Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

34 Pages«<2930313233>»
Chuyện lạ có thật khắp nơi
viethoaiphuong
#602 Posted : Tuesday, March 30, 2021 7:33:08 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Khí hậu : Quốc Hội Pháp thảo luận dự luật dựa trên các đề xuất của Hội Nghị Công dân

Trọng Thành - RFI - 30/03/2021
Kể từ ngày hôm qua, 29/03/2021, Quốc Hội Pháp bắt đầu thảo luận dự luật khí hậu, dựa trên các đề xuất của Hội nghị Công dân vì Khí hậu (CCC). Dự luật khí hậu được coi là bộ luật quan trọng cuối cùng trong nhiệm kỳ của tổng thống Emmanuel Macron, sẽ kết thúc vào tháng 5/2022.

Trước Quốc Hội Pháp, bộ trưởng Môi Trường Barbara Pompili ca ngợi dự luật này mang lại « một chuyển đổi thực sự về văn hóa chung », sẽ dẫn đến việc thay đổi « lối sống » của người dân Pháp, cụ thể với các biện pháp mạnh, như xóa bỏ các tuyến bay nội địa khi có tàu hỏa thay thế với thời gian di chuyển dưới 2 giờ 30 phút, hay cấm cho thuê các căn hộ bị xếp hạng lãng phí nhiệt, kể từ năm 2028… Đảng cầm quyền Cộng Hòa Tiến Bước (LREM) hy vọng với dự luật này, nước Pháp sẽ có thể cắt giảm 40% khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030 so với 1990.

Cuộc thảo luận, dự trù diễn ra trong ba tuần lễ, hứa hẹn sẽ căng thẳng. Quốc Hội Pháp đã tiếp nhận hơn 7.000 đề nghị sửa đổi. Theo AFP, bộ trưởng Môi Trường Barbara Pompili, người chủ trì dự luật này, phải đương đầu với nhiều áp lực. Đông đảo giới bảo vệ môi trường chỉ trích mạnh mẽ dự luật, bị coi là không xứng tầm với thách thức nghiêm trọng về khí hậu hiện nay.

Hôm Chủ Nhật 28/03, ngay trước khi Quốc Hội khai mạc đợt thảo luận dự luật khí hậu, đông đảo người tranh đấu môi trường đã xuống đường tại khoảng 150 thành phố, thị xã, thị trấn kêu gọi Quốc Hội đưa ra một « bộ luật khí hậu thực sự ». Hơn 110.000 người tham gia tuần hành, theo ban tổ chức, khoảng 44.000 người theo bộ Nội Vụ. Đây là một cuộc tuần hành lớn hiếm hoi tại Pháp trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

Cuối tháng 2/2021, sau khi chính phủ Pháp hoàn chỉnh dự luật dựa trên các đề xuất của Hội nghị Công dân vì Khí hậu, bà Corinne Le Quéré, chủ tịch Ủy ban Cấp cao về Khí hậu (Haut Conseil pour le Climat), một ủy ban tư vấn độc lập của chính phủ Pháp, đã hoan nghênh dự luật « đi theo đúng hướng », nhưng các biện pháp đề ra là « chưa đủ tầm chiến lược ».

Chính phủ Pháp xây dựng dự luật khí hậu nói trên dựa trên 146 đề xuất của Hội nghị Công dân vì Khí hậu, được thành lập tháng 10/2019. Hội nghị được lập theo quyết định của tổng thống. Hội nghị CCC có sự tham gia của 150 công dân. Cơ chế huy động ý kiến đóng góp trực tiếp từ xã hội dân sự cho tiến trình xây dựng luật nói trên là chưa từng có tại Pháp. Nhiều chuyên gia, nhà quan sát thậm chí cho rằng đây là một phương thức thực thi dân chủ hiếm có với cả thế giới.

Hội nghị được lập ra sau cuộc khủng hoảng xã hội Áo Vàng. Khủng hoảng bùng phát tháng 11/2018 sau khi chính phủ ban hành sắc thuế sinh thái đánh vào xăng xe, gây mất lòng dân nghiêm trọng, do sắc thuế bị coi là đánh chủ yếu vào túi tiền của dân nghèo, người có thu nhập thấp. CCC có sứ mạng đưa ra các đề xuất nhằm giúp nước Pháp giảm ít nhất 40% khí thải vào năm 2030, so với năm 1990, trên nguyên tắc bảo đảm công bằng xã hội.


viethoaiphuong
#603 Posted : Thursday, April 1, 2021 6:54:15 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Lai dắt thành công tàu mắc cạn khổng lồ, kênh Suez thông thương trở lại

Voa / AP - 30/03/2021
Các toán cứu hộ vào ngày 29/3 đã giải thoát con tàu công-tơ-nơ khổng lồ bị kẹt gần một tuần tại kênh Suez, chấm dứt cuộc khủng hoảng làm tắc nghẽn một trong những hải lộ quan trọng nhất thế giới.

Được thủy triều cao giúp sức, một đoàn tàu kéo đã kéo mũi tàu Ever Given, cao bằng một tòa nhà chọc trời, khỏi một bờ cát của con kênh.

Ever Given mắc cạn tại đây từ ngày 23/3.

Các tàu kéo hú còi reo mừng khi hướng dẫn tàu Ever Given qua dòng nước sau nhiều ngày bất khiển dụng; một biến cố làm cả thế giới chú ý.

Con tàu khổng lồ tiến về phía Great Bitter Lake, một vùng nước rộng nằm giữa hai đầu nam - bắc của kênh Suez. Tại đây, con tàu sẽ được kiểm tra an toàn.

Evergreen Marine, công ty chuyển vận lớn có trụ sở tại Đài Loan, là công ty điều hành Ever Given.

“Chúng tôi đã kéo tàu ra rồi!” ông Peter Berdowski, Tổng giám đốc Boskalis, công ty trục vớt được thuê để lôi con tàu Ever Given, cho biết. “Tôi phấn khích loan báo là toán chuyên gia của chúng tôi, làm việc với sự cộng tác chặt chẽ của Thẩm quyền Kênh Suez, đã thành công trong việc làm cho tàu Ever Given nổi trở lại… do đó việc đi ngang qua Kênh Suez nay trở lại như cũ.”

Bị vùi dập vì một trận bão cát, tàu Ever Given ủi vào một bờ kinh chỉ có một làn, khoảng 6 km về phía bắc của lối vào kênh, gần thành phố Suez. Sự cố này gây ra tắc nghẽn giao thông rộng lớn làm 9 tỉ đô la thương mại toàn cầu bị đình trệ mỗi ngày, và làm gián đoạn chuỗi cung ứng vốn đã chịu gánh nặng của đại dịch virus corona.

Có ít nhất 367 tàu hàng bị kẹt lại vì phải chờ đi qua Kênh Suez. Hàng chục con tàu khác phải đi con đường khác, dài hơn, vòng qua Mũi Hảo vọng tại cực nam châu Phi.

Ai Cập xem con kênh như là niềm tự hào quốc gia và là nguồn thu nhập đáng kể. Sự cố tàu Ever Given làm mất hơn 95 triệu đô la phí qua kênh, theo công ty dữ liệu Refinitiv.

Ngay cả khi công tác cứu hộ tiếp tục, Tổng thống Abdel Fattah el-Sissi, sau nhiều ngày im lặng về cuộc khủng hoảng, đã ca ngợi sự kiện ngày 29/3.

“Người Ai Cập đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng,” ông viết trên Facebook, “dù có phức tạp công nghệ khổng lồ.”

Tại làng Amer, nhìn về con kênh, cư dân reo hò khi con tàu chạy dọc làng. Nhiều người chen chúc nhìn con tàu trong khi những người khác vẫy tay chào từ biệt.

“Nhiệm vụ hoàn tất,” ông Abdalla Ramadan, một dân làng nói. “Toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm.”

Tòa đại sứ Mỹ tại Cairo gởi lời chúc mừng Ai Cập trên Twitter.

Trong khi con kênh hiện hết bị tắc nghẽn, vẫn chưa rõ khi nào việc đi lại trên kênh trở lại bình thường. Các nhà phân tích hy vọng sẽ mất khoảng 10 ngày nữa để giải quyết mọi ứ đọng tại hai đầu kênh.

Việc thông thương trở lại diễn ra vài ngày sau nỗ lực cao độ của một toán cứu hộ tinh nhuệ từ Hà Lan. Các tàu kéo, đẩy và kéo con tàu khổng lồ ra khỏi bờ, công việc của các tàu này được triều cường ngày 29/3 giúp sức mang đến kết quả thành công cuối cùng.

Các tàu nạo vét chuyên dụng đào ở đuôi tàu và hút cát và bùn ở phía dưới. Công tác này cực kỳ tinh vi. Trong khi tàu Ever Given bị mắc cạn, thủy triều lên và xuống tạo áp lực lên thân tàu dài 400 mét, tạo nên quan ngại là tàu có thể bị nứt hoặc vỡ.

Một khi Ever Given được kiểm tra tại Great Bitter Lake, các giới chức sẽ quyết định xem liệu con tàu mang cờ Panama, do Nhật Bản làm chủ, chở hàng từ châu Á đến châu Âu, có thể tiếp tục chạy đến đích nguyên thủy là Rotterdam, Hà Lan, hay không.

Cuộc khủng hoảng đã nhấn mạnh đến con đường thương mại trọng yếu chở hơn 10% hàng hóa toàn cầu, trong đó có 7% xăng dầu trên thế giới.

Việc kênh Suez bị tắt nghẽn chưa từng xảy ra trước đây, nêu lên những quan ngại về trì hoãn kéo dài, tạo tình trạng thiếu thực phẩm và làm nâng giá hàng hóa.

Chuyên gia thương mại quốc tế Jeffrey Bergstrand tiên đoán “chỉ có một ảnh hưởng dây chuyền nhỏ lên giá hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ.”

“Vì hầu hết việc nhập khẩu bị chặn lại trong tuần qua có đích đến là châu Âu, người tiêu dùng Mỹ sẽ ít thấy ảnh hưởng về giá cả hàng hóa nhập khẩu, trừ những sản phẩm trung gian của Mỹ làm tại châu Âu,” giáo sư về tài chánh Bergstrand, Trường Kinh doanh Mendoza thuộc Trường đại học Notre Dame nói.



Từ vụ kênh Suez đến những vấn đề đặt ra cho giao thông hàng hải

Anh Vũ - RFI - 01/04/2021
Các loại tàu chở container như tàu Ever Given bị mắc kẹt trong kênh Suez từ hôm 24 -29/03 vừa qua, có thể chở được khối lượng hàng hóa rất lớn, đồng thời cũng gây tổn hại không kém cho môi trường không khí, hệ sinh thái biển.

Sau nhiều ngày lo lắng, hôm 29/03 các cơ quan quản lý giao thông hàng hải Ai Cập đã vui mừng thông báo, tàu Ever Given dài 400 mét chở 220 nghìn tấn hàng đã được giải cứu, có thể tiếp tục hải trình và giao thông qua kênh Suez trở lại bình thường, khai thông thương mại quốc tế trị giá hàng tỷ đô la mỗi ngày. Các hãng vận tải biển thở phào nhẹ nhõm, nhưng giao thông hàng hải cũng đang đặt ra nhiều vấn đề về môi trường.

Các tàu chở container siêu trọng giờ đây là biểu tượng của buôn bán trên thế giới. Ngày càng có nhiều con tàu cực lớn như vậy hoạt động trên các tuyến đường hàng hải của thế giới. Gần 90 nghìn chiếc tàu chở hàng xuôi ngược dọc ngang trên đại đương của hành tinh trong suốt cả năm. Đó là những chiếc tàu hàng, tàu container, tàu chở dầu, khí đốt và các loại tàu thủy khác. Có khoảng 80% hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng đường biển, tức là khoảng trên 10 tỷ tấn hàng mỗi năm. Vận tải biển đang là một thị trường phát triển mạnh, mỗi năm tăng từ 3 đến 4%. Cuộc khủng hoảng dịch càng góp phần cho vận tải biển phát triển khi mà vận tải hàng không bị đình lại.

Giao thông hàng hải, lợi bất cập hại

Các tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường đều nhất trí cho rằng các con tàu chở hàng trên biển tàn phá môi trường rất lớn.

Trước tiên là nguồn phát thải ra không khí. Dù ngày càng có ít tàu vận tải container dùng nhiên liệu diesel nặng nhưng các tàu nhỏ vẫn sử dụng nhiên liệu gây ô nhiễm và hàng ngàn tấn khí phát thải. Theo Axel Friedrich, một chuyên gia có tiếng của Đức, một tàu container lớn phát thải một lượng khí gây ô nhiễm tương đương với một triệu chiếc xe hơi.Tại Marseille (Pháp), « người ta ước tính 10 đến 20% các hạt bụi khí lơ lửng trong thành phố xuất phát từ giao thông hàng hải », Dominique Robin, giám đốc công ty Air Paca chuyên giám sát chất lượng không khí của Pháp cho biết.

Ngoài vấn đề nhiên liệu còn có vấn đề nước trữ trong các tàu. Để giữ được thăng bằng, một tàu chở container chất hàng rất cao phải có hai đáy để bơm nước biển làm đối trọng với hàng hóa: Tàu phải hút nước biển vào đáy ở cảng bốc hàng và xả nước biển ở cảng dỡ hàng cách nhau hàng nghìn km. Như vậy, người ta đã vận chuyển các vi sinh vật biển ra khỏi môi trường sinh sống quen thuộc của chúng, biến chúng thành các sinh vật xâm nhập ở vùng biển khác, hệ quả là hệ sinh thái bị đảo lộn.

Khi nói đến tàu vận tải biển, không thể không nói đến một tình trạng khác là xả thải bừa bãi trên biển. Các vùng biển quốc tế thực sự là một bãi rác hoang. Rất khó có thể kiểm soát được các hoạt động như vậy của các tàu trên biển.

Ngoài ra còn có hiện tượng khác là các container bị rơi trên đường vận chuyển. Mỗi năm có hàng ngàn khối hộp chứa hàng trôi nổi trên biển rồi chìm xuống đáy đại dương, chưa kể các vụ tàu đắm. Những tai nạn như vậy vẫn thường xảy ra và là nguồn gây ô nhiễm không nhỏ đối với đại dương, các chuyên gia nhấn mạnh.

Khi con tàu Grand America bị đắm trong vịnh Gascogne, cách bờ biển của nước Pháp 300 km, ngày 12/03/2019, cơ quan quản lý hàng hải Đại Tây Dương đã thống kê hàng chứa trong các container cho thấy tàu chở hơn 2100 chiếc xe và hàng trăm tấn chất độc nguy hiểm, trong đó có 720 tấn a-xít chlohydrique, 85 tấn sulfat natri (hoạt chất tẩy), 82 tấn a-xit sulfuric và còn rất nhiều loại hóa chất độc hại khác. « Trong trường hợp cụ thể này, danh sách các mặt hàng chứa trong container được công bố, nhưng có bao nhiêu container bị rơi xuống biển mà người ta không biết chúng chứa gì bên trong ? », chuyên gia Ludovic Lefevre đặt câu hỏi. Hơn nữa các container như cứ tích tụ theo thời gian dưới biển sẽ là nguy cơ gây hại lớn.

Sát thủ của các loài cá voi

Các tàu chở container còn là mối họa lớn cho các động vật biển. Mỗi năm, hàng chục con cá voi bị chết vì đâm vào các tàu. Tại Địa Trung Hải, trong khu vực Santuaire Pelagos ( Ý), nơi tập trung phần lớn quần thể cá voi, các tàu biển đi lại một quãng đường tổng cộng 18,5 triệu km, tương đương cới 450 lần vòng quanh thế giới. Nguy cơ tàu va chạm với cá voi là rất lớn. Đây cũng chính là nguyên nhân đầu tiên của tình trạng chết do tai nạn ở loài cá voi. Rất đáng tiếc khi mà ta biết rằng tỷ lệ sinh sản ở loài cá voi là rất thấp.

Từ nhiều năm nay, các tàu đã được trang bị camera giám sát để phát hiện cá voi, đặc biệt trong vùng Santuaire Pelagos, nhưng các thiết bị đó chỉ giúp nhìn thấy cá voi còn tránh chúng thì không.

Không phải tất cả các voi đều bị tàu đâm nhưng trái lại chúng đều bị ảnh hưởng của tiếng ồn. Các nhà nghiên cứu cho biết, những tiếng ồn tần số thấp phát ra từ các tàu conteiner gây hậu quả tai hại đến tập tính sống của các voi như làm thay đổi quá trình sinh sản, tập tính di cư hay gây điếc ở loài động vật quý hiếm của biển này.

Để hiểu được mức độ tai hại của hiện tượng tiếng ồn, không thiếu các so sánh. Một báo cáo về tác động âm thanh trong vùng bắc biển Manche, giữa Cherbourg (Pháp) và Rotterdam (Hà Lan), nơi giao thông hàng hải dày đặc, đã chỉ ra rằng âm thanh trong vùng này tương đương như âm thanh của một vũ trường, theo chuyên gia Ludovic Lefevre, thuộc cơ quan nghiên cứu biển Sea Sheperd. Những nghiên cứu khác còn chỉ cho thấy tần số thấp của các tàu chở container có độ ồn cao gấp 100 lần so với một động cơ phản lực máy bay.

Giao thông hàng hải bớt ô nhiễm, vẫn có thể

Cách đây 3 năm, kênh Suez đã mở rộng gấp đối để tăng lưu lượng vận tải và tạo thuận tiện cho các tàu chở container qua lại. Việc mở rộng kênh đã làm biến đối dòng hải lưu, thay đổi mực nước và góp phần làm cạn sông Nil…. Các hậu quả là vô cùng lớn.

Các tàu vận chuyển container trung bình có vòng đời hoạt động 20 năm. Các con tàu cũ sau đó phải được tháo gỡ, công việc này cũng gây ô nhiễm rất nhiều. Thường thì các tàu này được đưa về Ấn Độ tháo dỡ trong điều kiện môi trường và lao động hết sức sơ sài, đáng lo ngại. Các chuyên gia đề nghị việc tháo dỡ tàu phải được làm ở các nước phương Tây có công nghệ cao, bảo đảm an toàn.

Liệu có giải pháp để giao thông hàng hải bớt gây ô nhiễm ? Các tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường khẳng định là có. Bằng cách giảm tốc độ, các tàu sẽ sử dụng ít nhiên liệu và giảm nguy cơ đâm vào các động vật biển. Ngày càng có nhiều tàu sử dụng nhiên liệu khí hydro hay khí hóa lỏng. Một số tàu còn trang bị buồm để hạn chế phát thải các-bon.

Chuyên gia Antidia Citores, phát ngôn viên hiệp hội bảo vệ đại dương của châu Âu Surfrider Foundation Europe cho rằng « cần phải hoan nghênh những tiến bộ đã đạt được. Hơn nữa, các tổ chức phi chính phủ còn thường xuyên được tham khảo trong việc thiết kế các loại tàu tương lai thân thiện với môi trường được sử dụng trong 30 năm tới ». Nhưng « để thực sự làm tốt, cần nhất là phải chấm dứt mua hàng hóa tiêu thụ hàng ngày có xuất xứ từ Trung Quốc, một nguyên nhân khiến lưu hàng hóa trở nên dày đặc », chuyên gia Denis Ody của tổ chức WWF kết luận.

(Theo France 24.com)


viethoaiphuong
#604 Posted : Friday, April 2, 2021 7:40:25 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Khai thác năng lượng mặt trời không gian : Một cuộc đua mới giữa các cường quốc ?

Minh Anh - RFI - 02/04/2021
Tháng 5/2020, trung tâm Nghiên cứu của Hải quân Mỹ (U.S Navy Research Laboratory) thông báo tiến hành thử nghiệm gởi một tấm điện quang có tên gọi là Photovoltaic Radiofrequency Antenna Module (PRAM) lên không gian để truyền tải năng lượng về mặt đất. Tấm điện quang được không quân Mỹ phóng lên quỹ đạo bằng chiếc phi thuyền không người lái thử nghiệm X-37B hồi trung tuần tháng 5/2020. Trong lĩnh vực này, hiện chỉ có bốn nước đi đầu trong nghiên cứu Nga, Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản.

Tuy nhiên, việc tiến hành thử nghiệm trên quy mô lớn, Hoa Kỳ là nước đầu tiên. Đâu là cơ chế vận hành cho một trạm năng lượng không gian ? Lợi thế của nguồn năng lượng này là gì ? Vì sao Liên Hiệp Châu Âu không có mặt trong cuộc chơi ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà khoa học Jean-François Guillemoles, chuyên gia về quang điện, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), giám đốc trung tâm nghiên cứu Laboratoire International Associé (LIA), liên kết giữa CNRS và đại học Tokyo.

*********

RFI Tiếng Việt : Xin chào Jean-François Guillemoles. Trước hết, ông có thể giải thích làm thế nào người ta có thể truyền tải nguồn năng lượng mặt trời thu được từ không gian về mặt đất ?

Jean-François Guillemoles : Trung tâm điện mặt trời không gian sử dụng cùng một kiểu công nghệ như đối với các trạm trên mặt đất nhưng được cải tiến nhiều hơn và có chi phí đắt hơn. Đó cũng là những tấm quang năng như chúng ta thấy được lắp đặt trên các mái nhà, trên lề đường… Chính những linh kiện bán dẫn sẽ hấp thu các năng lượng bức xạ mặt trời để rồi biến chúng thành những sóng điện tích, tạo ra dòng điện và công suất.

Khi ở trên mặt đất, dòng điện tạo ra từ các tấm quang năng được truyền trực tiếp đến các bộ bình điện để rồi từ đó người ta đưa vào mạng lưới điện.

Trên không gian, những tấm quang năng này thường được sử dụng để cung cấp điện cho các vệ tinh. Nếu chúng ta muốn sử dụng nguồn năng lượng này trên mặt đất, người ta phải chuyển đổi nguồn năng lượng đó thành một nguồn điện từ, rồi bức xạ chúng nhờ vào các ăng-ten vệ tinh đến các ăng-ten tiếp nhận trên mặt đất. Quy trình này cũng tương tự như là các ăng-ten sóng điện thoại cho mạng 4G, 5G… Những cột ăng-ten này ít nhiều gì có định hướng.

Ý tưởng ở đây là người ta sẽ gởi những tín hiệu viễn thông đã bị biến đổi thành những tín hiệu điện tử, tức năng lượng đến các điện thoại, chẳng hạn như lúc này tôi đang nói chuyện, tôi nhận được một nguồn năng lượng trên chiếc điện thoại của tôi từ chiếc ăng-ten được lắp đặt trong trường.

