Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

24 Pages«<222324
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#461 Posted : Saturday, April 4, 2020 8:25:53 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Vivaldi và mùa xuân vĩnh hằng

RFI/Tiếng Việt - Hoài Dịu : 04/04/2020
Giữa bể cả thơ nhạc thênh thang, có cuộc gặp gỡ xúc cảm tưởng chừng như tình cờ đã để lại cho chúng ta một kiệt phẩm mà giá trị nghệ thuật của nó vẫn giữ trọn màu tươi tắn như vừa mới chào đời, đó là Tổ Khúc Bốn Mùa của nhà soạn nhạc, nghệ sĩ violon người Ý Antonio Lucio Vivaldi, tính đến nay có tới hơn 1000 phiên bản trình tấu và được biểu diễn nhiều nhất hành tinh.

Bốn Mùa và Vivaldi đã đi vào lịch sử âm nhạc như một biểu tượng chuẩn mực của trường phái baroque. Ông Karol Beffa, nhà lý luận và nhà soạn nhạc đánh giá « Đó là thứ âm nhạc có sự tương phản mạnh mẽ về tính kịch : giữa những sắc thái forte (mạnh) và piano (nhẹ), giữa những đoạn tutti lúc mà cả dàn nhạc cùng chơi và những đoạn chỉ có một nhóm nhạc cụ hay một cây đàn độc tấu… Sự đối lập nhau này chính là trái tim của âm nhạc baroque ».

Vivaldi, một nhà soạn nhạc thành công rực rỡ đặc biệt ở thể loại concerto (một thể loại âm nhạc viết cho nhạc cụ độc tấu cùng dàn nhạc) người đã làm hậu thế kinh ngạc trước một di sản đồ sộ : trong hơn 1000 tác phẩm có 450 bản concerto có tiêu đề và không tiêu đề. Khi mà violon được coi là niềm kiêu hãnh của nước Ý thời bấy giờ, thì sự ra đời của 12 bản concerto cho violon opus số 8 là điều rất dễ giải thích.

Bốn Mùa nằm trong số 12 concerto tinh hoa, mở đầu với lời tựa « sự thử thách giữa hòa thanh và khám phá » trình diễn bởi violon 1, (bè violon chơi ở âm vực cao nhất), violon 2, viola, phần basse continuo (bè basse trình diễn theo số hiệu của hợp âm, hòa thanh) được chơi bằng violoncelle, contrebasse và clavecin.

Tác phẩm xuất bản năm 1725 và thực sự nổi tiếng khắp Châu Âu vào đầu 1728. Tổ khúc bao gồm bốn bản concerto, mỗi bản có tiêu đề thứ tự theo vòng quay của đất trời: concerto số 1 mang tên Mùa Xuân, tiếp theo Mùa Hạ, qua Mùa Thu và kết thúc vào Mùa Đông. Điều khiến người nghe nhạc thích thú ở đây là Vivaldi đã đưa vào từng bản nhạc một cách khéo léo những đoạn sonnet (1 thể loại thơ) để miêu tả. Cụ thể hơn, có đoạn ông đã ghi những chi tiết tương ứng với lời thơ để giải thích ngay trên bản nhạc (vd :chỗ nào là tiếng chó sủa, tiếng chim cu , tiếng gà gáy…)

Trong tạp chí âm nhạc tuần này, tôi xin chỉ mạn bàn về bản concerto số 1 Mùa Xuân, là bản nhạc mở đầu của tổ khúc, mở đầu một vòng luân hoàn của vũ trụ.

Này đây mùa xuân, lũ chim vui tươi mời gọi

Những dòng suối, quyện vào hơi thở nhẹ tênh của làn gió mát

Chảy trong tiếng thì thầm dịu dàng

Ý thơ thật tươi rói, quyện hòa vào nhịp điệu tràn trề nhựa sống, khiến ai không thể chối bỏ cảm giác rạo rực, hưng phấn khi chúa xuân về. Mùa Xuân được chia thành ba chương, mỗi chương tương ứng với một đoạn sonnet do chính Vivaldi tự ứng tác.

Chương 1 (Allegro, giọng Mi trưởng) Giai điệu chủ đạo đôi khi bừng sáng ở cây violon độc tấu, lúc lại dạt dào cùng toàn bộ dàn nhạc. Nếu tinh ý, ta thoảng nghe đâu đó những tia chớp lóe sáng được khắc họa bằng tiếng đàn violon độc tấu hay tiếng sấm ầm ì từ bè contrebasse.

Chương 2 (Largo, giọng Đô thăng thứ), minh họa khổ thơ 3 câu, xuất hiện violon độc tấu, mô tả đàn cừu say ngủ, trong khi viola hóa thân làm tiếng chó sủa văng vẳng đâu đây.

Chương 3 (dana pastorale) viết theo âm hưởng đồng quê, trở lại với tốc độ nhanh.

Quả là bậc thầy khi Vivaldi có thể hòa tan hoàn toàn nét cọ của mình vào thế giới âm thanh, ở đây là đàn dây (violon, viola, violoncel, contrebasse). Trong đó phần độc tấu đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với Vivaldi. Bởi lẽ ông vốn dĩ là một tay chơi violon điêu luyện, mặt khác âm sắc của nó chính là tông màu chủ đạo trong bức họa mang tên Mùa Xuân.

Hãy cùng nghe tiếng chim líu ríu cùng nhau, qua kỹ thuật sử dụng các nốt lặp lại, trille (chơi xen kẽ hai nốt kề nhau với tốc độ nhanh, hay còn gọi là láy) và mordant (âm vỗ)... Làm sao có thể tin rằng, ta có thể cảm nhận ngay cả sự chuyển mình của cơn dông đang về, nhờ vào hàng chuỗi hợp âm rải dồn đuổi. Dàn nhạc và phần độc tấu lúc thì chơi xen kẽ, thoạt lại lắng im như thể đang đối thoại với vạn vật và không gian. Tất cả cùng tạo nên một bức tranh đắp nổi sinh động và chân thật.

