Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

31 Pages«<293031
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#601 Posted : Saturday, June 26, 2021 7:29:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Từ Romain Gary đến Émile Ajar: “Tôi cuối cùng đã thể hiện bản thân trọn vẹn”

25/06/2021 - Sơn Ca / RFI
“HẾT RỒI” [...] “Tôi đã từng sống”. Đó là câu mở đầu và kết thúc tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh xuất bản năm 1960 của nhà văn Romain Gary. 15 năm sau, Gary ẩn mình dưới bút danh Émile Ajar viết tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt, trở thành người duy nhất đoạt 2 giải Goncourt.

Trong tiếng Nga, Gary nghĩa là “đốt cháy” và Ajar là “than hồng”. Câu chuyện về nhà văn, nhà ngoại giao, đạo diễn, phi công người Pháp gốc Nga, người sống muôn cuộc đời trong một cuộc đời, trở nên thú vị hơn từ đây.

Gary từng viết trong Lời hứa lúc bình minh: “Đến giờ tôi vẫn coi cuộc sống là một thể loại văn học”, để rồi ông sáng tạo vượt khỏi đường biên của văn chương và biến cuộc đời thành một sân khấu lớn. Từ bút danh Romain Gary đến Émile Ajar là một câu chuyện hấp dẫn mà Gary đã dựng lên, khiến giới văn chương Pháp bị cuốn vào, còn mình, tự do ngồi sau sân khấu viết cuốn nọ nối cuốn kia, tung hỏa mù, khiến họ hoài nghi rồi tin tưởng, giữa thật giả giả thật về Gary và Ajar.

Từ Romain Gary đến Émile Ajar

Romain Gary tên thật là Roman Kacew, đoạt giải Goncourt lần đầu tiên năm 1956 với tiểu thuyết Rễ của trời.Năm 1974, Romain Gary xuất bản 3 tiểu thuyết dưới 3 bút danh khác nhau: Romain Gary, Émile Ajar và Shatan Bogat. Chính xác hơn, một mình Gary phân thân thành 4 người trong 3 cuốn sách. Cuốn La nuit sera calme là một cuộc phỏng vấn hư cấu giữa Romain Gary và François Bondy, một người bạn thời thơ ấu. Thực chất, François Bondy chỉ cho Gary mượn tên còn lại toàn bộ nội dung Gary tự phỏng vấn và tự trả lời. Trong đó, Gary viết: “Khi tôi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết, đó là để đến nơi tôi không hiện hữu, để khám phá những điều diễn ra nơi nội tâm người khác, để rời bỏ tôi, để tái sinh tôi.”

Đây có thể là lời dẫn ngầm ẩn trước văn đàn cho sự xuất hiện lần đầu tiên của bút danh Émile Ajar. Ẩn mình sau bút danh, Romain Gary đã nhờ người cháu họ có tên là Paul Pavlowitch đứng ra đóng thế. Pavlowitch kể:“Vào cuối năm 1972, Romain Gary nói với tôi rằng ông định viết “một cái gì đó khác dưới một cái tên hoàn toàn khác”, bởi vì, ông ấy khăng khăng rằng, “chú không còn có được sự tự do cần thiết nữa”.” (1)

Năm 1975, tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt của Émile Ajar đoạt giải Goncourt. Gary nói Pavlowitch viết thư từ chối giải thưởng, nhưng nguyện vọng bị Hội đồng trao giải bác bỏ. Báo giới bắt đầu nghi ngờ Ajar và Gary liên quan đến nhau khi phát hiện Gary và Pavlowitch là chú cháu. Romain Gary lập tức thanh minh trên Le Monde rằng mình không phải là Ajar, đồng thời vội vàng chạy sang Genève, chui vào một căn hộ yên tĩnh lên kế hoạch “cứu lấy” Émile Ajar trước khi “bị bại lộ”.

Trong 15 ngày, Gary đã viết tiểu thuyết Pseudo và cho xuất bản năm 1976 dưới tên Ajar. Pseudo được viết dưới dạng tiểu thuyết tự truyện. Nhân vật trong tiểu thuyết có tên là Paul Pavlowitch, muốn nói lên sự thật, về bút danh Ajar của mình, về sự đeo đuổi của báo chí, về người chú Gary: “Tôi là Émile Ajar [...] Tôi là tác giả của chính tôi và tôi tự hào về điều đó. Tôi là có thật. Tôi không phải là trò lừa bịp”. Sau đó ông gọi cho Pavlowitch nói rằng bác đã bịa ra cháu một kẻ điên khùng và bịa cả ra bác nữa. “Cháu có đồng ý không?” (2) Người cháu không những vui vẻ chấp nhận mình bị điên mà còn giúp ông bác đánh máy bản thảo. Bằng “thủ thuật chính là không để người ta cảm thấy có thủ thuật”(3) Gary đã dập tan mọi nghi ngờ của báo giới và tiếp tục xuất bản cuốn sách thứ 4 dưới tên Ajar vào năm 1979.

Từ Lời hứa lúc bình minh đến Cuộc sống ở trước mặt

Ajar không thực sự là một cái tôi khác hoàn toàn Gary. Ajar chỉ là một mảnh ghép đủ đầy để Gary trở nên trọn vẹn. Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt là hai tiểu thuyết có liên quan đến nhau mà sợi dây liên kết là tình mẫu tử, là khao khát thêm một lần được có mẹ trong đời.

“Hết rồi. Biển Big Sur không một bóng người, còn tôi, vẫn nằm trên cát, đúng chỗ tôi đã ngã xuống[...]Hết rồi. Biển Big Sur trống vắng hàng trăm cây số, nhưng thỉnh thoảng khi ngẩng đầu lên, tôi lại thấy mấy chú hải cầu trên một mỏm đá trước mặt[...]Thế đấy. Sắp phải rời xa biển, nơi tôi nằm nghe biển khơi đã rất lâu rồi. Tối nay, ở Big Sur, sẽ có sương mù nhẹ, trời sẽ se lạnh, còn tôi, tôi chưa bao giờ học cách nhen lửa để tự sưởi ấm mình. Những chú hải cẩu đã lặng im trên những mỏm đá, và tôi ở đó, nhắm mắt lại, miệng mỉm cười, tôi tưởng tượng một chú hải cẩu nhẹ nhàng đi về phía mình còn mình thì bỗng cảm thấy một chiếc mõm thân thương cà vào má vào vai...Tôi đã từng sống.”

Đó là những câu văn xúc động trong tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh, khi Gary trở về sau chiến tranh mới hay mẹ đã mất. Mẹ Gary, trước khi mất, đã viết sẵn 200 lá thư và nhờ người quen gửi cho con vào chiến trường. Trong những tháng ngày vào sinh ra tử, tuyệt vọng khốn cùng, nhờ những lá thư của mẹ, Gary đã thấy mẹ luôn hiện hữu trong thân xác mình, người ta đã quên cắt dây rốn giữa ông và mẹ.

Làm sao một cuốn sách khiến ta không thể thôi cười ở từng trang mà cuối cùng lại làm ta khóc? Làm sao đằng sau lớp vỏ văn chương hài hước, hài hước trong tất cả mọi nghịch cảnh và bất hạnh của đời sống, vẫn có thể khiến ta cảm được nỗi cô đơn, niềm khao khát yêu thương và tình cảm con người thiết tha, ngậm ngùi đến thế?

“Đối với tôi, trong suốt chặng đường của mình, tính hài hước là một người bạn thân thiết, nhờ nó mà tôi có được những khoảnh khắc chiến thắng nghịch cảnh thực sự.” Gary đã viết như thế trong Lời hứa lúc bình minh, và nét đặc trưng văn chương ấy không hề mất đi khi chuyển sang Cuộc sống ở trước mặt.

Lời hứa lúc bình minh là tự truyện của Gary từ năm 8 tuổi khi sống bên mẹ, người có tình yêu thương khiến Gary “suốt đời phải chết khát bên bờ mỗi con suối.” Mỗi kỷ niệm để Gary nhớ lại luôn là những ký ức được vẽ bằng những bức tranh đậm màu bởi tính chất của nó luôn được đẩy đến đỉnh điểm từ tính cách quyết liệt và mạnh mẽ của người mẹ, và ở đó Gary, Gary đầy cô đơn chui vào trong đống gỗ thèm khát cái liếm mặt của một con mèo xa lạ, Gary yếu đuối nhưng nguyện làm tất cả mọi điều vì mẹ.

Mẹ Gary tuyên bố ông sẽ trở thành đại sứ Pháp, sẽ được tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh, sẽ trở thành nhà văn nổi tiếng. Nước Pháp với bà luôn thiêng liêng, bất khả chiến bại, đẹp nhất trần gian. Bà đã “ký hiệp ước với số phận” khẳng định con mình sẽ không chết trong chiến tranh. Đằng sau vẻ cực đoan ấy là sự tần tảo, hy sinh, vật lộn với đời sống mưu sinh để có tương lai tốt đẹp. Về sau, Gary đã thực hiện được tất cả mọi lời tiên tri của mẹ, kể cả sự sống. Với Gary, “dường như thế giới này không đủ rộng lớn để chứa đựng hết tình yêu thương tôi dành cho bà”.

Có lẽ, điều Gary day dứt nhất trong lòng là những ngày cuối đời của mẹ, ông đã không được ở bên khi bà trút những hơi thở cuối cùng. Nên tiểu thuyết Cuộc sống ở trước mặt là nơi ông có thể làm được điều đó, hóa thân thành cậu bé Momo dành tình yêu thương cho Madame Rosa và ngược lại.

Cuộc sống ở trước mặt là câu chuyện kể về cậu bé Momo được nuôi dưỡng bởi Madame Rosa, người lập ra "trung tâm chăm sóc trẻ em ngoài giá thú". Trong tiểu thuyết có một đoạn văn mang tính siêu thực khi Momo trò chuyện với ông Hamil:

- Một ngày nào đó cháu sẽ đi Nice, cháu cũng thế, khi nào cháu trẻ.

- Sao cơ, khi nào cháu trẻ? Cháu đã già rồi sao? Cháu mấy tuổi rồi, cháu bé của ta?

Và một cảnh khi quay ngược những thước phim trong phòng lồng tiếng, Momo thấy cuộc đời mình trôi ngược về quá khứ và hình ảnh mẹ sượt qua trong ký ức.

Đây là dấu hiệu chỉ dẫn lối thông nhau giữa tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh và Cuộc sống ở trước mặt. Khi đi sâu hơn vào những điểm tương đồng và trái ngược giữa hai tiểu thuyết, ta có thể thấy Gary tạo ra Ajar đểrời bỏ mình và tái sinh mình.

Họ đều sống trên những căn hộ cao tầng khiến bà Mina và Madame Rosa đều phải lên xuống cực nhọc. Hai cậu bé đều không có tình yêu thương của bố, đều nhận được những tấm ngân phiếu hàng tháng. Cái chết của hai người bố không gây xúc động gì nơi Romain và Momo. Romain rất thích cảm giác được mèo hay sư tử biển liếm mặt, còn Momo tưởng tượng vào buổi tối có sư tử vào liếm mặt và ngủ cạnh mình. Điểm chung đặc biệt lớn nhất là tình mẫu tử của hai cậu bé và hai người phụ nữ, dù Madame Rosa không phải mẹ của Momo thì tác giả cũng đã làm ta tin rằng đó là tình mẫu tử.

Nói về sự khác biệt, ở tiểu thuyết trước, Romain là một cậu bé yếu đuối và được bảo bọc trước mẹ bao nhiêu thì ở tiểu thuyết sau Momo là cậu bé chủ động, phá cách và tự do bấy nhiêu. Cậu xăng xái ra đường kiếm tiền, là chỗ dựa của Madame Rosa. Ở tiểu thuyết trước, tinh thần người mẹ dường như hiện hữu trong thể xác của Romain, hai người như hòa làm một trong những khoảnh khắc mong manh của kiếp người, và cuộc đời Romain đã sống là để dành trọn vẹn cho mọi ước mơ của mẹ; còn ở tiểu thuyết sau, Momo yêu thương Madame Rosa nhưng cậu được là chính mình, nhìn yêu thương trong cuộc đời theo một cách khác, dung dị hơn.