Cũng với cùng một nguyên lý này, để chuyển đổi năng lượng mặt trời thu được từ không gian đến mặt đất, người ta phải lắp đặt một hệ thống ăng-ten định hướng. Với hệ thống này, hiệu năng có được từ việc chuyển đổi năng lượng từ vệ tinh là người ta thu được đến 80% nguồn năng lượng tạo ra.

Lợi thế của nguồn năng lượng mặt trời không gian là gì ?

Jean-François Guillemoles : Người ta nghĩ là nguồn năng lượng này hấp dẫn bởi vì trên không gian không có bầu khí quyển phát tán, tức là lúc nào cũng có ánh sáng mặt trời. Thay vì có được khoảng 1.000 Watt trên mặt đất vào buổi trưa, thì chúng ta lúc nào cũng có đến 1.300 Watt. Đúng là chỉ nhiều hơn có một chút nhưng cái lợi ở đây là lúc nào cũng có ở mức đó. Nghĩa là tuy quỹ đạo vệ tinh xoay quanh trái đất nhưng lúc nào cũng có ánh sáng mặt trời.

Không bị mây che phủ, công suất nhiều hơn, do có nhiều nguồn ánh sáng liên tục nên các tấm quang năng cũng tạo ra nhiều năng lượng hơn so với những gì trên mặt đất. Các số liệu do NASA cung cấp cho thấy, tùy theo công nghệ sử dụng, mức năng suất tạo ra từ không gian cao hơn so với mặt đất từ 5-6 lần.

Tuy số lượng tấm quang năng được sử dụng ít hơn, nhưng chi phí cho một trạm năng lượng không gian sẽ là đắt hơn. Điều hấp dẫn là với việc phát triển của công nghệ không gian, người ta sẽ sử dụng ít nguyên liệu hơn, ngược lại để có thể thu nhận được nguồn năng lượng này, người ta phải lắp đặt các trụ ăng-ten vốn dĩ đòi hỏi chiếm nhiều chỗ.

Một lợi thế khác, theo như nhiều nghiên cứu được công bố, cũng giống như sóng wifi, vì là gởi năng lượng từ không gian đến mặt đất nên chúng ta có thể chọn địa điểm tiếp nhận mà chúng ta cần và không cần phải xây dựng các đường dây cao thế.

Liên Hiệp Châu Âu có dự án nào cho phát triển năng lượng mặt trời không gian ?

Jean-François Guillemoles : Không, châu Âu không có. Dự án này rất phổ biến ở Mỹ và được phát triển ngay từ đầu những năm 1970. Nga cũng có nhưng hơi khác một chút. Liên Hiệp Châu Âu, theo như tôi biết, hiện chưa có một dự án nào như vậy cả. Họ ưu tiên phát triển các vệ tinh.

Tại sao ư ? Đúng là dự án này có nhiều lợi thế. Nhưng tôi nghĩ là có nhiều cách đơn giản hơn. Chẳng hạn như labo của chúng tôi từ nhiều năm qua đang nghiên cứu phát triển dự án thu nhận năng lượng mặt trời bằng khinh khí cầu.

Chúng ta biết là chi phí để phát triển, sản xuất, phóng đi và bảo trì cho một vệ tinh là rất đắt. Trên thực tế, chỉ cần lên cao tầm vài km là đủ thay vì là phải lên đến hơn 30.000km cho một quỹ đạo ổn định. Như vậy chúng ta chỉ cần những công nghệ rẻ tiền hơn, có thể đưa những tấm quang năng lên cao bằng các khinh khí cầu mà vẫn có thể có cùng một hiệu năng như đối với năng lượng từ không gian.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những lợi ích kinh tế, công nghệ trong việc chinh phục không gian. Có lẽ chính vì điều này mà nhiều nước bày tỏ các tham vọng trong công cuộc này.

Liệu như vậy Liên Hiệp Châu Âu nói chung và Pháp nói riêng có bị chậm trễ so với Mỹ và Trung Quốc hay không ?

Jean-François Guillemoles : Theo ý tôi, những nước đi đầu trong lĩnh vực này là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tôi không tin là Trung Quốc đặc biệt đi trước. Quả thật, tôi không phải là một chuyên gia về không gian, nhưng tôi nghĩ là châu Âu cũng bảo vệ các dự án không gian của mình, việc phát triển năng lượng không gian cũng chưa hẳn là một ưu tiên đặc biệt của Liên Hiệp Châu Âu.

Ưu tiên của khối hiện nay là khám phá không gian, phát triển các loại vệ tinh viễn thông, đo lường, giám sát khí quyển và tìm hiểu về trái đất. Liên Hiệp Châu Âu còn tham gia vào dự án không gian quốc tế, gởi tầu thăm dò đến Sao Hỏa.

Đúng là ở đây có một lợi thế công nghệ để mà có thể phát triển khả năng này dù là hiện nay chưa thể sinh lợi. Do vậy, cho rằng phát triển nguồn năng lượng này có thể sinh lợi, tôi không tin là như thế !

viethoaiphuong
#605 Posted : Saturday, April 3, 2021 7:13:12 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Một số nhân viên y tế gốc Á tuyến đầu đối mặt với sự thù ghét giữa COVID-19

VOA - 03/04/2021
WASHINGTON - Dù nhân viên chăm sóc y tế khắp nước Mỹ đương đầu với cuộc chiến đầy gian truân vào năm ngoái chống lại COVID-19, thách thức này tăng lên bội phần đối với các chuyên gia y tế người gốc Á, những người cũng phải làm việc giữa một làn sóng vụ tấn công và miệt thị nhắm vào người gốc Á xuất phát từ đại dịch.

“Năm ngoái có quá nhiều cảm xúc lẫn lộn khác nhau giữa đại dịch [và] các vấn đề liên quan đến sự bất công về sắc tộc. Tất cả những thứ đó hợp lại khiến cho năm ngoái rất khác so với những năm trước,” Austin Chiang, một bác sĩ có cha mẹ di cư từ Đài Loan đến Mỹ 10 năm trước khi anh sinh ra ở Irvine, bang California.

Cùng ngày sáu người phụ nữ Mỹ gốc Á bị sát hại cùng với hai người khác ở Atlanta vào tuần trước, tổ chức vận động Stop AAPI Hate công bố một báo cáo cho biết có 3.795 vụ tấn công vì thù ghét người Mỹ gốc Á và người từ các đảo Thái Bình Dương từ ngày 19 tháng 3 năm 2020 đến ngày 28 tháng 2 năm 2021.

Hơn 500 vụ đã được ghi nhận kể từ đầu năm nay.

COVID-19 lần đầu tiên được phát hiện ở người tại thành phố Vũ Hán của Trung Quốc cuối năm 2019. Lan rộng toàn cầu kể từ đó, nó đã làm hơn 548.000 người thiệt mạng ở Mỹ, nơi có hơn 30 triệu ca nhiễm được xác nhận, theo Trung tâm Tài nguyên Virus corona Johns Hopkins.

Ở 16 thành phố đông dân nhất của Mỹ, các vụ tấn công người Mỹ gốc Á đã tăng gần 150% trong năm 2020 so với năm trước đó, theo số liệu do Trung tâm Nghiên cứu Thù hận và Chủ nghĩa cực đoan của Đại học California State.

Năm qua là năm mà bác sĩ Chiang dành thời gian để chiêm nghiệm. Có bằng thạc sĩ y tế cộng đồng của Đại học Harvard và bằng bác sĩ y khoa từ Đại học Columbia, anh tích cực phản bác những thông tin sai lạc về COVID-19 trên mạng xã hội trong tư cách giám đốc đặc trách thông tin y khoa trên mạng xã hội cho 14 bệnh viện được vận hành bởi Đại học Thomas Jefferson ở Philadelphia, bang Pennsylvania, và là người sáng lập Hiệp hội về Thông tin Y tế Mạng Xã hội (AHSM).

Cái chết của George Floyd, một người đàn ông người Mỹ gốc Phi thiệt mạng trong khi bị cảnh sát câu lưu vào tháng 5 năm ngoái ở Minnesota, và sự hồi sinh của phong trào Black Lives Matter, “đã làm suy nghĩ lại rất nhiều điều về… những cách mà chúng ta có thể cố gắng đưa sự bình đẳng vào ở nơi làm việc của tôi và bảo đảm rằng những người khác cảm thấy họ được đối xử công bằng, được nhìn thấy và được lắng nghe,” bác sĩ khoa tiêu hóa này nói với VOA Tiếng Quan thoại.

“Trong khi đó đồng thời chúng tôi đang bị người ta phán xét không phải vì kĩ năng của chúng tôi mà vì ngoại hình của chúng tôi và chắc chắn đó là điều gì đó ảnh hưởng đến rất nhiều người khác nhau.”

“Buồn cười nhất là một ông da trắng này gọi tôi là ‘cuốn chả giò,’” Vannthath Man, 42 tuổi, y tá phòng điều trị tích cực ICU tại Bệnh viện Inova Fairfax, bang Virginia, nói.

“Tôi không để bụng những lời nói như vậy … Ông ấy có thể có suy nghĩ đó sâu trong tiềm thức nhưng nếu ông ấy không chịu tác dụng của thuốc, nếu đầu óc của ông ấy không mụ mị, ông ấy sẽ không nói ra. Nhưng có cái suy nghĩ đó thôi đã là không đúng rồi.”

Sinh ra ở Battambang, Campuchia, Man từng bị bắt nạt đến bật khóc và bị hắt hủi trong những năm đầu tiên đi học sau khi anh đến Mỹ vào năm 1989 ở tuổi 12 cùng gia đình. Vào thời điểm đó, Man nói với VOA Tiếng Khmer rằng anh nghĩ “phải chi có ai đó giúp tôi thì có lẽ tôi đã không có những ý nghĩ về chuyện tự sát, có lẽ tôi đã không phải khổ sở như vậy. Vì thế đó là lý do tôi theo nghề điều dưỡng để trở thành y tá vì tôi muốn giúp mọi người.”

Trong một ngày mà bốn trong số sáu bệnh nhân COVID-19 của anh chết trong ICU, Man quay sang các phương pháp tự chăm sóc mà anh tạo ra cho chính mình khi còn là một thiếu niên. “Về mặt văn hóa, gia đình chúng tôi không cởi mở lắm khi nói về một số chuyện… Rất nhiều lúc tôi phải đương đầu một mình. … Vì vậy, ngày hôm đó, tôi nghĩ về những đặc điểm tích cực, những điều tích cực mà bạn cống hiến cho cộng đồng.”

Người gốc Á, sinh ra ở Mỹ và ở Châu Á tính chung, có tỉ lệ nhỏ một cách bất tương xứng trong lĩnh vực y tế so với số người gốc Á trong dân số tổng thể, theo số liệu từ Viện Chính sách Di trú và Thống kê dân số Hoa Kỳ.

Trong số những nhân viên y tế ở Mỹ sinh ra ở nước ngoài, 40% đến từ Châu Á.

Adam Conners, 35 tuổi, quê ở Malang, Đông Java, Indonesia. Anh đến Mỹ chơi với mấy người bạn vào năm 2011. Anh suy sụp vì những cơn co giật gây ra bởi bệnh lao giai đoạn cuối và phải nằm ba tháng tại Bệnh viện Đại học George Washington ở Washington, D.C., nơi y tá tận tình điều trị cho anh đến mức anh quyết định gia nhập hàng ngũ của họ.

Sau khi học tiếng Anh, anh đăng kí theo học một chương trình điều dưỡng cấp tốc tại Đại học Chamberlain ở Downers Grove, Illinois, rút bốn năm học thành 30 tháng. Anh tốt nghiệp bằng cử nhân năm 2017.

“Rất cực,” Conners nói với VOA Indonesia về chương trình học của mình. Giờ là y tá ICU trong bệnh viện nơi anh từng được chăm sóc, anh ấy đối xử với người Mỹ gốc Phi, gốc Mỹ Latin, gốc Á, Trung Đông, da trắng, “tất cả mọi người đều như nhau. Họ là bệnh nhân của tôi.”

Những bệnh nhân COVID-19 đầu tiên của anh ở độ tuổi 70 và 80, nhưng bây giờ trẻ hơn, ở độ tuổi 20 và 30.

“Rất buồn,” Conners nói. “Và khi tôi tan sở, tôi thấy những người ở ngoài đường không đeo khẩu trang hoặc không giãn cách xã hội. Tôi thấy đau lòng.”

Giá như những người ở ngoài đường có thể “nhìn thấy bên trong bệnh viện này, thấy bệnh nhân hấp hối,” Conners nói. Anh muốn quay về Indonesia để làm việc với một phòng khám địa phương, xây một phòng khám ngoại trú và “cố gắng giúp người dân của tôi.”

Làm y tá trong đại dịch đã dạy cho Conners giá trị của việc tự chăm sóc bản thân, bao gồm chăm sóc “tinh thần của tôi, sức khỏe tinh thần của tôi,” anh nói. Anh ước tính anh đã chứng kiến 100 bệnh nhân chết vì COVID-19. Đôi khi “tôi cảm thấy như COVID vừa đánh bại tôi. … Hoặc tôi cảm thấy như mình vừa thua trong một trận chiến với COVID.”

Wengang Zhang, 67 tuổi, sinh ra ở tỉnh tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc và đến Mỹ vào năm 1988 với tấm bằng y khoa mà ông đạt được từ trường mà bây giờ là Đại học Khoa học Y khoa Trùng Khánh. Là bác sĩ chăm sóc chính, ông hoàn thành khóa đào tạo tại Mỹ vào năm 1999 với khoảng thời gian nội trú tại Trung tâm Y tế Đại học California-Los Angeles.

Bác sĩ Zhang cho VOA Tiếng Quan Thoại biết thách thức lớn nhất mà ông từng đối mặt để có thể hành nghề y ở Mỹ “chắc chắn là ngôn ngữ nhưng một điểm khác biệt lớn khác là hệ thống, bảo hiểm này nọ. Trước đó tôi chưa từngg nghe nói về… bảo hiểm y tế, hoặc Medicare, Medicaid.”

Ông hành nghề tại Springhill Medical Group ở Quận Contra Costa, phía đông San Francisco, nơi ông điều trị cho những bệnh nhân “người da trắng, da đen, Mỹ Latin hoặc người đảo Thái Bình Dương.”

Ông nói với VOA Tiếng Quan Thoại rằng ông đã tiếp nhận bệnh nhân COVID-19 đầu tiên của quận sau khi được gọi đến phòng cấp cứu địa phương.

“Tôi có thể cho bạn biết ngày chính xác… ngày 1 tháng 3. … Mọi thứ, dữ liệu, đều khớp với bất cứ điều gì chúng tôi biết được từ kinh nghiệm của Trung Quốc.”

Bệnh nhân COVID-19 đầu tiên của quận hóa ra là một trong những bệnh nhân của chính bác sĩ Zhang, “một thanh niên trẻ khỏe và anh ta không hề biết nhiễm bệnh ở đâu.”

Sau khi khám bệnh, ông Zhang rời bệnh viện, mở tất cả cửa kính xe, lái xe về nhà, đậu xe, cởi đồ và chạy thẳng vào tắm mà không dừng lại nói chuyện với vợ.

“Hơn 20 năm hành nghề, đó là lần lần đầu tiên tôi nhận ra tính mạng của mình có thể gặp nguy vì tôi đã khám cho bệnh nhân này,” ông Zhang nói.

Theo một cuộc điều tra của Kaiser Health News và The Guardian, trong số 3.561 nhân viên y tế đã thiệt mạng trên chiến tuyến ở Mỹ tính đến tháng Một năm nay, 21% là người gốc Á và đảo Thái Bình Dương.

Một người từng nhiễm COVID-19 và sống sót là Tsering Dechen, 28 tuổi, người Tây Tạng đến Mỹ vào năm 2010 sau khi học xong trung học ở Nepal, theo sự thúc giục của mẹ cô để có được một nền giáo dục tốt. Sau một loạt những công việc lặt vặt, cô lấy bằng cử nhân điều dưỡng của trường Đại học Lehman, ở Thành phố New York vào năm 2019. Cô hiện là y tá bộ phận chăm sóc tiệm tiến tại Bệnh viện Elmhurst ở Thành phố New York, công việc mà cô ấy bắt đầu làm vài tuần trước khi những ca COVID-19 đầu tiên xuất hiện.

Nơi làm việc của cô ở trung tâm Queens, một khu nổi tiếng với sự đa dạng sắc dân từ Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Đại Dương, Nam và Trung Mỹ. “Tôi cảm thấy như Bệnh viện Elmhurst là một điển hình cho thấy chúng ta cùng tồn tại với nhau như thế nào,” Dechen nói. Cô cho biết cô có nghe về những vụ bạo lực nhắm vào người Mỹ gốc Á, đặc biệt là vụ tấn công một bác sĩ người Mỹ gốc Á.

“Tại sao bạn lại tấn công một người, một người duy nhất, chỉ vì ông ấy là người Mỹ gốc Á?” cô đặt câu hỏi. “Sao có thể quy trách chỉ một người về đại dịch này? Sao lại nổi cơn và tấn công một ai đó như vậy?”

“Mỗi ngày tôi nhận ra chúng ta giống nhau như thế nào,” Dechen nói với VOA Tiếng Tây Tạng. “Những người cao tuổi, nhu cầu của họ… bạn nhìn thấy bao nhiêu là sự tương đồng ở những sắc tộc khác nhau này.”

Võ Tấn Tiền, 44 tuổi, tốt nghiệp Đại học Y khoa Ross ở West Indies và hiện là giám đốc y tế Trung tâm Y tế VO ở Thung lũng Imperial của bang California, một khu vực nông nghiệp giáp với Mexico.

Anh bắt đầu điều trị cho bệnh nhân COVID-19 vào tháng 3 năm ngoái, lúc mà anh đối mặt với những ngày khó khăn nhất của đại dịch vì “lúc đó không có đủ các xét nghiệm.” Bệnh nhân muốn được xét nghiệm, và “tất nhiên, họ rất lo lắng, họ muốn biết kết quả ngay. … Thời điểm đó rất căng thẳng… về chuyện xét nghiệm và mức độ lo âu liên quan tới đại dịch này.”

Bác sĩ Tiền, quê ở tỉnh Bình Định của Việt Nam, đã gửi các xét nghiệm đến San Diego để xử lý và nói với bệnh nhân rằng họ phải chờ kết quả.

Anh nhớ lại khi bước ra bãi đậu xe của phòng khám để xét nghiệm một bệnh nhân sau đó được chẩn đoán mắc COVID-19. “Tôi bước ra với đầy đủ PPE (đồ bảo hộ cá nhân), tôi trùm kín từ đầu đến chân vì chúng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra với virus… và tôi yêu cầu bà ấy hạ cửa sổ xuống và bà ấy bật khóc và không thể nói được vì bà ấy hết hơi và đang thở hổn hển.”

Được chuyển đến bệnh viện địa phương rồi đến trung tâm y tế San Diego, bệnh nhân được trợ thở bằng máy, gia đình cuống lên, “sau đó đến ngày 11, bà ấy chuyển biến và đột nhiên khá hơn,” bác sĩ Tiền nói với VOA Tiếng Việt.

Anh nhận một bệnh nhân khác có triệu chứng vào bệnh viện, nơi ông ta đứng dậy và đi lại được sau vài giờ. Ngày hôm sau, người đàn ông không thể đi lại và sau khi được tiêm steroid vào tĩnh mạch, truyền dịch tĩnh mạch và truyền huyết tương “chúng tôi không thể giúp ông ta hơn được nữa.” Bốn ngày sau chẩn đoán ban đầu, bệnh nhân này trở thành bệnh nhân đầu tiên của bác sĩ Tiền tử vong vì COVID-19.

Bác sĩ Tiền không biết phải nói gì với gia đình, nhưng họ “khá tử tế và gọi điện thoại cho tôi và nói với tôi, ‘Bác sĩ Võ, ông đã cố gắng hết sức. Đừng lo lắng. Đừng buồn.’ … Họ còn khuyến khích tôi tiếp tục giúp những người khác.”

“Tôi làm y tá hơn 30 năm rồi, tôi đã chứng kiến con người ta ra đời và lìa đời, nhưng (đại dịch) thật không thể tin được… Tôi không theo dõi con số vì quá nản,” Anchalee Dulayathitikul, 55 tuổi, y tá chăm sóc bộ phận chăm sóc trung cấp, nói. Bà đến Mỹ vào năm 2014, sau khi quyết định bà muốn con cái được giáo dục ở Mỹ.

Bà chọn theo nghề điều dưỡng vì ông của bà nghĩ rằng bà có tính hay chăm sóc người khác. Bà Dulayathitikul lấy bằng điều dưỡng và hộ sinh vào năm 1988 tại Đại học Chiang Mai ở Thái Lan. Hơn một phần tư thế kỉ sau đó, bà vượt qua tất cả các bài kiểm tra cần thiết để được cấp chứng chỉ điều dưỡng ở bang Maryland ngay lần thi đầu tiên.

Bà làm việc tại Trung tâm Y tế Upper Chesapeake của Đại học Maryland và sau một năm, bà nói với VOA Tiếng Thái, “Tôi thấy được nhịp độ và biết cách chăm sóc bệnh nhân COVID-19 thành công.”

Bà Dulayathitikul dự định thăm người mẹ không được khỏe mạnh của bà ở Thái Lan một khi đại dịch đỡn hơn và những hạn chế du hành được dỡ bỏ. Bà sẽ trở lại Maryland vì các con và sự nghiệp của bà “bởi vì tôi rất yêu nghề.”

Darunee Rasameloungon, 41 tuổi, từ Bangkok đến Mỹ vào năm 1991 cùng gia đình để đoàn tụ với cha cô. Cô muốn trở thành một kĩ sư hoặc một đặc vụ FBI cho đến khi cô giúp chăm sóc cho một người anh em họ bị gãy tay và chân sau khi bị xe buýt tông.

Khi cô quyết định theo học ngành điều dưỡng, cha cô nói với cô rằng ông không thể trả tiền học phí đại học với khoản tiền ít ỏi từ công việc giao pizza. Nhờ điểm cao, tích cực làm việc tình nguyện và tham gia các hoạt động của trường, Rasameloungon giành học bổng cho hết bốn năm tại trường điều dưỡng của Đại học George Mason ở Fairfax, bang Virginia. Cô tốt nghiệp năm 2001 và hiện là y tá đơn vị chăm sóc tiệm tiến tại Bệnh viện Fairfax, nơi cô đã làm việc từ năm 2008.

“Rất khó khăn, rất buồn khi bạn phải bọc ai đó trong túi… họ chết cô độc,” cô nói với VOA Tiếng Thái. “Họ không có ai bên cạnh, và gia đình của họ không thể ở bên cạnh họ, chết cô độc thực sự rất buồn. Thật sự rất đau lòng. Bạn cảm thấy tội nghiệp họ. Đó là một thực tế phũ phàng: Điều này có thể xảy ra với bất cứ ai.”