Những nghệ sĩ chơi violon chuyên nghiệp không ai không muốn thử sức mình một lần với bản concerto Mùa Xuân và tổ khúc Bốn Mùa nói chung. Có hàng trăm bản ghi âm tác phẩm này nhưng tôi thực sự bị cuốn hút trước lối trình diễn ngẫu hứng từ nghệ sĩ Nigel Kenedy (người Anh), hơn nữa bởi lối chơi đôi khi bông đùa và phong cách khoáng đạt của anh.

Cũng có thể, nhiều người khác lại thích hơn sắc thái đậm chất Ý của dàn nhạc thính phòng mang tên Il Giardino Armonico. Bản thu âm của họ đã từng được France Musique đánh giá là một trong những sản phẩm hay nhất kể từ 25 năm trở lại đây.

Mùa tái sinh của sự sống dần gõ cửa, xuân sẽ tràn đầy khắp nẻo, muôn mặt trong hồn người, hồn trời đất. Âm nhạc, hội họa, thơ ca hay gì đi nữa cũng không nằm ngoài vòng quay của vũ trụ. Mùa xuân trước lùi xa, để lại xuất hiện rực rỡ hơn ,tươi mới hơn, và cũng như vậy Mùa Xuân của Vivaldi ngày nay và về sau luôn được diễn tấu ở nhiều sắc thái độc đáo, phong cách mang tính khám phá nhiều hơn. Đó là giá trị không đổi của sự phát triển nghệ thuật bền vững và vĩnh hằng.

viethoaiphuong
#462 Posted : Saturday, April 11, 2020 12:53:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Covid-19 : Các bảo tàng Mỹ đồng loạt sa thải nhân viên



Tuấn Thảo - RFI - 10/04/2020
Tại Hoa Kỳ, đại đa số các viện bảo tàng đều đã phải đóng cửa trước đà lây lan của virus corona. Giới nhân viên tại các bảo tàng là những nạn nhân, cũng như hàng triệu người lao động trong nhiều ngành nghề khác đang bị mất việc. Tính trung bình, các viện bảo tàng Mỹ bị thất thu khoảng 33 triệu đô la cho mỗi ngày đóng cửa.


Kể từ cuối tháng 3, Viện Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại MoMA ở thành phố New York đã chấm dứt tất cả các hợp đồng của các nhân viên giáo dục có quy chế độc lập. Theo tạp chí chuyên đề Hyperallergic, ban giám đốc MoMA đã thông báo qua email rằng biện pháp sa thải này là hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng chưa từng có do đại dịch Covid-19. Tuy Viện bảo tàng MoMA đã tạm thời đóng cửa kể từ ngày 12/03, nhưng đa số các nhân viên vẫn tiếp tục làm việc, họ phụ trách việc nhận đăng ký qua email hay điện thoại và lên chương trình hướng dẫn tham quan cho những tháng tới. Tuy nhiên, các nhân viên này sẽ không được trả lương sau ngày 30/03, và sẽ không nhận được bất kỳ khoản thanh toán nào khác do mọi cam kết hợp đồng trong tương lai đều bị hủy bỏ.

Cũng tại New York, Bảo tàng Mới về Nghệ thuật Đương đại (New Museum of Contemporary Art) kể từ khi phải đóng cửa, đã sa thải gần 1/3 số nhân viên (48 trong tổng số 150), chủ yếu là các nhân viên có hợp đồng ngắn hạn hay bán thời gian. Theo ban quản lý, các nhân viên này vẫn được trả lương cho đến ngày 15/04, và bảo tàng hy vọng sẽ tuyển dụng lại các nhân viên cũ khi điều kiện cho phép. Về phần mình, ông Adam Weinberg, giám đốc Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Whitney ở New York cũng vừa thông báo sa thải 76 người, tức hơn một nửa số nhân viên.

Tình hình của các viện bảo tàng có uy tín tại các bang khác ở Mỹ cũng không sáng sủa gì hơn, nhất là các cơ sở không có nhiều ngân quỹ hoạt động và lệ thuộc khá nhiều vào việc bán vé cũng như các nguồn doanh thu đến từ việc bán hàng cho khách tham quan. Vào cuối tháng 3, bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Massachusetts (MASS MoCA) tuyên bố sa thải 120 trong số 165 người, tức là 3/4 số nhân viên ở tất cả các bộ phận. Đa phần các nhân viên ở đây làm việc tại quầy bán vé, nhân viên bán hàng quầy lưu niệm, nhân viên thính phòng dành cho các buổi hòa nhạc. Bảo tàng này buộc phải cắt giảm mạnh các chi phí hoạt động, do ngân sách tương đối khiêm tốn, khoảng 14 triệu đô la trong một năm.

Tương tự, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Los Angeles (MOCA) với ngân sách hoạt động hàng năm là 20 triệu đô la, ngoài việc sa thải 97 nhân viên bán thời gian, còn yêu cầu các nhân viên có hợp đồng dài hạn, lấy ngày nghỉ phép hay nếu có thể làm việc ở nhà, nhưng trước mắt, họ chỉ được trả một phần lương tháng Tư. Viện bảo tàng Hammer tại Westwood cũng đã sa thải 150 sinh viên làm việc bán thời gian, chủ yếu là nhân viên phòng lễ tân, quầy bán vé và phòng triễn lãm. Cả hai bảo tàng này ở Los Angeles đều không nhận được sự hậu thuẫn tài chính của mạnh thường quân hay là trường đại học danh tiếng.