Mẹ Romain trong Lời hứa lúc bình minh lúc nào cũng nhắc nhở con về một nước Pháp tươi đẹp, bất khuất và những ước mơ danh giá, còn Cuộc sống ở trước mặt dựng lên bối cảnh đời sống con người ở đáy tận cùng của nước Pháp với những người sống bằng nghề đĩ điếm, những đứa trẻ sinh ra bị bỏ rơi. Cậu bé Momo nói với ông Hamil rằng "việc trở thành anh hùng chẳng có nghĩa lý gì so với việc có bố". Momo chính là hóa thân của Gary mong ước được thấu hiểu, nên ông xây dựng hình ảnh những người đàn ông tốt bụng luôn luôn nói với Momo rằng cậu là một đứa trẻ nhạy cảm, có tâm hồn đẹp và khác biệt.

Để thực hiện nguyện vọng được chăm sóc mẹ trong những năm tháng cuối đời, tác giả đã cho rất nhiều người đến viếng thăm, chăm sóc và nhảy múa mua vui cho Madame Rosa. Cuối cùng, ông hóa thân thành cậu bé Momo, ở bên Madame Rosa trong tổ Do thái của bà, đổ hàng tá chai nước hoa lên người bà, tô mặt bà đến khi không thể nào tô nổi, và nằm bên cạnh bà đến khi người ta phải phá cửa xông vào vì phát hiện ra những mùi đặc biệt.

Kết

“Tôi đã sinh ra”, là câu văn Gary viết trong Lời hứa trước bình minh nói về cảm giác của mình sau khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay vào năm 1945. Cuốn sách cuối cùng của Gary, cuốn Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, xuất bản một năm sau khi Gary qua đời, tiết lộ sự thật về 4 tiểu thuyết ông viết dưới bút danh Ajar, và Paul Pavlowitch chỉ là người đóng thế,

Ngày 2.12.1980, Gary đã tự sát bằng một khẩu súng. Không ai biết chính xác vì sao Gary quyết định từ giã cõi đời, nhưng trong lá thư để lại ông viết: “Vì sao ư? Có lẽ nên tìm câu trả lời trong tiêu đề cuốn tự truyện La nuit sera calme và câu cuối cùng trong cuốn sách cuối cùng của tôi. “Bởi vì ta không thể nói tốt hơn“. Tôi cuối cùng đã thể hiện mình trọn vẹn.” (4)

“HẾT RỒI”[...]“Tôi đã từng sống”. (5)

*

(1) Người đàn ông mà chúng ta đã tin, Paul Pavlowitch, Fayard, 1981.

(2) và (3): Cuộc đời và cái chết của Émile Ajar, Romain Gary, Gallimard, 1981.

(4) http://www.1-jour.fr/2-d...romain-gary-se-suicide/

(5) Lời hứa lúc bình minh, Romain Gary, Nguyễn Duy Bình dịch, NXB Văn học và Công ty sách Nhã Nam, năm 2009.


viethoaiphuong
#602 Posted : Tuesday, June 29, 2021 2:17:08 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Frédéric Dard

29/06/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Hôm nay 29/06/2021 đánh dấu đúng 100 năm ngày sinh của nhà văn Frédéric Dard, tác giả của khoảng 400 quyển truyện đủ loại. Sinh thời, nhà văn người Pháp trở nên nổi tiếng nhờ bộ tiểu thuyết ăn khách với nhân vật thám tử Antoine ''San-Antonio''. Được phát hành từ năm 1949 đến năm 2001, bộ tiểu thuyết này gồm 175 tựa sách khác nhau, đã được bán hơn 250 triệu quyển trên thế giới.

Để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Frédéric Dard, thành phố Les Muraux, Yvelines, ngoại ô Paris, khởi động chương trình sinh hoạt ''100 Piges'' (tiếng lóng có nghĩa là 100 tuổi). Ngoài triển lãm và hội thảo xung quanh tác phẩm của nhà văn tại thư viện thành phố, còn có liên hoan phim chiếu lại khoảng 15 tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết trinh thám của Frédéric Dard. Trong số này có các bộ phim "La Vieille qui marchait dans la mer" của đạo diễn Laurent Heynemann, với Jeanne Moreau và Michel Serrault trong vai chính, hay là phim "Toi, le venin" của đạo diễn Robert Hossein với nữ diễn viên Marina Vlady. Các bộ phim này được giới thiệu lại tại rạp chiếu phim ở trung tâm thành phố Les Mureaux, từng được đặt tên Frédéric Dard vào năm 1995.

Bộ tiểu thuyết trinh thám với hơn 250 triệu bản

Nhà văn người Pháp đã từng sống trong vòng hai thập niên tại Les Mureaux (1948-1968), khi ông dời về vùng ngoại ô thủ đô, làm việc cho tờ báo Paris-Soir. Chính tại căn nhà riêng ở số 45 trên đại lộ Foch, mà ông đã viết những quyển tiểu thuyết trinh thám ăn khách đầu tay. Để đặt tên cho nhân vật chính, ông đã nhắm mắt chỉ tay vào bản đồ, ngẫu nhiên rơi vào thành phố San Antonio ở bang Texas, Hoa Kỳ. Nhân vật Antoine San-Antonio được khai sinh và rồi từ đó trở thành một trong những bộ truyện ăn khách nhất của ngành xuất bản tại Pháp. Tiểu thuyết San-Antonio đầu tiên (trong một bộ truyện gồm 175 quyển) được phát hành vào năm 1949. Kể từ những năm 1960 trở đi, nhiều tựa sách đã lập kỷ lục số bán, mức trung bình của mỗi cuốn tiểu thuyết là 300.000 bản.

Sinh năm 1921 trong một gia đình nghèo tại thị trấn Bourgoin Jallieu (tỉnh Isère) cách thành phố Lyon khoảng 40 cây số về phía đông, Frédéric Dard ban đầu tốt nghiệp ngành kế toán rồi sau đó mới chuyển sang ngành báo chí. Tiền nhuận bút thời bấy giờ (đầu những năm 1940) không được là bao nhiêu, cho nên để nuôi gia đình, ngoài công việc thư ký tòa soạn, ông còn buộc phải làm thêm rất nhiều kể cả viết truyện ngắn đăng báo, sáng tác truyện thiếu nhi, sửa kịch bản, viết tin quảng cáo hay lời thoại cho phim … Có lẽ cũng từ hoàn cảnh gia đình mà Frédéric Dard rèn luyện cách viết nhanh và nhiều, ông sáng tác liên tục đều đặn và ít khi nào chịu ngơi nghỉ.

Trả lời phỏng vấn báo chí vào năm 1978, nhân dịp ông nhận giải thưởng của ngành xuất bản sau khi kho tiểu thuyết của ông cán mốc 100 triệu bản, Frédéric Dard cho biết ông là một tác giả may mắn, nhận được sự hưởng ứng của nhiều thành phần độc giả và thói quen ''viết nhiều'' của ông phần lớn xuất phát từ những khó khăn trong bước đầu sự nghiệp. Bà Josiane Gonny, từng là thư ký riêng, đánh máy bản thảo cho nhà văn công nhận rằng ông làm việc rất nhanh, dù chỉ gõ với ba ngón tay. Bà cho biết các quyển tiểu thuyết San-Antonio có độ hấp dẫn cao, đôi khi cuốn hút đến nỗi cô thư ký quên hẳn việc gõ chữ để có thể đọc câu chuyện từ đầu đến cuối.

Hiện tượng xuất bản nhờ chiến lược tiếp thị mạnh mẽ

Theo ông Maxime Gillio, tổng thư ký Câu lạc bộ bạn đọc Frédéric Dard và đồng thời điều hành mạng thông tin ''Thế giới của San-Antonio", nhà văn viết tiểu thuyết như thể bị ''ghiền thuốc'', ngay cả trong những lúc an nhàn nghỉ ngơi. Cứ sau một ngày không được viết là ông lại cảm thấy khó chịu. Dường như sáng tác có tác dụng trấn an một người luôn có tâm trạng bồn chồn, lo lắng. Trong sự thành công của San-Antonio, ngoài tính miệt mài chăm chỉ của tác giả, còn có tài năng tiếp thị của nhà xuất bản Armand de Caro : tiểu thuyết trinh thám San-Antonio trong vòng nhiều thập niên hầu như được bày bán ở khắp nơi, từ nhà ga tỉnh lẻ cho tới các cửa hàng thuốc lá. Nhà xuất bản chấp nhận tăng số tiền tác quyền cho nhà văn Frédéric Dard, nhưng đổi lại ông phải giao ''sản phẩm'' đúng thời hạn và đôi khi phải viết tới ba quyển theo đơn đặt hàng chỉ trong một năm. Nhờ vào chiến lược tiếp thị mạnh mẽ mà tiểu thuyết San-Antonio trở thành một hiện tượng của ngành xuất bản vào những năm 1980.

Thời nay, ít có tác giả nào, bất kể sức sáng tạo có dồi dào cách mấy, lại có thể sáng tác liên tục mà không ảnh hưởng tới ''chất lượng'' của tác phẩm. Tại Pháp, theo mạng thông tin ActuaLitté hồi đầu tháng 06/2021, nhà văn Amélie Nothomb nổi tiếng là một trong những ngòi bút sáng tác đều đặn nhất, cho biết cô đang viết quyển tiểu thuyết thứ 102, nhưng không phải quyển nào cũng được phát hành và theo hợp đồng Amélie Nothomb mỗi năm chỉ cần giao một tác phẩm cho nhà xuất bản Albin Michel. Theo chủ tịch Liên đoàn quốc gia ngành xuất bản Vincent Montagne, hầu hết các nhà phát hành thời nay đều không xuất bản sách theo kiểu đại trà như vài thập niên trước, để tránh bị quy chụp là coi trọng số lượng hơn chất lượng.

Thời nay, tiểu thuyết của Frédéric Dard vẫn được tái bản nhưng một cách có chọn lọc, hình thức cũng kín đáo hơn chứ không còn được quảng cáo rầm rộ như trước. Để chinh phục thêm độc giả mới, tiểu thuyết San-Antonio được chuyển thể thành truyện tranh, hai tựa tiểu thuyết vừa được phóng tác lại qua ngòi bút của họa sĩ Michael Sanlaville (từng đoạt giải thưởng lớn tại liên hoan truyện tranh Angoulême năm 2015).

Tái bản bộ toàn tập 175 quyển tiểu thuyết San-Antonio

Qua đời vào năm 2000, Frédéric Dard đã để lại một di sản khá đồ sộ, ngoài 400 tác phẩm gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, kịch bản phim còn có 10 vở kịch nguyên tác hay phóng tác. Ngoài ra, ông còn đăng rất nhiều bài viết và sử dụng đến 17 bút danh khác nhau. Nhân kỷ niệm 100 ngày sinh của ông, một tuyển tập dày 600 trang mang tựa đề "Des nouvelles de moi", bao gồm hàng trăm truyện ngắn, sáng tác trong giai đoạn 1940-1985 nay lần đầu tiên được nhà xuất bản Fleuve cho in thành sách. Theo lời nhà phê bình Alexandre Clément, người đã viết lời mở đầu sau khi nghiên cứu tập hợp lại nhiều văn bản rời rạc chưa từng được phổ biến, các mẩu truyện ngắn cho thấy cái tài sáng tác của Frédéric Dard dưới một góc độ khác, trong khi đó nhân vật San-Antonio thu hút thêm khá nhiều người hâm mộ trên thế giới, sách được nhiều nhà sưu tầm tìm mua và các bản in đầu tiên đạt tới giá thật cao trong các cuộc bán đấu giá.

Nối bước nhân vật Jules Maigret (của tác giả Georges Simenon), thám tử Antoine San-Antonio về sau này được đánh giá cao hơn. Văn phong của Frédéric Dard mang nhiều ảnh hưởng của các văn hào Mỹ William Faulkner và John Steinbeck. Thể loại truyện hồi hộp trinh thám của nhà văn Frédéric Dard lại có nhiều nét giống như nhà văn người Anh Peter Cheyney, tác giả đã khai sinh hai nhân vật Slim Callaghan và Lemmy Caution trong loạt tiểu thuyết trinh thám, gián điệp, một số truyện cũng từng được dựng thành phim.