Dù Rasameloungon có ý định tiếp tục nghề điều dưỡng ở Mỹ một phần để ở gần con trai, nhưng cô muốn nghỉ dài hạn ở Thái Lan khi đại dịch thuyên giảm vì “COVID khiến tôi nhận ra rằng tôi muốn dành nhiều thời gian hơn cho gia đình."

Sinh ra ở Menifee, California, Limyi Heng, 38 tuổi, là con của những người tị nạn Campuchia. Anh phục vụ ba năm trong Lực lượng Không quân, phần lớn thời gian ở Nam California. “Nhưng tôi đã được điều đi khắp nước Mỹ, điều này khiến tôi cảm kích sâu sắc về sự đa dạng của nước Mỹ.”

Người cố vấn trong Không quân của anh đã hướng dẫn anh theo nghề điều dưỡng viên thực hành (nurse practitioner), và anh ấy đã lấy bằng thạc sĩ điều dưỡng tại Đại học Columbia, nơi anh phát triển một mạng lưới báo sớm cho anh biết về sự lây lan của COVID-19 ở Thành phố New York và các nơi khác. Anh làm việc tại Bệnh viện Redlands Community và Bệnh viện San Gorgonio Memorial.

Ca nhiễm COVID-19 bắt đầu tăng mạnh từ tháng 10 và tiếp tục kéo dài đến tháng 12. “Không hẳn là có khoảnh khắc nào tồi tệ nhất. Tôi nghĩ thật sự là làm việc rất nhiều giờ,” Heng nói với VOA Tiếng Khmer. Đối với anh, điều tích cực về công việc này là “góp sức cùng tập thể” bao gồm những người lao công bệnh viện, những người làm việc hậu cần cung cấp đồ bảo hộ và các nhà lãnh đạo cộng đồng đưa ra “thông điệp và thông tin đúng đắn” để “lấn át thông tin sai lạc.”

Đối với Conners, nỗ lực đồng đội tương tự đưa tới những khoảnh khắc đáng tự hào nhất của anh trong đại dịch, khi bệnh nhân “rời khỏi phòng ICU. Thành tựu lớn đó là từ nỗ lực đồng đội mà chúng tôi đã thực hiện.”

Bài viết có sự đóng góp của Chetra Chap từ Ban Tiếng Khmer; Naras Prameswari và Dian Widyastuti từ Ban Indonesia; Calla Yu từ Ban Tiếng Quan Thoại; Pinitkarn Tulachom từ Ban Tiếng Thái; Trinlae Choedron và Ngawang Tenzin từ Ban Tiếng Tây Tạng; An Hải từ Ban Tiếng Việt.


viethoaiphuong
#606 Posted : Wednesday, April 7, 2021 7:56:43 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Rặng núi Patagonia, nơi khởi nguồn của phong trào ‘‘1% vì Trái đất’’

Trọng Thành - RFI - 07/04/2021
Khủng hoảng môi trường và khí hậu đặt nhân loại trước thách thức chưa từng có. Giới khoa học cảnh báo, nếu không đủ biện pháp mạnh, chậm ít năm nữa, nhân loại khó lòng đối phó với hậu quả của các khủng hoảng này. Trong lúc bộ phận chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu vẫn loay hoay với các phương thức sản xuất dựa trên việc khai thác tài nguyên quá mức, từ hàng chục năm nay, đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp kiên trì triết lý vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường.

Phong trào doanh nghiệp « 1% vì Trái đất » là một ví dụ tiêu biểu. Tạp chí RFI tuần này xin giới thiệu phong trào doanh nghiệp quốc tế « 1% vì Trái đất » qua gương mặt của người sáng lập, tỉ phú Yvon Chouinard, đặc biệt nổi tiếng với các mặt hàng quần áo thể thao ngoài trời, với nhãn mác Patagonia.

Tên gọi « 1% vì Trái đất » có nghĩa gì ? « 1% for the Planet » có nghĩa là tự nguyện trích ra số tiền ít nhất 1% doanh thu, để đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường. Đây là nguyên tắc chủ yếu mà các doanh nghiệp khi tham gia phong trào tuân thủ. Tình nguyện « nộp thuế cho Trái đất », để bảo vệ môi trường, phục vụ cho việc kinh doanh bền vững là triết lý của người sáng lập phong trào, tỉ phú Yvon Chouinard.

Từ nhà leo núi đến ông chủ mác thể thao « Patagonia »

Tỉ phú Yvon Chouinard vốn là một người yêu môn thể thao leo núi. Ở tuổi xế chiều, nhìn lại cuộc đời mình, ông tâm sự : « Tôi có thói quen nằm ngủ trong các túi ngủ dã ngoại. Ít nhất là 250 ngày trong một năm. Tôi leo nhiều ngọn núi, ở tất cả các lục địa, trong đó có Nam Cực. Tôi đã du hành trên thế giới rất nhiều, đủ để hiểu được rằng Thiên nhiên đã bị hủy hoại như thế nào » (trích từ đoạn phim « Yvon Chouinard, de l'alpinisme à l'anti fast-fashion de Patagonia », giới thiệu về sự nghiệp kinh doanh vì môi trường của Yvon Chouinard của mạng Loopsider).

Trong một cuốn hồi ký, ông giải thích rõ hơn về động cơ nào đã thúc đẩy ông chọn đi theo một con đường kinh doanh rất khác với đa số những người đương thời : « tôi là một doanh nhân từ gần 60 năm nay. Nhưng tôi cảm thấy khó mà phát âm được cụm từ này, cứ như thể khi sử dụng từ này để nói về mình, tôi phải chấp nhận mình là một người nghiện rượu hay là một luật sư. Tôi không bao giờ tôn trọng nghề nghiệp này cả. Các doanh nghiệp đa số đáng bị lên án do các ứng xử thù địch với thiên nhiên của họ, do việc họ phá hủy nền văn hóa của các cư dân bản địa, do việc họ đã lấy của người nghèo để đem cho người giàu, và do việc họ đầu độc Trái đất với nước thải từ các nhà máy của họ » (Lời nói đầu cuốn « Let my people go surfing / Confessions d'un entrepreneur pas comme les autres », 2016 /2017).

Tất cả bắt đầu vào năm 1957, ở Burbank, một vùng ngoại ô buồn tẻ của thành phố Los Angeles, California, trong sân nhà của gia đình Chouinard. Yvon, cậu con trai 19 tuổi, say mê môn leo núi, đã tự mình chế tác các đinh khuy và vòng đai bảo hiểm leo núi. Đối với Yvon, các phương tiện được sử dụng vào thời điểm đó là không đủ chắc chắn, phương châm của cậu là « không gì tốt hơn là tự mình chế đồ cho mình ».

Yvon có điều kiện để thực hiện giấc mơ này với sự hỗ trợ của cha cậu - một người gốc vùng Québec, Canada, nói tiếng Pháp – là một thợ cơ khí đến California tìm vận may. Yvon Chouinard đã kiếm được chút tiền bằng việc bán các phương tiện leo núi mà cậu chế tạo. Dần dà chàng thanh niên Yvon đã dựng nên được doanh nghiệp của mình, mở một cửa hàng đầu tiên tại California vào năm 1965.

Hàng hóa vừa tốt bền, vừa thân thiện môi trường

Yvon Chouinard tiếp tục đam mê leo núi cùng với công việc sản xuất và kinh doanh đồ leo núi. Năm 1968, doanh nhân Yvon Chouinard có một trải nghiệm lớn, khi cùng bốn người bạn chinh phục đỉnh Fitz Roy, thuộc Patagonia, vùng núi nổi tiếng ở cực nam châu Mỹ Latinh. Đỉnh núi cao 3.405 mét, nằm ở biên giới giữa Achentina và Chilê, là một ngọn núi nổi tiếng khó leo, chỉ những vận động viên lành nghề mới dám mạo hiểm. Những năm tháng sống gần với núi non hoang sơ, kỳ vĩ đã làm nảy nở ở Yvon Chouinard sự gắn bó và tình yêu thiên nhiên sâu nặng. Nhiều triết lý căn bản về cuộc đời, về nghề kinh doanh của Yvon Chouinard đã được khẳng định chính trong giai đoạn này. Chuyến chinh phục đỉnh Fitz Roy để lại dấu ấn mãi mãi trong sự nghiệp của ông.

Trong những năm 1970, công ty « Chouinard Equipment Ltd » của Yvon trở thành một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp đồ leo núi tại Mỹ. Năm 1972, công ty của Yvon Chouinard bắt đầu sản xuất thêm quần áo thể thao và các đồ dã ngoại. Năm 1973, doanh nghiệp mang tên Patagonia ra đời. Đỉnh Fitz Roy nằm trong dãy núi Patagonia trở thành logo của nhãn mác Patagonia.

Hàng hóa thể thao với hai phương châm, tốt và bền, đã mang lại uy tín cho doanh nghiệp trẻ. Dù sản xuất đồ leo núi hay quần áo, bảo đảm chất lượng và độ bền vẫn là tôn chỉ của công ty. Yvon Chouinard giải thích : « Khi chúng tôi bắt đầu sản xuất quần áo, tôi đã không muốn hạ thấp các đòi hỏi về chất lượng sản phẩm. Như vậy, chúng tôi đã sản xuất ra các mặt hàng quần áo với chất lượng tương tự như phương tiện leo núi ».

Hàng hóa tốt và bền, nhưng đồng thời ngày càng phải hướng đến sử dụng các vật liệu với tác hại cho môi trường ít nhất có thể, là lựa chọn của hãng Patagonia đầu những năm 1990. Năm 1992, công ty bắt đầu khởi động chương trình nghiên cứu tác động sinh thái của các sản phẩm hàng hóa. Giữa những năm 1990, doanh nghiệp quyết định từ bỏ chất liệu bông truyền thống (bị coi là quá tốn năng lượng và gây ô nhiễm quá nhiều), để chuyển sang sử dụng 100% « bông sinh thái » hoặc bông tái chế. Đây là điều mà nhiều người cho là quyết định rất mạo hiểm vào thời điểm đó.

« Vật thể lạ » của nền kinh tế tư bản

Không chỉ bản thân sản xuất ra các hàng hóa tốt bền, thân thiện với môi trường, ngay từ sớm hãng Patagonia đã quyết định trích một khoản tiền lớn trong doanh thu của hãng để đầu tư cho các hoạt động vì môi trường nói chung.

Năm 1985, doanh nghiệp đã quyết định chi 10% số tiền lãi một năm, và sau đó 1% doanh thu một năm, cho các hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, từ thiện. Các hoạt động vì môi trường được Patagonia hỗ trợ trải rộng ra trên rất nhiều lĩnh vực, từ xây dựng công viên bảo tồn trên đất liền và trên biển, đến khôi phục chất lượng của nước sông, bảo vệ các giống loài động thực vật có nguy cơ diệt vong, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

Kể từ năm 1985, hãng Patagonia duy trì đều đặn khoản đóng góp tài chính nói trên cho các hoạt động vì môi trường. Giải thích về lý do của khoản đóng góp kỳ lạ này, công ty cho biết : « Đối với chúng tôi, đây hoàn toàn không phải là một hoạt động nhân đạo hay từ thiện, mà đơn giản chỉ là chúng tôi đảm nhận trách nhiệm đối với những tổn hại do các hoạt động của doanh nghiệp gây ra. Cứ coi như là chúng tôi nộp thuế cho Trái đất ».

Năm 2001, sau gần hai thập niên tình nguyện đóng thuế Trái đất, cùng Craig Mathews (nhà sáng lập công ty Blue Ribbon Flies), Yvon Chouinard lập ra câu lạc bộ « 1% vì Trái đất », để quy tụ các doanh nghiệp trên toàn thế giới theo đuổi cùng một tôn chỉ. Các doanh nghiệp sử dụng logo « 1% vì Trái đất » để khẳng định trước khách hàng, và công chúng, các cam kết vì môi trường, thúc đẩy việc tiêu thụ các sản phẩm tôn trọng môi trường. Tính cho đến nay, đã có khoảng 3.000 doanh nghiệp, tại hàng chục quốc gia, tham gia vào phong trào « 1% vì Trái đất », do ông Chouinard khởi xướng.

Liên Hiệp Quốc vinh danh

Từ chỗ kiên trì phương châm sản xuất các mặt hàng bền chắc, thân thiện môi trường, đến mở rộng lối kinh doanh này ra toàn cầu, cũng như thúc đẩy doanh nghiệp hỗ trợ các hoạt động xã hội dân sự vì môi trường. Triết lý hành động của công ty mang nhãn mác dãy núi nổi tiếng vùng Nam Mỹ đã lan tỏa khắp thế giới.

Năm 2019, Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) vinh danh Patagonia là « nhà vô địch của Trái đất » trong mục giải thưởng cho doanh nghiệp. Giải thưởng « Các nhà vô địch của Trái đất » của UNEP là giải thưởng hàng năm cao quý nhất của Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực môi trường.

Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc ghi nhận : « từ một doanh nghiệp nhỏ sản xuất đồ leo núi, Patagonia đã trở thành doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực phát triển bền vững. Quyết tâm của công ty trong việc bảo vệ các hệ sinh thái của hành tinh đã tác động đến toàn thể lĩnh vực, từ các sản phẩm được chế tạo, vật liệu được sử dụng, cho đến các khoản đóng góp vì môi trường. Gần 70% sản phẩm là sản xuất từ vật liệu tái chế… mục tiêu của hãng là 100% trước năm 2025 ». Giám đốc UNEP Inger Andersen khẳng định Patagonia « là một ví dụ hoàn hảo cho thấy khu vực kinh tế tư nhân có thể tham gia tích cực như thế nào vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, đa dạng sinh thái bị hủy diệt và nhiều mối đe dọa khác đối với sức khỏe con người và hành tinh », và thành công của doanh nghiệp cho thấy « khát vọng của người tiêu thụ muốn các doanh nghiệp đóng vai trò hàng đầu » trong cuộc chiến vì môi trường.

Người tiêu thụ có trách nhiệm: Nhân tố quyết định thành công

Doanh nhân Yvon Chouinard hiểu rõ vai trò quyết định của người tiêu thụ đối với sứ mạng của doanh nghiệp. Patagonia có nhiều biện pháp để khuyến khích tinh thần tiêu thụ có trách nhiệm của khách hàng. Đối thủ của lối tiêu thụ có trách nhiệm là trào lưu khuyến khích mua sắm tràn lan, với biểu tượng là ngày « Thứ Sáu Đen » (Black Friday), được coi là thời điểm khởi đầu cho đợt mua sắm rầm rộ vào dịp Giáng Sinh. Đây là một truyền thống lâu năm tại Mỹ.

Để chống lại lối tiêu thụ nguy hiểm cho hành tinh này, ngày 25/11/2011, tức ngày Thứ Sáu Đen, Patagonia mua một trang quảng cáo trên báo New York Times. Quảng cáo không phải để bán hàng, mà để lưu ý công chúng thận trọng trước quyết định mua hàng. Thông điệp của hãng gửi đến người tiêu thụ là « Don't buy this jacket » (Đừng mua chiếc áo vét tông này). Triết lý của Patagonia là hoàn toàn rõ ràng : « Đừng mua những gì không cần thiết, hãy tái sử dụng các đồ dùng đến mức tối đa, sửa chữa khi có thể, và tái chế khi không thể ».

Theo nhiều nhà quan sát, cho dù chỉ đăng tải có một ngày, và trên một tờ báo duy nhất, thông điệp của Patagonia đã được công chúng rộng rãi đón nhận như một triết lý sống, triết lý tiêu thụ hoàn toàn đối lập với trào lưu mua sắm thường xuyên được giới kinh doanh khuyến khích.

Phong trào « 1% vì Trái đất » thu hút đông đảo doanh nghiệp tại Pháp. Hiện tại Pháp là quốc gia đứng thứ hai sau Hoa Kỳ về số lượng doanh nghiệp tham gia, với tổng số 850 doanh nghiệp. Hơn 400 hiệp hội vì môi trường đồng hành với mạng lưới « 1% vì Trái đất Pháp ». Nhờ hoạt động của mạng lưới các hiệp hội này mà không chỉ các hoạt động vì môi trường được trực tiếp thúc đẩy, mà luật pháp cũng được sửa đổi, để tạo điều kiện cho các hoạt động vì môi trường.



viethoaiphuong
#607 Posted : Thursday, April 8, 2021 6:43:03 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Chuyện Lạ thời Covid-19

Một phụ nữ sau 10 ngày bất tỉnh và đã quên là cô vừa sinh con.

fr new - 8 avril 2021, 3:32 PM
Charlene Jones, người xứ Galle 35 tuổi, khi tỉnh dậy đã hoàn toàn không nhớ gì về việc cô vừa hạ sinh đứa con thứ tư của mình.

Charlene Jones, sau khi hạ sinh một cậu bé và đã có 2 ngày để chăm sóc con của cô, nhưng sau đó cô đổ bệnh nặng. Bị viêm phổi do nhiễm Covid-19, bà mẹ trẻ được chuyển sang cấp cứu hồi sức trong vòng 10 ngày liền, mà có lúc tưởng như bị thần chết gọi đi. Nhưng nhờ việc cứu chữa tận tình của nhân viên y tế, Charlene đã qua khỏi vòng hiểm nguy. Nhưng lúc tỉnh dậy, cô hoàn toàn không còn là chính cô.

"Tôi không còn nhớ gì về việc tôi đã sinh con, cũng không nhớ gì về tên của con tôi, cũng như cân nặng của nó. Tôi đã hỏi các y tá là có phải họ nói chuyện đùa? Họ cho tôi xem téléphone của tôi, với ảnh của con tôi và tên của nó, và tôi hiểu rằng đấy là chuyện thật. Thật là xúc động và hết sức kinh ngạc".

Hiện giờ, các bác sĩ cũng không biết chắc chắn là vì sao Charlene lại có thể mất hẳn một phần trí nhớ rất quan trọng của cô, khi bị nhiễm coronavirus, trong gia đình của cô cũng có người bị nhiễm Covid. "Từng người một, trong gia đình của tôi đã bị truy lùng bởi Covid, cô giải thích, chính chồng của cô cũng bị nhập viện. Tôi muốn là mọi người đều phải ý thức được rằng các biện pháp giữ gìn an toàn là hết sức nghiêm túc".

(HTMT dịch bản tin trên báo điện tử Pháp / yahoo fr)



viethoaiphuong
#608 Posted : Tuesday, April 13, 2021 11:30:40 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Nhật Bản sắp thải nước ô nhiễm từ Fukushima ra biển sau khi xử lý

Voa / Reuters - 13/04/2021
Nhật Bản sẽ thải hơn 1 triệu tấn nước ô nhiễm từ Fukushima, nhà máy hạt nhân bị phá hủy, ra biển, chính phủ cho biết hôm 13/4.

Trung Quốc nói động thái này "hết sức vô trách nhiệm", trong khi Hàn Quốc triệu tập đại sứ Nhật tại Seoul để phản đối.

Đợt xả nước đầu tiên sẽ diễn ra trong khoảng hai năm, giúp Tokyo Electric Power, công ty điều hành nhà máy Fukushima, có thời gian bắt đầu lọc nước để loại bỏ các đồng vị có hại, xây dựng cơ sở hạ tầng và có được sự chấp thuận của cơ quan quản lý.

Nhật Bản cho rằng việc xả nước là cần thiết để thúc đẩy quá trình ngừng hoạt động mang tính phức tạp của nhà máy, sau khi nó bị tê liệt bởi trận động đất và sóng thần năm 2011.

Nhật Bản cũng cho rằng nước được lọc tương tự thường xuyên được thải ra từ các nhà máy hạt nhân trên khắp thế giới.

Gần 1,3 triệu tấn nước bị ô nhiễm, vốn có thể đổ đầy khoảng 500 bể bơi cỡ Olympic, được chứa trong các bể chứa khổng lồ tại nhà máy với chi phí hàng năm lên tới khoảng 100 tỷ yên (912,66 triệu đôla) - và chỗ chứa đang hết dần.

Hoa Kỳ lưu ý rằng Nhật Bản đã hợp tác chặt chẽ với Cơ quan Nguyên tử Năng Quốc tế trong việc xử lý địa điểm này.

Tuy nhiên, các nước láng giềng của Nhật Bản đã phản ứng mạnh mẽ khi cả Trung Quốc và Hàn Quốc đều lên tiếng kêu gọi tham vấn thêm về kế hoạch này.

viethoaiphuong
#609 Posted : Wednesday, April 14, 2021 6:06:40 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Covid-19: Nạn kỳ thị người gốc Á gia tăng tại Hoa Kỳ

Thanh Phương|Hoàng Trọng Thụy - RFI - 14/04/2021
Kể từ khi bùng phát đại dịch Covid-19, nạn kỳ thị người Mỹ gốc Á đã gia tăng tại Hoa Kỳ. Theo thống kê của Stop AAPI Hate, một tổ chức chuyên theo dõi các hành vi thù hận nhắm vào người Mỹ gốc Á, tính từ ngày 19/03/2020 đến 28/02/2021, đã có tổng cộng 3.795 vụ. Nhưng theo họ, con số này chỉ là một phần của các vụ kỳ thị người gốc Á đã xảy ra tại nước Mỹ từ đầu mùa dịch đến nay.

Trong số gần 3.800 ca nói trên, các vụ tấn công vào thân thể chiếm đến 11,1%. Tiêu biểu là vụ thảm sát tại Atlanta ngày 16/03, giết chết 8 người, trong đó có 6 người gốc Á, và gần đây là vụ tấn công một phụ nữ gốc Philippines ở New York.

Nguyên nhân chính khiến các hành vi kỳ thị người gốc Á gia tăng đó là do ảnh hưởng của Covid-19, vì đại dịch này xuất phát từ Trung Quốc và virus corona mới trong một thời gian dài vẫn bị cựu tổng thống Donald Trump gọi là "virus Tàu". Từ việc ghét người gốc Hoa, tư tưởng kỳ thị người gốc Á nói chung lại trỗi dậy ở Hoa Kỳ.

Trước tình hình đó, trong thời gian qua trên khắp Hoa Kỳ đã diễn ra các cuộc biểu tình, tuần hành để phản đối những vụ bạo lực nhắm người Mỹ gốc Á, chẳng hạn như cuộc tập hợp trước Tòa Thị Chính thành phố Jersey City, bang New Jersey, hôm thứ Bảy 10/04, quy tụ hàng trăm người, bao gồm các nhà hoạt động cộng đồng, hoạt động bảo vệ quyền của người nhập cư, các lãnh đạo doanh nghiệp và lãnh đạo hiệp hội công dân, theo tường trình của nhật báo Jersey City Times. Hay cuộc tập hợp theo lời kêu gọi của tổ chức Asians Fighting for Injustice tổ chức tại Columbus Park, khu Chinatown của New York ngày 03/04.

