech có lần nhận xét : Bài hát, tiếng nhạc là một thứ gì đó có vẻ không quan trọng mà thật ra lại rất hữu ích. Đến một ngày nào đó, khi ta không còn được nghe những giai điệu thân quen trong cuộc sống, thì lúc ấy ta mới cảm nhận được sự trống vắng. Nói cách khác, có những bài hát đã đi vào tâm hồn từ lúc nào không hay, ngay cả khi chúng ta không chú tâm lắng nghe.

Sinh thời, Michel Delpech là một ca sĩ kiêm tác giả ăn khách những năm 1960 và 1970, khi thực hiện phần hòa âm lại, nhóm sản xuất giữ nguyên chứ không chỉnh sửa giọng ca của ông, khác hay chăng là ở trong cách phối khí mới, không quá tân kỳ hiện đại, nhưng đủ để nhấn mạnh ý tứ của tác giả bài hát nguyên tác : cách đọc của Michel Delpech cho thấy ông hiểu thấu lối dùng chữ của bạn đồng nghiệp, cách hát của ông vì thế có chiều sâu mà vẫn tự nhiên.

Một số ca khúc trên tuyển tập này từng là những sáng tác về đam mê đôi lứa, tình yêu đầu đời (''Fais moi une place'' hay là ''Coeur Grenadine'') Michel Delpech hát lại ở độ tuổi hồi xuân, với những tình cảm thiết tha của một người từng trải, biết đau khổ mất mát là như thế nào. Ngay trong những tình khúc thật buồn với nỗi đau vô hạn, giọng ca của ông vẫn thanh thản, thắm thiết dịu dàng. Tựa như một nhà nhiếp ảnh với lối quan sát tường tận tinh tế, với ánh mắt bao dung trìu mến, Michel Delpech nắm bắt được những cung bậc cảm xúc thật gần gũi, để rồi truyền tải những khoảnh khắc đẹp nhất của một đời người.

viethoaiphuong
#622 Posted : Saturday, September 4, 2021 1:40:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Chopin, những áng thơ trên phím ngà

04/09/2021 - Hoài Dịu / RFI
Trái ngược với những etude các thời kỳ trước, bản nhạc chỉ tập trung phát triển, rèn luyện kỹ thuật chơi đàn, thì etude ở giai đoạn âm nhạc lãng mạn như của Chopin hay Liszt là những tác phẩm nghệ thuật, được cô đọng từ nhiều cảm xúc khác nhau. Ấy là những áng thơ rạng rỡ, những hình ảnh như mơ, như thật, để lặng ngắm, để giữ chúng cho riêng mình.

Mười hai bản Etude , tập Op.25 mà Chopin đề tặng nàng Marie d’Agoult, người vợ sắp cưới của ông, một lần nữa minh chứng cho tài năng viết thơ bằng nhạc của nhạc sỹ xuất chúng đất Ba Lan.

Mở đầu tập này, bản Etude số 1 (op.25) « Dòng suối » hay còn gọi là « Etude của đàn harpe » với vô số dải hòa âm mờ ảo. Ở đây Chopin muốn ưu tiên kỹ thuật chơi hợp âm rải song song với giai điệu khá bay bổng ở phần tay phải. Theo như Schumann, nhà soạn nhạc lãng mạn người Đức, thì khi bản nhạc kết thúc, ta có cảm giác như vừa thấy điều gì đó nửa hư nửa thực, thoắt chạy trốn mất mà ta không kịp bắt lấy nó.

Niềm an ủi và những nốt nhạc lỗi

Được mệnh danh « Niềm an ủi », bản số 2 giọng fa thứ (Op.25) mà Schumann gọi nó là « bài hát của một đứa trẻ đang mơ ngủ ». Dưới nét lướt bồng bềnh của tiết tấu chùm ba, những nốt nhạc dịu nhẹ tựa theo đó mà trôi vào giấc nồng của bé. Cũng như những Etudes khác của Chopin, bản này là một trong nhiều lựa chọn thường xuyên trong các chương trình hòa nhạc. Bởi đó là sự hợp nhất hoàn hảo giữa yếu tố nghệ thuật và thử thách kỹ thuật.

Lúc sinh thời, Chopin không bao giờ có ý định gọi tên hình tượng âm nhạc cụ thể cho từng đứa con tinh thần của mình. Tuy nhiên mỗi giọt âm thanh, mỗi ý nhạc của ông luôn khiến người nghe có cảm giác như xem một bức họa , đọc một áng thơ, liên hệ một hình ảnh nghệ thuật nào đó. Nói cách khác, ông có một tiếng đàn rất riêng, một thứ ngôn ngữ cô đọng từ trái tim khát khao yêu thương và một tâm hồn thanh tao mang tên Chopin.

Etude số 5 (Op.25) đôi khi còn được gọi là « Nốt nhạc lỗi », là bởi hòa thanh của étude này có rất nhiều âm nghịch tai được đưa vào một cách cố ý. Tác phẩm có hai phần tương phản : phần thứ nhất với tiết tấu hoạt bát, có nhiều nốt chõi, đưa người nghe về với ký ức tuổi thơ, là nét mặt rạng ngời của những đứa trẻ đang nô đùa. Phần thứ hai, giai điệu thơ mộng (ở tay trái) trên nét chạy rộng dài (ở tay phải), là cánh đồng đầy gió, là chân trời xa vợi, chất chứa bao ước mơ thơ trẻ sáng trong.

« Đôi khi mỏng manh tựa làn khói, khi thì rung động hạnh phúc, khi lại tinh khiết như pha lê, không thì ồn ào bận rộn ». Tất cả được gói ghém trong bản Etude số 6 (Op.25) giọng son thăng thứ, còn gọi là Etude « Quãng ba ». Trong suốt toàn bộ tác phẩm, tay trái chạy quãng ba khi thì ở gam bán cung (gamme chromatique) khi lại ở gam nguyên cung (gamme diatonique). Cái khó ở đây là làm sao để không bị lẫn lộn giữa hai kiểu gam và việc sử dụng ngón tay thế nào cho phù hợp với từng gam. Trong khi đó, tay trái ngân nga giai điệu đồng quê : một điệu nhảy ngẫu hứng trên thảo nguyên ắt chăng sẽ buông đi những gánh nặng , lo âu thường nhật ?

Những cánh bướm đồng xanh

Một điểm lặng giữa ốc đảo étude thơ Chopin, bài số 7 (op.25) vang lên như một bản nocturne chậm rãi, u tối. Nỗi hoài niệm về cố hương với những đối âm xót xa và lời muộn phiền tuôn ra từ những ngón tay trên phím ngà. Bản nhạc này, đôi khi được người ta gọi tên là « Trên đàn cello », do bởi giai điệu mang tính tự sự viết trên các nốt trầm. Một số nhạc sỹ sau này đã chuyển soạn nó thành tác phẩm song tấu cho đàn cello và piano. Mặc dù mang hơi thở nocturne nhưng bản thân vẫn giữ chức năng của một étude, cho phép người nghệ sỹ rèn luyện kỹ thuật chơi nhạc phức điệu, đối âm xen kẽ với vài tính năng điêu luyện khác.

« Cánh bướm » là tên gọi của Etude số 9 (op.25), một bản nhạc nhanh và nhẹ nhàng được yêu chuộng nhất. Độ khó về kỹ thuật của bài này nằm ẩn sau tiết nhịp 2 /4, trong đó tay phải chơi hợp âm không ngừng nghỉ, xen kẽ với quãng tám, lúc phải đánh nhấn, liền tiếng(légato), lúc thì nảy ngón tay (staccato). Thế nên, để chinh phục bản này, người chơi phải rèn luyện sư mềm mại và dẻo dai đặc biệt ở phần cổ tay để đạt tới ngưỡng mà khi âm thanh thoát ra, nghe tựa hồ như những cánh bướm mỏng manh dập dờn, đậu rồi lại bay giữa đồng cỏ xanh. Một điều thú vị nữa mà không phải ai cũng biết, không hiểu do vô tình hay cố ý mà motif âm nhạc « Cánh bướm » của Chopin dường như cùng nguồn cảm hứng với bản Sonate giọng son trưởng, chương 3, opus 79 của nhà soạn nhạc Beethoven.

Chopin chưa bao giờ có ý nghĩ về một tác phẩm thơ văn khi đặt bút sáng tác. Tuy nhiên, mỗi nốt nhac, mỗi câu đàn vang lên là bài thơ rất đẹp. Dù có buồn bã hay hạnh phúc, dù là nước mắt hay tiếng cười, những trang thơ đó cứ theo hoài nhân thế, để rồi vỗ về , để mà thủ thỉ như một người bạn đường của chúng ta trên quãng đời này.

viethoaiphuong
#623 Posted : Monday, September 6, 2021 12:42:54 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

RFI - 06/09/2021

(AFP) - Ban nhạc Thụy Điển Abba dẫn đầu thị trường ca nhạc tại Anh Quốc. Hai ca khúc trong album mới sắp trình làng của Abba hiện nằm trong 10 bài hát ăn khách nhất tại Vương Quốc Anh. Theo thẩm định của giới âm nhạc được cập nhập hôm Chủ Nhật 05/09/2021, hai ca khúc I Still Have Faith in You - Tôi Vẫn Tin Người và Don't Shut Me Down - Xin đừng bỏ tôi, hiện tại chiếm hạng 6 và 7 trong Top 10 của làng nhạc Anh. Đó là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy hào quang của Abba vẫn sáng chói sau 40 năm xa sân khấu.


viethoaiphuong
#624 Posted : Saturday, September 11, 2021 11:44:55 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Khi ta hai mươi : Các bài phóng tác hay nhất của Everly Brothers

11/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Giai đoạn thành công của ban nhạc The Everly Brothers trùng hợp với thời kỳ phát triển của phong trào nhạc trẻ những năm 1960 tại Pháp. Điều đó giải thích vì sao đã có khá nhiều bài hát ăn khách của ban nhạc này được phóng tác sang tiếng Pháp.

Hai anh em Phil và Don Everly bắt đầu đi hát từ khi họ lên 10. Thành ra khi trình làng những bản ghi âm đầu tiên vào năm 1957, ban song ca người Mỹ này tuy độ tuổi chỉ mới khoảng đôi mươi, thật ra lại có nhiều năm tay nghề. Một trong những bản nhạc ăn khách đầu tiên của họ chính là bài ''All I have to do …. is dream'' (của hai tác giả nhạc country người Mỹ Felice & Boudleaux Bryant) phát hành vào năm 1958. Trong tiếng Việt, bài này được tác giả Trường Kỳ đặt lời thành ''Khi ta hai mươi'', nhạc phẩm này từng ăn khách trước năm 1975 qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan và gần đây hơn đã được ca sĩ Phương Vy ghi âm lại.

Sau khi giành lấy ngôi vị quán quân trên thị trường quốc tế kể cả Anh, Úc, Canada và Hoa Kỳ, tình khúc ''All I have to do …. is dream'' trở thành bài hát của nhóm The Everly Brothers được phóng tác nhiều nhất. Tính tổng cộng, đã có đến hàng trăm phiên bản trong 10 thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng Ý, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Bồ Đào Nha …

Còn trong tiếng Pháp, bản nhạc này có đến ít nhất ba phiên bản khác nhau. Tại Canada, ban nhạc Les Bel Canto ghi âm ca khúc này với tựa đề ''Seul'' (Cô đơn), còn trên thị trường Pháp có phiên bản phóng tác ''Line'' của Eddy Mitchell thời ông là ca sĩ chính của nhóm Les Chausettes Noires, đồng thời vào năm 1963, một trong những thần tượng nhạc trẻ nổi tiếng nhất thời bấy giờ là Sheila ghi âm một phiên bản tiếng Pháp khác với tựa đề ''Pendant les Vacances'' hiểu theo nghĩa ‘‘Tình yêu trong kỳ nghỉ hè’’.

Richard Anthony và bản nhạc ''Khóc thầm trong mưa"

Một trong những gương mặt tiên phong của phong trào nhạc trẻ Pháp những năm 1960 chính là nam ca sĩ quá cố Richard Anthony (1938-2015). Vào lúc các thần tượng như Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Hervé Vilard hay Chrisophe vẫn còn ngồi ghế nhà trường, ông đã ký hợp đồng ghi âm vào năm 1958, thời ông phóng tác ca khúc ''You are my destiny'' của Paul Anka sang tiếng Pháp. Vào năm 1961, trong lúc đang đi công tác ở Luân Đôn, ông tình cờ nghe được cách hát bè điêu luyện nhuần nhuyễn của nhóm The Everly Brothers trong bản nhạc ''Crying in the Rain'' (Khóc thầm trong mưa).