Dịch Covid-19 khiến cho tương lai của nhiều viện bảo tàng Mỹ càng trở nên bấp bênh, nhất là các cơ sở chủ yếu hoạt động nhờ nguồn vốn tư nhân hay nhờ chương trình quyên góp từ các nhà hảo tâm. Đó là trường hợp của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại San Francisco, Viện bảo tàng Nghệ thuật Cleveland cũng như Bảo tàng Nghệ thuật Carnegie ở thành phố Pittsburgh, do bị virus corona ảnh hưởng nặng nề, cho nên đều đang buộc phải sa thải nhân viên.

Hiện giờ, chỉ có những bảo tàng ‘‘giàu nhất’’ mới có đủ sức chịu đựng làn sóng chấn động của dịch Covid-19. Đó là trường hợp của Viện bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York : Ban quản lý dự trù lấy tiền từ quỹ tài trợ để trả lương cho nhân viên. Bảo tàng Metropolitan có nguy cơ bị thâm hụt ngân sách 100 triệu đô la trong những tháng tới, nhưng cũng nhưMoMA, Metropolitan không ngại ‘‘phá sản’’ sau mùa dịch do ngân sách tài trợ của hai bảo tàng này lên đến cả tỷ đô la.

Tuy nhiên, theo ban giám đốc Metropolitan, phải mất nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm trời để viện bảo tàng này tìm lại ngân sách và mức hoạt động bình thường. Ngay cả các viện bảo tàng ‘‘giàu nhất’’ nước Mỹ cũng không có đủ ‘‘tiền mặt’’ để trả lương cho toàn bộ nhân viên trong suốt mùa dịch.

Trước tình trạng khó khăn ấy, nhiều hiệp hội và cơ sở văn hóa đã lên tiếng kêu gọi sự can thiệp của chính quyền liên bang. Một cách cụ thể, các viện bảo tàng hy vọng chính quyền liên bang sẽ tăng ngân sách đóng góp và như vậy giúp cho các bang có thêm luồng dưỡng khí để không khỏi ‘‘chết ngạt’’.

Theo bà Laura L. Lott, giám đốc Liên hiệp các Bảo tàng Mỹ (American Alliance of Museums), các viện bảo tàng ở Hoa Kỳ hiện nay mất ít nhất 33 triệu đô la mỗi ngày, việc đóng cửa đã tác động trực tiếp đến cả trăm ngàn nhân viên trong ngành, kể cả các chuyên gia giám tuyển, thiết kế triển lãm, nhân viên hướng dẫn cũng như an ninh, chuyên viên tiếp khách tham quan, vì theo Cơ quan Liên bang IMLS, nước Mỹ hiện có khoảng 35.000 bảo tàng lớn nhỏ trên khắp lãnh thổ.

viethoaiphuong
#463 Posted : Thursday, April 16, 2020 6:14:05 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Bảo tàng, nhà hát, rap chiếu phim : ngày mở lại vẫn còn xa

Tuấn Thảo - RFI - 16/04/2020
Thư viện, nhà hát, bảo tàng, phòng triển lãm hay rạp chiếu phim : các cơ sở văn hóa là những nơi đầu tiên đã phải đóng cửa từ khi dịch Covid-19 bùng phát. Tại Pháp cũng như tại các nước Âu Mỹ, các ban quản lý lo ngại rằng các tụ điểm văn hóa chỉ có thể hoạt động bình thường trở lại sớm lắm là vào năm tới.

Trong bài phát biểu tối 13/04/2020, Tổng thống Macron cho biết là lệnh phong tỏa sẽ được dỡ bỏ kể từ ngày 11/05, nhưng các quán bar, nhà hàng, khách sạn, bảo tàng, thư viện, rạp chiếu phim, phòng biểu diễn, sân vận động hay hội trường sẽ vẫn phải tiếp tục đóng cửa. Các liên hoan văn hóa cũng không thể diễn ra ít nhất là cho đến mùa hè, do lệnh cấm "tụ tập" được kéo dài ít nhất là đến tháng 07/2020.

Ngay sau khi có thông báo chính thức, hầu hết các liên hoan lớn ở Pháp đã lần lượt hủy bỏ chương trình. Sau Mùa Xuân thành phố Bourges, đến phiên các liên hoan nổi tiếng khác diễn ra vào mùa hè như liên hoan Avignon (dự trù diễn ra từ ngày 03/07 đến 23/07), Francofolies La Rochelle, Chorégies d’Orange, Eurockéennes Belfort, Nuits de Fourvière, Jazz à Vienne đều đành phải hẹn gặp lại công chúng năm sau.

Trước mắt, chỉ có Liên hoan điện ảnh quốc tế Cannes và liên hoan nghệ thuật múa ở Montpellier Danse, vẫn muốn duy trì sinh hoạt bằng cách dời lại chương trình sang mùa thu, cuối tháng 9 đầu tháng 10. Liên hoan phim hoạt hình Annecy sẽ diễn ra vào trung tuần tháng 06/2020 nhưng chỉ được tổ chức trực tuyến.

Còn đối với các cở sở văn hóa khác như nhà thờ, bảo tàng, thư viện, phòng hòa nhạc, rạp xinê, nhà hát …. ngày mở cửa trở lại càng xa vời hơn. Theo Bộ Văn hóa Pháp, từng trường hợp sẽ được xem xét và có nhiều khả năng mở lại các cơ sở văn hóa tùy theo tầm cỡ cũng như cách tổ chức.