Chính quyền liên bang và chính quyền một số bang cũng đã bắt đầu thi hành các biện pháp để ngăn chận những hành vi bạo lực và kỳ thị đối với người gốc Á.

Thông tín viên RFI Hoàng Trọng Thụy tại từ Westminster, quận Cam, bang California, cho biết thêm thông tin:

RFI: Từ lâu virus gây bệnh Covid -19 đã bị cựu tổng thống Donald Trump gọi là virus Tàu, và tổng thống Joe Biden đã yêu cầu không được gọi như vậy nữa, nhưng vì sao các hành động bạo lực chống người châu Á lại rộ lên trong thời gian gần đây?

Hoàng Trọng Thụy
: Vào khoảng tháng 03/2020, người ta bắt đầu thấy tổng thống Trump sử dụng danh từ “China Virus”, thay vì chữ ông từng sử dụng là Coronavirus khi dịch bệnh Covid-19 bắt đầu lây lan tại Mỹ. Theo các phân tích gia chính trị, việc thay đổi này là một thủ thuật về chính trị để khuấy động tinh thần bài Trung Quốc, cùng lúc với thời gian ông đang muốn gây áp lực để buộc Bắc Kinh phải thuận theo những đòi hỏi nhằm cân bằng thâm hụt mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Việc tổng thống Trump sử dụng từ China Virus, theo ông giải thích, là vì trước đây từng có Spanish Flu, là do cúm xuất nguồn từ Tây Ban Nha, bây giờ Coronavirus xuất nguồn từ Trung Quốc thì phải gọi là China Virus.

Quan điểm này đã nhận được sự ủng hộ của giới nghị sĩ bảo thủ của đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội, chẳng hạn như thượng nghị sĩ John Cornyn. Ông đã nói rằng: “Trung Quốc chịu trách nhiệm vì nền văn hóa ăn dơi, rắn, chó của họ”. Những tuyên bố này bắt đầu ăn dần vào tâm khảm của cử tri Mỹ, nhất là những người ủng hộ tổng thống Trump. Từ đó, thuật ngữ China Virus luôn được người ủng hộ ông Trump sử dụng và trở thành một chiêu bài chính trị cho các nhóm kỳ thị chủng tộc ở Mỹ kích động, dẫn đến tình trạng bạo lực nhắm vào người gốc châu Á trong thời gian qua, cho dù việc gọi Coronavirus là China Virus đã bị phía đảng Dân Chủ phản đối từ những ngày đầu, và cho dù tổng thống Biden đã yêu cầu không được gọi là Virus Tàu nữa, nhưng đã quá muộn để ngăn chặn tình trạng tấn công người gốc châu Á ở Mỹ.

RFI: Anh có thể lại một vài vụ tiêu biểu về nạn kỳ thị, tấn công người gốc Á, nhất là tại California ?

Hoàng Trọng Thụy
: Theo báo cáo mới nhất từ tổ chức kêu gọi ngừng những vụ thù hận nhắm vào người Mỹ gốc Á, chỉ trong vòng một năm trở lại đây, tức là kể từ khi xảy ra đại dịch, tại Hoa Kỳ đã xảy ra trên 3,800 vụ ( Chỉ riêng từ đầu năm 2021 đến nay đã xảy ra 503 vụ ), bao gồm những vụ tấn công, hoặc những lời kỳ thị nhắm vào người gốc châu Á, chẳng hạn như: "Mày hãy về xứ của mày đi!" Đa số các vụ tấn công này xảy ra tại hai bang là New York và California, đặc biệt là tại thành phố New York và Los Angeles.

Tại New York vào cuối tháng 3 vừa qua, một phụ nữ gốc châu Á trong lúc đi đường đã bị một người đàn ông gốc châu Phi tấn công đến phải nhập viện. Trong lúc tấn công, nghi can đã buông ra những lời miệt thị. Tại California, nhiều vụ tấn công xảy ra tại San Francisco, như vào ngày 23/03, 3 thanh niên đã nhắm vào một người đàn ông 67 tuổi. Sau khi đánh đập dã man, bọn này đã bỏ chạy và lấy đi bóp tiền.

Tại miền Nam California, vụ mới nhất xảy ra vào tháng 3 vừa qua khi có một thanh niên 28 tuổi dùng đá ném vào xe của một phụ nữ gốc châu Á ở thành phố Fullerton, khi bà đang chở đứa con trai 6 tuổi. Mặc dù phụ nữ này không bị thương tích, nhưng chiếc xe Tesla mới tinh của bà bị móp. Nghi can đã bị bắt và ra tòa hôm thứ Hai 05/04 vừa qua với 4 tội danh, bao gồm tội nặng nhất là tấn công do thù hận chủng tộc.

Hôm Thứ Bảy, 03/04, tại quận Riverside, cách quận Cam khoảng 1 giờ lái xe, một phụ nữ gốc Hoa đang dắt chó tản bộ trong công viên thì bị một thanh niên chuyển giới dùng dao đâm đến chết. Cảnh sát hiện không tin đây là vụ tấn công vì kỳ thị, nhưng vì nạn nhân là một người gốc Hoa, vụ này đã gây thêm quan ngại trong cộng đồng người gốc Á. Tương tự như vụ tấn công ở thành phố Atlanta, bang Georgia, trước đó, khiến 8 người thiệt mạng, bao gồm những thiếu nữ hành nghề massage - đấm bóp. Mặc dù hung thủ khai không phải từ động lực kỳ thị, nhưng các cộng đồng gốc Á vẫn tin đây là vụ tấn công mang tính kỳ thị và đã lên án gắt gao.

RFI: Trước những vụ tấn công này, phản ứng của người gốc Á nói chung và người gốc Việt nói riêng như thế nào?

Hoàng Trọng Thụy
: Sau nhiều vụ tấn công nhắm vào người gốc châu Á xảy ra liên tục, bao gồm vài nạn nhân là người Việt, ngoài những cuộc biểu tình chống lại hành động kỳ thị thù hận, trên mạng xã hội, nhìn chung, phản ứng của người Việt lẫn người gốc Á khác ở Hoa Kỳ là kêu gọi mọi người nên cảnh giác.

Rất nhiều buổi tập họp trong cộng đồng người gốc Hoa, gốc Việt, gốc Phi.. tại nhiều địa điểm khác nhau cùng đưa ra thông điệp kêu gọi mọi người, nhất là những ai di chuyển vào ban đêm nơi vắng người qua lại, nên vô cùng cẩn thận, nhìn trước sau, và tốt nhất vẫn nên đi hai người. Tại San Francisco, sau những vụ tấn công, nhiều thanh niên gốc Á đã thành lập các nhóm tương tự như dân quân để tuần tiễu quanh các khu vực mà họ nghi là sẽ xảy ra những vụ tấn công tương tự.

Riêng trong cộng đồng người Việt ở quận Cam, nhất là vùng Little Saigon, mặc dù có sự quan ngại, nhưng phần lớn người Việt không sợ, là vì họ tin là đa số người Việt ra đường đông đúc hàng ngày, chưa kể là số người không phải gốc Việt đi bộ trên các đường phố hoặc tập trung trong những trung tâm thương mại thì rất hiếm hoi, vì vậy chưa có vụ tấn công nào được ghi nhận trong cộng đồng người Việt. Mặc dù vậy, các cụ vẫn được khuyên là chớ nên đi bộ ra đường một mình, cho dù là tản bộ tập thể dục.

RFI: Chính quyền liên bang và chính quyền các bang có liên hệ đã có những biện pháp gì để ngăn chận các cuộc tấn công đó?

Hoàng Trọng Thụy: Sau nhiều vụ tấn công mang tính thù hận nhắm vào người gốc Á, Nhà Trắng mới đây khởi xướng kế hoạch hỗ trợ từ tài chính đến thông tin, để kêu gọi người dân nên quan tâm hơn nữa vào những vụ tấn công này. Cụ thể, bộ Cung Cấp Dịch Vụ Y Tế Nhân Sinh cấp gần 50 triệu đôla để giúp những nạn nhân gốc Á bị tấn công, bao gồm cả những vụ bạo động trong gia đình, hoặc tấn công tình dục. Ngoài ra, Viện Khoa Học Quốc Gia cũng dành ngân sách 33 triệu đôla cho công trình nghiên cứu về sự kỳ thị, thù hận chủng tộc.

Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cũng thành lập các ban ngành chuyên môn về những vụ bạo động nhắm vào người gốc Á, bao gồm thu thập dữ kiện và chia sẻ thông tin về kỳ thị, đồng thời hỗ trợ cho các cơ quan công lực từ thành phố đến bang, huấn luyện cho cảnh sát phương cách đáp ứng và phòng ngừa tốt hơn trong những vụ tấn công người gốc Á, hay những hành động kỳ thị vì chủng tộc nói chung.

Nhìn chung, tại những nơi đã từng xảy ra những vụ tấn công nhắm vào người gốc Á, chính quyền địa phương đều ra chỉ thị cho cảnh sát phải cảnh giác hơn nữa trong lúc tuần tra, bên cạnh việc đưa ra các thông cáo kêu gọi sự hỗ trợ, cũng như cảnh giác từ người dân. Song song đó, các nhân vật lãnh đạo trong cộng đồng gốc Á đã tổ chức các buổi tập họp để lên án, đồng thời kêu gọi sự đoàn kết để chống lại các hành vi kỳ thị chủng tộc.

viethoaiphuong
#610 Posted : Thursday, April 15, 2021 8:28:18 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Hàn Quốc tính kiện Nhật Bản ra tòa quốc tế vì xả nước thải hạt nhân

VOA - 14/04/2021
Tổng thống Hàn Quốc hôm 14/5 ra lệnh cho các quan chức nước này tìm hiểu về việc kiện Nhật Bản ra tòa án quốc tế về quyết định xả nước thải ô nhiễm từ nhà máy hạt nhân Fukushima ra biển, giữa sự phản đối của các nhóm bảo vệ thủy sản và môi trường, Reuter đưa tin.

Theo kế hoạch được Nhật Bản công bố hôm 13/4, việc xả thải hơn 1 triệu tấn nước ô nhiễm ra biển từ nhà máy đã bị tổn hại do trận động đất và sóng thần vào năm 2011 sẽ bắt đầu trong khoảng hai năm tới sau khi xử lý loại bỏ các đồng vị có hại.

Kế hoạch này lập tức bị các nước láng giềng Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan phản đối.

Hàn Quốc đã triệu tập Đại sứ Nhật Bản ở Seoul, Koichi Aiboshi, và triệu tập một cuộc họp khẩn cấp nội bộ để đưa ra phản ứng.

Tổng thống Moon Jae-in yêu cầu các quan chức xem xét các cách thức để kiện động thái của Nhật Bản lên Tòa án Quốc tế về Luật Biển, bao gồm việc đệ đơn xin án lệnh, Reuters dẫn lời phát ngôn viên Kang Min-seok của tổng thống Hàn Quốc nói trong một cuộc họp báo.

Ông Moon cũng bày tỏ lo ngại về các kế hoạch của Nhật Bản khi Đại sứ Aiboshi trình diện. Đại sứ của Nhật Bản mới đến Hàn Quốc vào tháng 2 để đảm nhận chức vụ.

“Tôi không có cách nào khác mà phải nói rằng có quá nhiều lo ngại về quyết định này với tư cách là một quốc gia gần nhất về mặt địa lý và có chung biển với Nhật Bản”, ông Moon nói, đồng thời yêu cầu ông Aiboshi chuyển những quan ngại đó đến Tokyo, theo lời phát ngôn viên Kang.

Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã đưa ra một tuyên bố cho biết họ đã nêu những lo ngại tương tự với Washington, sau khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói quyết định của Nhật Bản là “minh bạch” và phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn toàn cầu.

Bộ này cũng cho biết họ đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” về dự định xả nước thải của Nhật Bản trong một cuộc họp trực tuyến hôm 14/4 với các quan chức Trung Quốc phụ trách về các vấn đề hàng hải.

Tại Hàn Quốc hôm 14/4 cũng diễn ra một loạt các cuộc biểu tình của các chính trị gia, quan chức địa phương, ngư dân và các nhà hoạt động môi trường phản đối động thái của Nhật, bao gồm ở khu vực trước Đại sứ quán Nhật Bản ở Seoul và Lãnh sự quán Nhật ở thành phố cảng Busan và trên đảo Jeju.

Một liên minh gồm 25 tổ chức nghề cá đã tổ chức một cuộc biểu tình và gửi văn bản phản đối tới đại sứ quán, thúc giục Tokyo thu hồi quyết định và yêu cầu Seoul cấm nhập khẩu thủy sản của Nhật Bản.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 14/4 cảnh báo rằng quyết định của Nhật Bản sẽ tạo tiền lệ cho việc xử lý nước thải.

“Đại dương không phải là thùng rác của Nhật Bản, Thái Bình Dương không phải là cống rãnh của Nhật Bản”, Reuters dẫn lời phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Triệu Lập Kiên, nói tại một cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh.

“Nhật Bản không nên để cả thế giới phải trả giá cho cách họ quản lý nước thải hạt nhân của mình”, đại diện ngoại giao của Trung Quốc nói thêm.


viethoaiphuong
#611 Posted : Friday, April 16, 2021 6:54:48 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Liên Hiệp Châu Âu và những cuộc chiến khí đốt

Minh Anh - RFI - 15/04/2021
Nord Stream II, đông Địa Trung Hải, những đường ống dẫn dầu mới vùng Balkan… thị trường khí đốt châu Âu những tháng đầu năm 2021 bỗng nhiều biến động. Châu Âu cùng lúc đối mặt với nhiều mặt trận cạnh tranh khí đốt gay gắt. Các mối quan hệ giữa Đức, Mỹ và Nga cũng như là giữa Liên Hiệp Châu Âu với Thổ Nhĩ Kỳ trở nên căng thẳng. Nội bộ khối 27 thành viên Liên Âu cũng vì vậy bị chia rẽ.

Liên Hiệp Châu Âu (EU) là một thị trường khí đốt béo bở. 75% nhu cầu khí đốt cho khối là phải nhập khẩu. Số liệu thống kê do hãng khai thác dầu khí BP của Anh đưa ra cho thấy, năm 2019, Liên Hiệp Châu Âu, khi ấy vẫn còn 28 nước thành viên, mua đến hơn 416 tỷ m3 khí đốt thông qua các đường ống dẫn khí, trong đó phần lớn là đến từ Nga, hơn 170,7 tỷ m3 (tức chiếm đến 40%), tiếp đến Na Uy (18%), Algeri (11%) và Qatar (4%).

Nord Stream II : Mối bất hòa giữa Mỹ và Đức

Trong bối cảnh này, nhiều mặt trận tranh giành quyền cung cấp và trung chuyển khí đốt đang diễn ra gay gắt. Ở phía bắc, dự án Nord Stream 2 gây tranh cãi từ nhiều năm qua. Công trình đường ống dẫn khí dài 1.200km, lớn nhất tại châu Âu, xuyên biển Baltic, nối liền Nga với Liên Hiệp Châu Âu là tâm điểm bất hòa giữa Mỹ và Đức. Nội bộ Liên Âu cũng vì thế bị chia rẽ.

Nếu như đối với Đức, dự án này mang tính sống còn cho quá trình chuyển đổi năng lượng khi quyết định từ bỏ hạt nhân sau thảm họa Fukushima năm 2011, thì Hoa Kỳ cùng với nhiều nước như Ba Lan và cả Ukraina (nước châu Âu nhưng không là thành viên của Liên Âu) tố cáo Nord Stream 2 là một « công cụ chính trị, gây ảnh hưởng » của Nga. Chính quyền Washington còn mạnh tay hơn ban hành các biện pháp trừng phạt nhắm vào các thực thể có tham gia dự án.

Hoa Kỳ thật sự quan tâm đến an ninh năng lượng của Đức ? Với nhà địa – kinh tế học về năng lượng, ông Laurent Horvath, chủ bút trang mạng 2000Watts.org, khi trả lời đài truyền hình Thụy Sĩ RTS cho rằng ẩn sau mục tiêu chính trị còn là một vấn đề kinh tế.

« Đầu tiên, trong thế giới dầu khí hay năng lượng, có một nguyên tắc : "Thân ai nấy lo, Chúa cho tất cả". Nghĩa là mỗi nước phải tự bảo vệ lấy các quyền lợi của chính mình. Vậy nước Mỹ muốn gì ? Điểm thứ nhất mang tính chiến lược, Washington muốn nắm giữ châu Âu. Thứ hai, trên cấp độ thế giới, nên biết là giá bán ra ở mỗi nơi mỗi khác.

Một cách cụ thể, tại Mỹ giá bán khí đốt là 3 franc Thụy Sĩ/m3, tại châu Âu là 5 franc, châu Á là 7 franc, ví dụ vậy. Thế nên, Hoa Kỳ được lợi nhiều khi bán khí đốt cho châu Âu hay châu Á, đây sẽ là một nguồn thu bổ sung. Cuối cùng, chính vì tại Mỹ giá khí đốt rất rẻ, nếu họ xuất khẩu được một phần khí ga, họ có thể tăng giá ở trong nước. Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ có thêm nhiều nguồn thu đáng kể. »

Đức khó từ bỏ Nord Stream II

Kinh tế - tài chính là nguồn cội sâu xa. Không chỉ có Mỹ, tại châu Âu, nhiều nước vùng Baltic như Ba Lan và Ukraina cũng kịch liệt phản đối dự án này do lo ngại nguy cơ bị tước mất nguồn thu tài chính quan trọng, có được từ quyền trung chuyển và cung cấp khí đốt cho những nước khác. Đối với những nước này, Nord Stream II chỉ có lợi cho nước Đức.

Laurent Horvath lưu ý, Hoa Kỳ giờ đang trở thành quốc gia xuất khẩu khí đốt hàng đầu nhờ vào khai thác khí đá phiến. Thế nhưng, theo số liệu thống kê của BP, năm 2019, trong tổng số 106,9 tỷ m3 khí ga hóa lỏng (GNL) nhập khẩu vào châu Âu, Hoa Kỳ chỉ đứng hàng thứ ba (17,1 tỷ m3), sau cả Qatar (29,7 tỷ) và Nga (20,5 tỷ). Thị trường chính cho Mỹ tại châu Âu là Tây Ban Nha, Pháp và Anh.

Thế nên, những gì Washington đang làm hiện nay đối với Berlin là nhằm tìm cách xuất khẩu khí đá phiến sang châu Âu. Đây còn là một cuộc chiến giá cả giữa khí ga hóa lỏng (GNL) của Mỹ và khí đốt bán từ Nga. Trong cuộc cạnh tranh này, bất lợi nghiêng về phía Mỹ.

Trong khi đó, Đức là quốc gia tiêu thụ nhiều khí đốt nhất tại châu Âu. Các số liệu thống kê của BP đưa ra cho thấy, năm 2019, Đức tiêu thụ đến 109,6 tỷ m3 và hơn một nửa trong số này là đến từ Nga. Do vậy, theo quan điểm của ông Laurent Horvath, Berlin khó có thể bỏ dự án Nord Stream II.

« Hiện có hai đường ống dẫn khí. Đường thứ nhất Nord Stream 1 thì đã hoạt động từ lâu. Dự án thứ hai này được hình thành sau thảm họa hạt nhân Fukushima. Vào thời điểm đó, nước Đức bắt đầu suy nghĩ đến tương lai năng lượng đất nước như than đá và hạt nhân. Nhưng không chỉ có vậy, toàn bộ ngành công nghiệp nước Đức rất cần đến khí đốt để sưởi đông, để sản xuất xe ô tô, rồi ngành hóa dầu nữa. BASF là một trong những nhà đầu tư lớn nhất trong dự án này để có thể tiếp nhận nguồn nguyên nhiên liệu rẻ tiền nhằm chế tạo ra nhiều sản phẩm như nhựa, phân bón… »

Liệu rằng cuộc chiến Nord Stream II một ngày nào đó có sẽ kết thúc, trong khi mà dự án đã hoàn tất đến 95% giờ phải tạm ngưng ? Giới quan sát cho rằng câu trả lời giờ đang nằm ở phía Đức. Mọi cặp mắt giờ đều đổ dồn vào cuộc bầu cử lập pháp sắp tới. Bước đi nào cho Nord Stream II, đây sẽ là một bài toán hóc búa cho chính quyền Berlin tương lai.

Thổ Nhĩ Kỳ : Tác nhân mới, nước cờ sai của Liên Âu

Vụ Nord Stream II ầm ĩ đến mức che mờ một cuộc đọ sức khác không kém phần gay gắt ở sườn phía đông và nam châu Âu. Sự trỗi dậy của Thổ Nhĩ Kỳ làm nảy sinh nhiều xung đột giữa nước này với các thành viên Liên Âu trong khu vực.

Do nhu cầu khí đốt cao, châu Âu là khu vực có mạng lưới đường ống dẫn khí khá dầy đặc. Thổ Nhĩ Kỳ những năm gần đây cũng cho xây lắp nhiều đường ống dẫn khí trung chuyển qua nước này, nhằm cạnh tranh với các đường ống dẫn khí do châu Âu lắp đặt, như hệ thống ống dẫn TANAP xuyên Thổ Nhĩ Kỳ.

Mới đây nhất là hệ thống ống dẫn Turkish Stream nối dài với vùng Balkan để vận chuyển khí đốt từ Nga đến vùng này và các nước Trung Âu. Đường ống này được khánh thành rầm rộ trước sự chứng kiến của tổng thống Nga Vladimir Putin và đồng cấp Thổ Nhĩ Kỳ, Recep Tayyip Erdogan.

Với những đường ống dẫn khí mới này, vị thế địa chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng được củng cố đến mức có thể khóa vòi cung cấp khí đốt cho châu Âu. Chủ biên trang mạng 2000watts.org cho rằng đó là do những tính toán chiến lược sai lầm từ Liên Hiệp Châu Âu.

« Đây chính là điều không thể nào tin nổi. Đối với Liên Hiệp Châu Âu, nước Thổ Nhĩ Kỳ nằm đâu đó ở một góc bên phải phía dưới tấm bản đồ. Nhưng trên thực tế, Thổ Nhĩ Kỳ có một vị trí chiến lược quan trọng. Nước này trở thành điểm trung chuyển khí đốt cho châu Âu. Một sự thay đổi tưởng chừng không thể đã xảy ra.