Cuối cùng, bộ toàn tập gồm 175 tiểu thuyết của Frédéric Dard cũng được nhà xuất bản "Éditions 12-21" tái phát hành dưới dạng phiên bản điện tử. Các tựa sách ở đây được xếp theo từng thập niên. Theo giới ghiền đọc San-Antonio, bộ truyện trinh thám sáng tác vào những năm 1980 (41 cuốn tiểu thuyết) được xem như là rất ăn khách, nhưng giới hâm mộ vẫn thích nhất hai giai đoạn những năm 1950 (37 quyển) hay là 1960 (35 quyển). Trong hai thập niên này, tính sáng tạo của nhà văn Frédéric Dard chẳng những dồi dào mà còn đạt tới những đỉnh cao táo bạo.
viethoaiphuong
#603 Posted : Friday, July 2, 2021 12:07:56 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf - Chuyện tình của những trái tim tan vỡ

02/07/2021 -Lệ Thu / RFI
Nếu một lúc nào đó, bạn cất công tìm kiếm trên các trang mạng xã hội nổi tiếng để tìm hiểu những bộ phim tuyệt vời về Paris thì chắc hẳn, bạn sẽ không thể bỏ qua tác phẩm hiếm có “Les Amants du Pont Neuf”. Tạm dịch là “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” (tên tiếng Anh là “The lovers on the bridge”), bộ phim của đạo diễn Leos Carax ra mắt lần đầu tiên vào năm 1991.

Chuyện phim kể về Alex, một người biểu diễn đường phố nghiện rượu và thuốc an thần đã phải lòng nàng họa sĩ Michèle đang mang căn bệnh khiến thị giác của cô càng ngày càng giảm sút. Một tình yêu say đắm giữa hai kẻ lang thang tại cây cầu cổ nhất Paris, cầu Pont Neuf, đã diễn ra. Mới nghe qua thì có vẻ đây là một bộ phim tình cảm lãng mạn đơn thuần nhưng nếu chỉ có vậy, “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” đã không lọt vào Top 10 những bộ phim hay nhất về Paris. Dù cho đến nay, tác phẩm đã được 30 năm tuổi nhưng không ai nói đó là một câu chuyện đã cũ.

Do gặp phải nhiều trục trặc khiến cho thời gian hoàn thành bộ phim bị kéo dài hơn so với dự kiến, song sự ra đời của tác phẩm đã nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt từ giới phê bình phim tại Pháp cũng như trên thế giới. Bộ phim được đề cử tại các giải César, giải phim châu Âu xuất sắc, giải BAFTA, đồng thời nhận được các giải thưởng phim châu Âu cho nữ diễn viên xuất sắc và quay phim xuất sắc. Đạo diễn, kiêm biên kịch của phim, Leos Carax vừa là một đạo diễn, là một nhà phê bình lại vừa là một nhà văn. Bởi vậy mà ông được chú ý với phong cách phim rất Thơ cùng những miêu tả đau khổ về tình yêu. Chính vì thế, trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf” người ta không chỉ Yêu, mà người ta còn Yêu với những nỗi đau tan vỡ có thật.

Bức tranh tình yêu

Những thước phim đầu tiên của tác phẩm khiến khán giả rùng mình bởi sự thật trần trụi về những người lang thang ở Paris, trong đó có Alex. Vóc người nhỏ bé, xiêu vẹo, rất hiếm khi tỉnh táo bởi tác dụng của rượu và thuốc an thần, Alex được tạo nên là một hình ảnh hoàn toàn không đẹp, thậm chí có thể nói là xấu xí. Anh tự cho rằng mình không thể được sống yên ổn nếu rời khỏi cây cầu Pont Neuf, một trong những cây cầu cổ nhất thành phố, nơi mà người ta đang lập rào chắn để sửa chữa.

Dường như, bạn chỉ bình yên khi bạn ở cái nơi những người khác coi là “Danger” - nguy hiểm - như tấm biển đang giăng ngang chắn đường lên cầu. Nơi ấy, sẽ không ai có thể làm phiền hoặc làm bạn bị tổn thương. Rất nhiều lần trên phim, trong những câu thoại ít ỏi của mình, Alex nhắc đi nhắc lại cụm từ “trở lại cây cầu” như là cảm giác được quay về nhà. Đó là nơi anh gặp Michèle, cũng là lần đầu tiên anh tự nhìn thấy bản thân qua bức phác thảo của cô, với gương mặt kinh hoàng, hoảng loạn và méo mó khi anh bị tai nạn ô tô do quá phê thuốc và Michèle vô tình là nhân chứng. Bản phác thảo khiến anh chạy theo cô, cảm thấy một sự gắn kết kì lạ với người họa sĩ lang thang này.

Rồi, Alex vô tình phát hiện ra bức thư trong người Michèle lúc cô bị ngất đi. Từ đây, anh biết được thân thế, gia đình và cả tình yêu xưa cũ của Michèle là một nghệ sĩ Cello có tên Julien.

Những tan vỡ không tên

Trong “Đôi tình nhân trên cầu Pont Neuf”, người ta thích những cảnh đối lập giữa cây cầu xưa cũ với những tòa nhà rực rỡ ánh sáng sang trọng. Người ta thích cái cách Alex làm việc, trong đêm, không một âm thanh nào ngoài tiếng anh phun dầu từ miệng và tiếng ngọn lửa bùng lên.

Giải thưởng Phim Châu Âu dành cho nữ diễn viên xuất sắc thuộc về Juliette Binoche trong vai Michèle nhưng với nhiều người, Denis Lavant đã biến Alex trở nên thật sống động và tự do. Denis Lavant có thể không phải là một Alex hào hoa, điển trai, hấp dẫn. Hoàn toàn không. Tại sao lại phải là một người với vẻ ngoài ăn hình nếu ẩn sâu bên trong, bạn có một tâm hồn thật đẹp? Những chi tiết nhỏ thôi … khi Alex ăn cắp một con cá để làm cho Michèle món sushi, kiếm tiền để chăm lo cho cô tốt hơn, làm những việc điên rồ để cô vui như là tấn công một nhân viên cảnh sát để lấy được chiếc cano đưa cô lướt sóng giữa đêm hay đơn giản chỉ là dùng khăn bông lau khô tóc cho cô và lời dặn “không nên để đầu ướt khi đi ngủ”.

Từ đầu phim, Alex được xây dựng như một gã tồi, liên tục say xỉn và phê thuốc không ngớt, chỉ đến khi cảnh anh biểu diễn phun lửa diễn ra thì dường như người ta mới thấy một Alex khác. Những cú máy gấp gáp, lia nhanh, những đoạn đặc tả, cận cảnh vào đôi tay nhanh nhẹn, đôi chân mềm mại với cú lộn nhào điêu luyện, tư thế ngã gọn gàng như một chú mèo của Alex cho thấy phẩm chất của một nghệ sĩ biểu diễn thực thụ. Ánh sáng mạnh mẽ, động tác dứt khoát, gương mặt và đôi mắt biết nói khác hẳn một Alex loạng choạng giữa cơn say hay phê thuốc. Nếu với Michèle, việc cô chọn sống lang thang trên cây cầu như là sự trả đũa cho những chán nản vì căn bệnh đang lấy dần đi thị giác của cô thì hoàn toàn không có lời tâm sự nào để lý giải tại sao, cái gì đã đẩy Alex ra đường với biết bao chán chường và tuyệt vọng đến thế. Đó, chỉ là một tan vỡ không thể gọi tên.

Họ đến với nhau tự nhiên như cây cỏ phải mọc lên vào mùa hè mát mẻ, có những quấn quýt, chia sẻ, giận hờn và cả ghen tuông. Hai trái tim tan vỡ hòa vào làm một, bù đắp mất mát của nhau, dù có mặt của người thứ ba, là Hans, người được mệnh danh là Bố già của cây cầu, thì họ vẫn gắn bó không thể tách rời.

Ấn tượng khó phai

Cả bộ phim giống một bản tình ca kỳ lạ với những khúc nhạc vui, buồn, nhanh chậm đan xen lẫn lộn đầy màu sắc và nhịp điệu. Trong đó, có hai trường đoạn để lại những ấn tượng cực mạnh kể cả về hình ảnh, âm nhạc lẫn diễn xuất mà ai đã từng xem phim cũng tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể quên được. Đó là trường đoạn Alex và Michèle nhảy múa trên cây cầu giữa không gian rực sáng pháo hoa ngoạn mục. Cả bầu trời và dòng sông Seine bừng lên đẹp không thể tả. Cú máy dài gói trọn khoảnh khắc quý báu họ dành cho nhau, một là lúc hai người nhảy múa như điên dại và một là lúc họ “du ngoạn” trên sông Seine bằng cano lướt ván vừa đánh cắp được. Nó khiến người xem cảm nhận có vẻ cái hạnh phúc và niềm vui ấy sẽ kéo dài mãi, không bao giờ kết thúc, không ai muốn nó dừng lại. Âm nhạc mạnh mẽ thôi thúc cuồng nhiệt và gương mặt hai người cũng bừng sáng trong nhau.

Vì thế mà trường đoạn ấn tượng thứ hai ở ga tàu điện ngầm lại tạo nên một cảm giác khác hẳn. Hầu hết là những cú máy ngắn, lia nhanh, gây sốc. Đặc biệt, tiếng Cello vừa réo rắt, rạo rực, lại vừa như gấp gáp, đe dọa tạo nên ám ảnh mãnh liệt. Người ta thấy những giây phút cút bắt tình yêu đầy trái ngang khi Michèle đuổi theo tiếng Cello để tìm Julien, nghệ sĩ Cello đã từng yêu và rời bỏ cô, còn Alex thì đuổi theo tiếng Cello vì muốn xua anh ta đi trước khi Michèle xuất hiện, không để hai người gặp nhau.

Vị kỉ, phần tất yếu trong tình yêu

Alex là một kẻ vị kỉ. Tại sao? Chắc chắn là vì anh quá yêu Michèle, muốn giữ cô cho riêng mình mãi mãi. Tình yêu mang đặc tính “chiếm hữu” rất lớn, Alex cũng không phải ngoại lệ, đặc biệt là khi anh cho rằng mình không có gì đủ lớn và đủ mạnh để giữ Michèle lại. Không ít hơn ba lần trong phim, Alex đã làm mọi cách để níu giữ Michèle trước nỗi ám ảnh cô sẽ rời bỏ anh. Lần đầu tiên là khi họ có một khoản tiền cùng nhau. Michèle đã sợ mùa đông sẽ tới trên cây cầu và họ không thể tiếp tục ở đó. Cầm 2000 đồng trong tay, cô toan tính việc sẽ làm gì với nó. Vì cô đã từng nói “tình yêu cần một phòng ngủ chứ không phải nơi có gió lùa” nên Alex càng cảm thấy một sự đe dọa. Anh đã cố tình khiến Michèle tự làm rớt chỗ tiền xuống sông để cô không thể mơ tưởng một nơi nào khác ngoài cây cầu an toàn của anh.

Lần thứ hai, sự ích kỉ trở nên điên rồ hơn khi Alex phát hiện ra gia đình Michèle đã tìm ra người có thể chữa bệnh cho cô và đang tìm kiếm cô. Nỗi sợ hãi cô đơn và bị bỏ rơi xâm chiếm Alex, trong cơn cuồng điên, Alex đã đốt trụi những tấm áp phích dán trong ga tàu điện ngầm, đốt trụi cả chiếc xe tải mini của người thợ được thuê dán áp phích và khiến anh ta bị bỏng nặng. Và lần cuối cùng, ở cuối phim, sau ba năm phải đi tù vì tội đó, Alex gặp lại Michèle, anh cũng sẵn sàng xô cả hai xuống sông Seine giữa cái giá lạnh của Paris chỉ vì cô nói cô đang chết dần. Để rồi ngay sau đó, họ lại hoảng sợ khi không thể nhìn thấy nhau dưới dòng sông tối đen lạnh lẽo kia. Để rồi sau đó, họ lại cùng đứng trước mũi chiếc xà lan chở cát, cùng hướng về tương lai và cười vào mũi khổ đau dù chưa biết cái tương lai kia sẽ có màu gì.