Ca khúc này là bản nguyên tác của hai nhạc sĩ Carole King và Howard Greenfield. Khi về tới Paris, Richard Anthony mới chấp bút đặt lời tiếng Pháp thành ''J'irai pleurer sous la pluie'' (Khóc một mình dưới mưa) tình khúc ăn khách mùa hè năm 1962. Đây là một trong những bài hát tủ của nam danh ca. Bản thân ông ghi âm nhiều phiên bản tiếng Pháp cho các vòng lưu diễn trên sân khấu, mở đường cho các bản phóng tác sau này với nhiều lối hoà âm khác nhau.

Trong đời có ai hiểu thấu

Con tim vỡ đến độ nào

Mặc nhiên ngẩng cao mái đầu

Dù muôn vạn nỗi buồn đau

Người sẽ chẳng bao giờ thấy

Trái tim mảnh vụn còn đây

Hạt mưa sa vào đôi mắt

Bỗng dưng hóa mặn thật đầy

Chờ tới khi trời giông bão

Mưa tuôn thác đổ từ cao

Cho bao niềm đau chôn giấu

Thầm theo dòng lệ tuôn trào

Sau khi tạo dấu gạch nối giữa dòng nhạc tình của Paul Anka với dòng nhạc rock của The Beatles (nhạc phẩm ''Put your head on my shoulder'' sẽ có hai phiên bản tiếng Pháp ''Prouve moi que tu m'aimes'' và ''Pose ta tête sur mon épaule'') Richard Anthony chuẩn bị nhường ngôi lại cho các giọng ca trẻ như Christophe (Aline) và Hervé Vilard (Capri c'est fini) vào năm 1965. Dù muốn hay không, ông đã mở đường cho phong trào chuyển thể, phóng tác các ca khúc Anh Mỹ sang tiếng Pháp. Riêng về nhóm The Everly Brothers, có khá nhiều ca khúc của ban song ca đã được giới ca sĩ trẻ ở Pháp ghi âm lại.

Claude François thành danh nhờ ghi âm bài ''Made to Love''

Đó là trường hợp của bài ''Le p'tit clown de ton cœur'' (1960) của Johnny Hallyday gợi hứng từ nhạc phẩm ''Cathy's Clown'' của Don Everly. Cũng chính giai điệu ''Made to Love'' do Phil Everly sáng tác, một khi được dịch sang tiếng Pháp thành ''Belles Belles Belles'' đã giúp cho sự nghiệp của thần tượng nhạc trẻ Claude François cất cánh bay cao vào năm 1962, để rồi thành công liên tục trong hơn một thập niên liền.

Trong số những ca khúc để đời của nhóm The Everly Brothers, có nhạc phẩm ''Let it be Me'' ghi âm vào năm 1959 theo cách đặt lời tiếng Anh của tác giả Manny Curtis. Trong nguyên tác, đây là một bài hát tiếng Pháp (mang tựa đề ‘‘Je t'appartiens’’) của ca sĩ kiêm tác giả Gilbert Bécaud. Chính phiên bản tiếng Anh của ban song ca The Everly Brothers đã giúp cho tình khúc này trở nên nổi tiếng trên thị trường quốc tế vào đầu những năm 1960. Sau khi ban song ca chia tay nhau vào năm 1973, Phil Everly từng ghi âm lại ca khúc ''Let it be Me'' với một lối hoà âm mới, chất giọng tenor trong sáng của ông với lối phát âm nhẹ nhàng thướt tha, cách vuốt chữ đầy đặn mượt mà, nâng giai điệu hồn nhiên lên hàng kinh điển.



viethoaiphuong
#625 Posted : Friday, September 17, 2021 8:53:13 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Marguerite Duras, văn chương của điều không viết ra

17/09/2021 - Sơn Ca / RFI
"Con ruồi đã chết ở đó lúc ba giờ hai mươi." Ta nghĩ gì về một con ruồi đã chết, chết ở đó, chết vào lúc ba giờ hai mươi? Trong cuốn Viết, Marguerite Duras kể, khi bà chỉ vào con ruồi vừa chết và nói như vậy với cô Michelle Porte, người đến làm phim tài liệu, cô đã cười ngặt nghẽo, dù bà mỉm cười mong chuyện ấy chấm dứt, nhưng cô vẫn cười.

Duras đã dành nhiều trang sách để mô tả lại tỉ mỉ và phân tích về cái chết của con ruồi mà bà đã chứng kiến. Đằng sau cái chết vô danh đó, nỗi đau cũng tương tự như cái chết của viên phi công trẻ người Anh trong chiến tranh, hay cái chết của hàng triệu người Do Thái trong thảm họa diệt chủng. Với Duras, cái chết của con ruồi mang tính tổng quát trên bản đồ chung của cuộc đời trên trái đất.

" Đó là một cuốn sách.

Là một bộ phim.

Là đêm tối.

Giọng nói ở đây là giọng, được viết ra, ở cuốn sách.

Giọng nói mù lòa.

Không diện mạo.

Trẻ măng.

Lặng lẽ."

Những câu văn trên trong tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc của Duras nói lên điều gì? Là thơ, là văn, là kịch bản phim hay chỉ là những từ ngữ đơn lẻ xếp cạnh nhau vô nghĩa? Có gợi hình, có gợi cảm, có mang câu chuyện nào đằng sau đó chưa được viết ra không?

Ta, người đọc, đôi khi có thể sẽ giống cô Michelle Porte, ta chẳng cảm nhận gì, hoặc chỉ thấy đó là những câu chữ tầm phào. Nhưng Duras đã viết trong cuốn Viết: "Có một thứ văn chương của cái-không-viết-ra. Một ngày nào đó nó sẽ đến. Một thứ văn chương ngắn gọn, không ngữ pháp, một thứ văn chương chỉ toàn các từ. Những từ không có ngữ pháp làm nền tảng. Lạc lối. Đó, những tác phẩm."

Điều này giống như họa sĩ người Pháp Pierre Soulages viết: "Tôi đã xóa bỏ hết những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, chỉ giữ lại những vùng đá khoáng sa mạc, sự bao la nơi những đàn gia súc và con người biến mất, đá trập trùng giữa đá." (1) Soulages không chỉ xóa bỏ những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, ông bỏ đi toàn bộ những màu sắc khác, chỉ giữ lại màu đen. Cách mà Duras đặt những câu văn ngắn gọn, không ngữ pháp, nơi ta chỉ thấy bề mặt thô ráp của ngôn từ, cũng giống như Soulages, họa sĩ bậc thầy của màu đen và ánh sáng, đã vẽ bằng cách chỉ đặt những nét cọ màu đen nằm cạnh nhau.

Marguerite Duras và phong trào tiểu thuyết mới

Nhắc đến Marguerite Duras không thể không nhắc đến phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp vào đầu những năm 1950 đến những năm 1970, là khuynh hướng tiên phong trong việc mở đường cho văn chương đến với điện ảnh. Tiểu thuyết mới đã phá bỏ lối kể chuyện truyền thống, nơi câu chuyện chỉ có một tuyến tính, một dòng chảy của thời gian, ngôi kể chuyện cố định, tên người và xuất xứ nhân vật rõ ràng. Alain Robbe-Grillet là người đầu tiên đưa ra khái niệm tiểu thuyết-điện ảnh, chú ý đến cái nhìn, chú trọng bút pháp miêu tả bằng ngòi bút-camera, đưa văn bản viết gần gũi hơn với các phân cảnh điện ảnh, các chương được phân chia thành các đoạn văn ngắn không theo trật tự thời gian, giống kỹ thuật dựng phim trong điện ảnh. (2)

Đập ngăn Thái Bình Dương, Người tình và Người tình Hoa Bắc của Duras đều có chung đề tài Đông Dương, đều có bi kịch liên quan đến mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt mà người mẹ bị lừa mua. Đập ngăn Thái Bình Dương được viết năm 1950, tuy vào đầu thời kỳ của phong trào tiểu thuyết mới, nhưng vẫn mang dáng dấp của lối kể chuyện truyền thống. Năm 1984, Duras viết tiểu thuyết Người tình, sau gần 30 năm kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được bà viết theo phong trào tiểu thuyết mới là cuốn Le Square (1955), nghệ thuật viết của bà đã đi xa hơn rất nhiều so với những gì mà phong trào tiểu thuyết mới đã định nghĩa, giúp bà dành giải Goncourt với kỷ lục sách được bán ra là 1,63 triệu bản. Kỷ lục này vẫn đứng đầu danh sách tiểu thuyết đoạt giải Goncourt được bán ra nhiều nhất cho đến nay.

Ở những trang đầu của Người tình, Duras viết: "Tôi đã viết nhiều về những thành viên trong gia đình tôi, nhưng lúc bấy giờ họ đều còn sống, mẹ tôi và những người anh tôi. Và tôi đã đi vòng quanh họ, đi vòng quanh tất cả những điều này mà không thực sự nắm bắt lấy họ." Như vậy, Người tình đã đi sâu hơn, đã nhìn trực diện hơn, đã viết ra được nhiều hơn những điều không viết hoặc chưa thể viết ở những tiểu thuyết trước. Không đồng tình với đạo diễn Jean-Jacques Annaud trong việc chuyển thể tiểu thuyết thành phim, Duras đã viết lại Người tình theo lối thể nghiệm văn bản, vừa là tiểu thuyết văn học vừa là kịch bản phim. Năm 1991, tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc đã được ra đời như thế. Tiểu thuyết sau không chỉ là sự tái cấu trúc về mặt phong cách so với tiểu thuyết trước, tác phẩm còn chứa đựng những điều mà Duras đã không viết ra ở tiểu thuyết trước.

Tiểu thuyết Người tình và Người tình Hoa Bắc

Người tình là một tiểu thuyết văn học chứa đựng nhiều ngôn ngữ điện ảnh như thể bản thân văn bản đã trở thành những thước phim giàu hình ảnh chạy qua tâm trí người đọc. Không gian, thời gian, ngôi kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật được dịch chuyển tài tình, khiến cho mỗi trường đoạn nhỏ của tác phẩm giống như những mảnh mosaïque được Duras tỉ mỉ sáng tạo riêng biệt, rồi đặt chúng cạnh nhau trong trạng thái rất phiêu của cảm xúc, khiến chúng trở nên mềm mại, mơ hồ, không cần hiểu, không cần lý giải.

Nhịp điệu của sự dịch chuyển này ban đầu được kéo giãn ở những chương đầu của tiểu thuyết. Trường đoạn cô gái trên chiếc phà qua sông được viết theo dòng ý thức, khi suy nghĩ của nhân vật chảy như những nhánh sông nhỏ, lúc trải ra, lúc bện chặt lấy nhau, để rồi trở đi trở lại điểm mốc chính là khi cô đang đứng trên phà. Đồng thời, Duras đã dùng đồ vật để kể chuyện, dùng mũ, áo, giầy...để khéo léo hé lộ cho bạn đọc biết về hoàn cảnh gia đình và người mẹ.

Nhịp điệu dịch chuyển mỗi lúc một nhanh hơn, ở những chương gần cuối tác phẩm, các phân cảnh thay đổi liên tục, nhòe vào nhau, chồng chéo lên nhau. Một trường đoạn đẹp nơi hình ảnh đan xen vào nhau là cảnh xen kẽ chuyện tình của bà Lớn với một thanh niên ở Savana Khét, người trẻ hơn bà nhiều tuổi đã tự sát bằng một viên đạn, với chuyện tình của cô gái cùng chàng triệu phú người Tàu. Nhưng đẹp và xúc động hơn cả có lẽ là trường đoạn trong hành trình cô gái trên tàu về Pháp, nơi cô kể về một người thanh niên trẻ nhảy xuống đại dương tự vẫn trong đêm; rồi một đêm khác khi nghe tiếng nhạc Chopin vang lên dưới bầu trời được thắp sáng bởi những vì sao rực rỡ, cô đã định đứng lên với ý nghĩ sẽ gieo mình xuống biển cả; và bất chợt cô nghĩ về người tình Trung Hoa: "Nàng không chắc chắn rằng nàng đã không yêu chàng với một tình yêu nàng không nhìn thấy, bởi vì tình yêu đó đã đánh mất chính nó trong cuộc tình như nước trong cát."