Nhưng người ta cũng có thể nói chính châu Âu đã tự bắn vào chân mình. Bởi vì, vài năm trước đó, Nga vì muốn tránh Ukraina đã đề nghị dẫn khí đi qua những nước phía nam Ukraina nhưng châu Âu đã nói "Không", mà ông Vladimir Putin thì rất sáng tạo. Thế nên, ông ấy nói rằng "được thôi, những gì chúng ta có thể làm là nối ống dẫn khí từ Nga đến Thổ Nhĩ Kỳ, rồi châu Âu tự xoay sở ráp nối với Thổ Nhĩ Kỳ"

Như vậy, để có được nguồn khí đốt, Liên Hiệp Châu Âu phải xin phép ông Erdogan. Đây chính là những gì mà người ta gọi là hiệu ứng kép, giải quyết một lần cùng lúc hai vấn đề. »

Đông Địa Trung Hải : Một mặt trận cạnh tranh mới

Tuy nhiên, tham vọng của chủ nhân thành Ankara không chỉ dừng ở đó. Bất chấp các phản đối từ Liên Âu và việc vi phạm ranh giới lãnh hải, Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt mùa hè 2020, đã tiến hành một chiến dịch thăm dò dầu khí ngoài khơi biển Egée. Khu vực này cũng là nơi đang có những tranh chấp lãnh hải hay chia sẻ giếng dầu được phát hiện gần đây tại phía Đông Địa Trung Hải giữa 6 tác nhân : Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Chypre, Liban, Israel và Ai Cập.

Các cuộc va chạm giữa tầu chiến Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt mùa hè 2020 làm dấy lên nỗi lo điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra. Tranh chấp còn mở rộng khi tổng thống Erdogan can dự quân sự vào Libya. Tổng thống Erdogan đã có được quyền khai thác dầu khí ngoài khơi Libya khi đề nghị hậu thuẫn chính quyền Tripoli.

Để chống lại mầm mống bành trướng của Thổ Nhĩ Kỳ, một liên minh dầu khí mới được hình thành gồm Cộng hòa Chypre, Hy Lạp và Israel và khởi động một dự án đường ống dẫn khí dài 2.000 km có tên gọi là « East Med ». Liệu việc Ankara trở thành tâm điểm trên bàn cờ khí đốt cũng như việc Thổ Nhĩ Kỳ cho thăm dò dầu khí trong khu vực Đông Địa Trung Hải có làm nhen nhúm lên những rủi ro xung đột hay không ?

Về điểm này, ông Laurent Horvath có nhận định như sau : « Ở đây ông Erdogan có một giải pháp. "Quý vị muốn có khí đốt phải không ?", được thôi, rồi ông ấy đưa ra danh sách các điều kiện cho những nước đó. Trên thực tế, khi nước nào càng bị lệ thuộc vào khí đốt bao nhiêu, thì nước đó càng phải chấp nhận các điều kiện đặt ra bấy nhiêu. Nhưng nếu ai đó không bị lệ thuộc thì họ sẽ nói không. Ở đây, ông Erdogan có tất cả các lá bài trong tay, bởi vì toàn bộ vùng Nam Âu phụ thuộc hoàn toàn vào khí đốt. »

Cuộc đua giành quyền phân phối khí đốt

Thế mạnh này của Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng được củng cố khi một hành lang đường ống dẫn khí mới đang được phát triển, đi từ vùng biển Caspi như các nước Turmekistan, Azerbaijan, những tác nhân khai thác khí ga mới. Và trong dự án này, Thổ Nhĩ Kỳ một lần nữa lại trở thành một điểm trung chuyển. Mạng lưới ống dẫn khí tại châu Âu vì thế càng thêm dầy đặc.

Và cuộc cạnh tranh giành thị phần khí đốt còn sôi động hơn, khi cùng ngày Nga – Thổ Nhĩ Kỳ khánh thành đường ống Balkan Stream, ngày 01/01/2021, một tầu hàng chở khí hóa lỏng GNL của Mỹ cập cảng Krk của Croatia. Nguồn khí này không chỉ dành cho Croatia mà còn cung cấp cho cả Hungary, Ukraina và nhiều nước khác.

Với sự xuất hiện của nhiều tác nhân mới, thế độc quyền cung cấp khí đốt cho châu Âu của nước Nga ít nhiều bị lung lay. Khí đốt của Nga giờ bị cạnh tranh bởi Mỹ cũng như là Azerbaijan, những nước đang gậm nhấm dần các thị trường mà Nga có được từ lâu. Nord Stream 2 và Turkish Stream, hai dự án chiến lược của Nga cả trên bình diện chính trị lẫn kinh tế được cho như là cơ may cuối cùng để Nga « cắm rễ » tại châu Âu.

Nhật báo Jutarnji List của Croatia, trong một bài viết được tờ Courrier International trích dịch lại khẳng định rằng năm 2021 sẽ mang đậm dấu ấn của « cuộc chiến khí đốt » giữa những nhà cung cấp lớn nhất cho thị trường châu Âu. Một số nhà quan sát cho rằng Gazpromp rất có thể sẽ phải hạ giá nhằm lôi kéo các khách hàng khí hóa lỏng của Mỹ, vốn dĩ đắt hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế hiện nay, Nga có thể cầm cự được bao lâu với mức giá đó, âu cũng điều đáng hỏi !

Nhưng có một điều chắc chắn là năng lượng gió và mặt trời còn lâu mới thay thế được than đá, dầu hỏa và khí đốt !

viethoaiphuong
#612 Posted : Tuesday, April 20, 2021 7:20:14 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Tương lai nào cho Cuba sau 62 năm dưới chế độ Castro ?

Thanh Hà - RFI - 20/04/2021
19/04/2021 là một ngày lịch sử đối với Cuba : Lần đầu tiên từ năm 1959, đảng Cộng Sản Cuba không do một người mang tên Castro lãnh đạo. Sau Fidel, đến lượt Raul nhường lại chiếc ghế bí thư thứ nhất. Hơn 11 triệu dân Cuba có thể chờ đợi gì ở một thế hệ lãnh đạo mới vào lúc mà đảo quốc này phải đối mặt với nhiều thách thức : thiếu hụt lương thực, Covid-19 và khủng hoảng xã hội ?

Đại Hội 8 của đảng Cộng Sản Cuba đã bế mạc, chủ tịch Miguel Diaz Canel, 60 tuổi, trở thành nhân vật số 1 trong chế độ. Sau hơn sáu thập niên quyền lực trong tay gia đình Castro, hai ông Fidel và Raul để lại di sản nào cho một thế hệ lãnh đạo mới ?

Ngược dòng thời gian trở về với cột mốc 2006, Raul Castro lên thay thế người Fidel vào thời điểm mà kinh tế Cuba kiệt quệ phải trông cậy nhiều vào các nguồn viện trợ dầu hỏa của Venezuela. Cuba vẫn chưa phục hồi từ kể từ khi mất đi điểm tựa với sự sụp đổ của khối các nước xã hội chủ nghĩa đầu thập niên 1990. Phát biểu nhân dịp lễ Quốc Khánh ngày 26/07/2007 tân chủ tịch kiêm bí thư thứ nhất Cuba, Raul Castro cam kết “đem lại những thay đổi về mặt cơ cấu và lập trường quan điểm”. Đồng thời ông cũng đã sáng suốt cảnh báo công luận rằng ông “không là một nhà ảo thuật” để mang lại “phép lạ” trong một sớm một chiều.

Và đúng là như vậy : trong 15 năm qua, nhà lãnh đạo thứ nhì mang tên Castro đã không đem lại “phép lạ” cho đất nước cho dù ông đã thực hiện một số cải tổ, cởi trói cho đời sống kinh tế và xã hội Cuba, tạo một chỗ đứng khiêm tốn cho khu vực kinh tế tư nhân.

Từ sự suy sụp này đến khủng hoảng khác

Tháng 04/2021 ông Raul Castro trao lại chiếc ghế bí thư thứ nhất cho chủ tịch Miguel Diaz Canel trong bối cảnh tình hình kinh tế Cuba suy sụp : La Habana không còn có thể trông cậy vào viện trợ dầu lửa của Venezuela, những kỳ vọng từ giai đoạn tan băng với Hoa Kỳ dưới chính quyền Barack Obama đã bị những đòn trừng phạt của chính quyền Donald Trump dập tắt. Đại dịch Covid-19 vừa hoành hành ngay cả trên quê hương của vị cố lãnh tụ Fidel Castro, vừa chận đứng các hoạt động du lịch, một trong những nguồn thu nhập hiếm hoi của đất nước. GDP của Cuba trong năm 2020 sụt 11 % và đây là mức tệ hại nhất kể từ 30 chục năm qua. Vật giá leo thang với tỷ lệ lạm phát 500 %. Hàng hóa tại các cửa hàng mậu dịch thưa thớt dần.

Vào thời đại kỹ thuật số mà người dân Cuba, ngay tại thủ đô La Habana vẫn phải xếp hàng cả ngày để mua được bó rau, hay quả trứng. Đời sống tại nông thôn cũng không dễ thở hơn với mô hình hợp tác xã vẫn tồn tại.

Internet, vũ khí của những người trẻ Cuba

Chính công nghệ kỹ thuật số và Internet là thách thức lớn thứ nhì đối với đảng Cộng Sản Cuba. Từ tháng 12/2018 khi người dân Cuba truy cập được vào thế giới mạng đó cũng là thời điểm công luận ngộ ra rằng họ không sống trên thiên đường và thế giới bên ngoài không phải là địa ngục : Từ nhiều tháng qua, cả một xã hội dân sự đang từng bức hình thành. Các biện pháp kiểm duyệt, tống giam những nhà bất đồng chính kiến, bỏ tù những nhà báo độc lập … bỗng nhiên trở nên lỗi thời.

Theo thống kê dân số của La Habana năm 2018, có đến hơn 68 % dân số dưới 65 tuổi, tức tuyệt đại đa số sinh sau cuộc Cách Mạng năm 1959 họ không “thần thánh hóa” những cái tên đã đi vào lịch sử như Fidel hay Raul Castro, Ramiro Valdes hay José Ramon Machado Ventura… từng trên tuyến đầu cướp chính quyền trong tay chế độ Batista.

Tầng lớp trẻ ở Cuba giờ đây đang có một công cụ đấu tranh khá lợi hại là Internet và các mạng xã hội. Từ mùa thu năm ngoái, tập hợp San Isidro bao gồm hàng trăm nhà đấu tranh và giới văn nghệ sĩ đã lao vào một cuộc đọ sức với La Habana vì “tự do”. Tân lãnh đạo đảng Cộng Sản Cuba Miguel Diaz Canel xem phong trào này khá nguy hiểm và đã quyết định gia tăng đàn áp. Đúng ngày khai mạc Đại Hội Đảng, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của tập hợp San Isidro đã bị câu lưu và sau đó bị quản thúc tại gia.

Không hy vọng về giai đoạn chuyển tiếp

Theo phân tích của Carlos Berzain giám đốc trung tâm nghiên cứu về Cuba tại Miami, Interamerican Institute for Democracy, được tuần báo Le Point trích dẫn, ông Miguel Diaz Canel đưa ra một thông điệp rất rõ ràng : ông Raul Castro lùi vào hậu trường không có nghĩa là Cuba bước vào giai đoạn chuyển tiếp để hướng tới một mô hình dân chủ.

Việc thay đổi nhân sự ở thượng tầng cơ quan quyền lực tại La Habana là điều bắt buộc khi mà thế hệ đầu tiên của những nhà cách mạng nay tuổi đã đều ngoài 80. Việc chọn một tân lãnh đạo còn trẻ tuổi, ông Miguel Diaz Canel (60 tuổi), cũng không phải là dấu hiệu “hiện đại hóa” đất nước và điều đó đã được chứng minh với khẩu hiệu của Đại Hội 8 : “ Thống Nhất và Tiếp Nối”. Bản thân ông Miguel Diaz Canel trong ngày đầu tiên khai mạc Đại Hội đã viết trên Twitter “Raul tương tự như Fidel, luôn luôn là những ánh sáng dẫn đường của Đảng”.

Vậy ai sẽ là một “Gorbatchev của Cuba” ? Giám đốc viện nghiên cứu của Mỹ Berzain trả lời : “Ngày nào ông Raul Castro qua đời đó sẽ là hồi kết của một huyền thoại, nhưng kèm theo đó là những xâu xé trong nội bộ chính quyền (…) Nếu như không có một gương mặt nào nổi bật, chế độ sẽ lao vào một cuộc đối đầu từ ở bên trong rất nghiêm trọng”.

Raul Castro chủ bài để Cuba đối thoại với Mỹ ?

Nhiều nhà nghiên cứu về Cuba cho rằng hiện tại đương kim chủ tịch kiêm tân bí thư thứ nhất của Đảng chưa củng cố được quyền lực và uy tín : Miguel Diaz Canel không được công luận biết đến cho tới khi ông được chỉ định vào chức vụ chủ tịch Cuba hồi năm 2018. Từ đó đến nay, nhà lãnh đạo này “không có sức thuyết phục công luận trong nước”. Có một điều khó hiểu tại Cuba đó là tới nay, một phần công luận tại vẫn rất ngưỡng mộ tài lãnh đạo đất nước của cố chủ tịch Fidel Castro. Một nữ sinh viên tại La Habana trả lời phóng viên báo Le Figaro không ngần ngại tuyên bố : đất nước cô lâm vào cảnh khốn cùng như hiện này vì “Fidel không còn nữa” và nếu còn sống nhà cách mạng này chắc chắn “sẽ tìm ra một ngõ thoát” cho Cuba ! Một người khác nói thẳng với nhà báo Pháp “Diaz Canel bất tài”.

Phải chăng vì lẽ đó mà một số nhà phân tích cho rằng Raul Castro sẽ còn là một điểm tựa quý giá của ban lãnh đạo mới ở La Habana ?

Giám đốc viện nghiên cứu Mỹ về Cuba, Carlos Berzain đưa ra giả thuyết Raul Castro sẽ là một lá chủ bài của tân lãnh đạo Miguel Diaz Canel bởi em trai của cố lãnh tụ Fidel là người từng bắc nhịp cầu với chính quyền Obama xưa kia mà khi đó phó tổng thống Hoa Kỳ không ai khác là Joe Biden. Chẳng vậy mà trong diễn văn quan trọng cuối cùng hôm 16/04/2021 ở cương vị bí thư thứ nhất ông Raul Castro đã kêu gọi Hoa Kỳ “đối thoại nghiêm túc” với La Habana.

Washignton đáp trả : Trước mắt La Habana không phải là “một ưu tiên trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ”. Điều chắc chắn là Cuba vẫn có thể trông cậy vào một số đồng minh truyền thống đứng đầu là Nga và Trung Quốc, hai thành viên thường trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Từ 15 năm qua Trung Quốc mở rộng địa bàn tại Cuba cách thành phố Miami của Mỹ có 160 cây số và Cuba là cánh cổng mở ra vùng biển Caribê của Bắc Kinh. Đây là một yếu tố thúc đẩy chính quyền Biden xét lại về ưu tiên hay không neen dành cho La Habana ?


viethoaiphuong
#613 Posted : Friday, April 23, 2021 12:37:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Đổi cây lấy visa: Mexico đề nghị cấp quốc tịch Mỹ cho những người trồng rừng


Voa / Reuters - 23/04/2021
Tổng thống Mexico, Andres Manuel Lopez Obrador, ngày 22/4 đề nghị chính phủ Mỹ cấp visa làm việc tạm thời và sau đó là quốc tịch Mỹ cho những ai tham gia chương trình trồng rừng mà ông hy vọng sẽ mở rộng đến Trung Mỹ.

Phát biểu trực tuyến tại hội nghị thượng đỉnh khí hậu của Tòa Bạch Ốc, ông Lopez Obrador tuyên bố Mexico nhắm nới rộng chương trình “Gieo mầm sự sống” đến Trung Mỹ. Chương trình dấu ấn của chính quyền Lopez Obrador đang trồng 700.000 cây xanh, theo lời Tổng thống Lopez Obrador của Mexico.

Gọi đó “có thể là nỗ lực trồng rừng lớn nhất thế giới,” ông Lopez Obrador nói chương trình nhắm mục tiêu tạo ra 1,2 triệu công ăn việc làm và trồng thêm 3 tỉ cây xanh bằng cách mở rộng ra phía đông nam Mexico và Trung Mỹ.

Tại hội nghị thượng đỉnh hai ngày do Mỹ chủ trì với sự tham dự online của lãnh đạo 40 nước, ông Lopez Obrador nói Tổng thống Joe Biden “có thể tài trợ” cho việc mở rộng chương trình đến Guatemala, Honduras và El Salvador.

“Tôi xin đề nghị bổ túc, chính phủ Mỹ có thể ban cho những ai tham gia chương trình một điều là sau khi gieo trồng trên đất của họ ba năm liên tiếp, họ có thể có được visa làm việc tạm thời tại Mỹ,” ông Lopez Obrador nói.

“Và thêm ba hay bốn năm nữa, họ có thể được cư trú tại Mỹ hay có song tịch,” Tổng thống Mexico đề nghị.

Tại hội nghị trực tuyến này, ông Lopez Obrador cũng cho rằng cơ hội của công nhân qua việc trồng cây là con đường tiềm năng để giải quyết cảnh đói nghèo đã khiến hàng triệu người rời bỏ Mexixo và Trung Mỹ trong những năm gần đây.

viethoaiphuong
#614 Posted : Thursday, April 29, 2021 7:24:35 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Tầm nhìn « China 2025 » hay bản chỉ dẫn đánh cắp công nghệ ?

Minh Anh - RFI - 29/04/2021
Leo thang căng thẳng Mỹ - Trung bước sang một nấc mới : « Cuộc chiến lãnh sự ». Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tuần qua ra lệnh đóng cửa các tòa lãnh sự lẫn nhau : Một của Trung Quốc tại Houston và một của Mỹ tại Thành Đô. Hoa Kỳ đặc biệt tố cáo Bắc Kinh gia tăng các hoạt động gián điệp, đánh cắp công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu « Tầm nhìn Made in China 2025 » đầy tham vọng. (Tạp chí phát lần đầu ngày 30/07/2020).

Chỉ trong vòng vài ngày từ 21-24/07/2020, nhiều sự kiện dồn dập xảy ra, khiến cho mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, vốn dĩ đã xấu đi nay thêm phần tồi tệ. Ngày 21/07/2020, bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thông báo truy tố hai tin tặc người Trung Quốc Xiaoyu Li et Jiazhi Dong. Trong buổi họp báo, cục trưởng cục An Ninh Quốc Gia (bộ Tư Pháp) John.C. Demers nêu rõ :

« Văn phòng chưởng lý tòa sơ thẩm liên bang khu vực Đông Washington và cục An ninh Quốc gia quyết định truy tố hai tin tặc Trung Quốc làm việc cho bộ An Ninh Trung Quốc, trong đó có sở An Ninh tỉnh Quảng Đông (GSSD) trực thuộc bộ An Ninh (MSS), với tội danh tiến hành một chiến dịch càn quét xâm nhập toàn bộ hệ thống máy vi tính. (…)

Chiến dịch này nhắm vào các sở hữu trí tuệ và các thông tin thương mại bảo mật trong các lĩnh vực tư nhân, kể cả các dữ liệu nghiên cứu Covid-19 liên quan đến điều trị, xét nghiệm và vac-xin. Chiến dịch còn nhắm vào các ngành công nghiệp như ngành sản xuất trang thiết bị y tế công nghệ cao, kỹ thuật dân dụng và công nghiệp, phần mềm giáo dục kinh doanh và trò chơi, năng lượng mặt trời, ngành bào chế dược phẩm và quốc phòng ».

Ngoài hai tin tặc trên, FBI còn truy bắt bốn người Trung Quốc khác bị cáo buộc che giấu mối liên hệ với quân đội Trung Quốc, để có thị thực nhập cảnh cho phép họ theo học hay tiến hành các nghiên cứu các ngành công nghệ mũi nhọn tại Mỹ từ y khoa cho đến trí thông minh nhân tạo.

Vài giờ sau khi ra thông cáo, chính phủ Mỹ gia hạn cho Trung Quốc có 72 giờ để đóng cửa tòa lãnh sự tại Houston. Theo ngoại trưởng Mỹ, Mike Pompeo ngày 23/07, tòa lãnh sự Trung Quốc ở Houston là một « ổ gián điệp », tổ chức các hoạt động « đánh cắp sở hữu trí tuệ ». Chuyên gia địa chính trị, ông Philippe Moreau Desfarges, trên đài RFI cho rằng những kiểu tố cáo này chẳng có gì là mới cả:

« Tại nhiều lãnh sự hay tòa đại sứ, có những người được gọi là tùy viên quân sự, trợ lý tùy viên quân sự, có những chức năng khá đặc biệt. Đương nhiên, theo luật quốc tế, có một sự tách bạch rất rạch ròi giữa chức năng ngoại giao với mọi hình thức dọ thám. Nhưng trên thực tế, hành chức ngoại giao cũng là một dạng gián điệp. Do vậy, chẳng có gì là đáng ngạc nhiên cả. »

Kế hoạch « China 2025 » : Bản đồ chỉ dẫn đánh cắp ?

Điều đáng chú ý là trong buổi họp báo, bộ Tư Pháp Mỹ cáo buộc những gián điệp trên của Trung Quốc tiến hành đánh cắp các dữ liệu của nhiều hãng công nghệ cao không chỉ riêng tại Mỹ mà còn ở nhiều quốc gia có công nghệ tiên tiến khác như Úc, Bỉ, Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Anh Quốc, Hàn Quốc… Và các hoạt động dọ thám này của Trung Quốc là là nhằm phục vụ cho kế hoạch « China 2025 ».

Ông John C. Demers phát biểu tiếp : « Không ngạc nhiên, những vụ xâm nhập này nhắm vào các ngành công nghiệp được vạch ra trong kế hoạch ʺMade in China 2025ʺ - kế hoạch 10 năm này của Trung Quốc nhắm đến phát triển những ngành công nghiệp sản xuất công nghệ tiên tiến chiến lược. Dù rằng bản kế hoạch kêu gọi một cách tiếp cận theo hướng cách tân, những trường hợp này cho thấy rõ bản kế hoạch này giống như một bản đồ chỉ dẫn để đánh cắp, hơn là một bản hướng dẫn để đổi mới.

Những hành động xâm nhập trong trường hợp này chủ yếu nhắm vào tám trong số mười ngành công nghệ được xác định trong bản kế hoạch : Công nghệ thông tin thế hệ mới, robot và các loại máy móc công cụ tự động hóa, hàng không và các linh kiện hàng không, các loại tầu hàng hải, vật liệu mới, công nghệ sinh học và kỹ nghệ đường sắt. »

Kế hoạch Made in China 2025 đó nói gì ? Được thủ tướng Lý Khắc Cường công bố hồi tháng 5/2015, bản kế hoạch 10 năm này vạch ra mục tiêu là đến năm 2025, 80% các sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao như ông John C. Demers đề cập ở trên phải được sản xuất ở trong nước. Mục tiêu là phải có được một sản phẩm tương đồng của Trung Quốc.