Tình yêu trong sáng, rất Người của Alex và Michèle đã được miêu tả thật vô cùng hoang dại mà có lẽ chưa từng một bộ phim nào có thể làm được như trong “Đôi tình nhân trên cầu”. Cả những đắm say, những điên rồ, những đuổi bắt, những tiếng cười và những giọt nước mắt đều ẩn chứa niềm đam mê và nỗi đau. Nhưng hạnh phúc là một cái gì rất khó để định nghĩa và gọi tên, bởi dù trong nỗi đau nào thì khi con người ta còn cảm thấy hạnh phúc bên nhau, người ta sẽ tìm đến với nhau.


viethoaiphuong
#604 Posted : Saturday, July 3, 2021 1:41:38 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Fleetwood Mac - Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

03/07/2021 - Gia Trình / RFI
Chuyện tình cảm giữa các thành viên trong nhóm Fleetwood Mac luôn tốn giấy mực của báo chí. Sự đổ vỡ, mâu thuẫn tưởng chừng sẽ giết chết ban nhạc năm 1976 và đẩy Fleetwood Mac vào khủng hoảng cuối thập niên 1980. Kỳ lạ thay, càng khủng hoảng, ban nhạc càng thành công hơn. Phần 2 của tạp chí Âm Nhạc về nhóm nhạc Fleetwood Mac dành giải đáp thắc mắc : Tình yêu có giết chết ban nhạc thế kỷ ?

Stevie Nicks, Linsey Buckingham và Mick Fleetwood

Trước khi gia nhập nhóm, Nicks và Buckingham đã có mối quan hệ sâu sắc từ thập niên 1960. Lúc gia nhập nhóm năm 1974, họ là cặp uyên ương trong âm nhạc, từng phát hành album chung. Chuyện tình cảm của họ không liên tục, xuyên suốt mà đứt quãng khiến Nicks và Buckingham nỗ lực hàn gắn. Đến năm 1976, tình cảm giữa họ đứt vỡ trong quá trình thực hiện album kinh điển Rumours. Có lẽ cá tính quá mạnh khiến cho cả hai nghệ sỹ gặp vấn đề.

Sau khi chia tay Buckingham, Nicks lại có mối quan hệ với tay trống Mick Fleetwood vào năm 1977. Lúc đó, Fleetwood vẫn đang chung sống với người vợ đầu, Jenny Boyd. Cho dù Nicks và Fleetwood đồng ý sớm chấm dứt mối quan hệ, cuộc hôn nhân giữa Fleetwood và Boyd sớm đi vào ngõ cụt.

Năm 1983, Nicks lên xe hoa với Kim Anderson, chồng của bạn thân Robin sau khi người bạn thân qua đời do căn bệnh máu trắng. Nữ ca sỹ sinh năm 1948 chia sẻ : “Lúc đó, tôi quyết định sẽ chăm sóc con của Robin khi cô ấy qua đời. Chúng tôi cưới không phải vì yêu mà vì quá đau khổ”. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân duy nhất của Nicks chỉ tồn tại trong vòng 3 tháng.

Mick Fleetwood và Jenny Boyd

Nhà sáng lập nhóm nhạc kiêm tay trống, Mick Fleetwood kết hôn với người mẫu Jenny Boyd năm 1970 và có hai con gái chung. Không lâu sau, Mick phát hiện vợ mình có quan hệ với tay guitar của nhóm lúc đó là Bob Webston. Mối quan hệ vụng trộm của vợ Mick ảnh hưởng nghiêm trọng tới ban nhạc. Mick đã yêu cầu Bob rời khỏi nhóm năm 1974. Tuy nhiên, Mick cũng ly dị Jenny Boyd một năm sau, 1975. Họ sớm tái hợp ít lâu sau nhưng mối quan hệ tình cảm giữa Fleetwood và Nicks lại giết chết hôn nhân mong manh với Jenny Boyd. Sau đó, Mick hẹn họ với người bạn thân của Stevie Nicks, là Sarah Recor.

John McVie và Christine McVie

Không quá ồn ào như hai cặp đôi kia, chuyện tình giữa John McVie, tay guitar bass và tay keyboard Christine cũng gây xáo trộn ít nhiều. Cặp đôi McVie kết hôn năm 1968. Lúc đó, John McVie là thành viên sáng lập nhóm còn Christine chưa tham gia Fleetwood Mac. Người vợ tham gia nhóm nhạc năm 1970 và lại nảy sinh mối quan hệ với Martin Birch, chuyên gia âm thanh và Curry Grant đạo diễn ánh sáng của Fleetwood. Cặp đôi McVie ly dị năm 1976 nhưng Christine McVie vẫn ở lại nhóm đến tận năm 1998. Sau đó, Christine đính hôn và hủy hôn ước với Dennis Wilson, tay trống nhóm Beach Boys.

Những bản hit sinh ra từ đổ vỡ tình cảm

Khác với nhóm ABBA, tan vỡ tình cảm chưa phải là dấu chấm hết. Tình yêu và sự đổ vỡ là chất xúc tác mạnh mẽ cho những sáng tác đầy rung cảm của Fleetwood Mac. Các thành viên tìm cách gói ghém cảm xúc của họ trong những bản hit như Silver Springs (Dòng suối bạc). Ca khúc được sáng tác và thể hiện qua giọng ca của Stevie Nicks. Nó lột tả nguyên vẹn cảm xúc của Nicks khi tới hồi kết mối quan hệ lãng mạn với Linsey Buckingham.

Bài hát khá dài và có tiết tấu chậm rãi nên không được đưa vào album Rumours (1977). Silver Springs gợi nhớ tới nơi ở cũ của đôi tình nhân Nicks - Buckingham. Nicks thổ lộ “Tôi viết bài này để nói về Linsey. Cái tên Silver Springs khá thú vị đối với tôi. Câu hát “Anh có thể là Dòng suối bạc của tôi, muốn ám chỉ một điều đặc biệt với cuộc đời tôi.” Giai điệu bài hát mộc mạc nhưng ca từ phản ánh sự ghen tuông, hận thù của một người đàn bà sau cuộc chia ly. Kỳ lạ, sau buổi biểu diễn tái hợp The Dance (1997), ban nhạc làm sống lại ký ức âm nhạc đẹp thưở nào. Ca khúc được biết đến rộng rãi sau gần 20 năm ra đời.

So I'll begin not to love you ; Turn around, you'll see me runnin' ; I'll say I loved you years ago ; And tell myself you never loved me no ; Don't say that she's pretty ; And did you say that she loves you? Baby, I don't want to know.

Em sẽ không còn yêu anh nữa ; Quay mặt đi, anh sẽ thấy em chạy trốn ; Em nói rằng em từng yêu anh nhiều năm trước ; Nói với bản thân em rằng anh chưa từng bao giờ yêu em ; Đừng nói với em cô ấy đẹp lắm ; Anh có nói với em rằng cô ấy yêu anh ; Anh yêu, em không muốn biết điều đó.

Chuyện chia ly của Nicks và Buckingham còn ghi dấu ấn trong 2 ca khúc Go Your Own Way (Ra đi theo con đường của em), You make loving fun. Trong Go your own way, Buckingham cũng mô tả trạng thái cảm xúc trái chiều đan xen. Một mặt, ông muốn gạt người tình cũ ra khỏi cuộc đời mình bằng mọi giá. Mặt khác, ông lại hy vọng người tình tìm được bến bờ hạnh phúc mới. Sự mâu thuẫn, đối lập cảm xúc có thể cảm nhận rõ rệt. Buckingham tạo được đối trọng với Nicks trong một vài ca khúc xuất sắc như thế. Họ biến âm nhạc thành cuốn nhật ký để ghi chép mớ cảm xúc hỗn độn. Do vậy, lời ca luôn ám ảnh, hiện thực với tiết tấu nhịp mạnh mẽ.

Đối với Christine McVie, bà ghi dấu ấn chuyện tình tan vỡ với tác phẩm Little Lies (Lời nói dối vô hại). Ca khúc được Christine McVie sáng tác cùng người chồng sau đó Eddy Quintela. Bài hát ra mắt vào năm 1987 trong album Tango in the night của nhóm.

Theo chia sẻ của Christine McVie, ý tưởng của bài hát là “Nếu tôi có cơ hội, chắc chắn tôi sẽ làm khác đi. Nhưng vì không có, tôi phải tiếp tục lừa dối chính mình mặc dù tôi biết anh ấy sẽ nói dối tôi.” Tuy không rõ ràng, nhưng ca khúc ám chỉ tới mối quan hệ tan vỡ của Christine với người chồng cũ John McVie hoặc với Dennis Wilson. So với Stevie Nicks, mối quan hệ của Christine McVie còn phức tạp chằng chịt gấp bội phần. Bài hát nhanh chóng lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard, trở thành một trong 3 ca khúc phát sóng nhiều nhất trên radio Anh, Mỹ cuối thập niên 1980.

Although I'm not making plans ; I hope that you'll understand there's a reason why ; Close your, close your, close your eyes ; No more broken hearts ; We're better off apart, let's give it a try ; Tell me, tell me, tell me lies.

Mặc dù em không lên kế hoạch gì cả ; Em hy vọng anh sẽ hiểu lý do tại sao ; Hãy nhắm mắt lại, nhắm mắt lại ; Không còn trái tim tan vỡ nào hết ; Chúng ta nên chia tay nhau, hãy thử làm điều đó ; Hãy nói dối em, nói dối em.

Rắc rối của ban nhạc hỗn hợp

Nội bộ nhóm Fleetwood Mac có lẽ phức tạp hơn các ban nhạc khác vì có tới hai thành viên nữ. Hơn thế nữa, Nicks và McVie đảm nhận vai trò nòng cốt trong ban nhạc: sáng tác, chơi nhạc cụ và hát chính. Họ tạo được sự đa dạng, bổ trợ nhau về cảm xúc, màu sắc âm nhạc phong phú. Tuy nhiên, sự phức tạp tính cách cũng dễ lan tỏa sang đời sống cá nhân. Có ý kiến cho rằng giữa Nicks và McVie luôn có sự thù địch và mâu thuẫn. Nhưng cả hai nữ nghệ sỹ đều bác bỏ nghi ngờ trên.

Một điểm chung thú vị giữa Nicks và McVie là họ hết lòng hy sinh cho sự nghiệp mà không có con cái. Nicks từng phá thai khi có bầu với Don Henley, ca sỹ chính nhóm The Eagles khi sự nghiệp solo nở rộ. McVie gặp nhiều sóng gió tình trường nhưng chưa bao giờ có ý định sinh con. Cảm xúc đổ vỡ dồn nén như chiếc lò xo khiến những sáng tác của Nicks và McVie có sức bật mạnh mẽ.

Những bản hit nảy nở từ tình yêu và đổ vỡ của Nicks, McVie, Buckingham là đáp án cho câu hỏi lớn. Tình yêu khó lòng giết chết được ban nhạc như Fleetwood Mac nhưng nó gây ra xáo trộn lâu dài. Cách Fleetwood Mac trở nên vĩ đại chính là nhờ việc chèo lái qua khủng hoảng cá nhân. Họ đã gạt bỏ cái tôi, sự ái kỷ để tìm đến liệu pháp tâm hồn và tài chính mang tên ÂM NHẠC.


viethoaiphuong
#605 Posted : Saturday, July 10, 2021 5:28:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Amélie Poulain - Hạnh phúc là những bình dị không tên

09/07/2021 - Lệ Thu /RFI
Trên hầu hết các nền điện ảnh lớn nhỏ của Thế giới, rất hiếm khi người ta có thể tìm thấy những tác phẩm vừa có tính nghệ thuật cao lại vừa đạt được sự thành công về mặt giải trí. Đôi khi, được cái nọ lại mất cái kia. Nhưng, với “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” thì dường như định nghĩa “phim nghệ thuật” và “phim giải trí” đã hòa vào làm một.

Ngay sau khi ra đời, bộ phim đã được 5 đề cử giải Oscar, đoạt nhiều giải thưởng tại các Liên hoan phim châu Âu và gặt hái thành công lớn tại Pháp vào năm 2002 với hàng loạt giải thưởng César, đồng thời, có doanh thu phòng vé lên tới gần 174 triệu đô la, cao gần gấp 20 lần số vốn ban đầu. Không những thế, tác phẩm Tâm lý hài này còn được tờ Thời báo New York đánh giá là một trong “1.000 bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại”.