Trong cả hai tiểu thuyết, Duras chỉ dùng tình yêu ấy làm nền để kể những câu chuyện khác. Người tình còn kể về tình yêu thương quá đà của mẹ cho người anh cả, mối quan hệ khắc nghiệt giữa cô gái và mẹ, tình yêu cùng huyết thống của cô với người anh thứ, phức cảm đồng tính của cô và cô bạn Hélène. Câu chuyện về mảnh đất bị ngập mặn ở Cam Bốt và sự bất nhân của người anh cả cũng là những tình tiết không thể bỏ qua. Cách kể chuyện của tiểu thuyết đi từ ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ ba, sang ngôi người kể chuyện trung tính như trong kịch bản phim. Không gian trong tiểu thuyết còn được dịch chuyển sang Pháp ở giai đoạn sau khi gia đình đã rời Đông Dương còn thời gian luôn được đo bằng tuổi của cô bé.

Người tình Hoa Bắc đã hé lộ thêm những điều Duras chưa nói hết ở Người Tình, hoặc có thể, những điều viết thêm ra chỉ là tưởng tượng để bà có cơ hội được xoa dịu và nguôi ngoai đi những nỗi đau. Những điều viết thêm này như những cành cây trổ thêm nhánh, nơi xuất hiện thêm nhân vật Thanh và cộng thêm một tình yêu nữa của cô gái với nhân vật này. Không gian ở Pháp không được nhắc đến, thời gian chính xác bắt đầu câu chuyện vào năm 1930, nhưng những mối quan hệ tình cảm giữa các nhân vật trở nên chồng chéo và phức tạp hơn. Phức cảm đồng tính rõ hơn khi Hélène được xuất hiện nhiều hơn. Mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt và người anh cả cũng được đẩy ra làm phân cảnh chính, được đặt lên bàn để làm cuộc trao đổi về tiền bạc rõ ràng hơn. Cô gái, đã thực sự làm tình với người anh thứ của mình.

Người tình Hoa Bắc có thể như một sự thèm khát được giải đáp cho một câu hỏi, một niềm hy vọng hoặc một sự xoa dịu về tình mẫu tử giữa cô gái và mẹ. Đó là điểm quan trọng khác biệt nhất trong nội dung giữa hai tiểu thuyết. Ngay từ đầu, cô gái tha thiết hỏi mẹ tại sao mẹ lại yêu người anh cả như thế, mà chẳng bao giờ yêu cô và người anh thứ. Cô đã khóc về sự bất công khủng khiếp mà mẹ cô là nạn nhân trong sự lừa gạt của bọn người da trắng ở sở địa chính Pháp. Cô thương mẹ. Còn người mẹ cũng tỏ tình cảm với cô gái nhiều hơn qua lời nói, cử chỉ, hành động và đặc biệt bà đã quyết định tách rời người anh cả từ rất sớm để bảo vệ hai đứa con còn lại.

Trong những mối quan hệ yêu đương chằng chịt và những phức cảm nội tâm của nhân vật, ta có cần phải hiểu sâu xa đằng sau những mối quan hệ này thực chất ai yêu ai không? Hay những nhân vật Duras tạo ra chỉ là những ảo ảnh trong tâm trí bà được hắt lên tấm màn chiếu, như muốn viết ra những ẩn ức sâu xa của nhân vật trong tiểu thuyết hay của chính mình, đã phải chịu đựng những tác động và hậu quả từ bối cảnh sống, từ hiện thực.

Duras cho rằng, nỗi đau là thứ mà chúng ta không thể viết về nó một cách trọn vẹn nên khi không thể đi thẳng vào nó, người ta sẽ đi lòng vòng quanh nó. Các nhân vật cũng vậy, những cái tôi bị tổn thương và bị đè nén sẽ trổ những nhánh cây khác tạo nên những phức cảm nội tâm. Vì thế, tình yêu, nỗi đau, niềm khao khát thường được ẩn sâu hơn bên dưới lớp vỏ của ngôn từ. Đằng sau nỗi đau và thân phận con người, là hiện thực, chính là hiện thực mà Duras muốn nói đến.

Kết

Duras viết trong tác phẩm Viết:

"Văn chương, nó đến như cơn gió, nó trần trụi, nó là mực viết, nó là điều được viết ra, và nó trôi qua như không có bất kỳ điều gì khác trôi qua trong đời, không gì hơn, ngoài nó, cuộc sống."

Những điều ta thấy qua văn chương là những điều được viết ra, những điều có thể kể lại, và kể đi kể lại một câu chuyện, bằng nhiều cách khác nhau, thêm vào, bớt đi, trực diện hoặc né tránh, kể thật hoặc tưởng tượng, hoặc hoang tưởng, hoặc phân tách thành nhiều cái tôi trong vô thức, trong chấn thương, trong ẩn ức bị kìm nén. Còn trong cuộc đời, những nỗi đau câm lặng mà con người phải chịu đựng, đôi khi là những điều không được viết ra, hoặc không thể viết ra. Chính điều đó, một lần nữa Duras khẳng định trong tác phẩm Viết: "Viết văn cũng là không nói năng gì, là im miệng, là gào thét không thành tiếng". Điều này đã làm nên văn chương của điều không viết ra. Cô đơn, để rồi viết. Viết trong cô đơn. Viết nhưng không thể nói hết. Cô đơn, càng cô đơn sau khi viết, và vì thế nhà văn viết, viết mãi.

Chú thích:

(1) Pierre Soulages, Những phát ngôn về nghệ thuật. Fage éditions 2017.

(2) Khuynh hướng tiểu thuyết - Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX, Trần Hinh.

https://bitly.com.vn/c6bn5c

Những câu văn, đoạn văn in nghiêng trong bài được trích từ các tác phẩm:

Viết, Marguerite Duras, Trần Văn Công dịch. Nhã Nam và NXB Văn học năm 2010.

Người tình, Marguerite Duras, Lê Ngọc Mai dịch, Nhã Nam và NXB Văn học năm 2007.

Người tình Hoa Bắc, Marguerite Duras, Lê Hồng Sâm dịch, Bách Việt và NXB Văn Học, năm 1991.



viethoaiphuong
#626 Posted : Saturday, September 18, 2021 6:32:24 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

ABBA - Hành trình âm nhạc sau bốn thập niên

18/09/2021 - Gia Trình / RFI
Ban nhạc huyền thoại Thụy Điển, ABBA chính thức tái xuất trở lại sau 40 năm vắng bóng. Sức hút của Dancing Queen hay Mamma Mia vẫn là thỏi nam châm khổng lồ với khán giả hâm mộ. Album mới nhất có tên Voyage (Hành trình) sẽ trình làng vào tháng 11/2021, đồng thời, ABBA sẽ có buổi biểu diễn trực tiếp tháng 05/2022 tại Luân Đôn nhờ sự hỗ trợ tối tân của công nghệ.

Cỗ máy sản xuất những bản hit

ABBA hội tụ được nhiều điểm ưu việt mà hiếm có ban nhạc nào lập lại được kỳ tích như vậy. Thành lập từ năm 1972, bộ tứ làm rạng danh đất nước Thụy điển nhờ vào các sáng tác bằng tiếng Anh. Năm 1974, bản hit Waterloo giành chiến thắng cao nhất trên sân chơi âm nhạc Eurovision. Cú đột phá này mở ra cánh cửa danh vọng trên bình diện toàn cầu. Họ đóng góp cho kho tài nguyên âm nhạc bằng vô vàn ca khúc đi theo năm tháng. Trong thập kỷ 1970, sáu trong 7 bản hit của họ leo lên vị trí số 1 tại Bảng xếp hạng Anh Quốc gồm có Fernando, Mamma Mia, Dancing Queen, Knowing me Knowing you, Take a chance on Me. Ngoài các ca khúc nổi tiếng kể trên, nhóm còn có tới ba ca khúc đạt hạng 1 và hơn 19 ca khúc trong top 10 ca khúc được ưa thích.

Không chỉ âm nhạc, ban nhạc còn gây sự chú ý bởi hai cặp đôi: Lyngstad và Andersson, Faltskog và Ulvaeus. Đội hình cân bằng 2 nam, 2 nữ tạo nên sự khác biệt so với các ban nhạc nam giới lúc đó. Khá thú vị, Faltskog và Ulvaeus kết hôn vào năm 1971 cùng năm với cặp đôi Lyngstad và Andersson trao nhẫn đính hôn. Bất ngờ hơn, sau hơn 10 năm, cả hai cặp đôi cùng tuyên bố ly dị năm 1981. Bất chấp mâu thuẫn tình cảm, xung đột cá nhân, họ vẫn chung tay làm nên album cuối cùng năm 1981. Đáng chú ý là bản hít xuất sắc The Winner Takes It All (Người chiến thắng lấy đi tất cả) phơi bày được những trúc trắc tâm lý, cay đắng, cướp đi hàng triệu con tim khán giả. Ban nhạc chính thức tan rã vào năm 1983 mà không có tuyên bố chính thức.

Ảnh hưởng của ABBA tới các ban nhạc thời kỳ 1990-2000 vô cùng sâu sắc, đặc biệt như nhóm nhạc đồng hương Roxette. Giai điệu đẹp và cuốn hút luôn là kim chỉ nam cho những sáng tác của ABBA. Các bài hát của họ đều khác biệt và không nhàm chán nhờ lối hát bè ăn ý và phần phối khí bắt tai. Đặc biệt, hai thành viên nữ của nhóm tỏa sáng trên sân khấu và hai người bạn đời của họ lại chọn công việc “bếp núc” chuyên tâm sáng tác, phối khí. Ít người biết rằng, Ulvaeus và Andersson vẫn cùng hợp tác viết nhạc sau khi nhóm tan rã. Họ đã làm nên thành công của vở nhạc kịch Chess (Ván cờ) nhờ bản hit đình đám I know him so well (Tôi hiểu anh ấy quá rõ). Nếu thiếu bộ đôi Ulvaeus và Andersson, kho nhạc đồ sộ ABBA sẽ kém trọn vẹn.

Tin đồn tái hợp

Kể từ sau khi tan rã đến trước khi ra mắt Voyage, luôn có những tin đồn thất thiệt về việc ban nhạc sẽ tái hợp. Năm 2014, trả lời báo giới, Lyngstad từng nói “Chúng tôi chỉ có một câu trả lời là : Không. Tiền không thể khiến chúng tôi đổi ý. Có thể chúng tôi thỉnh thoảng nói rằng sẽ khá thú vị nếu hợp tác với nhau một ca khúc. Chỉ thu âm thôi và không có gì khác”.Hai năm sau, năm 2016, họ cùng chia lửa sân khấu để kỷ niệm 50 năm sự nghiệp sáng tác của Andersson và Ulvaeus. Ca khúc có tựa đề The Way Old Friends Do (Cách những người bạn tri kỷ thường làm) được chọn để trình diễn.

Bộ tứ Thụy Điển vẫn là bạn bè tri kỷ, ngay cả khi không còn là vợ chồng. Ulveus nói rằng “Thật khó tin chúng tôi có thể ở bên nhau. Không thể tưởng tượng được! Sau hơn 40 năm, chúng tôi vẫn là bạn bè thân thiết, ra mắt album nhạc mới. Liệu ai có thể trải nghiệm điều đó? ” Có lẽ không phải vì túng thiếu tiền mà là họ muốn lưu giữ kỷ niệm tình bạn đẹp nhất trên sân khấu và ngoài đời. Ông đã nói một lý do khiến người hâm mộ không khỏi ngỡ ngàng và xúc động: “Tại sao lại làm chung dự án này ư? Chúng tôi muốn hợp tác trước khi nhắm mắt lìa xa”.

Lý do tái hợp này càng thắp lửa mong mỏi của người hâm mộ bấy lâu nay. ABBA luôn đồng nghĩa là ký ức âm nhạc đẹp đẽ. Giá trị cốt lõi của nhóm chính là âm nhạc đẹp, tinh túy. Họ dành cho nhau những lời có cánh về thành quả hợp tác này. Andersson không chút do dự khi được hỏi về điều tuyệt vời nhất khi là thành viên ABBA: “Bạn chẳng bao giờ lo lắng về tiền bạc. Bạn hoàn toàn tự do làm thứ bạn muốn, chuyên tâm vào sáng tác nhạc”. Lyngstad, giọng nữ chính bộc bạch: “Chúng tôi hạnh phúc vì những gì mình làm, Andersson và Ulvaeus là những nhạc sỹ thiên tài”.

Họ sẽ biểu diễn live tại Luân Đôn (Anh Quốc) vào tháng 05/2022 để quảng bá cho album mới nhất Voyage. Tại sao không phải là Paris kinh đô ánh sáng hay thành phố châu Âu khác? Ulvaeus trả lời rằng “Khi nhắc đến giải trí, âm nhạc, nhà hát, Luân Đôn luôn là vị trí hàng đầu. Chúng tôi luôn cảm nhận rằng người Anh chào đón chúng tôi nồng nhiệt nhất”.