Trong một số lĩnh vực, mục tiêu này của Trung Quốc hầu như đã đạt được. Chẳng hạn như Mỹ có GAFA (Google, Apple, Facebook, Amazon), thì một cách tương ứng, Trung Quốc có BXTA (Baidu, Xiaomi, Tencent, Alibaba) và nhất là còn có Hoa Vi – tập đoàn viễn thông hàng đầu của Trung Quốc và đang dẫn đầu thế giới công nghệ mạng 5G - hiện là tâm điểm của cuộc đọ sức Mỹ - Trung.

Trong hồ sơ này, Hoa Kỳ gây nhiều áp lực với các nước đồng minh để gạt Hoa Vi ra khỏi các dự án phát triển mạng 5G tương lai, ít nhất vì hai lý do. Thứ nhất là nguy cơ bị dọ thám thông qua các mạng 5G, bởi vì Hoa Kỳ cho rằng Hoa Vi có những mối liên hệ trực tiếp với những lợi ích của Trung Quốc. Thứ hai là rủi ro bị phá hoại, bởi vì mạng 5G sẽ cho phép kiểm soát thông tin từ xa.

Một lĩnh vực khác cũng cho thấy Bắc Kinh dường như đã đạt được mục tiêu là có được một Hyperloop của riêng mình – tức một dạng tầu điện siêu thanh do nhóm nghiên cứu của nhà tỷ phú Mỹ Elon Musk phát triển. Tuy những thông tin về dự án tầu điện từ trường này vẫn chưa rõ ràng, nhưng có một điều chắc chắn là, cũng như bao dự án khác, Bắc Kinh trực tiếp quản lý và không muốn lệ thuộc vào một nước nào để thực hiện.

Tấn công tin tặc : Trung Quốc dồn dập hành động

Chỉ có điều kế hoạch 10 năm này của Trung Quốc đe dọa vị thế cường quốc hàng đầu thế giới của Mỹ và khiến nhiều nước phương Tây lo ngại. Một mặt, Bắc Kinh tìm cách tiếp cận các hiểu biết tại châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và nhiều nơi khác trên thế giới. Nhưng mặt khác, Trung Quốc khóa chặt cánh cổng thị trường của mình.

Đồng thời, để có thể hoàn thành nhanh chóng các mục tiêu đề ra trong kế hoạch « China 2025 », Trung Quốc trong một thập niên qua đã tăng tốc các hoạt động dọ thám, tấn công tin học để đánh cắp công nghệ - kỹ nghệ cao tại nhiều nước phương Tây, theo như điều tra của nhà báo Antoine Izambard, tác giả tập sách « France-Chine, les liaisons dangereuses » (tạm dịch là Pháp – Trung Quốc, những mối liên hệ nguy hiểm). Trên kênh truyền hình quốc tế Pháp France 24, ông giải thích :

« Những gì các cơ quan phản gián cho biết từ năm 2016, trong giai đoạn 2008 – 2014, 2015, chúng ta thấy rõ có một đợt dọ thám tin học, tấn công tin tặc tại Pháp cực kỳ dữ dội. Tình hình này sau đó có giảm bớt đôi chút, bởi vì Trung Quốc đã bị Hoa Kỳ ʺđiểm mặt chỉ tênʺ. Do vậy, Bắc Kinh đã hiện đại hóa đôi chút công cụ dọ thám tin học của họ, nên giờ rất khó quy cho Trung Quốc tiến hành tấn công tin học tại Pháp. Nhưng theo những gì phần đông những người phải đối phó với tình trạng này nói với tôi, chính một nước lớn mới tấn công các doanh nghiệp của chúng ta nhiều nhất tại Pháp ».

Vẫn trên kênh France 24, nhà báo Antoine Izambard nhận định tiếp Bắc Kinh đã « hiện đại hóa » các thủ thuật tin tặc như thế nào để dễ bề đánh cắp các dữ liệu :

« Chính vào lúc các cuộc tấn công tin tặc dễ bị các cơ quan tình báo Pháp phát hiện, Trung Quốc sẽ trở nên ʺxảo quyệtʺ hơn một chút, mà vụ Airbus là một ví dụ. Một nhà thầu phụ, một hãng cung cấp trang thiết bị,… bị nhắm đến, để rồi mục tiêu là thâm nhập được vào Airbus để có được các tài liệu chứng nhận sẽ cho phép chứng thực chiếc C-919 sẽ là chiếc máy bay hai động cơ thân hẹp đường trung đầu tiên trên thế giới ».

Du học sinh : Đội ngũ gián điệp đông đúc và hiệu quả ?

Bên cạnh các hoạt động tin tặc, các cơ quan phản gián phương Tây còn báo động mối họa gián điệp sinh viên Trung Quốc. Ngày 02/07/2020, cơ quan an ninh nội địa Bỉ (phản gián – La Sûreté de l’Etat) công bố báo cáo hằng năm, gióng chuông cảnh báo các hoạt động dọ thám của sinh viên Trung Quốc trong các ngành công nghệ quốc phòng.

Vẫn theo cơ quan phản gián Bỉ, chính quyền Bắc Kinh đặc biệt khuyến khích sinh viên đến học tập và nghiên cứu tại Bruxelles, vì thành phố này là nơi trú ngụ nhiều trụ sở lớn của các định chế Liên Hiệp Châu Âu. Mối lo gián điệp sinh viên Trung Quốc, trước đó đã từng được FBI của Mỹ đánh động vào năm 2019, sau vụ bắt giữ sinh viên Ji Chaoqun, học tại Viện Công Nghệ Chicago.

Nhiệm vụ của cậu sinh viên này là « xác định các công dân Mỹ gốc Hoa hay Đài Loan làm việc trong ngành công nghiệp vũ khí mà cơ quan tình báo Trung Quốc đánh giá là có thể tuyển dụng được », theo như giải thích của ông Joseph Augustyn, cựu trợ lý giám đốc CIA với kênh truyền hình France 2.

Vẫn theo vị cựu lãnh đạo CIA này, « Trung Quốc sử dụng sinh viên gián điệp là bởi vì họ có đến 350.000 du học sinh (đông gấp 10 lần so với số nhân viên FBI), đông đến mức họ có thể chỉ ra được một số cá nhân cho việc tìm kiếm những thông tin nào mà Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến ».

Hoa Kỳ hẳn không thể nào quên được vụ Liu Ropeng, hiện đang đứng đầu một hãng công nghệ tương lai, trong đó có các loại vật dụng bay. Người này bị cáo buộc đánh cắp các kỹ nghệ trong quá trình theo học với một giáo sư vật lý có tiếng tăm ở Mỹ, ông David Smith, từng mở cánh cửa phòng thí nghiệm cho cậu sinh viên Trung Quốc. Trở về nước, Liu Ropeng đã cho xây dựng một bản sao phòng thí nghiệm. Đương nhiên, FBI đã không thể chứng minh được hành động gián điệp của Liu Ropeng.

Mỹ chặn đà tiến của Trung Quốc : Liệu đã muộn ?

Hoạt động dọ thám, tin tặc, đánh cắp sở hữu trí tuệ của Trung Quốc đã có ít nhất từ 10 năm nay, vì sao đến bây giờ Hoa Kỳ mới có những phản ứng mạnh mẽ? Việc gây ầm ĩ lúc này chắc chắn cũng nhằm mục tiêu tái tranh cử của tổng thống Mỹ Donald Trump hiện nay. Tuy nhiên, dịch bệnh Covid-19 bùng phát khiến Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây giật mình tỉnh ngộ là đã quá lệ thuộc vào Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực, cũng như đã bị nước này bỏ xa trong nhiều ngành chiến lược, từ viễn thông cho đến cả không gian. Và nhất là trong cơn đại dịch này, Hoa Kỳ và phương Tây còn có nguy cơ bị Trung Quốc qua mặt trong cuộc đua tìm kiếm vac-xin ngừa Covid-19.

Thế nên, theo quan điểm của ông François Costantini, chuyên gia địa chính trị, với kênh truyền hình RT (Russia Today), những căng thẳng gần đây giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhằm mục đích chặn đà tiến « China 2025 » của Bắc Kinh.

« Đúng là hiện nay Hoa Kỳ muốn hạn chế bớt vai trò ngày càng lớn của Trung Quốc trên thế giới. Thế nên, Mỹ chủ yếu nhắm vào ở những lãnh vực có thể gây thiệt hại nhiều nhất. Những gì mà Hoa Kỳ nhận thấy từ một phần tư thế kỷ nay là hầu như Trung Quốc xây dựng nên sức mạnh của mình nhờ vào thặng dư thương mại.

Ở đây, người ta thấy rõ chính trong thặng dư thương mại, chính sách thương mại, trí thông minh nhân tạo, một số lĩnh vực chiến lược mà Hoa Kỳ đang tìm cách ngăn chận sức mạnh của Trung Quốc để đẩy lui GDP của Trung Quốc.

Đừng quên rằng 45% GDP của Trung Quốc có được là từ ngành xuất khẩu, do vậy giảm thặng dư mậu dịch của Trung Quốc là giảm sức mạnh của Bắc Kinh và có thể dẫn đến việc người dân Trung Quốc tự chất vấn, để cuối cùng có thể là đi đến một cuộc cách mạng chính trị như Hoa Kỳ nhắm đến, nhất là vào thời điểm đôi bên đang trong cuộc đọ sức ».

Liệu rằng có đã quá trễ để chặn đà tiến của Bắc Kinh hay không ? Như một sự trùng hợp, vào ngày Washington ra lệnh đóng cửa tòa lãnh sự Trung Quốc ở Houston, chính quyền Bắc Kinh thông báo phóng thành công phi thuyền Thiên Vấn -1, độc hành chuyến thám hiểm Sao Hỏa đầu tiên của mình.



Nga, Trung xuyên tạc gây mất lòng tin vào vaccine của phương Tây

VOANews - 29/04/2021
Truyền thông Nga và Trung Quốc đang tìm cách gây mất lòng tin vào vaccine COVID-19 của phương Tây trong chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc gần đây nhất nhằm chia rẽ phương Tây, theo một phúc trình của châu Âu ngày 28/4.

Từ tháng 12 năm ngoái đến tháng 4 năm nay, các cơ quan truyền thông quốc doanh của hai nước này tăng cường đưa ‘tin vịt’ trên mạng bằng nhiều thứ tiếng, khuấy động quan ngại về an toàn của vaccine, tạo nên những liên hệ vô căn cứ giữa vaccine với các ca tử vong tại châu Âu, đồng thời quảng bá vaccine của Nga và Trung Quốc là ưu việt, cuộc nghiên cứu của EU nói.

Điện Kremlin và Bắc Kinh phủ nhận tất cả những cáo buộc của EU về việc tung tin xuyên tạc. EU thường đưa ra những phúc trình định kỳ và tìm cách làm việc với Google, Facebook, Twitter và Microsoft để hạn chế sự lan truyền của tin giả.

“Cả Nga lẫn Trung Quốc đang sử dụng truyền thông do nhà nước kiểm soát, những mạng lưới truyền thông được ủy nhiệm và truyền thông xã hội, trong đó có những tài khoản truyền thông xã hội ngoại giao chính thức, để đạt các mục đích này,” phúc trình nói, viện dẫn 100 trường hợp từ Nga trong năm nay.

EU và NATO thường xuyên cáo buộc Nga về những hành động ‘vụng trộm’, kể cả xuyên tạc, tìm cách tạo bất ổn cho phương Tây bằng cách khai thác những chia rẽ trong xã hội.

“Cả các kênh chính thức của Trung Quốc và các kênh truyền thông ủng hộ Điện Kremlin đã khuếch đại nội dung về những phản ứng phụ của vaccine phương Tây, biểu hiện sai lạc và làm ‘giật gân’ các tin tức quốc tế cũng như liên kết những ca tử vong với vaccine Pfizer/BioNTech tại Na Uy, Tây Ban Nha và các nơi khác,” phúc trình cho hay.

Nga phủ nhận bất cứ chiến thuật nào như vậy và Tổng thống Vladimir Putin các buộc địch thủ nước ngoài nhắm vào Nga bằng cách loan tin thất thiệt về virus corona.

Năm ngoái, Trung Quốc từng tìm cách ngăn chặn phúc trình của EU cáo buộc Bắc Kinh loan tin thất thiệt về virus corona bùng phát, theo một cuộc điều tra của Reuters.



Doanh nhân Trung Quốc thú nhận chuyển lậu công nghệ biển của Mỹ cho Trung Quốc

Voa / Reuters - 29/04/2021
Một doanh nhân Trung Quốc ngày 28/4 nhận tội chuyển lậu công nghệ hàng hải của Mỹ để phục vụ lợi ích cho một trường đại học quân sự Trung Quốc có tham gia phát triển phương tiện không người lái dưới nước.

Ông Shuren Quin, một nhà sinh học hàng hải và là sáng lập viên của một công ty bán thiết bị nghiên cứu đại dương, nhận tội tại một tòa án liên bang ở Boston rằng đã xuất khẩu bất hợp pháp sang Trung Quốc các thiết bị có thể dùng để theo dõi âm thanh dưới nước.

Ông bị truy tố vào năm 2018 giữa lúc Mỹ gia tăng quan ngại về đe dọa an ninh quốc gia do Trung Quốc gây ra.

Ông Quin, cư ngụ tại Massachusetts, nhận 10 tội, trong đó có âm mưu vi phạm luật xuất khẩu, visa giả mạo, rửa tiền và chuyển hàng lậu.

Luật sự biện hộ cho biết ông Qin sáng lập công ty Công nghệ LinkOcean tại Trung Quốc năm 2005 để cung cấp trang bị đại dương học cho các nhà khoa học. Ông di cư sang Mỹ với gia đình vào năm 2014 dưới dạng thường trú nhân.

Công tố viên cho hay Đại học Bách khoa Tây Bắc, một viện nghiên cứu của quân đội Trung Quốc, giao trách nhiệm cho ông Qin thu thập những trang bị dùng cho chiến tranh chống tàu ngầm và rằng ông thu thập các máy thuỷ âm cho viện này từ một công ty sản xuất của Mỹ.

Luật sư của ông Quin nói thân chủ của ông không biết trường đại học Tây Bắc định sử dụng các sản phẩm đó như thế nào. Trường đại học Tây Bắc cũng bị truy tố nhưng chưa bao giờ xuất hiện trước tòa.

viethoaiphuong
#615 Posted : Tuesday, May 4, 2021 6:23:38 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

35 năm sau vụ nổ Tchernobyl : Điện hạt nhân - lá bài địa chính trị của Nga

Thùy Dương - RFI - 04/05/2021
Là một thảm họa nhân đạo, xã hội và môi trường, vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Tchernobyl cách nay 35 năm đã có tác động mạnh đến ngành công nghiệp hạt nhân toàn cầu, dẫn đến việc Ý ngừng khai thác điện nguyên tử, phong trào chống điện hạt nhân ở Đức, Mỹ ngừng xây dựng các nhà máy điện nguyên tử mới trong 1/3 thế kỷ … Và đương nhiên, Tchernobyl cũng hủy hoại danh tiếng ngành công nghiệp hạt nhân của Liên Xô.

Tuy nhiên, nước Nga, vươn lên từ đống đổ nát sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, ngày càng coi trọng nguồn năng lượng này. Trên đây là nhận định của Anastasiya Shapochkina, giảng viên địa chính trị trường Khoa học Chính trị Sciences Po, trong bài viết « 35 năm sau vụ nổ Tchernobyl, Nga táo bạo chơi lá bài điện hạt nhân » đăng trên trang mạng nghiên cứu The Conversation ngày 23/04/2021.

35 năm sau thảm họa hạt nhân Tchernobyl, 20% sản lượng điện của Nga là điện hạt nhân. Tỷ trọng này trong cơ cấu năng lượng Nga không ngừng tăng trong những năm 2000. Trên thế giới, Nga là nhà sản xuất năng lượng hạt nhân lớn thứ tư, chỉ sau Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc, là nhà sản xuất uranium lớn thứ 7 và sản xuất 17% tổng nhiên liệu hạt nhân.

Không chỉ giữ vai trò then chốt trong chiến lược năng lượng của Nga, hạt nhân còn là một đòn bẩy thực sự để Nga gây ảnh hưởng địa kinh tế trên thế giới. Bên cạnh không gian và quốc phòng, hạt nhân là một trong số ít lĩnh vực xuất khẩu công nghệ cao của Nga, và được hưởng sự hỗ trợ tài chính và chính trị của Nhà nước. Matxcơva coi đây là phương tiện hữu hiệu để mở rộng ảnh hưởng của Nga tại châu Âu và các nơi khác, để tăng cường khả năng hội nhập của nền kinh tế Nga với thế giới và cải thiện hình ảnh đất nước, vốn đã xấu đi nghiêm trọng do các cuộc phiêu lưu địa chính trị của điện Kremlin cũng như tình hình tự do chính trị và nhân quyền trong nước.

Vai trò trung tâm của Rosatom

Động cơ của sự tăng trưởng công nghiệp này là tập đoàn Nhà nước về năng lượng hạt nhân Nga Rosatom, đại diện cho lợi ích của Nga ở nước ngoài trong lĩnh vực hạt nhân dân dụng và quân sự. Rosatom được thành lập vào năm 2007 và do cựu thủ tướng (nay là phó chánh văn phòng điện Kremlin) Sergei Kirienko lãnh đạo cho đến năm 2016. Quan chức này đã thành công trong việc củng cố và gộp cả ngành công nghiệp hạt nhân vào một tập đoàn duy nhất, nay là một trong số hiếm hoi “thương hiệu" của Nga được công nhận ở nước ngoài.

Hiện giờ, Rosatom kiểm soát hơn 400 công ty và sử dụng hơn 275.000 lao động, đóng góp một khoản thuế đáng kể - khoảng 3 tỷ euro năm 2019. Rosatom cũng là một trong những tập đoàn được Nhà nước tài trợ nhiều nhất, để xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới ở Nga cũng như ở nước ngoài. Đó còn là một « cánh tay vũ trang » : chiết xuất uranium, sản xuất thanh nhiên liệu, xây dựng các nhà máy điện hạt nhân và sản xuất trang thiết bị, khai thác và bảo trì, tháo dỡ và xử lý chất thải hạt nhân.

Rosatom khai thác cả công nghệ hạt nhân dân dụng và quân sự, kiểm soát « nút hạt nhân » của điện Kremlin và nắm giữ việc đưa ra các quy định của ngành. Tập đoàn này giám sát hoạt động của hạm đội tàu hạt nhân phá băng của Nga và quản lý sự phát triển của Tuyến đường biển phương Bắc, bao gồm cơ sở hạ tầng ở Bắc Cực. Rosatom cũng phụ trách hợp tác hạt nhân ở nước ngoài, đại diện cho nước Nga tại Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Các đại sứ quán Nga trên khắp thế giới đều có đại diện của Rosatom để phát triển quan hệ song phương dựa trên cơ sở hợp tác khoa học và công nghệ.

Cho dù Nga không thể cạnh tranh với Trung Quốc về tốc độ xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới, nhưng nhịp độ đều đặn cứ sau 2-3 năm lại xây dựng được một lò phản ứng hạt nhân mới là điều mà châu Âu và Mỹ không thể làm được. Sự tăng trưởng này nước Nga có được là nhờ chính sách hỗ trợ phát triển hạt nhân của Nhà nước. Trong khi nhiều quốc gia lần lượt ngưng khai thác điện nguyên tử sau sự cố Fukushima Nhật Bản năm 2011, điện Kremlin không ngừng trợ giúp ngành công nghiệp hạt nhân quốc gia, đặc biệt vì lý do địa chính trị : Các quốc gia đặt nhà máy điện hạt nhân của Nga phải phụ thuộc vào Matxcơva trong lĩnh vực này, nên sẽ ít chỉ trích điện Kremlin hơn về các hồ sơ quốc tế cũng như các về đề trong nước.

Hồi đầu năm 2021, Rosatom xây dựng 2 lò phản ứng hạt nhân ở Nga và 10 lò phản ứng hạt nhân ở nước ngoài : Thổ Nhĩ Kỳ (4), Belarus (2), Hungary (2) và Bangladesh (2). Ngoài ra còn có 4 lò hạt nhân khác đang trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng : Phần Lan (1) và Ai Cập (4). Rosatom cũng có tổng cộng 35 dự án mới ở các giai đoạn phát triển khác nhau, bao gồm cả ở Trung Quốc, Ấn Độ, Iran và Ả Rập Xê Út.

Vai trò của ngành công nghiệp hạt nhân Nga đối với hình ảnh đất nước ở nước ngoài

Năng lượng hạt nhân Nga tô bóng hình ảnh của Matxcơva ở ngoại quốc nhờ 3 điều thiết yếu. Thứ nhất, các khoản cho vay và bảo lãnh tài chính của Nhà nước Nga cho các nhà máy điện hạt nhân do Rosatom xây dựng đã mang lại cho tập đoàn này một lợi thế cạnh tranh quyết định, ngay cả ở châu Âu. Ví dụ như chính phủ Nga đã cho Hungary vay 10 tỷ euro để xây dựng Paks-2, hoặc mua 34% dự án xây dựng lò phản ứng hạt nhân Hanhikivi ở Phần Lan. Đối với các nước nghèo lần đầu tiên chuyển đổi sang sử dụng điện hạt nhân, việc Matxcơva tài trợ cho các dự án xây dựng hoặc nghiên cứu cho phép điện Kremlin mở rộng phạm vi địa chính trị ra ngoài phạm vi ảnh hưởng truyền thống (đặc biệt là ở châu Phi, châu Mỹ Latinh hoặc Đông Nam Á).

Yếu tố thứ hai bắt nguồn từ khả năng Rosatom cung cấp đầy đủ các dịch vụ năng lượng hạt nhân : thiết kế và kỹ thuật xây lò phản ứng, xây dựng, vận hành, bảo trì, cung cấp nhiên liệu hạt nhân, thu hồi uranium đã qua sử dụng, đào tạo các chuyên gia địa phương … Đây là yếu tố cần thiết đối với các quốc gia bắt đầu chuyển đổi sang điện hạt nhân và mong muốn là về lâu dài có thể tự vận hành các nhà máy điện hạt nhân, chẳng hạn Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Bangladesh. Ngoài ra, với tư cách là chủ sở hữu công nghệ, Rosatom là nhà tư vấn chính cho các quốc gia khách hàng về khung quy định cho ngành công nghiệp đang được hình thành tại nước sở tại.