Điều gì đã khiến cho đạo diễn kiêm đồng biên kịch của phim, Jean-Pierre Jeunet, lại thành công đến vậy, mặc dù, bộ phim được công chiếu tại Mỹ ngay sau thảm họa 11 tháng 9 năm 2001 và chính Jean-Pierre Jeunet đã phải thốt lên “coi như bộ phim đã chết yểu” trên thị trường phim ảnh lớn nhất thế giới này. Nhưng ngược lại với lo lắng của Jean-Pierre Jeunet, chỉ riêng trên đất Mỹ, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” đã thu về được hơn 30 triệu đô la. Biết đâu, đó lại chính là lúc con người ta cần tới những điều đẹp đẽ, những thứ tưởng như xa vời với thực tại đang đầy biến động và đau khổ, người ta cần một câu chuyện cổ tích.

Paris - thành phố của những chuyện cổ tích

Bộ phim lấy bối cảnh ở Paris, thành phố ấm áp, đẹp mơ màng với ba màu chủ đạo là xanh lá, vàng cam và đỏ chín. Đó là một Paris của những quầy bán báo xinh xẻo, những cửa hàng rau quả tươi rói, những con mèo thích nghe chuyện cổ tích và những người dân hiền lành đáng yêu. Là nơi phép màu ẩn trong từng góc phố và tình yêu ngập trong bầu khí quyển. Là nơi kể câu chuyện về Amélie Poulain, một cô gái làm bồi bàn tại một quán café nhỏ, trong sáng, tốt bụng, với những kế hoạch tuy không lớn lao nhưng lại đem đến những thay đổi to lớn cho mọi người sống quanh cô.

Ngay trong phút đầu tiên, “Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain” mở ra hình ảnh con đường lát đá tưới ánh sáng vàng cam tuyệt đẹp của Paris như cổ tích khiến người ta hình dung ngay lập tức một câu chuyện đẹp với sự chào đời có vẻ đầy ngẫu hứng của Amélie, khi mà những điều tưởng như không ai để ý vẫn đang diễn ra hàng ngày … Đó là tốc độ của một con nhặng đang bay hay một nhà hàng với những chiếc ly đang nhảy múa trên bàn vì gió. Cuộc đời Amélie cũng bắt đầu một cách khác thường bởi điều vô cùng hư cấu, cô bé bị cha cho rằng có bệnh tim, mà thật ra, chỉ vì quá yêu quý cha nên cô đã không thể giữ cho tim mình không nhảy nhót mỗi khi ông kết thúc chuỗi ngày làm việc dài tại bệnh viện để về nhà. Amélie được cha mẹ giữ trong nhà, học tại nhà, không được tiếp xúc nhiều với bên ngoài. Amélie hầu như không có bạn ngoài những người bạn tưởng tượng nào đó và một vài sở thích kì lạ như thọc tay vào túi đậu, dùng thìa gõ vào bánh bọc đường, thích ngắm nhìn gương mặt người khác vào lúc tối trời, chú ý tới các tiểu tiết xung quanh hay ném đá thia lia trên dòng kênh xanh.

Tất cả những chi tiết này được nhà làm phim đưa ra dưới cái nhìn hài hước, chua chát cười ra nước mắt, lại được kể bằng giọng điệu của một người dẫn chuyện khá hùng hồn. Thậm chí, những điều có vẻ tồi tệ đến với tuổi thơ của Amélie, kể cả cái chết của mẹ cô, cũng mang màu sắc trào lộng đậm chất Pháp khiến cho nó trở nên nhẹ nhàng và dễ cảm hơn hẳn. Nó khiến cho khán giả càng thêm tò mò về những thứ sẽ xảy ra sau này với cô gái bé nhỏ có tuổi thơ dữ dội, cuộc sống khép kín và những sở thích khác người kia.

Nàng tiên bé nhỏ

Và rồi, ngày định mệnh đã tới, khi xem bản tin về cái chết của công nương Diana, Amélie vô tình làm rơi nắp lọ kem dưỡng da xuống sàn nhà. Một viên gạch bật ra, để lộ một chiếc hộp “kho báu” được một cậu bé nào đó cất giấu hơn 40 năm trước. Ngỡ ngàng trước phát hiện kỳ diệu ấy, Amélie quyết định tìm và trả lại cho cậu bé - giờ đã là một ông già - kỉ vật quý báu xưa cũ ấy. Bản tính nhút nhát nhưng lại sẵn có trí tưởng tượng phong phú, cô không lộ mặt mà tìm những cách khác nhau để tiếp cận ông. Những giọt nước mắt xúc động của ông Protodeux và cách mà ông gọi người đã mang lại kỉ vật là “Thiên thần hộ mệnh” đã gieo trong lòng Amélie niềm hạnh phúc khôn nguôi. Cô bất thần như hòa nhịp cùng tâm hồn ông già, dấy lên nguyện vọng được cứu giúp cả thế gian. Ngay sau khoảnh khắc ấy, cái cách mà Amélie giúp đưa ông già mù khác qua đường, vừa đi trên phố vừa mô tả phố xá, mô tả mọi người, mọi vật xung quanh như là cách chính cô bắt đầu nhận thức về cuộc sống thật háo hức hăng say.

Bé bỏng, xinh xắn, đôi mắt to tròn vừa ngây thơ vừa đẹp đẽ, Amélie giống như một nàng tiên Tinker Bell bước ra từ cổ tích, luôn sẵn sàng giơ chiếc đũa thần lên để giúp đỡ mọi người, đem điều kỳ diệu tới cho cuộc sống của người khác một cách bí mật. Cô luôn tìm ra những cách kì quái, lạ lùng để đạt được mục đích của mình. Cô khiến cho người xem phải hồi hộp theo dõi, phán đoán cô sẽ làm gì tiếp theo để rồi bật cười thú vị và thật sự “phải lòng” cô không một chút băn khoăn.

Amélie “đánh cắp” thần lùn của cha rồi nhờ một người bạn làm tiếp viên hàng không đưa nó đi khắp nơi, chụp hình gửi về cho cha xem, để giúp cha có động lực thực hiện ước mơ đi du lịch vòng quanh thế giới. Cô giúp cho cô phục vụ trong quán café cùng mình có được tình yêu của một người khách quen. Cô lấy cắp những bức thư cũ của người chồng đã mất của bà dì cùng tòa nhà, chắp ghép nó thành bức thư khác rồi gửi cho bà, làm ra vẻ bức thư bị thất lạc bao năm giờ mới tới tay bà, chỉ để chứng minh ông còn yêu bà mãi đến hơi thở cuối cùng. Cô trừng trị gã chủ tiêm rau chỉ vì gã đã đối xử không ra gì với anh chàng phụ việc tội nghiệp. Cô thu lại tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống trên tivi gửi cho ông họa sĩ già hàng xóm bị bệnh xương thủy tinh và không thể ra ngoài. Tất cả đều xuất phát từ trái tim ấm áp biết yêu của Amélie, để rồi, trên con đường giúp mọi người xung quanh được hạnh phúc, cô, cuối cùng, cũng tìm được hạnh phúc cho mình.

Tình yêu trong chiếc khăn bông mềm mại

Không cần đến những cảnh ân ái hay những nụ hôn cuồng nhiệt để diễn tả một tình yêu mạnh mẽ đầy khao khát trong Amélie. Chỉ là cái cách cô nhìn ngắm Nino - người dường như đã có Duyên với cô từ ngày cả hai còn thơ bé, chỉ là cái cách cô dẫn dắt anh chàng chạy ngược xuôi theo những mũi tên màu xanh, hay chỉ là cái cách cô hôn khẽ lên khóe môi anh, lên mắt anh. Ngay cả lúc Amélie hiểu lầm rằng Nino đã hẹn hò với một người khác thì sự đau đớn, không hiểu sao, cũng có thể ngọt ngào đến thế. Cô định làm bánh nhưng nhà đã hết men nở. Tâm tưởng cô hình dung ngay tới cảnh Nino sẽ đội mưa đi mua men nở cho cô và bí mật mang đến nhà. Tấm rèm lay động. Amélie có thể cảm thấy Nino ngay lúc đó, sau lưng cô. Tiếng piano nhẹ nhàng vang lên, cùng tiếng mưa và chú mèo nhỏ vừa bước qua tấm rèm khiến cho người xem có thể cảm nhận được cả niềm đau và giọt nước mắt của Amélie mặn ngọt đầu môi.

Những điều Amélie cảm nhận thật đẹp. Những rung động của cô thật đẹp. Tình yêu sâu sắc của cô với Nino thật đẹp. Nhưng, nó sẽ không đi tới đâu cả nếu cô giữ nó ở mãi trong lòng, nếu cô, cũng giống như ông họa sĩ già hàng xóm, tiếp tục “ở trong nhà”. Đoạn kết phim như một hồi chuông làm thức tỉnh Amélie, có những điều khiến bạn phải bước ra ngoài để khám phá, để khẳng định mình, để Yêu. “Cháu không bị bệnh xương thủy tinh như ta, nhưng nếu cháu không đuổi theo chàng trai ấy thì trái tim cháu sẽ vỡ vụn như những mẩu xương của ta”. Amélie ngay lập tức tỉnh ngộ. Mơ mộng không có nghĩa là bạn chỉ ở yên trong thế giới riêng của bạn. Mơ mộng là khi bạn thật sự sống với nó và đem nó ra với thế giới, giúp thế giới của bạn đẹp hơn, như bạn đã làm với những người khác.

Bộ phim hấp dẫn khán giả không chỉ ở nhân vật chính mà còn ở tất cả các nhân vật phụ xoay quanh Amélie. Ai cũng lập dị, cũng khác biệt nhưng đều “tốt” theo cách riêng và đem lại màu sắc riêng của họ, hoàn toàn không giống với bất cứ nhân vật nào khác trong một bộ phim nào khác.

Thật khó có thể nói điều gì là đẹp nhất trong “Amélie”. Từ bối cảnh, tới âm nhạc, tới diễn xuất của diễn viên … Có lẽ, cái tuyệt vời chính là cảm giác dễ chịu suốt hai tiếng mà bộ phim mang lại và người xem hoàn toàn không khó để nhận ra rằng “không ngờ mình có thể vui từ những điều giản dị như thế”.



Yann Tiersen - Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain

03/09/2016 - Hoài Dịu / RFI
Ngọt ngào, dịu êm, trong sáng và lãng mạn. Đó là những mỹ từ mà người ta đã trìu mến dành tặng cho dòng suối nhạc tuôn trào từ tâm hồn nhạc sĩ xứ Bretagne,Yann Tiersen. Mặc dù trong khoảng thời gian 1995 -1996, ông đã cho phát hành hai album nhạc không lời khá hay như «La Valse Des Monstres» và « Rue Des Cascades» nhưng tên tuổi Yann Tiersen thực sự được công chúng biết đến nhiều nhất khi đạo diễn Jean-Pierre Jeunet mời ông sáng tác âm nhạc cho bộ phim « Le Fabuleux Destin d'Amélie Poulain» ( tạm dịch là: Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain).

Album nhạc phim «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain» đã thực sự khẳng định tên tuổi Yann Tiersen qua những giải thưởng danh giá như « Victoire de la musique» cho nhạc phim hay nhất, «Word Soudtrack Awards» cho nhạc phim hay nhất của năm và giải Cesar về âm nhạc hay nhất viết cho phim. Hơn 600.000 bản được bán sạch, album đã giữ vị trí quán quân trong nhiều tuần liên tiếp vào năm 2002, cũng như chiếm một lượng thính giả vô cùng đông đảo và rộng khắp.

«Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » mà chúng ta nghe hôm nay, ra đời từ một cuộc gặp gỡ rất tình cờ. Vào một ngày, đạo diễn Jean-Pierre Jeunet nghe thấy giai điệu của Tiersen trên xe ô tô của người phụ tá, lúc ấy Yann Tiersen chưa thực sự có tên tuổi, bị cuốn hút chỉ sau một lần nghe, Jean-Pierre Jeunet đã mời nhạc sĩ hợp tác cho bộ phim cùng tên của mình.

Album bao gồm 20 bài trong đó có hai bản không do Yann Tiersen viết ( đó là « Si tu n’étais pas là» của Fréhel và «Guilty» của Al Bowlly»), số còn lại là những bản nhạc lấy từ những album trước đây của ông và những bản mà ông viết riêng cho bộ phim cùng tên «Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain».