Một cách cụ thể, việc mở lại Viện bảo tàng Louvre đón tiếp mỗi ngày hàng trăm ngàn khách tham quan đòi hỏi rất nhiều quy tắc cũng như các biện pháp giữ khoảng cách an toàn, tức không dễ so với một cơ sở nhỏ như Bảo tàng Gustave Moreau, chỉ đón tiếp mỗi ngày hàng trăm du khách.

Trước mắt các biện pháp ‘‘cách ly xã hội’’, tránh để cho công chúng đứng hay ngồi quá gần nhau sẽ vẫn được áp dụng cho dù lệnh phong tỏa được dỡ bỏ, điều đó có nghĩa là các viện bảo tàng mở cửa trở lại dễ dàng hơn so với các rạp chiếu phim hay nhà hát. Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đại học Harvard, được tạp chí khoa học Science công bố hôm 14/04, các biện pháp ‘‘cách ly xã hội’’ nên tiếp tục được áp dụng (tại Hoa Kỳ) cho tới năm sau, nhẩt là vào mùa đông.

Tại châu Âu, chưa có quốc gia nào dám tuyên bố về thời điểm cụ thể về việc mở lại các cơ sở văn hóa. Tại Ý cũng như tại Tây Ban Nha, kịch bản dỡ bỏ lệnh phong tỏa sẽ được tiến hành từng bước và các biện pháp ‘‘cách ly xã hội’’ được đề nghị áp dụng tại tất cả các nơi công cộng, kể cả các bãi biển hay các trạm nghỉ mát.

Hiện tại, thủ đô Roma đã quyết định mở cửa trở lại các hiệu sách, nhưng phần lớn đều phải tôn trọng việc giữ khoảng cách và như vậy hạn chế rất nhiều số khách hàng có mặt cùng lúc trong cửa tiệm. Dĩ nhiên, các biện pháp này chỉ liên quan đến các cửa hàng nhỏ, chứ nước Ý chưa thể mở lại nhà hát La Scala ở Milano, bảo tàng Uffizi ở Firenze (Florence) hoặc di tích phố cổ Pompei.

Về phần Đan Mạch, quốc gia này đã quyết định đình chỉ các sự kiện văn hóa cho đến cuối tháng 08/2020 và Vương quốc Anh chuẩn bị bước vào một mùa hè không có liên hoan hay lễ hội. Hai nước Áo và Đức vốn có truyền thống tổ chức nhiều liên hoan lớn nhân dịp hè, cũng chưa chắc gì duy trì các sự kiện lớn, vào lúc quyền tụ tập đông đảo vẫn chưa hoàn toàn được phục hồi. Về việc mở lại các cơ sở văn hóa, cho tới giờ này Berlin và Vienna vẫn chưa có kế hoạch rõ ràng.

Ngay cả tại Đức, nơi dịch Covid-19 có tác động tương đối nhẹ, giới chuyên gia cũng không mừng vội và giữ thái độ thận trọng dè chừng. Theo ông Gerald Haug, chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Leopoldina, các phòng hòa nhạc, các sân vận động cũng như nhiều địa điểm công cộng khác, có thể sẽ phải tiếp tục đóng cửa ít nhất trong vòng 6 tháng, lâu nhất là 18 tháng.

Nhiều người có thể giữ lạc quan, nhưng các chuyên gia vẫn phải dự phóng một kịch bản dài hạn, tức là cho tới mùa tựu trường năm tới. Các sự kiện càng tụ tập đông đảo người tham gia như các trận bóng đá trên sân vận động, càng khó diễn ra, sớm lắm là vào tháng 09/2021.

Bác sĩ Zeke Emanuel, chuyên gia cố vấn tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ (National Institute of Health), có cùng quan điểm. Trả lời phỏng vấn báo New York Times, ông ước tính rằng các hội chợ, liên hoan, các buổi hòa nhạc hoặc thi đấu thể thao với một lượng khán giả lớn khó thể nào diễn ra trong năm nay, và các sinh hoạt văn hóa thể thao có thể trở lại mức bình thường sớm nhất là vào mùa thu năm 2021.

Cuối cùng, có nhiều khả năng dịch Covid-19 gây nhiều tác động tâm lý đến mức thay đổi cung cách và thói quen tiêu dùng các sản phẩm văn hóa cũng như cách tổ chức các sinh hoạt giải trí dành cho công chúng.

Theo một cuộc thăm dò ý kiến gần đây của mạng thông tin Performance Research, 44% số người Mỹ cho biết trong tương lai họ ít muốn tham dự các sự kiện lớn. 49% người Mỹ khá bi quan cho biết là trong nhiều tháng tới họ sẽ không trở lại các rạp để xem phim.

Viễn cảnh này đang khiến làng phim Hollywood đau đầu và buộc ngành kỹ nghệ điện ảnh nói riêng cũng như ngành văn hóa nói chung ngay từ bây giờ phải tìm các biện pháp ứng phó để thích nghi với thời kỳ hậu phong tỏa.

viethoaiphuong
#464 Posted : Friday, April 17, 2020 3:14:58 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Nam danh ca Pháp Christophe qua đời


Thanh Phương - RFI - 17/04/2020
Nam danh ca Pháp Christophe, tác giả của những ca khúc bất hủ « Aline » hay « Les mots bleus » vừa qua đời đêm qua, 16/04/2020, thọ 74 tuổi, theo thông báo của gia đình với hãng tin AFP. Bà Véronique Bevilacqua, vợ của Christophe, cho biết ông qua đời vì bệnh khí thủng ( emphysème ) một căn bệnh về phổi.

Ngay khi có tin Christophe phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch, giới nghệ sĩ ở Pháp đã bày tỏ xúc động, chúc ông chóng bình phục, trong đó có Michel Ponareff, một trong những nam danh ca cùng thời yéyé với ông.