Yếu tố thứ ba là sự thống trị mang tính lịch sử của công nghệ hạt nhân Nga ở một số thị trường, nhất là tại châu Âu, nơi công nghệ lò phản ứng VVER và RBMK của Liên Xô đã được áp dụng cho các nước Đông - Trung Âu và các quốc gia Baltic thời Chiến tranh Lạnh. Chính sự hiện diện lịch sử này, với sự tài trợ của Nhà nước Nga, đã giúp Rosatom dễ dàng ký được hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Hungary.

Ngoài việc gia tăng ảnh hưởng chính trị của Nga tại Liên Hiệp Châu Âu, việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân mới còn củng cố mối quan hệ kinh tế giữa nhà cung cấp Nga và các nước khách hàng châu Âu trong nhiều thập kỷ tới, với hiệu ứng tương tự như đường ống dẫn khí đốt. Các giai đoạn hậu xây dựng (cung cấp nhiên liệu và thiết bị hạt nhân, bảo trì) là nguồn thu nhập và việc làm thực sự của Nga trong nhiều năm tới đây. Ngoài ra, năng lượng hạt nhân còn cho phép Matxcơva đồng xác định cơ cấu năng lượng trong tương lai của châu Âu, có thể mang lại cho Nga cơ hội đi các quân cờ trong các hồ sơ khác, nhất là về khí đốt.

Tchernobyl, một chấn thương đã bình phục ?

Cuối cùng, thông qua các dự án hạt nhân ở châu Âu, chẳng hạn dự án Hanhikivi ở Phần Lan, điện Kremlin đang tìm cách cải thiện hình ảnh thương hiệu "hạt nhân Nga" trong mắt Liên Âu, bởi Tchernobyl đã gây tổn hại sâu sắc đến hình ảnh điện hạt nhân « made in Russia », cho dù vụ tai nạn đã xảy ra cách đây 35 năm ở Ukraina, thuộc Liên Xô cũ chứ không phải ngay tại Nga và dù rằng Rosatom cũng không xuất khẩu công nghệ lò phản ứng RBMK (công nghệ sử dụng ở Tchernobyl).

Các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy người dân đã vượt qua được chấn thương sau thảm họa và muốn sử dụng trở lại năng lượng hạt nhân. Ngay trong năm xảy ra thảm họa Fukushima 2011, theo Viện khảo sát độc lập Levada của Nga, 40% số người được hỏi cho rằng cần loại bỏ dần điện hạt nhân. Tuy nhiên, sự hoài nghi không kéo dài : tỉ lệ người ủng hộ điện nguyên tử đã tăng lên thành 72% vào năm 2013 và 74% vào năm 2018



Mexico: Sập cầu vượt đường sắt, ít nhất 23 người chết

Voa / Reuters - 04/05/2021
Ít nhất 23 người thiệt mạng và 65 người phải nhập viện khi một đoạn của cầu vượt đường sắt và một con tàu đổ sập xuống một con đường đông đúc ở thủ đô Mexico City của Mexico vào đêm 3/5, đè bẹp những chiếc xe phía dưới, theo Reuters.

Nhà chức trách đã tạm dừng các nỗ lực cứu hộ ngay sau khi họ vừa bắt đầu vì có nguy cơ nhiều bộ phận của tàu và mảnh vỡ có thể sắp rơi xuống đường.

Một video trên đài truyền hình địa phương Milenio TV cho thấy đoạn cầu này sập thẳng xuống dòng xe ôtô ở bên dưới gần nhà ga Olivos ở phía đông nam thành phố vào khoảng 10h30 tối giờ địa phương.

Ít nhất hai toa tàu treo lơ lửng trên cầu vượt bị đổ sập. Các nỗ lực cứu hộ ban đầu cho thấy các nhân viên y tế và cứu hỏa đang cố gắng tiếp cận các toa tàu. Quân đội cũng có mặt để trợ giúp.

Phát biểu với báo chí, Thị trưởng Mexico City Claudia Sheinbaum cho biết có vẻ như một đoạn dầm cầu đã bị rơi nhưng nguyên nhân đang được điều tra.

Bà cho biết cuộc giải cứu đã bị đình chỉ vì cấu trúc này rất yếu. Một cần trục đang giữ cho các toa tàu ổn địnhđể lực lượng cứu hộ có thể tiếp tục tìm kiếm những người sống sót.

Bà Sheinbaum cho biết nhà chức trách đang làm việc để xác định danh tính những người thiệt mạng, bao gồm cả trẻ em.

viethoaiphuong
#616 Posted : Monday, May 10, 2021 1:35:04 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)
"Lính thợ Đông Dương" : Những người lính thầm lặng tại Pháp trong Thế Chiến II


Thu Hằng - RFI - 10/05/2021
Chiến Tranh Thế Giới II, khiến vài chục triệu người chết, chính thức chấm dứt vào 23 giờ 01 ngày 08/05/1945. Pháp, thuộc phe đồng minh, đã huy động hàng chục nghìn người từ các thuộc địa để phục vụ cuộc chiến chống phát xít Đức, trong đó có khoảng 20.000 lao động từ Đông Dương.

Họ được tuyển dụng như thế nào ? Nhiệm vụ được giao là gì ? Cuộc sống của họ tại Pháp ra sao ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà sử học Liêm Khê Luguern, tác giả luận án tiến sĩ năm 2014 về « Les Travailleurs Indochinois ». Etude socio-historique d’une immigration coloniale (1939-1954) (*) và được nhà xuất bản Les Indes Savantes phát hành vào tháng 06/2021.

*****

RFI : Theo một bài viết của bà trên tạp chí Mouvement social 2007/2-3, chính sách tuyển người lao động Đông Dương sang Pháp năm 1939 được dựa trên một hệ thống lập pháp và hành chính được hiệu chỉnh trong thời gian giữa hai Thế Chiến. Dường như điểm này khác với việc tình nguyện đăng lính được áp dụng tại Đông Dương trong Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất. Tại sao lại có sự thay đổi này ?

Liêm Khê Luguern : Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất đánh dấu lần đầu tiên diễn ra kiểu tuyển dụng ồ ạt nhân lực từ các thuộc địa đến châu Âu, không chỉ liên quan đến mỗi người Việt mà ở toàn bộ đế chế thuộc địa Pháp, dưới sức ép từ giới công nghiệp và Nhà nước. Trong Thế Chiến I có khoảng 90.000 lính thợ và lính tập Đông Dương đã đến Pháp : khoảng 40.000 lính tập và 50.000 lính thợ.

Năm 1939, chính phủ Pháp tính đưa khoảng 300.000 lao động thuộc địa tham gia thế chiến, trong đó khoảng 100.000 người đến từ Đông Dương. Nhưng con số này không bao giờ đạt được vì tháng 06/1940, nước Pháp bị bại trận, nên đã chấm dứt việc tuyển quân. Vào thời điểm đó, chỉ có 20.000 lao động Đông Dương đã đến Pháp trên tổng số dự kiến 100.000 người.

Trong trường hợp cả hai Thế Chiến, không thể nói đến chuyện tình nguyện. Chúng ta thấy việc tuyển quân được tiến hành ở cùng khu vực địa lý, chủ yếu là Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Đó là những vùng đồng bằng đông dân và chịu nạn đói. Đó cũng là hai xứ bảo hộ, không do Pháp trực tiếp cai trị mà do chính quyền bản địa theo lệnh từ Mẫu Quốc, nên việc tuyển quân do quan lại địa phương đảm nhiệm. Nam Kỳ là xứ thuộc địa nên tránh được việc này. Giới chủ thuộc địa muốn giữ nguồn nhân lực cho các đồn điền.

Có thể nói những trường hợp đến Pháp là quá trình di dân có tổ chức. Trong Thế Chiến II, 90% nhân công được tuyển từ những vùng nông thôn nghèo ở Đông Dương.

RFI : Làm thế nào chính quyền địa phương đạt được số lượng đề ra ? Những người được tuyển là ai ?

Liêm Khê Luguern : Quy định do chính quyền địa phương, chịu tránh nhiệm tuyển dụng, ấn định. Mỗi gia đình phải cung cấp một người con trai từ 20 tuổi trở lên. Vì thế, họ có lực lượng trù bị rất lớn nhờ quy định này. Khó khăn duy nhất là làm thế nào để chuyển những người này từ một lục địa sang lục địa khác và làm thế nào quản lý họ.

Khác với thời kỳ Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất, trong Thế Chiến II có ít người Pháp ở Đông Dương hơn nên việc quản lý buộc phải giao cho người bản xứ, cụ thể là cho phiên dịch viên và giám thị. Những người có học thức, có chứng chỉ, thậm chí là bằng tú tài, biết nói tiếng Pháp, lập tức được chỉ định làm phiên dịch và giám thị. Thời đó cứ một giám thị chịu trách nhiệm khoảng 25 người. Bản thân những người này cũng được ghi là « lính thợ », vì thế, tôi luôn để trong ngoặc kép « Lính thợ Đông Dương » bởi vì không phải tất cả là lính thợ.

Trong số những người đến Pháp, có thể nói một phần là di dân tự nguyện, một phần là do ép buộc. Rất khó so sánh hai diện này. Vấn đề được ở chỗ là có thể coi đó là những người tình nguyện được không khi họ cũng tìm cách thoát nghèo. Cũng vào những năm 1939-1940, nhiều người có bằng cấp, xuất thân từ gia đình khá giả, cũng đăng lính kèm theo kế hoạch riêng. Thực vậy, đối với họ, đi Tây đồng nghĩa với « đổi đời » và hy vọng thăng tiến xã hội mà họ có thể không đạt được ở Đông Dương. Về phần những người nghèo, được cho là bị ép đăng lính, thì họ không có phản đối, họ chỉ đơn thuần đi tìm đường sống.

RFI : Những người này ở lại Pháp từ năm 1939 đến 1952 vào đợt hồi hương cuối cùng. Họ được giao làm những nghiệm vụ gì, có khác với công việc giao cho lính Đông Dương thời Thế Chiến I không ? Công lao của họ có được chính phủ Pháp công nhận đúng đắn không ?

Liêm Khê Luguern : Trong Thế Chiến I, như tôi nói ở trên, một nửa số người Đông Dương được tuyển là lính thợ, nửa còn lại là lính tập. Còn trong Thế Chiến II, chủ yếu họ được tuyển làm lính thợ hơn là ra trận. Chính sách này là kết quả tổng kết từ thời Thế Chiến I, xếp loại hình nhân lực theo bản chất tự nhiên hoặc chủng tộc, như người Đông Dương có khả năng làm những công việc thủ công, tỉ mỉ… Những nhận xét đó phản ánh thực tế xã hội-kinh tế bởi vì Đông Dương là xứ công nghiệp hóa nhất trong các thuộc địa Pháp, hơn cả Bắc Phi và châu Phi hạ Sahara.

Giống như trong Thế Chiến I, ban đầu lính thợ Đông Dương làm việc trong ngành công nghiệp quốc phòng, chủ yếu là trong những nhà máy sản xuất thuốc súng. Tuy nhiên, thất bại vào tháng 06/1940 đã buộc Pháp xem xét lại chính sách bởi vì các nhà máy phải chuyển về miền nam, dưới chính quyền Vichy. Lính thợ Đông Dương được thuyên chuyển làm những công việc khác, chủ yếu trong nông nghiệp vì Pháp thiếu nhân lực. Tính đến mùa hè năm 1942, một phần ba trong số họ làm trong ngành lâm nghiệp hay khai thác than, 15% làm trong các cánh đồng muối hoặc trong ngành nông nghiệp.

Từ tháng 11/1942 khi quân phát xít Đức tràn xuống miền nam Pháp, phần lớn lính thợ Đông Dương phải trở lại nhà máy, làm việc trực tiếp hay gián tiếp cho quân phát xít Đức, trong đó có các nhà máy thuốc súng như ở Toulouse.

Sau đó, phần lớn trong số họ bị kẹt lại Pháp do các tuyến đường hàng hải bị cắt đứt vì chiến tranh. Năm 1941, chỉ có khoảng 5.000 người về được Đông Dương, 15.000 người bị kẹt lại Pháp. Chuyến hồi hương chính thức cuối cùng diễn ra vào năm 1952, trong đó có nhiều lính thợ tự tìm cách hồi hương.

Dựa theo nhiều nguồn tài liệu, có khoảng 1.000 đến 3.000 lính thợ Đông Dương ở lại Pháp - những người sau này kể lại, cung cấp bằng chứng về đời sống của những người lính Đông Dương ở Pháp trong Thế Chiến II. Ban đầu, họ làm việc cho Nhà nước, rồi nhanh chóng chuyển sang các doanh nghiệp tư nhân. Họ không được nhận lương trực tiếp mà lương được chuyển vào Sở Nhân Công Bản Địa và Thuộc Địa - MOI (Main d’œuvre indigène et coloniale) - cơ quan này phụ trách về vật chất, nơi ở, quần áo và lương thực. Sau đó, MOI trả tiền thưởng lao động và trợ cấp hàng ngày, tùy theo cấp bậc, cho người lao động thuộc địa.

Thực ra, ngay khi được tuyển từ Đông Dương, những người này đã có hợp đồng lao động và trên nguyên tắc được nhận một khoản tiền thưởng. Chúng tôi biết là khoản tiền này đã được trả cho một số người người nhưng không chắc là tất cả trong số họ đều lĩnh được số tiền này. Đây là vấn đề vẫn đang được nghiên cứu, dù phải nói rằng hầu hết lính thợ trong thời kỳ đó đã qua đời.

Sự bất công thực sự nằm ở chỗ những người hồi hương, đôi khi là bị ép, chịu thiệt thòi hơn so với những người ở lại Pháp. Vì những người ở lại, nhờ vào sự vận động của Ủy Ban Hỗ Trợ Lính Tập và Lính Thợ, số năm họ đăng lính cũng được tính để hưởng trợ cấp hay nghỉ hưu. Trong khi đó, yêu cầu tính thâm niên của những người hồi hương chưa bao giờ được đáp ứng, kể cả dưới thời tổng thống François Mitterrand.

RFI : Như bà nói ở trên, có khoảng 1.000 đến 3.000 lính Đông Dương định cư tại Pháp sau năm 1952. Việc này được thực hiện như thế nào ? Họ hội nhập vào xã hội Pháp ra sao ?

Liêm Khê Luguern : Về điểm này, tôi không thích từ « hội nhập » cho lắm. Họ hội nhập như thế nào ư ? Tôi thì lại muốn lật ngược lại vấn đề : Những người ở lại là những người đã hội nhập với xã hội Pháp, nếu không thì họ đã không ở lại. Trong khoảng 1.000 người ở lại, phần lớn là cựu giám thị và phiên dịch. Đó là những người ra đi cùng với kế hoạch riêng, trong đó có việc ở lại Pháp.

Như tôi đã nói, 1.000 người là con số chính thức nhưng thực tế thì nhiều hơn. Họ được hưởng chế độ « dỡ bỏ trưng tập », có từ năm 1945. Con số chính thức nêu 500 trường hợp được hưởng chế độ này vào năm 1947 và 1.500 vào năm 1950. Thời điểm này cũng gần với lúc bùng nổ chiến tranh Đông Dương. Đây cũng là một trong những lý do khiến họ cân nhắc ở lại Pháp vì trở về trong bối cảnh chiến tranh sẽ có rất nhiều bất trắc.

Để được hưởng « dỡ bỏ trưng tập », họ phải chứng minh có việc làm và nơi ở. Có nhiều người trong số họ, dù không đông lắm, được đào tạo nghề vào cuối Thế Chiến II, nên thường tìm được việc làm và định cư ở Pháp. Nhiều người khác, chủ yếu là giám thị và phiên dịch, như tôi nói ở trên, thì thực hiện kế hoạch ấp ủ từ trước khi sang Pháp, thế nên họ bỏ Sở Nhân Công Bản Địa và Thuộc Địa - MOI ngay từ năm 1943. Một số khác thì lập gia đình ở Pháp. Hôn nhân là một yếu tố quan trọng cho việc ổn định tại Pháp. Nếu như vào thời kỳ Thế Chiến I chỉ có khoảng 200 đám cưới Pháp-Việt, đến năm 1947 có khoảng 1.000 cặp như vậy.

RFI : Cuốn sách của bà có tựa : Les « Travailleurs indochinois » : Etude socio-historique d’une immigration coloniale được nhà xuất bản Les Indes Savantes phát hành. Chủ đề này có được đề cập đầy đủ tại Pháp như về lính thợ và lính tập đến từ châu Phi không ?

Liêm Khê Luguern : Cuốn sách được xuất bản vào đầu tháng 06/2021 là kết quả của một quá trình nghiên cứu dài, với trọng tâm là những người lính thợ Đông Dương. Có nghĩa là tôi không chỉ chú ý vào quá trình họ sống và làm việc ở Pháp, mà còn nghiên cứu quá trình tuyển dụng họ, môi trường xuất thân để biết được bối cảnh Đông Dương thuộc địa khi họ khởi hành sang châu Âu.

Lính thợ Đông Dương được đề cập nhiều, thậm chí là rất nhiều trong những năm gần đây. Có lẽ số phận của lính tập Đông Dương ít được nhắc đến khi so sánh với với lính tập đến từ châu Phi, kể cả qua việc tranh luận về trợ cấp. Vấn đề trợ cấp cho lính thợ Đông Dương chưa bao giờ được đặt ra và được truyền thông đề cập.

Ở đây phải đặt câu hỏi về trách nhiệm của các nhà quản lý, của các đời chính phủ liên quan. Về điểm này, tôi chỉ dám nêu một vài giả thuyết. Thứ nhất, nên tính đến quá khứ lịch sử. Quá trình chấm dứt tình trạng thuộc địa diễn ra tại châu Phi muộn hơn, vào thập niên 1960, trong khi Pháp rời Đông Dương năm 1954. Quá khứ thuộc địa của Đông Dương trở nên xưa hơn, nên có lẽ bị xếp vào hàng thứ yếu vào lúc nổ ra chiến tranh ở Việt Nam với quân đội Mỹ. Thêm vào đó là bản chất mối quan hệ giữa Việt Nam và Pháp cũng khác hơn so với mối quan hệ Pháp duy trì với những thuộc địa cũ ở châu Phi. Điều này cũng có thể giúp giải đáp một số thắc mắc.

Dù lính thợ Đông Dương được nhắc đến nhiều nhưng lại không được hoàn toàn đưa vào khuôn khổ nghiên cứu quá trình nhập cư thuộc địa. Đây chính là điểm cần lưu ý để có thể nói về họ nhiều hơn và vấn đề lịch sử này cần được đưa vào lĩnh vực nghiên cứu hậu thuộc địa.

RFI Tiếng Việt xin chân thành nhà sử học Liêm Khê Luguern.

*****

(*) Les « Travailleurs indochinois » : Etude socio-historique d’une immigration coloniale (Tạm dịch : « Lính thợ Đông Dương » : Nghiên cứu xã hội-lịch sử của quá trình di dân thuộc địa), NXB Les Indes Savantes (Pháp), 06/2021.


viethoaiphuong
#617 Posted : Thursday, May 13, 2021 6:54:14 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Thảm họa dịch Covid-19 tại Ấn Độ, hệ quả của chủ nghĩa dân túy từ chính quyền Modi ?

Minh Anh - RFI - 13/05/2021
Nỗi ám ảnh biến Ấn Độ thành một quốc gia Ấn giáo lớn hơn nỗi lo chống dịch bệnh Covid-19. Chính phủ của thủ tướng Narendra Modi bị cáo buộc quá mang nặng « tư tưởng dân túy-dân tộc », « ngạo mạn », « chống trí thức » và « bất tài », khiến đất nước rơi vào thảm kịch dịch tễ chưa từng thấy.

Từ lâu, Ấn Độ được xem như là một ví dụ tiêu biểu về nền dân chủ nghị viện tự do trong số các nước Nam Á. Ngoài sự tách bạch về hành pháp và tư pháp, cũng như là quyền tự do ngôn luận, tính đa nguyên chính trị còn là nền tảng cho chế độ liên bang và cho sự đa dạng văn hóa, cả trong ngôn ngữ lẫn tôn giáo.

Từ dân chủ thế tục đến dân chủ sắc tộc

Nhưng kể từ khi ông Narendra Modi, một người mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ giáo, lên cầm quyền năm 2014, nền dân chủ đó đang dần bị xói mòn. Narendra Modi cho rằng đã đến lúc phải xem xét lại chủ nghĩa thế tục – một khái niệm cho phép duy trì mối liên hệ giữa Nhà nước và các nền tôn giáo – tồn tại ở Ấn Độ từ nhiều thập niên qua.

Về điểm này, chuyên gia về Ấn Độ, bà Ingrid Therwath, nhà báo và giảng viên ngành báo chí trường đại học Khoa học Chính trị Sciences Po trên đài Arte có lưu ý : « Nhưng đó không phải là một sự thế tục theo kiểu Pháp. Một cách chính xác, chủ nghĩa thế tục ở đây là một sự cách đều giữa Nhà nước với tất cả các cộng đồng tôn giáo. Đó không phải là sự tách rời, một sự chối bỏ tôn giáo mà là một sự công nhận đồng đều tầm quan trọng của bảy nền tôn giáo lớn tại Ấn Độ, gồm Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, Sikh giáo, Kỳ Na giáo (Jaina giáo) và Hỏa giáo. »

Xuất thân từ phong trào chủ nghĩa dân tộc Hindu, mà lực lượng chính trị chính yếu là đảng BJP (Bharatiya Janata Party – Đảng Nhân dân Ấn Độ), mang nặng tư duy « tính Ấn Độ giáo », Narendra Modi nhìn nhận vai trò ưu thế của cộng đồng người Hindu chiếm đa số đối với những sắc tộc thiểu số. Do đó, người theo đạo Hồi chiếm thiểu số phải là những công dân hạng hai.

Từ quan điểm này, đảng BJP cầm quyền của thủ tướng Modi thực hiện tiến trình gọi là sắc tộc hóa nền dân chủ Ấn Độ. Ông ban hành một loạt các đạo luật cả ở cấp độ các bang lẫn chính quyền trung ương trong nhiều lĩnh vực từ văn hóa, chính trị, xã hội để rồi dần biến Ấn Độ thành một nền dân chủ sắc tộc pháp quyền.

Nhà nghiên cứu Christophe Jaffrelot, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (CERI), cho rằng « Ấn Độ hiện không chỉ đang xây dựng một Hindu Rastra – một quốc gia Ấn Độ giáo, mà cả một Hindu Raj – nghĩa là một Nhà nước Hindu » (Tạp chí Questions Internationales số ra tháng 3-4/2021).

Điều nghịch lý của nền dân chủ sắc tộc – một thuật ngữ do nhà xã hội học Israel Sammy Smooha đề ra để mô tả bản chất mâu thuẫn của chế độ Nhà nước Israel – buộc phải dựa trên những giá trị của chủ nghĩa cá nhân.