Là người gốc Bretagne, Yann Tiersen được sinh ra ở Brest nhưng trải qua phần lớn tuổi thơ ở Rennes. Nơi đây, do niềm say mê âm nhạc của mình, cha ông đã cho cậu bé Yann theo học violon và piano ở nhạc viện. Yann Tiersen không phải là một học sinh giỏi ở trường phổ thông, nhưng đổi lại Yann rất xuất sắc trong những giờ học nhạc. Luôn đắm mình trong không gian tràn ngập âm nhạc chuyên nghiệp đó, Yann Tiersen không ngừng tự làm phong phú bản thân bằng cách học chơi thêm rất nhiều nhạc cụ khác như: accordéon, clavecin, xylophone...

Hơn nữa ông cũng bắt đầu sáng tác nhạc cho nhiều bộ phim ngắn và những tác phẩm sân khấu. Cuối những năm 1980, do không còn hứng thú với những khuôn mẫu, chuẩn mực hàn lâm, Yann Tiersen từ bỏ nhạc viện để tham gia vào các nhóm nhạc rock, và biểu diễn thường xuyên với tư cách là nghệ sĩ ghita.

Thực ra ngay từ album đầu tay «La Valse Des Monstres», phát hành năm 1995, màu sắc âm nhạc của Yann Tiersen đã có một gu rất riêng. Đó là những mảng âm thanh bay bổng chỉ dành riêng cho nhạc cụ, trong đó có sự ưu ái đặc biệt đối với đàn accordéon và piano. Một thứ âm nhạc tinh tế chắc hẳn là dư vị của những năm tháng theo học nhạc cổ điển tại nhạc viện. Một âm hưởng khác nữa, là những giai điệu dàn trải, đôi chút buồn mang mác, hay những điệu valse êm đềm, trong sáng. Tất cả đã tạo nên một phong cách rất Tiersen. Và album « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » không phải là trường hợp cá biệt.

Hẳn nhiên, chúng ta không thể bỏ qua «La Valse d’Amélie» trong album nhạc phim này, đó là bản nhạc được chính tác giả sáng tác và thể hiện. Giai điệu được chơi trên nền điệu valse, quay đều không dứt, đưa ta vào thế giới trẻ thơ với những vòng đu quay rất đỗi lung linh. Từng âm sắc nối tiếp xuất hiện : tiếng phong cầm vui tươi mở màn điệu nhảy, rồi tiếng chuông thánh thót ngân nga nhường đường cho tiếng kèn melodica, tất cả như chìm đắm vào đêm khiêu vũ thần tiên.

Bản valse trong sáng ấy gắn kết với hình ảnh người thiếu nữ Paris tên là Amelie (nhân vật trong phim). Giai điệu chủ đề được tác giả biến tấu bằng nhiều cách khác nhau. Đó là lý do tại sao có đến bốn bản mang tên «La valse d’Amélie» trong cùng một album. Tuy nhiên mỗi bản được chơi bởi những nhạc cụ không giống nhau, được phối khí khác đi, để phù hợp với từng diễn biến tâm lý của cô gái Amélie và từng bối cảnh trong bộ phim.

Đối với Yann Tiersen , « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain » là đứa con tinh thần mang lại cho ông sự danh giá đáng kể nhưng cũng tạo ra không ít « hiểu lầm» trong con đường sáng tác của mình. Ở Pháp , Yanne Tiersen luôn chỉ được nhắc đến như tác giả của mỗi album nhạc phim « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain». Ông nói « Điều này có thể là do sự không thấu hiểu từ công chúng. Jean-Pierre Jeunet đã chọn rất nhiều bản valse, những bản viết cho đàn accordéon, những thứ ấy đã được phát hành trong đĩa nhạc «Rue Des Cascade» trước đó của tôi».

Đúng là, Tiersen có nhiều tác phẩm khác đa màu sắc và âm hưởng phong phú như album «Le Phare» hay « Sky Line » mang phong cách rock, chứ không chỉ là valse, không chỉ là âm sắc phong cầm mà thôi. Điều đó vô tình làm thu nhỏ hình ảnh những đứa con mà ông đã sản sinh trên chặng đường sáng tác âm nhạc của đời mình. Tiersen nói tiếp « Về mặt tích cực, đó là cơ hội cho phép công chúng khám phá thế giới âm thanh của album "Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain". Điểm không hay ở đây là nó đã đưa ra một cách nhìn sai lầm và coi tôi như một kẻ lười biếng. Đúng là hơi bực mình ».

Nhắc đến Yann Tiersen là nhắc đến những nét nhạc miên man tâm tình, mỗi giai điệu là mỗi cung bậc cảm xúc. Có khi thì âu yếm thủ thỉ, có khi đầy đam mê, dạt dào. Những bản nhạc không lời trong đĩa nhạc phim đó là dấu ấn một thời của cả thế hệ những năm đầu thập niên 2000. Hầu như tất cả các nghệ sỹ nghiệp dư, ai cũng muốn một lần chơi vài điệu nhạc từ bản balade, valse hay «khúc đồng dao» của khu vườn âm thanh « Cuộc đời tuyệt vời của Amélie Poulain ». Những tiêu đề quen thuộc như «Comptine d’Un Autre Eté», «Le Moulin», «La Dispute» và «La Redécouverte» là những minh chứng trường tồn trước thử thách thời gian, cảm xúc luôn hiện hữu dù cho hơn 15 năm đã đi qua.

Yann Tiersen là một người đàn ông điềm đạm nhưng lại là một nghệ sỹ sống rất «vội». Vốn không thích «chờ đợi» lâu, hầu như mỗi năm ông cho ra đời đều đặn một tới hai đĩa nhạc và có nhiều chuyến lưu diễn trong và ngoài nước Pháp. Khá trung thành với nhạc hòa tấu, nhạc không lời, cộng với bản sắc riêng của cá nhân, số lượng gần 17 album mang nhiều phong thái khác nhau trong đó có cả nhạc rock, đủ để có một chân dung sắc nét về Yanne Tiersen: Dịu dàng, trầm lắng nhưng không kém phần dữ dội và đầy phá cách.

viethoaiphuong
#606 Posted : Sunday, July 11, 2021 2:01:33 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Nhạc Pháp : Tình khúc mới khi trời chớm hạ

10/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Trong số các album tiếng Pháp được cho ra mắt đầu mùa hè năm 2021, đáng chú ý hơn cả là tập nhạc mới của Clara Luciani. Ca sĩ người Pháp xuất hiện trở lại với album thứ nhì tràn đầy khát vọng và sức sống, sau khi đoạt danh hiệu Giọng ca nữ xuất sắc nhất nhân kỳ trao giải thưởng âm nhạc Pháp, Victoires de la Musique, đầu năm 2020.

Mang tựa đề vỏn vẹn một chữ là ''Coeur'' (Tâm), album thứ hai của Clara Luciani bao gồm 11 ca khúc mới. Hầu hết các bài hát ở đây đã được sáng tác rồi ghi âm trong thời kỳ nước Pháp bị phong tỏa, vì thế Clara Luciani muốn thổ lộ nhắn nhủ, một cách đơn giản gần gũi nhất những lời nói thiết tha, ấp ủ trong ''Trái Tim'' của mình.

Trong số những ca khúc mới sáng tác cho album thứ hai này, có nhạc phẩm ''Sad & Slow'' (Buồn và Chậm) ghi âm với nam danh ca người Pháp Julien Doré. Đây là lần thứ nhì hai nghệ sĩ trẻ này hợp tác với nhau. Trước đó, đã có bản song ca ''L'île au lendemain'' với giai điệu nhẹ nhàng sâu lắng, từng được phát hành trong album thứ 5 của Julien Doré.

''Xin giữ mãi những nụ hôn cháy bỏng

Hương tình yêu đừng phai nhạt sắc hồng

Trên phím ngà, điệu dương cầm buồn chậm

Cầu mưa rơi mắt sa mạc cay nồng''

Bằng những lời lẽ bóng bẩy mà dịu dàng và tựa đề một chữ đơn giản mà không khô khan, Clara Luciani lại tóm tắt được điều thiết yếu đối với nhiều nghệ sĩ trong thời gian qua. Thay vì là khựng lại đà sáng tạo của họ, thời kỳ phong tỏa vừa qua lại càng làm cho các nghệ sĩ có thêm cảm hứng sáng tác. Trong trường hợp của Clara Luciani, cô muốn kết hợp nội dung ca từ đượm buồn chứ không sầu thảm, với những giai điệu trẻ trung yêu đời (theo phong cách của Claude François, Jackson Five hay là Abba).

Barbara Pravi : Ngôi sao chớm mọc trên vòm trời ca nhạc

Phiên bản tiếng Pháp của nhạc phẩm ''The Winner takes it all'' từng ăn khách trước đây của nhóm Abba tạo dấu gạch nối với giọng ca mới Barbara Pravi. Ban nhạc Thụy Điển Abba đã từng đoạt giải thưởng ca nhạc truyền hình châu Âu Eurovision vào năm 1974 (với ca khúc Waterloo), còn Barbara Pravi đã về nhì cuộc thi này hồi trung tuần tháng 05/2021. Tuy không đoạt giải nhất nhưng màn biểu diễn đầy ấn tượng của nhạc phẩm ''Voilà'' đã tạo cơ hội cho tác giả kiêm ca sĩ trẻ tuổi này gặt hái thêm nhiều thành công ở nước ngoài. Một tháng sau cuộc thi, hiệu ứng Eurovision giúp cho ca khúc tiếng Pháp này được xếp hạng cao trên các nền tảng trực tuyến hay tại các thị trường châu Âu. Một ngôi sao sáng vừa xuất hiện trên vòm trời ca nhạc.

Lịch biểu diễn của Barbara Pravi cũng đã bắt đầu chật kín kể từ mùa thu trở đi với một vòng lưu diễn nước Pháp và các nước châu Âu như Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Thụy Sĩ. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là tập nhạc đầu tay ''hậu Eurovision'' mà cô phải thực hiện cho xong vào mùa hè này. Bởi vì cho tới nay, cô đã ghi âm nhiều đĩa đơn nhưng vẫn chưa có một album phòng thu xứng đáng, cho thấy tài nghệ của Barbara Pravi cả về mặt diễn xuất lẫn sáng tác. Hy vọng rằng tài năng chớm nở của cô sẽ càng rực rỡ khi trời vào hạ.

''Nous'', chưa mất tất cả khi vẫn còn đôi ta

Cũng như cô bạn đồng nghiệp Clara Luciani, Julien Doré đã lập kỷ lục số bán với album mang tựa đề ''Aimée'' phát hành vào mùa thu năm 2020. Sau khi đạt tới mức 3 lần đĩa bạch kim, tập nhạc này vừa được tái bản với nhiều phiên bản hòa âm mới và bài hát bổ sung, nâng số ca khúc ghi âm lên thành 14 thay vì 11 như ban đầu.

Thành danh nhờ đoạt giải nhất chương trình Nouvelle Star vào năm 2007, Julien Doré sau đó đã không ''biến mất'' như nhiều giọng ca khác xuất thân từ các cuộc thi hát truyền hình, mà lại trụ vững nhờ cái tài diễn đạt của anh cũng như lối hát cực trầm nhưng với nhiều giọng gió.

Nhạc phẩm ''Nous'' (Chúng ta) với cách tạo hình ngộ nghĩnh, qua video clip của một phi hành gia đi tắm biển với hai con khủng long T-Rex tí hon, đã chinh phục đông đảo nhiều người nghe. Giai điệu lạc quan yêu đời này hẳn chắc sẽ là một trong những ca khúc thịnh hành vào mùa hè năm nay.


viethoaiphuong
#607 Posted : Thursday, July 15, 2021 10:33:51 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Quốc ca Pháp được phóng tác nhân Thế vận hội Paris 2024

13/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Vài hôm trước lễ Quốc khánh Pháp (14/07), Ủy ban Olympic Paris 2024 lại thông báo chọn sáng tác của nghệ sĩ Pháp Woodkid làm ca khúc chính thức nhân kỳ Thế vận hội mùa hè, tổ chức tại Paris trong 3 năm tới. Trên mạng xã hội, Woodkid đã phổ biến trích đoạn đầu tiên trong phần nhạc nền của đoạn phim video ''Made for Sharing'', mời toàn thế giới cùng đến Pháp chia sẻ kỳ Đại hội thể thao.