Mặc dù các bác sĩ đã tận tình cứu chữa, những lời chúc đã không trở thành hiện thực. Christophe đã không đủ sức để chống chọi với cơn bạo bệnh.

Sinh năm 1945, Christophe, tên thật là Daniel Bevilacqua, xuất thân từ một gia đình người Ý nhập cư vào Pháp. Nổi danh từ thập niên 1960, Christophe đã nhanh chóng thoát ra khỏi hình ảnh của một thần tượng thời sixties, để đi theo con đường âm nhạc của riêng ông.

Mê điện ảnh, mê sưu tập dĩa, chuyên sống về đêm, Christophe còn nổi tiếng là một nghệ sĩ rất cầu toàn và cũng cởi mở với những xu hướng nghệ thuật mới, luôn luôn canh tân âm nhạc của ông. Nhạc của Christophe cho tới nay vẫn không bị lỗi thời, bằng chứng là hai album mới nhất của ông ra năm ngoái, "Christophe, etc", vol 1 và vol 2, đã được công chúng tán thưởng nồng nhiệt, nhất là vì trong đó Christophe song ca với các ca sĩ đủ mọi thế hệ để trình bày lại các ca khúc tiêu biểu của ông.

Trước khi bệnh trở nặng phải nhập viện, dù đã ở tuổi 74, Christophe đã dự kiến tiếp tục lưu diễn tại Pháp, nhưng do tình hình dịch Covid-19, ông đã phải dời lại các buổi biểu diễn.

Nhạc sĩ Jean-Michel Jarre, người viết lời hai ca khúc « Les Mots Bleus » et « Paradis Perdus » cho Christophe, ca ngợi ông là « một trong những ca sĩ lớn nhất của Pháp. Đối với Jean-Michel Jarrre, Christophe còn hơn là một nhạc sĩ, mà là một người thợ may của âm nhạc. Đó là một nhân vật có một không hai »

Trên mạng Twitter, bộ trưởng Văn Hóa Pháp Franck Riester viết : « Với sự ra đi của Christophe, âm nhạc Pháp mất đi một phần tâm hồn của mình»
viethoaiphuong
#465 Posted : Saturday, April 18, 2020 12:53:10 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Christophe, một người nghệ sĩ cầu toàn

Thanh Phương - RFI - 17/04/2020
Sinh năm 1945, Christophe, tên thật là Daniel Bevilacqua, xuất thân từ một gia đình người Ý nhập cư vào Pháp. Từ nhỏ ông đã say mê âm nhạc, từ nhạc Pháp, nhạc blues cho đến nhạc rock, đến mức bỏ cả chuyện học hành. Ông học guitare và harmonica, rồi khởi đầu sự nghiệp ca nhạc với nhóm « Danny Baby et les Hooligans ». Sau đó, Christophe tách ra hát riêng và đã nhanh chóng khẳng định tên tuổi trong làng nhạc Pháp.

Ca khúc nổi tiếng thế giới « Aline » của ông, ra mắt khán giả vào năm 1965, đã bán được đến một triệu bản ở Pháp và Bỉ, thậm chí vào năm 1966 đã có lúc đứng đầu bảng ở Israel! Christophe kể lại rằng ông đã viết nên bài hát này trên chiếc guitare chỉ trong vòng 15 phút khi đến ăn trưa ở nhà người bà. Ca khúc này ban đầu được sáng tác theo thể loại nhạc blues của Mỹ ( mà thuở nhỏ Christophe rất mê ), nhưng sau đó khi thâu vào dĩa được hòa âm lại thành một giai điệu mang tính pop hơn.

Nhưng Aline là cô gái nào mà Christophe kêu gào say đắm như vậy ? Mãi cho đến gần đây, Christophe mới tiết lộ đó chính là một cô gái Ba Lan có tên Aline Natanovitch, trợ lý của ông nha sĩ mà Christophe đến chữa răng. Chắc là cô này có nét đẹp quyến rũ đến mức làm xao xuyến tâm hồn của nhà ca sĩ trẻ. Nhưng theo lời kể của Christophe, sau một đêm mưa bão, Aline đã mất hút, không thấy trở lại nữa. Thành ra, bài hát Aline mới bắt đầu bằng câu: “ J’avais dessiné, sur le sable. Son doux visage qui me sourait. Puis il a plu sur cette plage. Dans cet orage, elle a disparu. Et j’ai crié, crié : « Aline » pour qu’elle revient. Et j’ai pleurré, pleuré, oh ! j’avais trop de peine »

Tiếp theo « Aline » là một loạt những thành công khác đưa tên tuổi Christophe lên ngang hàng với những nam danh ca thời ấy : « Les Marionnettes », « Oh mon Amour », « Main dans la main », « Belle »...

Một trong những album đánh đấu sự nghiệp âm nhạc của Christophe đó là « Les mots bleus », ra mắt công chúng năm 1974, mà trong đó ông nhờ nhạc sĩ Jean-Michel Jarre viết lời như đã từng viết lời cho album trước đó của Christophe “ Les paradis perdus”. Ca khúc “Les mots bleus” diễn tả nỗi lòng của một chàng trai quá rụt rè để tỏ tình bằng lời, mà chỉ có thể nói yêu nàng “bằng ánh mắt”

Christophe là một ca nhạc sĩ rất cầu toàn, mỗi album mà ông cho ra mắt công chúng đều được ông trao chuốt cho đến khi nào thật hoàn hảo theo ý của ông.