Một số cột trụ của nền dân chủ vẫn tồn tại như các cuộc bầu cử vẫn được tổ chức đều đặn (ở mức tối thiểu), một nền tư pháp tương đối độc lập tạo vỏ bọc cho Nhà nước pháp quyền, và nhất là một nền báo chí có vẻ tự do cho thấy vẫn có tiếng nói đối lập, một sự đa dạng nào đó. Nhưng các công dân lại không được hưởng tất cả các quyền như nhau. Cộng đồng chiếm đa số áp đặt các biểu tượng bản sắc dân tộc của mình, cách thức sống và sự thống trị xã hội – chính trị đối với các sắc tộc thiểu số.

Giới trí thức : Nạn nhân của Hindu hóa xã hội

Chính ở điểm này người ta thấy rõ có những điểm tương hợp giữa chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa chuyên chế, như nhận xét của ông Christophe Jaffrelot : « Trên thực tế, rất nhiều phe dân túy đã vượt qua một bước mới : Tiếm lấy hết quyền lực. Chúng ta thấy sự trỗi dậy một chế độ chính trị mới trên khắp thế giới. Họ cần các cuộc bầu cử, đơn giản chỉ vì tính chính đáng của các chế độ dân túy – chuyên chế đó cần có được sự chấp thuận của người dân thông qua lá phiếu cử tri. Điều này đúng cho cả ông Erdogan, Bolsonaro thậm chí cả với ông Putin... » (France Culture ngày 01/05/2021)

Xu hướng này đã được ông Narendra Modi thúc đẩy nhanh ngay từ nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên. Tiến trình Hindu hóa đã được thực hiện trong lĩnh vực công và những nạn nhân đầu tiên của làn sóng chủ nghĩa dân tộc Hindu là những tầng lớp trí thức, bị lên án vì tư tưởng « chủ nghĩa tự do » - một thuật ngữ kể từ giờ mang nghĩa xấu.

Hệ quả là theo nhà nghiên cứu và nhà báo Ingrid Therwath, sự tự do ngôn luận ở Ấn Độ hầu như rất hạn hẹp. « Vụ ám sát nhà báo Gauri Lankesh tháng 9/2017 vẫn còn in đậm trong tâm trí. Người này bị sát hại chỉ vì cô ấy đi điều tra về những thành phần dân quân tự vệ người Hindu cực đoan (…) Các phóng viên điều tra, nhà báo độc lập và nhà báo đối lập phải chịu nhiều áp lực về thể chất, vật chất. Các ban biên tập thường xuyên bị sách nhiễu trên bình diện pháp lý, thuế khóa. »

Quá trình Hindu hóa này còn thể hiện rõ qua việc viết lại lịch sử đất nước, thanh lọc sắc tộc trong bộ máy chính quyền, các công sở, dẫn đến tình trạng kỳ thị sắc tộc, rồi hình thành một cơ chế gọi là « cảnh sát văn hóa » nhằm ngăn cản các cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa những người Ấn giáo và Hồi giáo.

Trong khuôn khổ dự án « Quốc gia Hindu », chính quyền các bang do đảng BJP lãnh đạo còn ban hành nhiều đạo luật nhằm bảo vệ loài bò – con vật linh thiêng, biểu tượng của Ấn Độ Giáo, hay ngăn chặn sự đa dạng tôn giáo trong những thành phố lớn, bằng cách nghiêm cấm người Ấn giáo bán bất động sản cho những người thuộc các tôn giáo khác…

Chủ nghĩa dân túy : Những nhà quản lý tồi

Như cách nói của nữ ký giả Therwath, một chương « Ấn Độ thế tục của Nehru » – vị thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ độc lập, tạm thời bị khép lại. Ấn Độ đang hướng dần đến một Nhà nước Ấn giáo – một Nhà nước dân chủ sắc tộc. Nhưng khủng hoảng dịch tễ xảy ra cho thấy rõ « những người mang nặng tư tưởng chủ nghĩa dân túy là những nhà quản lý tồi », theo như cách đánh giá của ông Christophe Jaffrelot.

Trong cảnh hỗn loạn vì thiếu các phương tiện y tế và thuốc men trị bệnh, cách thức tốt nhất để ông Modi xử lý khủng hoảng là phủ nhận thực tế. Cũng như bao nhà lãnh đạo chuyên chế khác, từ Donald Trump cho đến Bolsonaro, hay như Erdogan, ông Modi « chưa bao giờ thừa nhận đó là một thất bại, một cú tát hay tất cả những gì gần giống với một sự đại bại cả » (The Print, được Courrier International ngày 06/5/2021 trích dẫn).

Bất chấp dịch bệnh bùng phát mạnh trở lại ở Bombay, nhưng thủ tướng Modi trên diễn đàn Davos vẫn hùng hồn khẳng định « Ấn Độ đã thoát dịch, đất nước kể từ giờ sẽ dẫn đường nhân loại chống virus corona ». Với ông Jaffrelot, đó cũng chính là biểu hiện của « hội chứng chủ nghĩa dân túy-dân tộc », những hội chứng mà người ta có thể nhìn thấy ở Bolsonaro, Donald Trump, và giờ là ông Modi.

« Đây chính là điểm yếu lớn thứ nhất, là kẽ hở cho những người mang tư tưởng chủ nghĩa dân túy – dân tộc khi cho mình vượt lên trên cả các chính sách của Nhà nước (…) Narendra Modi giờ đây không còn là người trần nữa mà tự cho mình đang trở thành một thánh nhân, một nhà hiền triết. Từ khi xảy ra khủng hoảng Covid, ông tự tạo cho mình hình ảnh nhân vật được biểu tượng bởi bộ râu bạc phơ mà ông cố tình để dài quá mức, để nói rằng tôi bây giờ ở nơi khác. Tôi là một nhà hiền triết, đúng hơn là một lãnh đạo tinh thần cho Ấn Độ, một vị giáo chủ cho thế giới ».

Phủ nhận sự thật và những lời dối trá

Nỗi ám ảnh Ấn Giáo hóa đất nước và nhà nước lớn đến mức khiến ông Modi xa rời với thực tế hiện tại, bỏ qua nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách khác của đất nước, và đi đến một dạng phi lý, một yếu tố khác thúc đẩy nhanh dịch bệnh bùng phát ở Ấn Độ. Chuyên gia Christophe Jaffrelot giải thích tiếp :

« Bởi vì khi người ta đã thần thánh hóa, đương nhiên họ được quyền có một lễ hội tụ tập đến hơn một triệu người, rằng người ta có thể dùng các sản phẩm từ bò để chữa bệnh và bộ trưởng Y Tế còn cấp phép chính thức cho các loại giả dược do những người thân cận với chính quyền chế ra.

Ở đây người ta không chỉ có thuyết âm mưu, thông tin sai lệch, thông tin giả là những điều thường thấy ở phe chủ nghĩa dân túy, mà còn cả chuyện thần thánh hóa cả bộ máy phủ nhận sự thật và chuyên tung ra những lời dối trá ».

Tờ Caravan, một trong tạp chí độc lập chỉ trích chính phủ Modi mạnh mẽ nhất cho rằng sự suy sụp của Ấn Độ hiện nay còn là « hệ quả không thể tránh khỏi từ sự ủng hộ mù quáng » của người dân dành cho « một chính phủ chống trí thức ».

Ông Christophe Jaffrelot, cho rằng cách điều hành chính phủ theo kiểu của ông Modi chính là sự chối bỏ những lời khuyên can, sự bác bỏ mọi ý kiến có thể đối nghịch với ông. Vì xung quanh ông Modi chỉ là những "Yes Men", chưa bao giờ dám nói những lời « nghịch nhĩ », nên người ta cũng không thể nghe được những điều các bang nói về tình hình ở địa bàn.

Vẫn theo nhà Ấn Độ học, « cuộc khủng hoảng chế độ liên bang mà người ta đang thấy tại Ấn Độ hiện nay còn là một trong số những triệu chứng khác của những người mang tư tưởng dân túy – dân tộc. Trong bối cảnh dịch bệnh dữ dội, việc chính quyền các bang phải mua vac-xin với giá cao hơn so với giá mua của chính quyền liên bang, là điều chưa từng thấy. Việc phải mua vac-xin để tiêm ngừa đã là một sự lệch lạc trong tình cảnh hiện nay, nhưng giá bán khác nhau đây lại là một sai lầm khác. »

Tóm lại, nỗi ám ảnh « Một Quốc gia Ấn giáo, Một Nhà nước Ấn giáo » của ông Narendra Modi và đảng BJP đã đánh quỵ Ấn Độ, biến đất nước thành một « gian phòng của mọi sự kinh dị » !


viethoaiphuong
#618 Posted : Sunday, May 16, 2021 9:25:57 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Anh tính tăng gấp ba số cây trồng vào năm 2024 để chống biến đổi khí hậu

Voa / Reuters - 16/05/2021
Anh cho biết nước này có kế hoạch tăng gấp ba tỷ lệ trồng cây trong ba năm tới để giúp đạt được mục tiêu phát thải khí carbon bằng 0 vào năm 2050 nhằm chống biến đổi khí hậu.

Anh muốn thúc đẩy kế hoạch bảo vệ môi trường và khuyến khích các quốc gia khác thực hiện điều tương tự trước khi tổ chức Hội nghị Biến đổi Khí hậu Liên Hợp Quốc tại Glasgow, còn được gọi tắt là COP26, vào tháng 11 tới.

Ông George Eustice, Bộ trưởng Môi trường của Anh, sẽ công bố vào ngày thứ Ba rằng tới tháng Năm năm 2024, tỷ lệ trồng rừng sẽ tăng gấp ba, với khoảng 7.000 hectare rừng được trồng mỗi năm.

"Chúng tôi sẽ đảm bảo rằng những cây phù hợp được trồng ở những nơi phù hợp và tạo ra nhiều việc làm xanh hơn trong ngành lâm nghiệp", ông Eustice dự kiến sẽ phát biểu, theo một thông cáo của chính phủ, công bố hôm 16/5.

Tuyên bố này không đưa ra chi tiết nào khác về kế hoạch trên và không cho biết bao nhiêu cây sẽ được trồng hoặc được trồng ở đâu, và cũng không cho biết kế hoạch trồng sẽ tốn kém bao nhiêu hoặc sẽ dùng ngân quỹ như thế nào.

Thông cáo cũng không đưa ra một con số so sánh về bao nhiêu hectare đất rừng đã được trồng trước đó.

Chuyên gia về biến đổi khí hậu của Anh và là Chủ tịch COP26 Alok Sharma hôm thứ Sáu tuần trước cảnh báo rằng các nhà lãnh đạo trên thế giới phải đồng ý chấm dứt việc sử dụng than tại hội nghị thượng đỉnh vào tháng 11 để ngăn chặn thảm họa khí hậu.

Trước thềm COP26, chính phủ Anh cho biết tập trung vào 4 mục tiêu: đảm bảo mức phát thải bằng 0 trên toàn cầu, bảo vệ cộng đồng và môi trường sống tự nhiên khỏi tác động của biến đổi khí hậu, huy động tài chính và các quốc gia cùng nhau thúc đẩy hành động.

viethoaiphuong
#619 Posted : Monday, May 17, 2021 12:53:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Thí sinh Hoa hậu Hoàn vũ Myanmar xin cầu nguyện cho ‘người dân đang chết dần’

VOA - 17/05/2021
Thí sinh Hoa hậu Hoàn vũ của Myanmar, Thuzar Wint Lwin, đã sử dụng cuộc thi hôm Chủ nhật (16/5) để kêu gọi thế giới lên tiếng chống lại chính quyền quân sự, khi lực lực lượng an ninh của họ đã giết hàng trăm đối thủ kể từ khi chiếm lấy chính quyền trong cuộc đảo chính ngày 1/2, theo Reuters.

“Người dân của chúng tôi đang chết dần và bị quân đội bắn mỗi ngày”, thí sinh của Myanmar nói trong một thông điệp video gửi cho cuộc thi, nơi cô xuất hiện trong đêm chung kết tại khu nghỉ dưỡng Seminole Hard Rock Hotel & Casino ở Hollywood, bang Florida, Hoa Kỳ.

“Tôi muốn kêu gọi mọi người nói về Myanmar. Với tư cách là Hoa hậu Hoàn vũ Myanmar kể từ sau cuộc đảo chính, tôi đã lên tiếng nhiều nhất có thể”, cô Thuzar Wint Lwin nói thêm.

Người phát ngôn của quân đội Myanmar không trả lời các cuộc gọi yêu cầu bình luận của Reuters.

Thuzar Wint Lwin nằm trong số hàng chục người nổi tiếng, các diễn viên, những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội và thể thao ở Myanmar đã lên tiếng phản đối cuộc đảo chính đã lật đổ và bắt giam nhà lãnh đạo dân cử Aung San Suu Kyi.

Ít nhất 790 người đã bị lực lượng an ninh giết chết kể từ khi diễn ra đảo chính, theo nhóm hoạt động của Hiệp hội Hỗ trợ Tù nhân Chính trị. Tổ chức này cho biết hơn 5.000 người đã bị bắt, với khoảng 4.000 người vẫn bị giam giữ, trong đó có một số người nổi tiếng.

Cô Thuzar Wint Lwin đã không lọt vào vòng cuối cùng của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ, nhưng cô đã giành giải Trang phục dân tộc đẹp nhất, được thiết kế dựa trên trang phục dân tộc của người Chin của cô ở vùng tây bắc Myanmar, nơi giao tranh diễn ra trong những ngày gần đây giữa quân đội và lực lượng dân quân chống chế độ quân sự.

Khi trình diễn trang phục dân tộc, cô Thuzar Wint Lwin đã giơ một tấm biểu ngữ có nội dung “Xin hãy cầu nguyện cho Myanmar”.



viethoaiphuong
#620 Posted : Wednesday, May 19, 2021 11:32:38 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

Bắc Cực : Từ miền đất khắc nghiệt thành vùng cạnh tranh ảnh hưởng kinh tế

Anh Vũ - RFI - 19/05/2021
Hôm nay, 19/05/2021, tại Raykjavik cuộc họp Hội Đồng Bắc Cực diễn ra với sự tham gia của đại diện các nước Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Na Uy, Nga, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Vùng lãnh thổ rộng lớn chỉ có 4 triệu dân sống trong điều kiện khí hậu cực kỳ khắc nghiệt ở cực bắc này bỗng chốc trở thành miền đất hứa và thành khu vực cạnh tranh địa chính trị quan trọng.

Những ai có quyền chủ quyền chính ở Bắc Cực ?

Tám nước thành viên của Hội Đồng Bắc Cực đều có phần lãnh thổ ở vùng cực bắc địa cầu. Nhưng chỉ có 5 trong số này, gồm Hoa Kỳ với Alaska, Nga, Canada, Na Uy và Đan Mạch, nhờ Groenland, có duyên hải Bắc Cực. Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển chia cắt thành các vùng lãnh thổ, theo những quy chế khác nhau. Có các vùng lãnh hải cách bờ 12 hải lý tạo thành vùng chủ quyền của mỗi nước.

Tại đó, chỉ có tàu của những nước ven bờ có thể đi lại, tàu bè các nước khác phải trả tiền thuế hải quan và phải được hộ tống để đi qua. Ngoài ra còn có các « vùng đặc quyền kinh tế », trong phạm vị 200 hải lý, là nơi quốc gia ven bờ có các quyền chủ quyền về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên, nhưng đó cũng là nơi các tàu bè có thể đi lại tự do.

Khi các vùng lãnh thổ đó được phân giới, còn lại một vùng được gọi là đại dương trung tâm Bắc Cực, không thuộc sở hữu của ai.

Nhiều nước ngoài Hội Đồng Bắc Cực, như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất hay cả LH Châu Âu cũng quan tâm đến vùng Bắc Cực. Dù các nước này không có đất ở tại chỗ nhưng họ có nhiều cách để gây ảnh hưởng, chủ yếu qua các đầu tư.

Tại sao vùng đất này lại hấp dẫn nhiều nước ?

Trước tiên đó là bởi tiềm năng kinh tế của nó. Bắc Cực là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá dồi dào, như dầu lửa, khí đốt, hải sản, nguồn nước ngọt…. Trên khía cạnh công nghiệp, vận tải, viễn thông hay nghiên cứu không gian, Bắc Cực có nhiều lợi thế khi nằm ở ngay trung tâm bán cầu bắc, giữa khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu và Đông Bắc Á.

Vấn đề đòi hỏi lãnh thổ được đặt trong khuôn khổ luật biển, theo đó có thể mở rộng vùng đặc quyền kinh tế ra 350 thay vì 200 dặm biển, nếu như quốc gia đó có thể chứng minh được vùng thềm lục địa của mình. Nga, Canada, Na Uy và Đan Mạch có thể nộp đòi hỏi chủ quyền của mình lên Liên Hiệp Quốc theo hướng này. Các nước này vẫn thường xuyên làm như vậy và một số yêu sách chồng chéo lên nhau, nhưng dù sao cũng chưa xảy ra tranh chấp lớn nào.

Hoa Kỳ là nước không phê chuẩn công ước trên nên họ không thể có đòi hỏi này.

Một trở ngại lớn ở Bắc Cực liên quan đến các tuyến đường hàng hải. Theo các chuyên gia về Bắc Cực, có hai cách diễn giải khác nhau có thể gây ra căng thẳng. Canada và Nga coi các tuyến tàu bè đi qua vùng biển của các nước đều phải bị đánh thuế hải quan và hộ tống. Còn theo Hoa Kỳ và Châu Âu thì đó là những vùng biển quốc tế, đi lại tự do giống như quy chế của kênh Suez chẳng hạn. Những bất đồng quan điểm này cứ tích tụ lại cùng với những căng thẳng địa chính trị.

Điểm nóng mới trong căng thẳng Nga và Hoa Kỳ

Hiện tượng băng tan mạnh do khí hậu trái đất ấm lên đã giúp việc tiếp cận các mỏ khí đốt nằm dưới đáy đại dương được dễ dàng hơn. Tuyến đường hàng hải được hình thành có thể trở thành huyết mạch quan trọng trong trao đổi thương mại thế giới. Đó là những yếu tố làm nảy sinh cuộc đua tranh đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ.

Trong nhiều tuần qua, các dấu hiệu căng thẳng liên tiếp xuất hiện trên cả khía cạnh kinh tế cũng như quân sự. Sau sự kiện kênh Suez bị tắc nghẽn hồi tháng Ba năm nay, Nga đã tán dương những nguồn lợi của « tuyến đường phương Bắc » của họ cùng với những dự án đầy tham vọng ở Bắc Cực sẽ mang lại viễn ảnh mới về tuyến đường thương mại Âu – Á.

Cuộc họp tại Iceland hôm nay báo hiệu sẽ căng thẳng. Mátxcơva không giấu tham vọng kiểm soát khu vực mà ngoài Nga ra còn có 7 nước khác có phần lãnh thổ. Hoa Kỳ chắc chắn không thấy dễ chịu gì khi chứng kiến sự gia tăng sức mạnh quân sự ở cách lãnh thổ Alaska của mình có vài trăm km.

Đến dự cuộc họp, ngoại trưởng Serguei Lavrov chắc chắn sẽ nhắc lại những quyết tâm mà tổng thống Nga Vladimir Putin nung nấu từ 5 năm qua, đó là công trường rộng lớn cho tuyến đường hàng hải dọc theo bờ biển Bắc Cực, đang ngày càng trở nên dễ dàng đi lại nhờ hiện tượng tan băng. Dự tính từ nay đến 2025, tuyến đường này sẽ chuyên chở một khối lượng hàng hóa 80 triệu tấn.

Tổng thống Nga đã tăng cường sự hiện diện quân sự của Nga trong vùng Bắc Cực bằng việc mở lại các căn cứ quân sự của thời Liên Xô nhằm bảo đảm nước Nga phải chiếm phần chính về lãnh thổ cũng như nguồn tài nguyên trong 8 nước có chủ quyền trong khu vực đại dương nhỏ bé ở Bắc Cực. Cần biết là 80% lượng khí đốt của Nga cung cấp cho các nước châu Âu được khai thác từ vùng đất lạnh nhất địa cầu này. Ngoài ta khoảng 90% khoáng sản như Nikel, Cobalt, 60% đồng, 95% platine và đất hiếm khác của Nga đều có xuất xứ từ Bắc Cực. Vùng Bắc Cực này chiếm tỷ trọng 1/5 xuất khẩu và 10% GDP của Nga.

Thứ Hai đầu tuần này, ngoại trưởng Nga Serguei Lavrov đã tố cáo NATO và Na Uy manh nha ý đồ lấn chiếm Bắc Cực. Ông khẳng định đó là vùng ảnh hưởng kinh tế chính đáng mà Nga có quyền bảo vệ. Lãnh đạo ngoại giao Nga chỉ trích việc Hoa Kỳ hồi tháng Hai năm nay đã đưa máy bay ném bom chiến lược đến tập luyện ở Na Uy cũng như hồi năm ngoái đã cho triển khai tàu chiến ở biển Barent, trong vùng đặc quyền kinh tế của Nga. Đáp lại, hôm thứ Ba , ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken kêu gọi Nga tránh quân sự hóa Bắc Cực.

Giới quan sát đánh giá, Bắc Cực là một trắc nghiệm cho quan hệ Mỹ-Nga, trước cuộc gặp thượng đỉnh Biden-Putin, có thể sẽ diễn ra trong tháng 6 tới đây.



viethoaiphuong
#621 Posted : Tuesday, May 25, 2021 2:01:03 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,743
Points: 15,387

Thanks: 855 times
Was thanked: 697 time(s) in 695 post(s)

(AFP) – Nguyệt thực toàn phần ở Thái Bình Dương. Tối thứ Tư 26/05/2021, trong khoảng thời gian từ 11 giờ 11 đến 11 giờ 25 GMT, tức vào buổi tối ở Sydney và trước lúc bình minh ở Los Angeles, những người yêu thích thiên văn tại Thái Bình Dương sẽ có dịp được ngắm mặt trăng mầu đỏ cam khổng lồ. Sự kiện thiên nhiên này chỉ có hai năm một lần. Lần nguyệt thực này khác với những lần trước vì trùng với lúc « siêu trăng » nghĩa là trăng tròn sẽ xuất hiện tương đối lớn hơn trung bình vì lúc này mặt trăng khá gần với Trái Đất (khoảng cách là 358 ngàn km). Mặt trăng lúc này sẽ sáng hơn 30% và lớn hơn 14% so với điểm xa nhất. / RFI

Users browsing this topic
Guest (2)
34 Pages«<2930313233>»
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.