Dòng nhạc của Woodkid mang ảnh hưởng của ca sĩ Björk và của nhóm Kraftwerk, đều được xem là tiên phong trong thể loại nhạc điện tử. Lần này, nghệ sĩ trẻ tuổi đã chọn chủ đề bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' rồi chuyển thể giai điệu này thành một khúc nhạc dồn dập hoành tráng, kết hợp âm thanh cổ vũ cao trào với không khí nhiệt tình trên các sân thể thao. Do tác giả Claude Joseph Rouget de Lisle sáng tác vào năm 1792, bài Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' đã có hàng trăm phiên bản phóng tác khác nhau, trong khá nhiều thể loại, kể cả phiên bản cổ điển của diva người Mỹ Jessye Norman nhân kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp, lối chuyển thể sang nhạc jazz của nhạc sĩ Claude Bolling, theo nhạc pop của William Sheller hay điệu reggae của tác giả quá cố Serge Gainsbourg …

Quốc ca Pháp phối theo nhạc điện tử và hòa âm giao hưởng

Nhưng trong trường hợp của Woodkid, có lẽ đây là lần đầu tiên Quốc ca Pháp được chuyển thể thành ca khúc khai mạc Thế vận hội. Được đặt tên là ''Prologue'' (Lời mở đầu), khúc nhạc này đã được ghi âm với Ban hợp ca của Đài phát thanh Radio France và Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia. Dài tổng cộng 12 phút, khúc nhạc được phân chia thành nhiều chương. Theo lời nhạc sĩ Woodkid, giai điệu được gợi cảm hứng từ bản Quốc ca Pháp ''La Marseillaise'' nhưng về cấu trúc lại mô phỏng theo nghệ thuật xếp giấy origami của Nhật Bản, trong cách cô đọng tiết tấu, sắp đặt gọn lại những nốt nhạc mở đầu, để rồi dàn trải triển khai khi được phối với 100 nghệ sĩ trên cùng một sân khấu bao gồm toàn ban đồng ca cũng như dàn nhạc quốc gia. Phiên bản phóng tác mới của ''La Marseillaise'' kết hợp cùng lúc với lối hòa âm điện tử với bộ đàn dây của ban nhạc giao hưởng.

Bên cạnh việc phát hành trích đoạn đầu tiên gồm khoảng 2 phút trên đoạn video minh họa ngắn ''Made for sharing'', khúc nhạc sẽ chính thức được phát sóng tại Tokyo vào thời điểm rước đuốc Thế vận hội đến Paris vào ngày 08/08/2021. Cũng nhân dịp này, Woodkid sẽ tổ chức một buổi biểu diễn miễn phí dành cho công chúng ngay dưới chân tháp Eiffel. Đây có lẽ là dịp để cho nghệ sĩ người Pháp giới thiệu rộng rãi hơn các sáng tác riêng, song song với việc hợp tác với Ủy ban Olympic Paris 2024.

Woodkid sáng tác cho hiệu thời trang Louis Vuitton

Tuy là một nhân vật khá nổi tiếng trong làng truyền thông cũng như ngành thiết kế thời trang, nhưng cho tới giờ Woodkid vẫn chưa hẳn là một gương mặt quen thuộc với công chúng Pháp. Trong lãnh vực thời trang cao cấp, Woodkid đã làm việc chung trong nhiều năm trời với nhà thiết kế Pháp Nicolas Ghesquiere, giám đốc các bộ sưu tập thời trang phái nữ cho Louis Vuitton. Trong gần một thập niên, Woodkid đã tạo dựng không gian âm thanh với sắc thái riêng biệt cho các đợt biểu diễn thời trang hiệu Vuitton trên sân khấu.

Thế nhưng, Woodkid không tự bó mình vào ngành thời trang y phục mà còn mở rộng hợp tác với nhiều nghệ sĩ trong các lãnh vực khác nhau như nhiếp ảnh (JR Jean René), điện ảnh (Robert de Niro) qua bộ phim ''Ellis Island''. Anh cũng từng làm giám đốc nghệ thuật cho ca sĩ Pharrell Williams, nhưng quan hệ hợp tác đem lại nhiều thành quả nhất vẫn là soạn nhạc cho ngành múa ballet đương đại, kể cả đoàn múa New York City Ballet, hay đoàn ballet của Opéra de Paris dưới sự chỉ đạo của Aurélie Dupont.

Năm nay 38 tuổi, Woodkid tên thật là Yoann Lemoine sinh trưởng ở vùng phụ cận thành phố Lyon, trong một gia đình mà bố là chuyên viên thiết kế quảng cáo. Tuy nổi tiếng từ năm 2015 trong lãnh vực soạn nhạc, nhưng thật ra ban đầu anh đeo đuổi ngành điện ảnh (nhất là trong khâu làm phim hoạt hình 3D), sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng thiết kế đồ họa. Sau một thời gian du học tại Mỹ, Woodkid trở về Paris lập nghiệp, anh bắt đầu làm việc từ năm 2004 trong lãnh vực tranh minh họa trước khi được biết đến nhờ tài thực hiện video clip ca nhạc cho nhiều nghệ sĩ tên tuổi Pháp cũng như quốc tế.

Thử nghiệm sáng tác trong nhiều môn nghệ thuật

Cho dù trong thời gian đầu anh không kiếm đủ tiền để trang trải toàn bộ chi phí cuộc sống, nhưng Woodkid vẫn nhận lời làm công tác thiện nguyện, hợp tác với các hiệp hội nhằm gây quỹ chống bệnh Aids. Anh trau dồi tay nghề qua việc thực hiện những bộ phim video ngắn trong các chiến dịch vận động thông tin, nhờ sở trường này mà anh đã đoạt khá nhiều giải thưởng vào năm 2009, nhân kỳ liên hoan quốc tế phim quảng cáo. Tài năng của anh lọt vào mắt giới sản xuất ở Mỹ và cũng từ đó, anh được mời sang làm việc tại các phòng thu ở Los Angeles. Woodkid bắt tay thực hiện nhiều video clip cho các ca sĩ nổi tiếng, trong đó có Katy Perry, Rihanna, Drake hay Lana Del Rey …

Có lẽ cũng như nhiều nghệ sĩ đa tài khác, Woodkid thay vì chọn một hình thức nghệ thuật duy nhất, lại thích thử nghiệm nhiều thể loại và bộ môn khác nhau. Sau khi thành danh nhờ video clip, anh lại chuyển qua hợp tác với làng thiết kế thời trang và kể từ năm 2013, anh chọn con đường sáng tác âm nhạc. Dù vậy, anh vẫn không theo mô hình truyền thống của giới ca sĩ Pháp, mà lại thích kết hợp dòng nhạc mang tính ''thử nghiệm'' của mình với nhiều lãnh vực khác nhau, kể cả thời trang, trò chơi điện tử, video quảng cáo hay là múa ballet đương đại… Một trong những sáng tác đầu tay của anh (Iron) đã từng được dùng trong đợt quảng cáo cho trò chơi video ‘‘Assassin Creed Revelations’’, nhờ vậy album đầu tiên của Woodkid đã lập kỷ lục về số bán với gần một triệu bản.

Hiện giờ, Woodkid đang làm việc trên album phòng thu thứ ba và anh tiến hành cùng lúc nhiều dự án khác nhau, kể cả soạn nhạc cho các bộ phim truyện, tác phẩm sân khấu hay phim quảng cáo. Do từ thời nhỏ anh rất hâm mộ các đạo diễn bậc thầy như Stanley Kubrick và Andrei Tarkovski, nên Woodkid vẫn chưa từ bỏ ý định thực hiện ước mơ của mình : Anh muốn, đến một ngày nào đó, viết trọn một kịch bản rồi bấm máy thực hiện thành phim truyện. Anh hy vọng sẽ làm được điều này trước khi anh quá tuổi. Từ nay tới đó, nghệ sĩ người Pháp vẫn đeo đuổi các dự án thử nghiệm để làm giàu ý tưởng. Việc sáng tác cho Thế vận hội Paris 2024, đối với Woodkid, là một chặng đường đem lại nhiều kinh nghiệm cần thiết trong suốt quá trình sáng tạo.


viethoaiphuong
#608 Posted : Saturday, July 17, 2021 8:31:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Những ca khúc tiếng Pháp “hai số phận”

17/07/2021 - Gia Trình / RFI
Nhạc Pháp thường bị đánh giá thấp hơn giá trị thật. Khi chuyển ngữ sang tiếng Anh, nhiều ca khúc gốc Pháp lại thành công vang dội. Liệu có phải khoác chiếc áo tiếng Anh thay đổi hoàn toàn cục diện ? Tạp chí Âm Nhạc kỳ này điểm lại một số ca khúc nhạc Pháp “hai số phận” như thế.

Charles Aznavour - Tous les visages de l’amour - She - 1974

Ca khúc được Charles Aznavour sáng tác năm 1974. Nhạc sỹ, ca sỹ cũng ghi âm tới bốn phiên bản ngoại ngữ khác nhau Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha. Đây là nỗ lực đáng khen ngợi nhằm quảng bá tác phẩm rộng rãi đến công chúng. Ca từ đẹp, giai điệu lịch lãm là ấn tượng khó phai về bài hát. Charles Aznavour còn gây bất ngờ hơn khi ông giới thiệu một phiên bản tempo nhanh hơn, hào sảng hơn. Ca khúc từng leo lên hạng 1 ở Anh Quốc nhưng lại khá thất thế tại quê nhà và cả bên bờ Đại Tây Dương.

Hai mươi tư năm sau, năm 1998, bài hát xuất hiện trong diện mạo mới, trang nhã không kém, bằng tiếng Anh. Nam nghệ sỹ Elvis Costello đã hát lại ca khúc bằng phiên bản tiếng Anh có tựa đề She (Cô ấy). Bài hát được chọn làm nhạc nền phim tình cảm lãng mạn Notting Hill có siêu sao Julia Roberts thủ vai. Thành công rực rỡ của bộ phim cùng nụ cười tỏa nắng của Julia khiến cho Cô ấy có bước đại nhẩy vọt. Tác phẩm soán ngôi trên bảng xếp hạng âm nhạc khắp châu Âu.

Ca khúc dễ dàng thoát được cái bóng nhạc Pháp 24 năm trước. Rất nhẹ nhàng, nhà sản xuất Trevor Jones giữ được linh hồn của bài hát đậm chất Pháp: tinh tế, hài hòa nhưng không nhạt nhòa. She là ví dụ khiến cho người nghe bất ngờ tìm lại bản gốc tiếng Pháp (Tous les visages de l’amour). Có lẽ nếu ra đời đúng thời điểm và soundtrack nhạc phim Notting Hill, có thể bản gốc tiếng Pháp đã có số phận khác biệt.

She may be the face I can't forget ; The trace of pleasure or regret ; May be my treasure or the price I have to pay ; She may be the song that summer sings ; Maybe the chill that autumn brings ; Maybe a hundred different things ; Within the measure of a day.

Cô ấy có gương mặt khiến tôi không thể nào quên ; Dấu vết của sự hân hoan hay hối tiếc ; Có thể kho báu hay cái giá mà tôi phải trả ; Cô ấy có thể là bản tình ca mùa hè ; Có thể là chút lạnh giá mùa thu ; Hàng trăm thứ khác nhau trong cùng một ngày.

Les Feuilles Mortes - Autumn Leaves - 1946

Quay ngược về thập niên 1940, bản nhạc Les Feuilles Mortes (Những chiếc lá úa) có lẽ chung một số phận. Ca khúc jazz kinh điển được sáng tác bởi Joseph Kosma, nhạc sỹ gốc Hungary. Phần lời tiếng Pháp do Jacques Prévert sáng tác năm 1946. Tiết tấu nhịp chậm rãi, giai điệu man mác khiến bài hát rất cuốn hút với người nghe. Sản phẩm hợp tác giữa Joseph và Jacques được sáng tác giữa lòng kinh đô ánh sáng Paris.

Ca khúc được chọn lồng trong bộ phim Les Portes de la nuit (Gates of the night). Tuy nhiên, mức độ phổ biến của Les Feuilles Mortes vẫn còn hạn chế cho đến tận 5 năm sau. Nhạc sỹ John Mercer chuyển ngữ Les Feuilles Mortes thành bản nhạc tiếng Anh Autumn Leaves. Kỳ lạ thay, sức sống của “Những chiếc lá úa” như được hồi sinh. Hơn một ngàn bản ghi âm khác nhau của Autumn Leaves ra mắt. Các ngôi sao trứ danh như Nat King Cole (1955), Doris Day (1956) và Frank Sinatra (1957) không thể bỏ qua một giai điệu trữ tình sâu lắng đến vậy.