Trong album studio thứ 15 mang tên “Les Vestiges du Chaos” mới trình làng đầu tháng 4/2016, Christophe đã đưa vào đó những thể nghiệm mới về âm thanh, vẫn với niềm say mê âm nhạc vẫn không phai dù lúc đó ông đã bước vào tuổi 70. Christophe đã từng thổ lộ: “ Tôi vẫn sáng tác với cùng một triết lý như hồi tôi còn 15 tuổi, vẫn không có gì thay đổi, ngoại trừ công nghệ… »

Có thể nói « Les Vestiges du Chaos » là thành quả của 50 ca nhạc của Christophe, một tác phẩm mà ông đã dành ra đến 7 năm trời để thực hiện và đã được công chúng sốt ruột chờ đợi.

Thật ra, đối với Christophe, ca từ không quan trọng bằng tiếng nhạc, nói nôm na là cứ để tiếng nhạc đi trước, tự khắc lời ca sẽ theo sau. Với « Les Vestiges du Chaos », Christophe đưa chúng ta vào một thế giới đầy màu sắc của âm thanh, qua 13 ca khúc với các thể loại nhạc từ blues cho đến nhạc électro-rock, mà trong đó ông sử dụng rất nhiều giai điệu nhạc điện tử, với sự tham gia của những nhạc sĩ tên tuổi trong lĩnh vực này, chẳng hạn như bài « Dangereuse », với phần đệm nhạc của Jean-Michel Jarre.

Tuy Christophe tuổi đã cao nhưng album “ Les Vestiges du Chaos” lại rất « hiện đại » và vẫn thích hợp cho mọi lứa tuổi. Trong album mới, Christophe đã dành ra một bài hát tựa đề « Lou », để tưởng niệm Lou Reed, nam danh ca Mỹ, tác giả của những ca khúc nổi tiếng như "Walk on the wild side", vừa qua đời cách đây 3 năm.

Là một nghệ sĩ rất cầu toàn, Christophe cũng rất cởi mở với những xu hướng nghệ thuật mới, luôn luôn canh tân âm nhạc của ông. Nhạc của Christophe cho tới nay vẫn không bị lỗi thời, bằng chứng là hai album mới nhất của ông ra năm ngoái, "Christophe, etc", vol 1 và vol 2, đã được công chúng tán thưởng nồng nhiệt, nhất là vì trong đó Christophe song ca với các ca sĩ đủ mọi thế hệ để trình bày lại các ca khúc tiêu biểu của ông.
viethoaiphuong
#466 Posted : Wednesday, April 22, 2020 5:34:54 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Covid-19 : phim "video theo yêu cầu" đắt khách tại Pháp

Tuấn Thảo - RFI - 21/04/2020
Kể từ khi có lệnh phong tỏa, thú xem phim ở nhà đã thay thế cho việc đi xem phim ở rạp. Chưa bao giờ, các mạng chiếu phim ‘‘video theo yêu cầu’’ lại thu hút đông đảo khán giả như lúc này. Bên cạnh các mạng Netflix, Amazon Prime hay Disney+, người Pháp còn đặc biệt ủng hộ các mạng độc lập, nơi họ dễ tìm thấy các tác phẩm kinh điển của Pháp hay Âu Mỹ.

Nằm ở vùng ngoại ô phía bắc Paris, công ty TitraFilm (được thành lập từ năm 1933) hoạt động liên tục từ khi nước Pháp ban hành lệnh phong tỏa. Mặc dù hãng này buộc phải đóng cửa văn phòng, nhưng đại đa số nhân viên đều làm việc từ xa. Các chuyên viên kỹ thuật cũng như nhóm biên tập phụ trách công việc dịch thuật, làm phụ đề cho phim, rồi mã hóa tải lên máy chủ. Hàng tuần, công ty này nhận khoảng 300 phim truyện và phim truyền hình, trong đó có các tác phẩm của đạo diễn Pháp Michel Hazanavicius "Le Prince Oublié" (Vị Hoàng tử bị lãng quên) hay đạo diễn Tây Ban Nha Alejandro Amenabar "Lettre à Franco" (Thư gửi tướng Franco).

Theo giám đốc thương mại Stéphane Chirol, do các biện pháp cách ly, công ty TitraFilm buộc phải đình chỉ khâu lồng tiếng, toàn bộ êkíp chuyên làm phụ đề cho các rạp chiếu phim nay đều được chuyển sang làm việc cho khâu video theo yêu cầu (gọi tắt là V.O.D).

Trước đây, giới chuyên ngành nghĩ rằng thị trường ‘‘video theo yêu cầu’’ đã quá đầy đủ với các mạng lớn như Netflix, Amazon Prime & Disney+, chưa kể đến các bộ phim được chiếu miễn phí trên các kênh truyền hình, nhưng rốt cuộc thời gian phong tỏa cho thấy là người Pháp có nhiều sở thích khác và chính nhu cầu xem phim đã đem lại lợi nhuận cho các mạng độc lập như UniversCiné, FilmoTV, LaCinetek, LaToile, Tënk, Carlotta Studio hay Médiathèque Numérique ….. Theo anh Romain Dubois, giám đốc tiếp thị của mạng UniversCiné, giờ cao điểm là khoảng 21 giờ (tức sau giờ ăn tối) nhưng kể từ buổi chiều, lượng người truy cập bắt đầu tăng lên và sự gia tăng này lại càng rõ nét trong thời gian phong tỏa do đa số người Pháp đều buộc phải ở nhà.