Quả thực nước Anh chưa bao giờ hết yêu mến ABBA. Tuyển tập các bản hit ABBA Gold ra mắt năm 1992 nắm giữ kỷ lục 1.000 tuần trên bảng xếp hạng âm nhạc xứ sở sương mù. Vở nhạc kịch Mamma Mia xây dựng trên nền nhạc ABBA được công chiếu lần đầu tại Anh năm 1999, giờ vẫn là show diễn ăn khách. Sức hấp dẫn của nhạc kịch Mamma Mia còn lan tỏa sang phim cùng tên Hollywood tạo nên cơn sốt phòng vé khắp toàn cầu.

Hành trình âm nhạc và kỹ xảo hiện đại

ABBA sớm tung ra 2 đĩa đơn đầu tiên trích từ album mới. Ca khúc I still have faith in you (Em vẫn đặt niềm tin ở anh) là một bản ballad có giai điệu vô cùng tươi sáng. Bài hát có tempo chậm rãi và thông điệp tình yêu rất truyền cảm. Bên cạnh đó, ca khúc Don’t shut me down (Đừng ngăn cản em) có tiết tấu nhanh hơn, khỏe khoắn hơn. So với bốn thập niên trước, yếu tố tuổi tác phản ánh rất rõ trên khuôn mặt, giọng ca và khả năng trình diễn của họ. Nhưng thời gian không làm suy xuyển được nhạc cảm và giai điệu chuẩn mực kiểu ABBA. Thú vị hơn, ban nhạc bật mí rằng trong album mới ra mắt tháng 11, sẽ kèm theo một ca khúc Giáng sinh.

Khi bước sang tuổi 80, họ phải biểu diễn trước hơn 3.000 khán giả với thể lực giảm sút hơn so với 40 năm trước. Yếu tố công nghệ sẽ giúp ích rất nhiều trong các buổi trình diễn trực tiếp giữa năm sau. Phiên bản digital điện tử của ABBA được sử dụng công nghệ lưu trữ chuyển động như kỹ xảo Hollywood. Các thành viên mặc bộ quần áo bó sát để ghi hình chuyển động. Công ty kỹ xảo phim ảnh của George Lucas sẽ chế tác ra avatar trẻ hóa của nhóm trong đoạn video. Công nghệ này khác hẳn với hologram, không sử dụng video clip cũ để tạo phiên bản ảo biểu diễn trên sân khấu. Thành viên của nhôm Anderson nói rằng “Nhờ sự trợ giúp phiên bản ABBA được trẻ hóa, chúng ta sẽ cùng du hành vào tương lai”. Giờ đây, ABBA không chỉ là ký ức âm nhạc đẹp nhất, mà là hành trình xuyên thời gian của âm nhạc đỉnh cao.

(Theo Guardian, AllMusic)



Vì sao trang phục ban nhạc ABBA lại kỳ quặc đến như vậy ?

11/03/2014 - Đức Tâm / RFI
Nếu ABBA là một ban nhạc huyền thoại đi vào lịch sử âm nhạc, với những bài hát lừng danh thế giới, như Mamma Mia, Dancing Queen, Waerloo…thì trang phục trên sân khấu của nhóm này, theo giới chuyên gia thời trang, cũng nổi tiếng không kém vì quá lòe loẹt, phô trương, chẳng giống ai.

Nhân kỷ niệm bốn mươi năm sau khi đoạt giải ở cuộc tranh tài Eurovision, ABBA cho ra mắt cuốn album ảnh « Super Trouper’ collector’s edition of ABBA – The Official Photo Book ». Trên nhật báo Daily Mail, ngày 15/02/2014, nhóm này mới tiết lộ thông tin vì sao bốn thành viên lại ăn mặc kỳ quặc như vậy : Đó là để phải trả ít thuế hơn.

Bởi vì hệ thống thuế Thụy Điển cho phép trừ chi phí trang phục nghề nghiệp trong tổng thu nhập phải khai để tính mức thuế, với điều kiện là những trang phục này rất đặc biệt, khác lạ, đến mức không thể mặc để ra ngoài đường, trong các sinh hoạt hàng ngày. Chính vì thế, ABBA đã cho may những bộ trang phục biểu diễn kỳ cục như vậy.

Khoản tiền tiết kiệm được này quả là quá ít ỏi so với mức thu nhập có được qua việc bán tới 380 triệu đĩa hát trên thế giới của nhóm ABBA.

Chính Björn Ulvaeus, người chơi đàn ghi ta trong nhóm thừa nhận : « Không một ai có thể mặc biểu diễn trên sân khấu xấu hơn chúng tôi vào thời đó. Theo thiển ý của tôi, vào thời đó, chúng tôi có vẻ điên khùng ». Vẫn theo lời ca sĩ này, « chúng tôi đã nghĩ rằng với trang phục như vậy, mọi người sẽ nhớ đến chúng tôi ».

Dường như chuyện thuế khóa ám ảnh nhóm ABBA. Báo Pháp Le Parisien cho biết, năm 2007, Björn Ulvaeus đã bị cáo buộc không nộp 85 triệu couronne, tương đương 9,7 triệu euro, tiền thuế, sau những vụ trốn thuế liên tiếp trong giai đoạn 1999 – 2005. Cuối cùng, tư pháp Thụy Điển cũng tha bổng ca sĩ này.

Tạp chí L’Express cho biết là các quy định về thuế liên quan đến trang phục nghề nghiệp vẫn có hiệu lực tại Thụy Điển. Cuối năm 2013, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết trinh thám Camilla Läckberg đã bị truy thu thuế. Bởi vì, bà đã mua quần áo trong các cửa hiệu thời trang Zara, nhưng lại khai đó là tiền mua trang phục nghề nghiệp.

Về album ảnh The Official Photo Book của ABBA, tập ảnh được thực hiện với sự hợp tác của cả bốn thành viên ban nhạc là Björn, Benny, Frida và Agnetha, được phát hành vào tháng 03/2014 tại hơn 20 quốc gia, để kỷ niệm 40 năm nhóm ABBA giành được giải Eurovision. Album được phát hành hạn chế, chỉ có 5000 bản, được đánh số, có 460 trang với hơn 600 bức ảnh, trong đó có khoảng 100 bức chưa từng được công bố.

Ca sĩ Frida cho biết cô thích tất cả những tấm ảnh và có một số ảnh lần đầu tiên cô nhìn thấy.

viethoaiphuong
#627 Posted : Tuesday, September 21, 2021 12:16:29 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

New York mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway

20/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Sau hơn 18 tháng đóng cửa, rốt cuộc sân khấu nhạc kịch Broadway đã được mở lại hôm 14/09/2021 tại Manhattan, New York, Mỹ. Trong những ngày đầu tiên, các nhà hát xung quanh quảng trường Times Square đã chật kín chỗ ngồi. Còn khán giả nào chưa có vé thì vẫn chịu khó đứng xếp hàng nhiều tiếng đồng hồ để mua vé đi xem nhạc kịch, thường là các vở diễn trong ngày hay hôm sau.

Theo ghi nhận của tạp chí chuyên ngành kịch nghệ Playbill, kể từ khi mở cửa đón khán giả trở lại, các vở kịch như ''Chicago'', ''Vua sư tử'' hay ''Aladdin và cây đèn thần'' đều đã bán sạch vé trong ba ngày đầu tiên. Nhưng vở nhạc kịch ăn khách nhất vẫn là vở ''Hamilton'', kể lại cuộc đời của Alexander Hamilton, xuất thân là một cậu bé mồ côi di cư, lớn lên làm trợ lý cho sĩ quan chỉ huy George Washington, sau này trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên (1789-1797). Sau thời kỳ ''nội chiến'', ông Hamilton hành nghề luật sư và có công trong quá trình lập quốc Hoa Kỳ.

Hamilton, Aladdin, Chicago : Các vở kịch nổi tiếng đều hết chỗ

Vở nhạc kịch ''Hamilton'' được diễn tại nhà hát Richard Rodgers, nằm ngay bên cạnh khách sạn Marriott Marquis và kể từ hôm 14/09, mặt tiền của nhà hát vào mỗi suất diễn đều có đông người tụ tập. Cảnh tượng chen chúc đó đã hoàn toàn thiếu vắng trong vòng một năm rưỡi do đại địch Covid-19, khi các nhà hát kịch Broadway dọc con đường số 46th ít còn lên đèn vào mỗi buổi tối, phố xá trung tâm Manhattan càng vắng lặng khiến khung cảnh tiêu điều hơn ngay cả vào những ngày cuối tuần.

Với việc mở lại sân khấu nhạc kịch Broadway, thành phố đã New York đã thực hiện bước đột phá ngoạn mục trong việc nối lại với đời sống văn hóa, cho dù cơ hội phục hồi vẫn còn khá mong manh trước mối đe dọa của biến thể Delta. Dù vậy, đa số người dân Manhattan cảm thấy ấm lòng khi được nhìn lại các sinh hoạt thân quen thường ngày, sau các viện bảo tàng và rạp chiếu phim, nay đến lượt các nhà hát và các rạp kịch thu hút đông đảo khán giả trở lại, ít ra đám đông đứng xếp hàng chờ nhà hát mở cửa đủ để che kín vỉa hè Broadway, giữa lòng thành phố New York.

Theo đánh giá của mạng thông tin Broadway Shows, thật là một tin vui khi có khá nhiều vở nhạc kịch đã không còn vé để bán trong những ngày đầu, do đa số khán giả đã mua vé từ lâu, hy vọng rằng tình trạng đắt khách này sẽ tiếp tục kéo dài, chứ không phải là nhất thời, do ngành sân khấu Broadway nói riêng, ngành văn hóa ở Mỹ nói chung đã hứng chịu khá nhiều thiệt thòi. Thiệt hại kinh tế được ước tính đến hàng tỷ đô la.

Sân khấu Broadway mất 2,4 tỷ đô la sau 18 tháng đóng cửa

Hội đồng thành phố New York cũng thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy việc mở lại các nhà hát xung quanh phố Broadway đã diễn ra một cách tốt đẹp, đúng theo lịch trình ấn định từ hồi mùa xuân năm 2021. Sân khấu nhạc kịch cùng với các nhà hát lớn của thành phố là mảng sinh hoạt văn hóa cuối cùng được mở lại, chỉ một ngày sau khi Viện bảo tàng Metropolitan tổ chức thành công đêm dạ hội Met Gala nhằm gây quỹ từ thiện thường niên.

Đêm Met Gala đã quy tụ hàng trăm nhân vật tên tuổi trong làng thời trang, ca nhạc, điện ảnh, bước lên thềm đá trắng trong muôn ngàn kiểu áo dạ hội lấp lánh sắc vàng, rực rỡ hào quang. Thành công của buổi dạ hội sẽ mở đầu cho một loạt sự kiện quan trọng khác, mà thành phố New York rất cần để thu hút khách du lịch quốc tế trở lại, sau một thời gian khá dài buộc phải hạn chế việc đi lại.

Việc mở lại đa số các sinh hoạt văn hóa chỉ có thể được tiến hành với việc tôn trọng các quy định giãn cách xã hội cũng như về mặt chích ngừa. Tất cả các khán giả muốn vào xem nhạc kịch đều phải trình giấy chứng nhận tiêm chủng, cũng như toàn bộ giới nhân viên (kể cả những người không có tiếp xúc trực tiếp với công chúng), từ nghệ sĩ, chuyên viên kỹ thuật, hay nhân viên quầy vé đều phải chích ngừa nếu muốn làm việc trở lại. Khán giả cũng buộc phải đeo khẩu trang trong suốt buổi diễn và ngay cả trong giờ ''giải lao'', nếu buổi diễn kéo dài hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ.

Trong suốt mùa Covid-19, ngành sân khấu nhạc kịch Broadway đã mất khoảng 2,4 tỷ đô la doanh thu. Vào năm 2019, tính trung bình, các nhà hát Broadway thu về 33 triệu đô la mỗi tuần. Tựa như một lá phổi kinh tế, sân khấu Broadway chẳng những tạo nhiều việc làm, mà còn là nguồn thu hút du khách từ khắp nơi đổ về, đem lại lợi nhuận cho các ngành phục vụ như chuyên chở, ẩm thực hay lưu trú.

Vì thế, đà phục hồi từng bước của New York rất quan trọng, cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa. Cho tới giờ, Manhattan vẫn còn thiếu rất nhiều khách du lịch nước ngoài, tương đương với 2/3 số khán giả đi xem nhạc kịch Broadway. Nguồn khách quốc tế này lệ thuộc nhiều vào việc tái lập các tuyến hàng không dân dụng, và hiện thời du khách Pháp nói riêng và du khách châu Âu vẫn chưa được quyền đặt chân trở lại nước Mỹ.