Hơn thế nữa, mãnh lực của Autumn Leaves còn lan sang nhạc không lời. Nghệ sỹ piano Roger Williams đã lần đầu ghi tên bảng xếp hạng âm nhạc nhờ phần piano của Autumn Leaves. Bài hát tiếng Anh gặp đúng thời kỳ jazz bùng nổ ở thập niên 1940-50. Khi chuyển ngữ, ca khúc đã tiếp cận lượng khán giả trên diện rộng hơn. Sự da diết, nồng nàn trong chất tình ca Pháp tìm đường đến thẳng trái tim khán giả.

Claude François - Comme d’habitude - My way - 1967

Nhắc tới Frank Sinatra, khán giả yêu nhạc đều nhớ tới bản nhạc đỉnh cao My Way. Nhưng ít người biết rằng đó là ca khúc gốc tiếng Pháp. Bản nhạc gốc có tên gọi Comme d'habitude được nhạc sỹ Claude François sáng tác vào năm 1967. Ca khúc trở thành hiện tượng vào thời điểm đó khi leo tới hạng 1 tại Pháp. Mặc dù người yêu nhạc khá ưa thích ca khúc trên sóng radio, sức tiêu thụ lại khá chậm, chỉ được 350 nghìn bản trong vài tuần.

Khi đó, danh ca Paul Anka và nhà xuất bản hãng đĩa của Paul là Gilbert Marouani cùng có mặt tại Paris. Họ vô tình nghe ca khúc trên truyền hình và ngay lập tức “phải lòng” bản nhạc. Thỏi nam châm Comme d’habitude đã dẫn tới đề nghị Anh hóa ca khúc. Paul đã viết lời ca khúc tiếng Anh tựa đề My Way. Frank Sinatra có may mắn ghi âm ca khúc và trình làng đúng một năm sau đó, tháng 12 năm 1968. Bản nhạc có độ lan tỏa mạnh mẽ, đưa tên tuổi Frank Sinatra trở nên vô cùng nổi tiếng.

Cần phải lưu ý vai trò rất lớn của Paul Anka. Ông không dịch sát bản gốc mà sáng tạo một cuộc sống mới cho ca khúc. Bản gốc chỉ đề cập tới thói quen của cặp đôi trong mối quan hệ tình cảm. Trái ngược hẳn, bản nhạc tiếng Anh là trải lòng của một người đàn ông từng trải, đối diện với tử thần nhưng không hối tiếc về cuộc đời trải qua. Tuy dựa trên cùng một nền nhạc và cấu trúc ca từ, Comme d’habitude đã có cuộc sống mới khi được chuyển sang tiếng Anh.

Jacques Brel - Ne me quitte pas - If you go away và Le Moribond - Seasons in the sun

Nhạc sỹ người Bỉ Jacques Brel được ví như một tài năng đặc biệt. Những ca khúc u buồn tiếng Pháp của ông là nguồn cảm hứng bất tận cho các ca sỹ. Khi một số bản hit như Ne me quitte pas (If you go away) và Le Moribond (Seasons in the sun) được chuyển ngữ sang tiếng Anh, khán giả gần như quên hẳn bản gốc tiếng Pháp.

Năm 24 tuổi, Jacques Brel chuyển sang sống tại Paris vào năm 1953 sau khi quá chán nản, bế tắc với cuộc sống tại nhà máy sản xuất bìa carton của gia đình ở Bruxelles. Ông bỏ lại người vợ, cả gia đình non trẻ để ký hợp đồng hãng đĩa Philips tại Pháp. Hai ca khúc của ông được biết đến nhiều hơn nhờ hát bằng tiếng Anh. Le Moribond là ca khúc sầu não kể về người đàn ông sắp qua đời. Khi chuyển qua tiếng Anh, Season in the sun (Những mùa đầy nắng), bài hát giũ bỏ màu sắc buồn thảm để thành ca khúc vui nhộn, dí dỏm. Bản gốc “Tôi muốn họ khiêu vũ khi đưa tôi xuống hố” được đổi thành “Chúng tôi vui vẻ, chúng tôi có những mùa đầy nắng”.

Tương tự, bản hit Ne me quitte pas có giai điệu buồn khá ám ảnh, nhưng đã giảm thiểu sức mạnh u buồn trong bản tiếng Anh If you go away. Chính xác hơn phải dịch là “Đừng bỏ anh mà đi”. Nhưng giai điệu buồn ám ảnh của bài hát lại khiến cho hàng loạt ngôi sao tên tuổi muốn ghi dấu ấn riêng như Nana Mouskouri, Frank Sinatra, Barbara Streisand, Glen Campell. Cho dù có nhiều phiên bản cover bằng tiếng Anh, khó ai diễn tả chân thực hơn tác giả sáng tác ra bài hát. Có lẽ Jacques Brel quá nổi tiếng về cảm xúc tuyệt vọng trong những sáng tác thách thức tình yêu và cái chết. Vì thế, khi chuyển sang tiếng Anh, cảm xúc u buồn bị giảm nhẹ tối đa khiến cho bản nhạc “dễ thở” hơn nhiều.

Những bài hát “hai số phận” không chứng minh rằng hát tiếng Anh hấp dẫn hơn hát tiếng Pháp mà chỉ ra rằng sự thành công của một ca khúc cần sự may mắn và tính thời điểm. Ngoài ra, các tác giả chuyển ngữ rất giỏi trong việc gia giảm cảm xúc, ngữ cảnh cho phù hợp với đa số khán giả. Trong âm nhạc, sự phát triển đều có tính kế thừa.

viethoaiphuong
#609 Posted : Saturday, July 24, 2021 8:09:01 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 10,474
Points: 14,580

Thanks: 846 times
Was thanked: 694 time(s) in 692 post(s)

Nhạc Pháp song ca, hương xưa sắc mới

24/07/2021 - Tuấn Thảo / RFI
Chương trình ''Góc vườn Âm nhạc'' của RFI tuần này được dành để nói về các bản song ca tiếng Pháp thịnh hành trong thời gian qua. Để giữ mối liên lạc với giới hâm mộ, nhiều ca sĩ thường hay thực hiện những phiên bản hòa âm khác lạ của những bài hát mà họ hằng yêu thích như trường hợp của Angèle, Louane, Gims, Slimane hay Christine & the Queens...

Thời kỳ phong tỏa cũng đã cho ra đời nhiều dự án ghi âm mới, tiêu biểu nhất là album song ca của tác giả Grand Corps Malade.

Mang tựa đề đơn giản là ''Mesdames'' (hiểu theo nghĩa Quý cô, Quý bà), tập nhạc này là album phòng thu thứ 7 của Fabien Marsaud, nổi tiếng với nghệ danh Grand Corps Malade và là một trong những tác giả Pháp đầu tiên ăn khách nhờ thể loại thơ nói (slam poetry). Được phát hành vào mùa thu năm 2020, tập nhạc này bao gồm 10 ca khúc trong đó, anh đan xen giọng đọc cực trầm của mình với các giọng ca nữ trẻ tuổi đáng chú ý nhất hiện thời.

Tuyển tập song ca của Grand Corps Malade

Album này từng đoạt giải ca khúc xuất sắc nhất, nhân kỳ trao tặng giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique của Pháp đầu năm 2021. Trong số các bản song ca mới, đáng ghi nhận hơn cả là tình khúc ''Mais Je t'aime'' với Camille Lellouche và gần đây hơn nữa là nhạc phẩm ''Derrière le Brouillard'' (Đằng sau lớp sương mù) ghi âm với nữ ca sĩ Louane, thành danh tại Pháp cách đây 7 năm, sau khi tham gia chương trình The Voice phiên bản tiếng Pháp.

"Tiếng mông lung che khuất trời hy vọng ; Lớp sương mù phủ bóng khúc dư âm ; Dù trong tim muôn nghiệt ngã âm thầm ; Thà đứng lên từng bước qua vực thẳm ; Thêm một lần đành hứng chịu bão giông".

Năm nay 44 tuổi, Fabien Marseaud thời còn trẻ đã gặp tai nạn nghiêm trọng, bị chấn thương cột sống năm anh tròn 20 tuổi. Sau nhiều tháng điều trị phục hồi chức năng, anh có thể dùng gậy để đi đứng trở lại, nhưng buộc phải từ bỏ giấc mộng trở thành vận động viên bóng rổ chuyên nghiệp.

Fabien khám phá thể loại thơ nói năm anh 26 tuổi, để rồi trở thành một nghệ sĩ slam nổi tiếng từ năm 2007 trở đi, với nghệ danh Grand Corps Malade, hàm ý một thân xác to lớn nhưng không lành lặn. Bài hát ''Derrière le Brouillard'' mà anh đồng ghi âm với Louane nói về nỗi can đảm cũng như nghị lực để đứng dậy sau nhiều lần bị vấp ngã, điều quan trọng vẫn là thoáng dư âm của niềm hy vọng ''Đằng sau lớp sương mù''...

Bước kế tiếp của Slimane sau tập nhạc song ca với Vitaa

Ca khúc ''Si t'étais là'' (hiểu theo nghĩa Nếu mẹ còn đó) là một ca khúc ăn khách trên album thứ nhì của Louane, phát hành vào năm 2017. Bài hát đã được viết chỉ một thời gian rất ngắn sau khi song thân của cô đều lần lượt qua đời vì bệnh ung thư. Được sáng tác như một lời tâm tình nhắn nhủ với người đã khuất, do bố mẹ của Louane đã ra đi quá sớm để có thể chứng kiến sự thành công của đứa con gái trên đường đời sự nghiệp, và Louane cảm thấy hối tiếc vì đã không thật sự tìm hiểu nỗi khổ của song thân, thời mà cha mẹ cô vẫn còn sống trên đời này.

Dù vậy Louane vẫn chưa đánh mất niềm tin, và nếu như song thân vẫn còn đó, thì có lẽ họ sẽ khuyên con mình nên giữ niềm vui trong cuộc sống. Có lẽ cũng vì thế mà cô chọn ''Joie de Vivre'' (có nghĩa là Sống vui) làm tựa đề album mới (thứ ba) của mình. Còn nhạc phẩm ''Si t'étais là'' do rất cảm động nên trở thành một ca khúc thường được chọn trong các cuộc thi hát. Ban song ca Vitaa & Slimane cũng từng hát lại ca khúc này trên sân khấu sau khi lập kỷ lục số bán trong năm qua với đĩa nhạc Versus, đạt tới mức 6 lần đĩa bạch kim.

Phiên bản 2021 của ca khúc chủ đề nhạc kịch ''Notre Dame de Paris''

Từ song ca đến tam ca, chỉ cần một bước mà thôi. Slimane từng thành danh nhờ về đầu mùa thứ 5 cuộc thi hát The Voice tại Pháp vào giữa năm 2016. Sau khi tham gia khá nhiều dự án ghi âm, nam ca sĩ Slimane lần này xuất hiện trong một ca khúc hợp tác với hai anh em nghệ sĩ nhạc rap Gims và Dadju. Sinh tại Kinhasa, Gims năm nay 35 tuổi từng ăn khách vào đầu năm 2008 khi là thành viên chính của nhóm Sexion d'Assaut. Từ năm 2013 trở đi, Gims hoạt động solo và đã trình làng 4 album phòng thu.

Trên phiên bản bổ sung cho tập nhạc gần đây nhất phát hành trong thời kỳ phong tỏa, vì thế album được đặt tên là ''Le Fléau'' (Tai họa), hai anh em Gims và Dadju đã cùng với Slimane ghi âm lại một bản nhạc từng được công chúng Pháp bình chọn là một trong những tình khúc hay nhất thế kỷ XX. Nhạc phẩm "Belle" (Giai Nhân) là ca khúc chủ đề của vở nhạc kịch ''Nhà thờ Đức Bà Paris''. Hơn hai thập niên sau ngày ra đời, ca khúc này nay lại được phát hành với một phiên bản hòa âm hương xưa sắc mới.

Trước hoàn cảnh khó khăn ràng buộc, cảm hứng sáng tạo lại sinh ra nhiều thành quả, có thể giải tỏa nỗi đau, cho bao vị đắng thăng hoa thành giai điệu ngọt ngào.


Users browsing this topic
Guest (2)
31 Pages«<293031
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.