Còn theo ông Vincent-Paul Boncour, giám đốc Carlotta Studio, công ty này vừa thành lập trang web dành riêng cho dòng phim xưa bao gồm nhiều tác phẩm kinh điển được xếp vào hàng "di sản văn hóa". So với người Anh Mỹ, người Pháp trước đây ít dùng dịch vụ VOD, nay nhu cầu xem phim cũng tăng lên với lệnh phong tỏa, nhưng ‘‘gu’’ xem phim của họ cũng có phần khác biệt. Chẳng hạn như khán giả Pháp thích xem vua hề Louis de Funès và họ khám phá toàn bộ các bộ phim này qua các mạng VOD thay vì xem phim được phát lại trên các đài truyền hình (gần đây đã có chiếu lại La Folie des Grandeurs, Rabbi Jacob, loạt phim Les Gendarmes de Saint Tropez …)

Nhờ vậy, các mạng ‘‘phim xưa’’ đã có thêm hàng trăm người đăng ký mỗi ngày. Các mạng video theo yêu cầu cũng ăn khách một phần nhờ quảng cáo trên các mạng xã hội, cũng như qua báo chí truyền thông, các bài phân tích về các đợt phát hành phim video mới đã thay thế các bài phê bình hàng tuần khi phim được cho ra mắt khán giả ở rạp.

Trên mạng LaCinetek, các bộ phim ăn khách thường được tuyển chọn bởi các nhà đạo diễn tên tuổi như Jacques Audiard hay James Gray, Pascale Ferran hay Cédric Klapisch ….. Các đạo diễn này thông qua những đoạn video ngắn giải thích vì sao một số tác phẩm được đánh giá là quan trọng đối với nghệ thuật thứ bảy. Theo anh Jean-Baptiste Viaud, kể từ khi có những danh sách chọn lọc của các nhà làm phim trứ danh, số lượng người truy cập đã được nhân lên gấp 5 lần. Trong đó, có khoảng 13.000 người mỗi tuần đăng ký xem phim video trên danh sách "phim hay trong tháng".

Trên mạng UniversCiné, trang web này tập trung giới thiệu các tác phẩm mới như "Les Misérables" của đạo diễn Ladj Ly hay là "Gloria Mundi" của Robert Guédiguian. Theo giám đốc Romain Dubois, kể từ tháng 03/2020 UniversCiné đã tăng gấp đôi lượt khách truy cập so với cùng thời điểm năm ngoái, mạng này thu hút trên 800.000 lượt khách mỗi tháng và số lượng thuê phim video đạt tới mức 3.000 tựa phim mỗi ngày.

Nếu như các mạng Netflix, Amazon Prime hay Disney+ có một bộ sưu tập khổng lồ với hàng chục ngàn tựa phim, thì ngược lại cách sắp xếp tổ chức đối với nhiều khán giả lại không dễ tìm kiếm. Thư viện phim càng lớn chừng nào, mục lục lại càng phải chi tiết với nhiều tag chuyên đề chừng nấy. Trên các mạng phim độc lập, ‘‘kho lưu trữ’’ phim có thể nhỏ hơn, nhưng đổi lại giới yêu chuộng điện ảnh tìm thấy trong cách trình bày và giới thiệu phim một công việc biên tập thực sự. Mạng Tënk có trụ sở tại vùng Ardèche và chỉ cung cấp phim tài liệu với phần giới thiệu nội dung khá đầy đủ.

Trên mạng FilmoTV, bộ sưu tập khá đa dạng bao gồm dòng phim hình sự của Frank Capra cho đến phim hài của Alain Chabat, những bộ phim câm trắng đen theo kiểu vua hề Charlot có cùng một ‘‘chỗ đứng’’ với phim zombie của Hàn Quốc. Theo ông Jean Ollé-Laprune, phim thường được giới thiệu bởi một nhà phê bình, trả lời ba câu hỏi trong vòng ba phút. Đây là cơ hội để khám phá hay xem lại những bộ phim khác của nhiều đạo diễn khác nhau.

Trên mạng Carlotta Studio, mỗi tác phẩm kinh điển ngoài lời giới thiệu, còn có thêm những bài phân tích có giá trị, chẳng hạn như tuần này có giới thiệu dòng phim của Milos Forman hay là tác phẩm "The King of New York" của đạo diễn Abel Ferrara. Với lối tiếp cận gần giống như Viên lưu trữ phim ảnh Pháp Cinémathèque Française, các bộ phim này đặc biệt được giới sành điệu hay các sinh viên khoa điện ảnh đặc biệt hưởng ứng, chẳng hạn như phim "Monsieur Klein" với Alain Delon của Joseph Losey, phim "Lacombe Lucien" của Louis Malle, hay phim "L’Armée des Ombres" của Jean-Pierre Melville với một dàn diễn viên hùng hậu như Simone Signoret, Lino Ventura hay Paul Meurisse nói về thời kháng chiến chống Đức quốc xã những năm 1939-1945.

Nhu cầu xem video theo yêu cầu cũng gia tăng kể từ khi trung tâm điện ảnh quốc gia Pháp CNCn cho phép phát hành trực tiếp trên mạng, chứ không cần phải chờ thời hạn 4 tháng giữa ngày ra mắt ở rạp và thời điểm chiếu video. Trong tháng 04/2020, khoảng 30 bộ phim mới dành cho xinê, lại được xem qua video ở nhà, trong đó có tác phẩm mới "Le Cas Richard Jewell" của Clint Eastwood, các phim Pháp như ‘‘Les Traducteurs’’ của Régis Roinsard, phim hài "Mine de rien". Theo nhà phân phối François Clerc, không ai biết được chừng nào các rạp chiếu phim sẽ mở cửa trở lại. Từ đây cho tới cuối tháng 06/2020, các nhà phân phối phim ở rạp sẽ bị thất thu lớn vì không khai thác được 200 tựa phim (tức khoảng 20 phim mới mỗi tuần). Việc phát hành qua video trực tuyến là một trong những cách để phần nào bù đắp những thiệt thòi do dịch Covid-19 gây ra …

viethoaiphuong
#467 Posted : Friday, April 24, 2020 3:01:32 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)


Netflix mua quyền chiếu phim Pháp kinh điển

Tuấn Thảo - RFI - 24/04/2020
Kể từ hôm 24/04/2020, mạng Netflix của Mỹ cho phát hành 50 tác phẩm kinh điển. Loạt tác phẩm này được dẫn đầu với dòng phim của đạo diễn Pháp François Truffaut. Đôi khi bị chỉ trích là chuyên phổ biến dòng phim thương mại, Netflix đã thực hiện cú đột phá ngoạn mục, bằng cách hợp tác và khai thác ‘‘tủ phim’’ của nhà phân phối Pháp MK2.