Những dấu hiệu đáng mừng cho đà phục hồi của Broadway

Dù vậy, các nhà sản xuất vẫn giữ niềm lạc quan, vì kể từ mùa xuân năm 2021, hội đồng thành phố New York đã đầu tư vào các chiến dịch vận động thông tin hầu thu hút thêm nguồn khách nội địa đến New York. Theo mạng thông tin Broadway Shows, có hai dấu hiệu cho thấy du khách nội địa đang gia tăng.

Khi nhìn vào mã bưu chính của những người đặt mua vé đi xem nhạc kịch trên mạng internet, hơn một nửa số khán giả đến từ các bang dọc Đại Tây dương, tức bờ Đông Hoa Kỳ. So với năm 2019, trước khi có dịch Covid-19, lượng khán giả đến từ các bang này có phần gia tăng hay ít ra họ đi xem kịch Broadway thường xuyên hơn. Ngay cả những tác phẩm được mở lại trong tuần này như vở kịch ''Come from Away'', nói về đợt khủng bố ngày 11/09, cũng đã bán sạch vé từ nhiều tuần trước.

Dấu hiệu đáng mừng thứ nhì là các quầy bán vé giờ chót lúc nào cũng đông khách, kể từ khi hoạt động trở lại. Được thành lập từ năm 1973, các quầy bán vé TKTS là một truyền thống của New York. Thành phố này có 3 quầy vé như vậy, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quầy vé TKTS tại quảng trường Times Square, tọa lạc trong toà nhà mái đỏ với cầu thang ở trên nóc mà bất cứ du khách nào từng ghé chân viếng thăm Manhattan đều đã chụp hình kỷ niệm ít nhất một lần trong đời. Quầy bán vé này nằm ở góc đường 47th với đại lộ Broadway và chủ yếu bán vé giờ chót cho các buổi biểu diễn nội trong ngày. Nếu muốn mua cho những ngày hôm sau, thì khách nên ghé quầy vé ở South Street Seaport hay là Downtown Brooklyn

Tại quảng trường Times Square, hình ảnh tượng trưng đầu tiên cho việc mở lại sân khấu Broadway chính là dòng người rồng rắn xếp hàng bên quầy vé, hy vọng tìm được một tấm vé giờ chót cho các show trong ngày. Vé xem kịch Broadway không phải là rẻ, ngay cả khi có giảm giá, tính trung bình vé giờ chót của các vở nhạc kịch nổi tiếng là trên 100 đô la. Cho dù đắt, nhưng trong thời gian đầu, có lẽ mức cầu vẫn cao hơn mức cung.

Việc đóng cửa Broadway trong vòng một năm rưỡi đã tạo ra sự mong chờ rất lớn nơi giới hâm mộ. Hy vọng rằng cơn sốt ấy sẽ giúp khởi động lại một trong những guồng máy quan trọng nhất của làng giải trí, nơi biến hóa những ý tưởng "điên rồ" thành giấc mơ sân khấu khổng lồ.


viethoaiphuong
#628 Posted : Wednesday, September 22, 2021 6:00:06 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

K-Pop: Ngành công nghiệp hái ra tiền của Hàn Quốc

22/09/2021 - Nguyễn Hương / RFI
Trong thời đại của Youtube và các ứng dụng nghe nhạc trực tuyến, K-Pop hiện là một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la. Gần đây, Billboard công bố nhóm nhạc nổi tiếng BTS là một trong 5 ngôi sao âm nhạc kiếm nhiều tiền nhất thế giới năm 2020, với doanh thu khoảng 31,5 triệu đô la.

Theo thống kê thị trường âm nhạc Mỹ nửa đầu năm 2021 của MRC Data cho Billboard, BTS đã bán được 573.000 đĩa CD và trở thành nghệ sĩ bán được nhiều album CD nhất tại Hoa Kỳ. Album bán chạy nhất tại Hàn Quốc tính đến năm 2021 là Map of the Soul: 7 của nhóm nhạc nam này, với 4,1 triệu bản được bán ra trong vòng chưa đầy một tháng. BTS cũng là nghệ sĩ sở hữu nhiều album bán được hơn 1 triệu bản nhất, với 9 album.

Công ty HYPE quản lý của BTS đã trở thành công ty có lợi nhuận ròng cao nhất trong quý II/ 2021, lên tới 20,2 tỷ won (khoảng 17 triệu đô la). Lợi nhuận được BTS mang về cho công ty chủ yếu từ việc bán album, biểu diễn, các chương trình trực tuyến được phát trên khắp thế giới và các hợp đồng quảng cáo trị giá hàng triệu đô.

BTS không chỉ nổi tiếng với 7 nam ca sĩ trẻ đẹp, hay những màn trình diễn sôi động, mà còn nhờ vào thông điệp khích lệ trong nhiều bài hát, như nhận định của Nguyên, một du học sinh Việt Nam theo học thạc sĩ quản trị kinh doanh văn hóa nghệ thuật tại Hàn Quốc :

“Tôi là một người hâm mộ lớn đối với K-Pop và đặc biệt là nhóm BTS, bởi vì BTS là nhóm nhạc có nhiều bài hát mang ý nghĩa tích cực và truyền cảm hứng cho tôi và tôi nghĩ đó chính là một trong những yếu tố giúp BTS phát triển không chỉ ở Hàn Quốc, mà còn trên toàn thế giới. Tôi nghĩ là đối với nền công nghiệp K-Pop đang được đào tạo bài bản và thành công như hiện nay, thì trong tương lai K-Pop sẽ không chỉ gói gọn ở trong khu vực châu Á, mà còn lớn hơn ở các khu vực khác trên toàn thế giới, giống như sự phát triển của nền âm nhạc US và UK”.

Sức ảnh hưởng của sao K-Pop đến thời trang

K-Pop không chỉ là âm nhạc, K-Pop còn là khởi nguồn của những xu hướng thời trang mới cho giới trẻ: từ quần áo, phụ kiện cho tới cách trang điểm. Thần tượng “Idol” và nghệ sĩ K-Pop là nguồn khai thác cho các hãng thời trang, từ xa xỉ tới bình dân, để quảng cáo cho thương hiệu của họ tới thị trường người hâm mộ K-Pop. Chỉ cần được xuất hiện trên phương tiện truyền thông xã hội, các món đồ mà thần tượng sử dụng, dù là trên sân khấu hay ở sân bay, đều được người hâm mộ lùng mua.

Ví dụ như Rosé, thành viên của BlackPink và là gương mặt đại diện cho các chiến dịch quảng bá toàn cầu của hãng thời trang và mỹ phẩm Yves Saint - Laurent, hay thương hiệu trang sức Tiffany&Co. Nhờ Rosé mà Yves Saint - Laurent trở nên phổ biến hơn rất nhiều tại thị trường châu Á - một thị trường mới đầy tiềm năng mà các ông lớn ngành thời trang đều tìm cách khai thác. Theo tạp chí The Glossary, chiến dịch quảng bá toàn cầu của Rosé là một trong những chiến dịch ấn tượng nhất mùa thu 2020.

Jungkook - thành viên nhỏ tuổi nhất của BTS - được fan đặt cho biệt danh “Vua bán chạy” nhờ vào khả năng làm cho tất cả các sản phẩm mà anh dùng đều được bán hết veo. Ví dụ, khi tương tác trong buổi phát sóng trực tiếp trên VLive với người hâm mộ ngày 27/02/2021, Jungkook uống trà Kombucha của thương hiệu Teazen. Ngay sau đó, doanh số bán trà của Teazen tăng 500% nhờ người hâm mộ của Jungkook. Kho nước uống Kombucha cũng được bán hết sạch chỉ trong ba tháng. Và Teazen giành giải Thương hiệu của năm 2021.

K-Pop : Niềm tự hào của dân Hàn Quốc

Nhờ sức ảnh hưởng của K-Pop mà nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng một cách đáng kể. K-Pop trở thành một hiện tượng mới ở các nước phương Tây nhờ ca sĩ PSY và bài hát nổi tiếng Gangnam Style năm 2012. Điệu nhảy “cưỡi ngựa” phổ biến khắp thế giới và giúp PSY thu về 8 triệu đô la từ Youtube. Hiện nay, nhiều ông lớn trong ngành giải trí Hàn Quốc đã góp mặt trong danh sách tỷ phú đô la của tạp chí Forbes. SM Entertainment, YG Entertainment, HYPE Corp và JYP Entertainment được coi là bốn công ty giải trí lớn của Hàn Quốc. Năm 2019, làn sóng văn hóa Hàn Quốc như K-Pop, phim truyền hình đã đóng góp khoảng 12,3 tỷ đô la cho nền kinh tế nước này.

Không phải ngẫu nhiên mà K-Pop nổi tiếng toàn cầu như hiện nay. Vào cuối những năm 1990, khi châu Á đang trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính lớn, các nhà lãnh đạo Hàn Quốc quyết định sử dụng âm nhạc và điện ảnh để xây dựng hình ảnh văn hóa riêng. Chính phủ Hàn Quốc đã lập một ban chuyên về K-Pop và thực hiện nhiều chính sách phổ biến và cổ vũ yêu thích K-Pop, như đổi mới công nghệ hình ảnh, xây dựng phòng nhạc lớn và thậm chí điều hành các quán karaoke... Mục tiêu là để K-Pop trở lên phổ biến hơn nữa trên toàn cầu, tương tự như văn hóa Mỹ.

Là một công dân Hàn Quốc, Jieun đã trả lời một cách đầy tự hào khi nói về tầm ảnh hưởng của K-Pop :

“Hình ảnh thương hiệu quốc gia của Hàn Quốc đã được phổ biến hơn nhiều nhờ K-Pop. Càng ngày càng có nhiều người nước ngoài quan tâm hơn đến việc học ngôn ngữ Hàn Quốc, và K-Pop cũng đã được quảng bá khắp thế giới. K-Pop còn khai thác rất nhiều hướng đi mới để đóng góp phát triển cho nền công nghiệp”.

Đằng sau ánh hào quang

Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, việc đào tạo các ngôi sao K-Pop cũng được ban thành luật và điều hành hết sức nghiêm túc. “Idol” là từ chung để chỉ các nghệ sĩ hoạt động trong ngành công nghiệp K-Pop. Có hàng triệu người khao khát được trở thành “idol” ở Hàn Quốc, nhưng để làm được thì không hề dễ dàng.

Độ tuổi của các “idol” khi được ra mắt công chúng là vào khoảng cuối độ tuổi 10 và đầu độ tuổi 20 vì vậy các thực tập sinh thường rất trẻ. Khi đã trở thành thực tập sinh của một công ty giải trí, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, như tập luyện vất vả, trong khi được trợ cấp ít ỏi và phải sống xa gia đình. Nếu được nhận vào một công ty giải trí có tiếng thì các bạn trẻ sẽ được đào tạo miễn phí thanh nhạc, vũ đạo và diễn xuất. Công ty sẽ có những bài kiểm tra hàng tháng để đánh giá năng lực của học viên và sẽ quyết định, lựa chọn những thực tập sinh sáng giá để cho ra mắt.

Thời gian tập luyện có thể phải kéo dài từ vài tháng cho tới vài năm, nhưng không chắc các bạn thực tập sinh có thể được ra mắt với tư cách là một “idol”. Một số người đã phải từ bỏ ước mơ trở thành “idol” khi bước sang tuổi 20, vì quá tuổi, dù họ đã dành hết thanh xuân cho việc tập luyện. Thời gian đầu ra mắt, mọi thu nhập đến từ hoạt động của các nghệ sĩ sẽ được công ty giữ lại để chi trả cho việc đào tạo của “idol” đó khi còn là thực tập sinh. Có rất nhiều công ty không đủ điều kiện về tài chính đã bỏ ra một số tiền lớn để đào tạo “idol”, rồi sau đó vẫn phải để nhóm nhạc tan rã vì thu nhập của nhóm không đủ để bù lại vào đầu tư ban đầu.

Tuy nhiên, đằng sau ánh hào quang, nhiều “idol” phải đối mặt với nhiều khó khăn, như hợp đồng nô lệ, quấy rối tình dục, đời tư bị kiểm soát và hầu như mất tự do trong cuộc sống. Đó là mặt tối khác của ngành công nghiệp giải trí Hàn Quốc. Do vậy, những năm gần đây, tỉ lệ tự tử hoặc mắc các bệnh về tâm lý của idol K-Pop ngày càng tăng.

Cuộc truy quét văn hóa K-Pop tại Trung Quốc

“JIMINBAR”, tài khoản Weibo fanclub Trung Quốc của ca sĩ Jimin trong ban nhạc BTS Hàn quốc bị cấm đăng bài trong vòng 60 ngày vì “gây quỹ bất hợp pháp” khi kêu gọi quyên góp để đưa hình ảnh của nam ca sĩ 9X trên một chiếc máy bay của hãng hàng không Jeju Air.

Thực ra, sao Hàn bị vạ lây trong chiến dịch "thanh lọc" ngành giải trí Trung Quốc, cũng là cái cớ để tiếp tục hạn chế văn hóa Hàn Quốc, được chính quyền Bắc Kinh chủ trương từ năm 2016.

Ngoài “JIMINBAR”, có khoảng 22 tài khoản mạng xã hội Sina Weibo khác của người hâm mộ K-Pop tại Trung Quốc đã bị khóa vì theo đuổi thần tượng “không lý trí”. Việc “cấm ngôn” một fanlcub của Jimin được cho là cái cớ nằm trong chiến dịch loại sao nam “yểu điệu”, để “nhấn mạnh đến văn hóa truyền thống Trung Quốc, văn hóa Cách mạng và văn hóa xã hội chủ nghĩa”, theo một hướng dẫn của Tổng cục Quảng bá Phát thanh Truyền hình Trung Quốc đầu tháng 09/2021.

Chính sách mới của Bắc Kinh đã buộc Seoul phải lên tiếng, nhưng đại sứ Trung Quốc ở Hàn Quốc trấn an là “không nhắm cụ thể đến bất kỳ quốc gia nào”. Trung Quốc, nước đông dân nhất thế giới, giúp cho các sao Hàn duy trì được độ nổi tiếng và có lực lượng fan đông đảo, hoạt động mạnh và chịu chi, dù K-Pop và Làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) ngày càng khẳng định được vị trí trên thế giới, không chỉ về mặt âm nhạc, phim ảnh và còn về thời trang và phong cách sống.



viethoaiphuong
#629 Posted : Saturday, September 25, 2021 4:21:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Paris tổ chức chương trình vinh danh Johnny Hallyday

25/09/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn 3 năm sau khi vĩnh biệt cuộc đời, giọng ca của Johnny Hallyday lại vang lên hôm 14/09/2021 vừa qua, tại nhà hát Accor Arena, Paris (sân khấu Bercy cũ). Vóc dáng rocker số 1 của Pháp lại xuất hiện trên màn ảnh lớn, đi kèm với một dàn nhạc giao hưởng. Với sự hỗ trợ của Tòa Đô chính Paris, nhạc trưởng Yvan Cassar cùng với Læticia Hallyday, vợ của nam danh ca quá cố, tổ chức một buổi trình diễn tưởng niệm nhằm gây qũy chống bệnh ung thư.

Lấy lại tựa đề ‘‘Que je t’aime’’, một bài hát rất ăn khách trước đây của Johnny Hallyday, đêm trình diễn đã được tổ chức trong khuôn khổ một chương trình hoành tráng, trong đó có lễ khai trương một quảng trường mang tên thần tượng nhạc rock, ngay bên cạnh nhà hát Accor Arena, quận 12 Paris vào buổi sáng 14/09. Sở dĩ nơi này được chọn là vì lúc còn sống, Johnny từng nắm giữ kỷ lục biểu diễn trên sân khấu này đến 101 lần.

Đàn ghita và xe môtô : hai biểu tượng của rocker số 1

Cũng trên quảng trường này, Paris đã làm lễ khánh thành một bức tượng cao 6 thước của nhà điêu khắc người Pháp Bertrand Lavier. Pho tượng này kết hợp cây đàn ghi ta Gibson với một chiếc xe môtô Harley Davidson, hai biểu tượng quan trọng, nếu không nói là gắn liền với cuộc đời của thần tượng nhạc rock Johnny Hallyday : sự nghiệp âm nhạc và hành trình xuyên Hoa Kỳ tựa như một tác phẩm điện ảnh ‘‘road movie’’.

Nếu như cả hai sự kiện này đều đi kèm với phần biểu diễn của 5 nhạc sĩ chơi lại các bài hát của Johnny Hallyday, thì quan trọng nhất trong chương trình sinh hoạt vẫn là đêm trình diễn 14/09 tưởng niệm thần tượng Johnny Hallyday. Trên sân khấu, người dẫn chương trình chính là Michel Drucker, ngoài đời là bạn thân của Johnny, hai người chỉ cách nhau có một tuổi. Một cách cảm động, Laeticia và Michel Drucker đã gợi lại những kỷ niệm với Johnny, trong khi phần biểu diễn triệu tập một dàn nghệ sĩ cực kỳ hùng hậu : phía nữ có các tiếng hát như Catherine Ringer (bài Gabrielle), Louane (bài Diego), Nolwenn (Chanteur abandonné) hay Jenifer, còn các giọng ca nam có Slimane, Calogero, tam ça Florent Pagny, Patrick Bruel và Patrick Fiori (ca khúc Vivre pour le Meilleur) hay Christophe Maé (Je te promets).

Đa số các nghệ sĩ này có một điểm chung : họ đã từng tham gia nhiều album vinh danh Johnny Hallyday, do hãng đĩa Universal phát hành từ cuối năm 2017 cho tới nay. Đổi lại, hai người con lớn là Laura Smet và David Hallyday cũng như người vợ đầu tiên của Johnny là Sylvie Vartan đều vắng mặt trong chương trình tưởng niệm nam danh ca Johnny Halyday.

Tầm ảnh hưởng của Johnny đối với thế hệ đàn em

Cũng như nam ca sĩ Kendji đã nói (trên sân khấu anh hát bài "L'envie"), giới nghệ sĩ trẻ của Pháp thời nay đã học hỏi rất nhiều từ thần tượng nhạc rock. Bản thân anh từ thời còn nhỏ đã nghe rất nhiều bài hát của Johnny Hallyday, để rồi học cách phát huy nội lực, tập trung sức mạnh vào giọng ngực để rồi phóng ra như một mũi tên bắn trúng vào tim. Đó chính là sở trường của Johnny, ngay cả trong những nốt nhạc cao nhất, nam danh ca này luôn hát với giọng ngực, ít khi nào dùng giọng kim hay giọng óc, có lẽ cũng vì thế mà chất giọng của Johhny thường hợp với những bản nhạc hùng hồn, những giai điệu dũng mãnh … tung hoành trên sân khấu khổng lồ giữa sân vận động dành cho hàng chục ngàn khán giả.

Nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ phiên bản tiếng Pháp của bài hát nổi tiếng ‘‘The House of the Rising Sun’’ có thể minh họa cho sở trường hát toàn giọng ngực của danh ca quá cố. Bài hát này được trích từ album vừa được phát hành trong tuần này mang tựa đề ‘‘Johnny Hallyday : Acte II’’. Tập nhạc này là album thứ nhì trong đó các bài hát của Johnny đã được phối lại với dàn nhạc giao hưởng, dưới sự chỉ đạo của Yvan Cassar.

Album rock giao hưởng thứ nhì của Johnny

Sau khi thành công với tập nhạc giao hưởng đầu tiên (Acte I) với hơn nửa triệu album bán chạy vào giữa năm 2019, nhạc trưởng Yvan Cassar lần này đã chọn ra 12 bài hát của Johnny (những bài ít ghi âm trong studio mà chỉ hát trên sân khấu) để rồi từ đó thực hiện những bản phối khác nhau. Có thể chia các bản nhạc này thành hai loại : lối hòa âm rất mộc, giọng ca chỉ được đệm với tiếng đàn ghi ta thùng, chẳng hạn như bản nhạc ‘‘Love Me Tender’’ mà Johnny đã hát trên sân khấu để bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với Elvis Presley. Bên cạnh đó, còn có các bài hát được hòa âm như nhạc phim, đặc biệt các đoạn cao trào hoành tráng phối với nguyên một bộ đàn dây.

Riêng trong nhạc phẩm ‘‘Le Pénitencier’’ hay bài hát ‘‘Je te Promets’’, nhạc trưởng Yvan Cassar cho biết là lúc sinh tiền Johnny Hallyday rất mê xem phim của đạo diễn người Ý Sergio Leone, vì thế từ lâu ông đã có ý tưởng đưa không khí nhạc phim cao bồi của Sergio Leone vào trong các bài hát của Johnny Hallyday, lối hòa âm trùng trùng lớp lớp gợi lên khung cảnh trời xanh bao la, đồi núi hùng vĩ, sa mạc mênh mông.

Khi nam danh ca còn sống, trong cuộc hành trình cuối cùng của đoàn biker xuyên đất Mỹ, từ New Orleans đến Los Angeles, Johnny Hallyday xuất hiện trong phim tài liệu "À nos promesse : Le Dernier Voyage" vào tháng 09/2016. Trong hành trình trên các vùng đất hoang vu, Johnny Hallyday ngồi trên một chiếc môtô Harley Davidson, tựa như cưỡi ngựa phi về cuối chân trời, nơi ông tìm được niềm vui ngàn đời, rong chơi tự do kiếp người.


viethoaiphuong
#630 Posted : Sunday, September 26, 2021 4:23:02 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Marc Riboud, kẻ đứng bên lề hay người nhập cuộc ?

26/09/2021 - Tưởng An / RFI
Bất cứ ai lang thang rảo qua từng bức ảnh trong cuộc triển lãm mang tên « Marc Riboud, những câu chuyện khả thể » (Marc Riboud, les histoires possibles), trưng bày tại Bảo tàng Viện Châu Á Guimée, quận 16 Paris, từ ngày 19/5 đến ngày 06/09/2021, cũng sẽ sựng lại khi tình cờ bắt gặp vài nét thân quen của chính quê hương mình.

Vì vậy chắc chắn không người Việt Nam nào không xúc động khi nhìn thấy Huế tang thương qua ống kính của nhiếp ảnh gia Marc Riboud – người tự cho mình là một kẻ đứng bên lề, nhưng thật ra đã dấn thân nhập cuộc vào từng nhịp thở của con người ở những nơi ông cố ý hay vô tình đi qua.

Trong tiếng Pháp, từ « histoire » mang hai ý nghĩa : Câu chuyện và Lịch sử. Cuộc triển lãm mang đậm dấu ấn thời gian : những hình ảnh ông thực hiện trong vòng gần 50 năm từ năm 1952 đến năm 1969, từ những chuyến đi xuyên lục địa, từ nước Pháp, Châu Âu, nơi ông sinh ra, đến Châu Á, Việt Nam.

Ai đã từng biết đến Henri-Cartier Bresson và Robert Capa sẽ hiểu ảnh hưởng từ hai nhiếp ảnh gia bậc thầy này. Bresson nổi tiếng với các bức ảnh nghệ thuật Siêu Hiện Thực và cả chính trị. Capa được biết đến như một ống kính chiến tranh, nhất là các hình ảnh do ông chụp về cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1936.

Marc Riboud đã chụp khoảng 50.000 bức hình phóng sự các loại. Cuộc triển lãm lần này giới thiệu 200 bức ảnh tiêu biểu nhất của ông. Trong đó, bức « Người thợ sơn tháp Eiffel » đã từng làm ông nổi tiếng. Hình chụp người đàn ông đang sơn lại tháp Eiffel, một tay cầm cọ, miệng ngậm điếu thuốc, tư thế như thể anh đang khiêu vũ trên cao. Bức hình được đăng ở tạp chí « Đời Sống » (Life) năm 1953.

« Tôi chụp hình như một nhạc sĩ đang hát nghêu ngao. Nhìn thấy, có nghĩa là được sống, là được thở, và mọi tình cờ đều mang đến cho tôi niềm vui » - vợ của ông, bà Catherine Riboud kể lại. Bức ảnh này đã đưa ông vào Agence Magnum, được thành lập bởi Bresson và Capa, nơi chuyên sưu tầm, lưu trữ và vinh danh quảng bá hình ảnh phóng sự. Chỉ những nhiếp ảnh gia có tay nghề cao mới được có tên ở Magnum, bởi sự tuyển chọn rất khắt khe. Magnum đưa ông lên cao từ đó. Vì quá yêu nhiếp ảnh, ông đã thôi không làm việc như một kỹ sư trong xưởng thợ tại Villeurbanne (gần Lyon nơi ông sinh ra), để dành hết thời gian và cả cuộc đời còn lại cho nhiếp ảnh.

Người xem triển lãm như được dịp đi du ngoạn tại chỗ qua nhiều quốc gia, bắt đầu từ thành phố Lyon của Pháp vào những năm 1940, tiếp theo là Anh, rồi Afghanistan, Iran, bay đến tận Hàn Quốc, Nhật Bản, vòng qua Cam Bốt, Việt Nam, sang Mỹ, rồi về Cuba… Người xem được chứng kiến những giai đoạn lịch sử và hình ảnh đặc trưng của từng nước, từng dân tộc. Cách ông bấm máy không bao giờ ở vị trí của người phê bình hay chỉ trích, mà đặt người nhìn ngang tầm với hình ảnh, như thể người xem và người chụp đang chia sẻ một cái nhìn chung. Cả những ảnh chụp nước Pháp, chúng cho thấy một đất nước nghèo xác xơ những năm 1953-1954. Như tấm hình dưới đây, Paris không hề mang vẻ tráng lệ, quần áo giăng phơi đầy dẫy dọc bờ sông Seine.

Luân Đôn năm 1954 được gợi lại qua những bức ảnh chụp người biểu tình ở Liverpool, với bố cục rất đặc biệt. Cũng như trong các tác phẩm chụp quần chúng, ánh nhìn của đám đông bao giờ cũng chiếm đầy khung hình, nói lên được tâm trạng chung của từng cá thể vào thời điểm cảm xúc được thu vào ống kính.

Mỗi bức hình là một câu chuyện. Mỗi câu chuyện đều mang đậm tình người. Như tấm « Siem Reap, Cam Bốt » năm 1990, Marc Riboud chụp cảnh sông nước. Trong ảnh chỉ là dáng người, không chân dung. Một phụ nữ đang ngồi giặt đồ bên bờ sông Cửu Long, cánh tay với về phía trước, mặt nước phản chiếu hình bóng người đàn bà với dáng ngồi khắc khổ, sông nước và nhân vật như hòa nhập làm một. Xa xa, một cậu bé đang đứng trên thuyền, ngây ngất nhìn xoáy nước trong cảnh thiên nhiên lung linh ánh sáng. Bức ảnh này thể hiện tất cả tâm hồn và quan niệm về cái đẹp của Marc Riboud : yêu phụ nữ, yêu sông nước (sông Cửu Long, sông Seine, sông Rhône, sông Saône, …), yêu con người trong mọi tâm trạng, mọi hoàn cảnh, mọi đất nước.

Sau khi đến Ấn Độ, năm 1957, Marc Riboud là một trong những nhiếp ảnh gia đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc, ông đã chứng kiến sự thay đổi của cả một đất nước, lưu lại đấy đến 3 tháng trong chuyến đi đầu tiên, sau đó còn quay trở lại nhiều lần nữa đến tận năm 2010. Từ tỉnh Cam Túc đến Thượng Hải. Cái nhìn qua ống kính của Marc Riboud như xoáy sâu vào sự nghèo khổ của cả một dân tộc, dù vậy ông không hề có thái độ chỉ trích hay chê bai sự độc tài của Mao. « Phải xem những hình ảnh tôi để lại như những ghi nhận và những đánh dấu. Tôi chỉ kể lại những gì nhìn thấy bên lề » - ông giải thích trong một cuộc phỏng vấn năm 1996.

Thưởng thức bức « Những cửa sổ nơi phố cổ » ông chụp năm 1965 tại Thượng Hải, chúng ta càng hiểu thêm góc máy của ông, một bác phó nhòm đứng bên lề cuộc đời nhìn vào thế giới qua ống kính vuông vức, như qua các ô cửa : kẻ ngoài cuộc là ông, chỉ quan sát và ghi nhận, không ý kiến hay quan điểm.

Marc Riboud sang Việt Nam năm 1954, giai đoạn Nam-Bắc bị chia đôi theo hiệp định Genève. Ông đã ghi lại những hình ảnh chiến tranh vào những năm 1968, tại Huế, Hoàng Thành của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam. Đó là cảnh hoang tàn của một Huế đổ nát. Ông đã biến tang thương thành một bức tranh thật đẹp và sống động. Tờ báo Le Monde của Pháp đã từng viết vào ngày 13 tháng 4 năm 1968 « Huế (qua ống kính của Marc Riboud) là một Guernica của Việt Nam ».

Picasso vẽ bức Guernica năm 1937 vào thời điểm chiến tranh Tây Ban Nha đã gây xúc động mãnh liệt trong lịch sử hội họa và làm mồi lửa cho các phong trào phản chiến trên thế giới. Được so sánh với Guernica, ta thấy rõ tác động vô cùng lớn của tác phẩm Huế qua các cú lia máy của Marc Riboud. Quân đội Mỹ tiêu hủy gần như toàn bộ Hoàng Thành nhưng trong cảnh chết chóc, người phụ nữ, trong chiếc áo dài thanh lịch, vẫn toát lên vẻ đẹp quý phái. Ảnh chụp hay tranh vẽ đây? Marc Riboud khiến cho tác phẩm của mình chẳng những mang nhiều ý nghĩa mà còn nói lên cả niềm khát khao của con người, luôn muốn xây dựng lại cuộc sống từ những hoang tàn đổ nát.

Dù trong giai đoạn đau thương, bức « Đôi tình nhân » với bối cảnh Hà Nội vẫn mang nét bi hài. Hai người tình ngồi bên nhau nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm, sau lưng họ là cận cảnh một hố tránh bom.

Marc Riboud đã từng nhìn thấy chiến tranh ở nhiều nước khác nhau. Có lẽ chiến tranh Việt Nam để lại nơi ông rất nhiều ấn tượng. Trong số ảnh trưng bày, khá nhiều bức liên quan đến hình ảnh chiến tranh Việt Nam. Ông chụp các cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam ở các nước khác nhau, đặc biệt tại Mỹ; những bức đặc trưng nhất : « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Thượng Hải, năm 1965 », « Thiếu nữ và bông hoa, Washington, 1967 », « Biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, Washington 21 tháng 10 năm 1967 ».

Bức « Thiếu nữ và bông hoa » khiến ta không biết nên cười hay khóc. Bên trái là quân đội cầm súng, bên phải là người con gái với bông hoa trong tay. Người xem mang hai trạng thái : vừa lo ngại vì chiến tranh Việt Nam (cây súng mang tính chất đe dọa), vừa hy vọng một kết thúc tốt đẹp (bông hoa đại diện cho vẻ đẹp và sự bình an). Như thể cô gái không sợ súng đạn, vì tin tưởng ở những người lính trẻ, những người sẽ mang lại chiến thắng. Những người lính trong hình dường như cùng suy nghĩ với cô. Tấm hình ghi lại một cách nhìn từ Washington, trong khi một số hình ảnh khác nói lên sự tàn ác của Mỹ vì đã dội bom thành phố Huế.

« Ông ấy bao giờ cũng muốn làm chủ cách làm việc của mình và cả các chuyến đi của mình » - Catherine Riboud kể lại. Chính nhờ vậy, dù ông chụp con người trong bom đạn, trong thảm kịch hay trong cảnh sông nước bình an, mỗi bức hình của ông đều toát lên vẻ đẹp riêng và mang đậm tình người.

Loạt hình cuối của cuộc triển lãm là những tác phẩm Marc Riboud chụp núi Hoàng Sơn (tỉnh An Huy - Trung Quốc) đưa người xem về trạng thái tĩnh tại. Ai từng xem tranh họa sĩ Triệu Vô Cực (Zao-Wou-Ki) sẽ thấu cảm sâu sắc bức ảnh này : chập chùng cao nguyên ẩn hiện trong sương mù, chụp theo gam màu đen trắng ngược sáng, làm nổi bật các đường viền dọc triền núi, y như một bức tranh thủy mặc Trung Hoa.


viethoaiphuong
#631 Posted : Saturday, October 2, 2021 7:01:42 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Các bài hát hay của Michel Sardou được dựng thành nhạc kịch

02/10/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hơn ba năm sau khi tuyên bố giải nghệ, nam danh ca Michel Sardou đã bật đèn xanh cho dự án khai thác những bài hát quen thuộc của ông dưới dạng nhạc kịch. Một album gồm 20 bản nhạc vừa được trình làng hồi cuối tháng 09/2021, còn vở nhạc kịch sẽ ra mắt khán giả qua một vòng lưu diễn các sân khấu lớn vào mùa thu năm nay.

Mượn lại tựa đề "Je vais t'aimer'' (Ta sẽ yêu em), một nhạc phẩm cực kỳ ăn khách của Michel Sardou vào năm 1976, vở nhạc kịch này tập hợp 10 diễn viên, kể lại cuộc hành trình bằng du thuyền thưởng ngoạn từ nước Pháp sang New York. Được xây dựng theo mô hình của "Mamma Mia" nhưng lần này với toàn các bài hát tiếng Pháp, vở nhạc kịch không nói về tiểu sử của Michel Sardou mà lại dùng các giai điệu của nam danh ca để phản ánh tâm trạng của các nhân vật chính : giữa hoài niệm và hiện tại, giữa quá khứ và tương lai.

Thông qua những câu chuyện cá nhân, vở nhạc kịch muốn cho thấy quan hệ gắn bó giữa người Pháp với dòng nhạc Sardou. Từ các buổi văn nghệ cuối năm học, các bữa ăn gia đình cho tới đám hỏi, tiệc cưới, ít nhất là hai thế hệ khán giả tại Pháp đều có kỷ niệm riêng với Sardou, do sự nghiệp của ông trải dài trên nửa thế kỷ.

Đằng sau dự án nhạc kịch "Je vais t'aimer'' là hai nhà sản xuất người Pháp Roberto Ciurleo và Franck Montel, trước kia là giám đốc điều hành các đài phát thanh nổi tiếng (NRJ Radio và Chérie FM). Khi chuyển từ ngành truyền thông sang lãnh vực kinh doanh giải trí, họ đã từng thành công với các vở nhạc kịch như "Robin des Bois" (Hiệp sĩ rừng xanh) và "Les Trois Mousquetaires'' (Ba chàng lính ngự lâm). Nhờ có nhiều năm tay nghề, họ đã nhanh chóng thuyết phục Michel Sardou cho phép khai thác các bài hát của ông. Trong số này, dĩ nhiên có bài ''La Maladie d'Amour'' của tác giả Jacques Revaux. Tác phẩm này từng được Việt hóa với ít nhất là ba phiên bản khác nhau.

Nhạc phẩm ''La Maladie d'Amour'' có đến ba lời Việt

Trong phiên bản thứ nhất do Elvis Phương trình bày, tác giả Khắc Dũng đã giữ lại ẩn dụ tình yêu như căn bệnh để đặt lời thành "Cơn đau tình ái''. Phiên bản thứ nhì là của ca sĩ kiêm tác giả Phạm Khải Tuấn, đặt thêm lời Việt cho ca khúc này thành nhạc phẩm ''Tình Yêu Vụt Sáng''. Lời tiếng Việt thứ ba là của tác giả Lữ Liên và con trai của ông là nam ca sĩ Anh Tú đã ghi âm thành bài hát ''Người Yêu Muôn Đời''.

Trở lại với nhạc kịch Sardou, phần thực hiện đã được giao cho một êkíp người Canada : đạo diễn Serge Denoncourt, một trong những gương mặt tài ba nhất vùng Québec (từng sáng lập nhà hát Opsis) sau khi dàn dựng hơn 80 vở kịch, nay sẽ đảm nhiệm phần chỉ đạo các diễn viên. Về mặt âm nhạc, tác giả Scott Price, từng tốt nghiệp nhạc viện Toronto và hiện là giám đốc âm nhạc của thần tượng Céline Dion, sẽ là người tạo ra sợi chỉ đỏ, hầu kết nối các bài hát khá đa dạng của Michel Sardou thành một khối.



Nhớ vóc dáng tàng cây

Run rẩy ngọn gió đầy

Nghe tiếng thầm sóng dậy

Treo lơ lửng biển mây



Con lộ trước cổng nhà

Nhớ từng viên sỏi đá

Phơi tim khô mùa hạ

Cho đến tận đông qua



Đâu phải máu chan hoà

Cuộn siết trong tim ta

Tuôn nhánh sông tuổi nhỏ

Trở về với mẹ cha



Cớ chi hồn băn khoăn

Buồn trong ta thăm thẳm

Bỗng nhức nhối âm thầm

Vết chảy mòn tháng năm



Nay dòng sông tuổi già

Về siết chặt tim ta

Kỷ niệm đành hoá đá

Đông huyết mạch, vỡ oà



Vừa rồi là lời phóng tác của nhạc phẩm ''La Rivière de notre Enfance'' (Dòng sông tuổi thơ) từng ăn khách qua phần song ca của Michel Sardou với Garou. Bản thân nam danh ca đã giải nghệ cách đầy hơn 3 năm. Vòng lưu diễn nước Pháp tựa như một lời tri ân với giới hâm mộ trung thành đã chính thức kết thúc vào tháng 4 năm 2018. Ở tuổi 74, ông muốn tận hưởng cuộc sống an nhàn sau 50 năm sự nghiệp, cho đến cái ngày ông được nghe các bài ghi âm thử cho vở nhạc kịch, dưới dạng song ca hay tam ca. Ông cảm thấy phấn khởi hào hứng vì các diễn viên có chất giọng tốt, lối hòa âm cũng rất tài tình vì biết tạo sắc thái mới mà không bóp méo giai điệu nguyên tác. (Người đã thực hiện phần hoà âm là tác giả Pierre Billon, từng sáng tác ca khúc cho Johnny Hallyday và Michel Sardou trước khi hai danh ca này xích mích với nhau).

Vở kịch ra mắt khán giả sau đĩa hát

Đối với đoàn diễn viên vở nhạc kịch "Je vais t'aimer", thời điểm quan trọng nhất vẫn là ngày 21/10/2021, khi tác phẩm này sẽ được diễn lần đầu tiên trên sân khấu Zénith tại thành phố Lille. Cả đoàn kịch sau đó sẽ thực hiện một đợt lưu diễn tại các nhà hát lớn trên khắp nước Pháp. Sau khi đi một vòng các tỉnh thành, vở nhạc kịch này sẽ ra mắt khán giả Paris với một loạt live show trên sân khấu khổng lồ của nhà hát La Seine Musicale, vùng ngoại ô Paris, kể từ ngày 20/05/2022.

Để hỗ trợ cho chiến dịch quảng cáo đĩa hát và giới thiệu vở nhạc kịch này với công chúng tại Pháp, có ít nhất ba đĩa đơn đã lần lượt được phát hành. Đầu tiên hết là nhạc phẩm "La rivière de notre enfance" (Dòng sông tuổi thơ) lần đầu tiên được soạn lại cho một nhóm tam ca (Tony Bredelet, Boris Barbé và Hakob Ghasabian). Kế đến là bản nhạc ''Je viens du Sud'' (Tôi đến từ phương Nam) từng ăn khách trước đây qua giọng ca Chimène Badi, nay được Sofia Mountassir ghi âm lại. Bài hát thứ ba là một liên khúc tập hợp 8 nhạc phẩm chọn lọc trong ''tủ nhạc'' gồm toàn là các giai điệu ăn khách của Michel Sardou ("La java de Broadway", "Être une femme", "Chanteur de jazz", "Je vais t’aimer", "Les lacs du Connemara", "En chantant", "Je vole", "Musulmanes").

Michel Sarsou đã thành công trong 50 năm sự nghiệp ca hát, cho nên thật không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm khi toàn bộ các bài hát trong nhạc kịch đều quen thuộc gần gũi với công chúng, còn giới yêu nhạc Pháp hẳn chắc cũng từng nghe qua ít nhất một lần trong đời.

viethoaiphuong
#632 Posted : Saturday, October 9, 2021 7:35:50 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,630
Points: 15,048

Thanks: 851 times
Was thanked: 696 time(s) in 694 post(s)

Lorde - Nhạc Pop của thế kỷ 21

09/10/2021 - Gia Trình / RFI
Năm 2021, nữ ca sỹ New Zealand, Lorde, tái xuất ngoạn mục sau gần 4 năm vắng bóng trên sân khấu ca nhạc. Album mới nhất Solar Power (Năng lượng mặt trời), đánh dấu cột mốc mới trên sự nghiệp của Lorde. Nữ ca sỹ vẫn mê hoặc được người nghe lẫn giới phê bình nhờ âm nhạc Pop được coi là của thế kỷ 21.

Đột phá với album đầu tay Royals - 2013

Tên thật của Lorde là Ella Marija Lani Yelich-O'Connor. Nữ ca sỹ sinh năm 1996 tại thành phố Auckland, New Zealand. Mẹ cô vốn là một nhà thơ gốc Croatia và bố cô là kỹ sư xây dựng gốc Ireland, nhập cư vào New Zealand. Thành công mỉm cười với Lorde khá sớm khi cô mới 17 tuổi. Single đầu tay Royals (Hoàng Gia), được đón nhận nhiệt liệt trên đất Mỹ, trở thành bệ phóng ngôi sao cho Lorde. Tháng 6 năm 2013, đĩa đơn lọt thẳng vào Top 100 Bảng xếp hạng Billboard trụ hạng trong 9 tuần. Hiếm có nghệ sỹ New Zealand thành công như cô, và kể cả những nữ nghệ sỹ khác thành danh trên xứ sở cờ hoa.

Ca khúc giản dị và mộc mạc, được đánh giá là viên kim cương sáng giá. Âm nhạc xây dựng trên nền tiếng bass đập mạnh, giọng hát Lorde nổi bật như người kể chuyện nhạc pop. Lorde hầu hết viết lời ca khúc của mình, như một nhà thơ xuất sắc truyền cảm hứng từ mẹ cô. Ban giám khảo Viện Hàn Lâm Âm Nhạc Hoa Kỳ sớm nhận ra ngay một ngôi sao triển vọng.

Royals đoạt giải Grammy Ca khúc của Năm và Trình diễn Pop Solo Xuất sắc nhất năm 2014. Nhà sản xuất Joel Little đã thốt lên : “Royals đã thay đổi hoàn toàn cục diện âm nhạc lúc đó. Vốn dĩ tầng tầng lớp lớp hòa âm, tiết tấu nhanh. Và giờ chúng tôi đem tới một bài hát chỉ có tiếng hát mộc và rất ít lớp âm thanh nền”. Thậm chí, có ý kiến cho rằng album 1989 của công chúa nhạc Pop Taylor Swift học hỏi kỹ thuật sản xuất tối giản như Lorde và lối hát như đang nói.

Album phòng thu tiếp theo của Lorde, Melodrama, thậm chí còn được đánh giá cao hơn cả Royals. Melodrama có phần hơi tăm tối nhưng các bản hit có giai điệu rõ nét, tiết tấu mạnh và uyển chuyển như Green Lights (Tia sáng xanh), Perfect Places (Nơi chốn hoàn hảo). Về âm nhạc, Lorde vẫn tập trung chủ đạo vào electropop, indie-pop với chất giọng tự sự nổi bật.

Đáng chú ý, nữ ca sỹ được chọn là giọng ca chính trong bữa tiệc âm nhạc tưởng nhớ rocker vĩ đại David Bowie với ca khúc Life on Mars (Cuộc sống trên sao Hỏa). Gia đình rocker Bowie thực sự thích thú với Lorde và cho rằng cô gái trẻ chính là “tương lai của âm nhạc”. Lorde chứng tỏ sự trưởng thành theo thời gian nhờ độ chín trong các sáng tác và hồi tưởng ký ức đổ vỡ tình yêu trong âm nhạc. Cùng với album thứ hai, Lorde tổ chức tour lưu diễn toàn cầu có tên Melodrama. Nhưng tour lưu diễn này gặp phải trục trặc chính trị tại Israel nên phải hủy bỏ.

Biểu tượng âm nhạc nữ tính và gợi cảm

Bên cạnh âm nhạc, nữ ca sỹ chọn cho mình hình ảnh nữ tính và gợi cảm trước công chúng. Tên nghệ danh Lorde của cô luôn mặc định gắn với sự quý tộc và hoàng gia. Lorde luôn chứng tỏ sự tương đồng giữa hình ảnh mà cô thể hiện và tính cách ngoài đời. Cô ủng hộ phong trào feminist, cho rằng phụ nữ yếu đuối hơn nam giới một cách tự nhiên và chân thật.

Về phương diện tài năng, tờ New York Times nhận định Lorde là thần đồng nhạc Pop, trong khi tờ Billboard cho rằng nữ ca sỹ là biểu tượng sáng giá của nữ giới trong rock/alternative. Lorde cho biết cô chịu ảnh hưởng lớn của nhạc jazz, soul Mỹ thập niên 1940-1950 như Billie Holiday, Etta James, và tất nhiên cảm hứng thơ ca từ mẹ cô, bà Sonja Yelich.

Sự lựa chọn dòng nhạc của Lorde khá ngẫu nhiên, không dập khuôn theo gì cô thích. Sáng tác của cô xuất phát điểm từ ý thơ sau đó mới viết nhạc. Trước album Melodrama, gần như Lorde chỉ tập trung hát với chất giọng nôị lực, uyển chuyển và hơi khàn nhẹ. Nhưng sau đó, cô tập chơi piano để tăng sự đa đạng trong trình diễn.

Album mới Solar Power (Năng lượng mặt trời)

Trở lại với album phòng thu mới nhất Solar Power, Lorde đem tới cho người nghe trải nghiệm mới mẻ. So với hai album trước, rõ ràng đây là một Lorde điềm đạm, tươi sáng hơn hẳn. Bìa album khá gây tranh cãi vì cú shot quay phía dưới chân nữ ca sỹ. Có ý kiến chế nhạo sự sáng tạo này sexy quá lố như củ cà rốt hình thù kỳ quái.

Về phần âm nhạc, ca khúc chủ đề Solar Power khá dễ chịu, nhẹ nhàng và cuốn hút. Bình luận của tờ Billboard cho ca khúc này như “vị mặn của nước biển bắn lên khuôn mặt khán giả trong ngày hè nóng nực”. Lorde khá tài tình khi cài cắm gu thẩm mỹ vào ca khúc đơn giản, tinh tế nhờ phần hoà âm có trumpet và saxophone.

Các ca khúc dễ nghe khác như California, Oceanic Feeling chú trọng âm thanh acoustics (mộc) hơn là âm nhạc điện tử. Qua album này, nhà sản xuất kiến tạo một thế vững chắc cho âm nhạc Lorde. Tiết tấu chậm, giọng hát tự sự, thiên hướng pop/acoustic hơn hẳn các album electropop trước đây. Mười hai ca khúc truyền tải sự trẻ trung, tâm trạng đang yêu, tận hưởng ánh nắng mặt trời (nói đúng hơn trăn trở với biến đổi khí hậu). Nhà sản xuất Jack Antonoff biên tập các ca khúc theo hướng indie-folk, mộc mạc và phần hòa âm giàu giai điệu thu hút người nghe không thua kém giọng hát Lorde. Album đậm chất New Zealand từ khung cảnh trong video clip, có sự tham gia của nhạc sỹ kiwi Marlon Williams hát nền.

Về phong cách sáng tác, album này có thể chịu ảnh hưởng của Folklore (2020) của Taylor Swift. Chất tự sự trong ca khúc The Man with the axe (Người đàn ông với cây rìu) là một ví dụ điển hình. Bài hát như một câu chuyện bất tận của Lorde trên nền guitar mộc, lớp nền âm thanh rất duyên dáng. Lorde thú nhận với khán giá về tình yêu dành cho một người đàn ông không nổi tiếng, công việc văn phòng, có mái tóc bạch kim.

Nếu như Melodrama hé lộ một Lorde giận dữ vì thất tình, Solar Power chào đón hình ảnh đắm thắm đang yêu của Lorde trong Mood Ring. Ca khúc Mood Ring (Nhẫn tâm trạng) là bộc bạch những cô gái trẻ không chắc chắn cảm xúc nội tại, họ tìm chỗ trú ẩn trong những chiếc nhẫn đổi màu theo cảm xúc. Tuy không có nhiều bản hit nổi bật, Solar Power là một khám phá mới lạ của Lorde. Nó thiên về các bản tình ca, cho chú chó bị lạc (Big Star) hay với gia đình (Oceanic Feeling).

Nhìn tổng thể, sản phẩm mới nhất của Lorde khá dễ chịu với người nghe về phương diện giải trí, các ca khúc có độ đồng đều, phối khí bài bản. Tờ Guardian đã bình luận “Album phòng thu thứ ba của Lorde là sự trăn trở với biến đổi khí hậu, từ chối sự nổi tiếng của ngôi sao New Zealand. Nó đạt độ chín và ngọt ngào như các ngôi sao như Taylor Swift hay Lana Del Rey”.

Tựa đề album Solar Power đưa khán giả chìm ngập trong không khí mùa hè, nắng ấm ngọt ngào trong thơ ca của Lorde. Cô muốn nói với cả thế giới rằng tình yêu là điều tuyệt vời nhất.

(Theo Guardian, Billboard, New York Times, AllMusic)


Users browsing this topic
Guest (2)
32 Pages«<303132
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.