Không phải ngẫu nhiên mà trong bước đầu Netflix cho phát hành 12 bộ phim nổi tiếng nhất (trong số 21) của François Truffaut. Qua đời vào năm 1984, đạo diễn Pháp cùng với Jean-Luc Godard là hai gương mặt hàng đầu của phong trào điện ảnh Nouvelle Vague (Làn sóng mới). Lúc sinh tiền, François Truffaut là một trong những đạo diễn Pháp nổi tiếng nhất ở nước ngoài và được khá nhiều đồng nghiệp cùng thời ngưỡng mộ, kể cả Steven Spielberg và Francis Ford Coppola.

Giới yêu nghệ thuật thứ bảy được dịp khám phá lại kiệt tác "Les 400 coups" (phát hành vào năm 1959), bộ phim đầu tiên mà François Truffaut đã dành cho cậu bé Antoine Doisnel, một nhân vật hư cấu nhưng phản ánh nhiều điều thú vị về gia cảnh cũng như câu chuyện của bản thân nhà đạo diễn thời ông còn nhỏ tại Paris những năm 1950. Trong vòng 20 năm sau đó, đạo diễn Pháp đưa người xem theo dõi câu chuyện của cậu bé Antoine qua nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời nhân vật, thời mới biết yêu trong bộ phim ‘‘Baisers volés’’, thời lập gia đình trong ‘‘Domicile Conjugal’’, thời chia tay khi tình yêu vụt bay trong ‘‘L’Amour en fuite’’ (phát hành vào năm 1979)…

François Truffaut còn nổi tiếng là đạo diễn biết đề cao các vai nữ trong cách đặt ống kính và hướng góc nhìn về tâm lý nhân vật. Khán giả khám phá lại nụ cười có duyên của Françoise Dorléac trong phim ‘‘La Peau douce’’ (Làn da mềm mại), vẻ đẹp kiêu sa dù khá lạnh lùng của Catherine Deneuve trong ‘‘Le Dernier Métro’’ (Chuyến tàu cuối cùng), sự quyến rũ lạ thường của Fanny Ardant trong phim ‘‘La femme d’à côté’’(Cô láng giềng), nét hồn nhiên ngây thơ của Julie Christie trong phim ‘‘Fahrenheit 451’’, dựa theo tác phẩm khoa học viễn tưởng của Ray Bradbury. Dĩ nhiên, một trong nữ diễn viên từng đóng phim Truffaut rất trội vẫn là Jeanne Moreau, đặc biệt trong tác phẩm "Jules et Jim" nói về mối tình tay ba đầy sóng gió, phóng tác từ tiểu thuyết cùng tên của Henri-Piere Roché, mà đạo diễn François Truffaut từng đánh giá là quyển tiểu thuyết lãng mạn nhất mà ông được đọc để hiểu hơn về duyên phận kiếp người trong "cơn lốc cuộc đời" (Le Tourbillon de la Vie).

Sau dòng phim Truffaut trong tháng 04/2020, mạng Netflix sẽ tiếp tục khai thác bộ sưu tập của MK2, công ty phân phối này nổi tiếng ở Pháp nhờ các rạp xinê thiên về dòng phim nghệ thuật nhiều hơn là phim thương mại. Netflix lần lượt đưa vào danh mục các tác phẩm nhạc kịch theo kiểu Pháp của đạo diễn Jacques Demy, tác giả của hai bộ phim "Les Demoiselles de Rochefort" và "Les Parapluies de Cherbourg". Trong thể loại phim hài, Netflix đã mua quyền khai thác trên mạng trong những tháng tới, nhiều bộ phim của Charlie Chaplin (vua hề Charlot) do MK2 nắm giữ tác quyền, kế theo đó là phim của đạo diễn Alain Resnais, phía châu Âu có phim của đạo diễn người Serbia Emir Kusturica, nhà làm phim hai quốc tịch Áo-Pháp Micheal Haneke, đạo diễn người Ba Lan Kieslowski, phía Bắc Mỹ có Xavier Dolan người Canada hay David Lynch đến từ Hoa Kỳ…

Tất cả những tên tuổi này (chủ yếu là châu Âu) giúp cho nguồn phim của Netflix trở nên phong phú, đa dạng hơn. Giới ghiền xem phim truyền hình nhiều tập vẫn mê theo dõi ‘‘Kingdom’’, phim lịch sử cổ trang của Hàn Quốc kết hợp với thây ma và xác sống hay ‘‘La Casa de Papel’’ (Phi vụ triệu đô) của Tây Ban Nha. Giới thích xem phim của các đạo diễn có nhãn quan độc đáo riêng biệt cũng có thể tìm thấy hầu như toàn bộ các tác phẩm của Martin Scorsese (Mean Streets, Goodfellas ‘‘Les Affranchis’’, Sòng bạc Casino, Bí mật đảo Shutter), hay các tác phẩm của đạo diễn Tarantino (Reservoir Dogs, Pulp Fiction, hai tập phim Kill Bill...) Dòng phim Clint Eastwood cũng hiện diện trên mạng nhưng ít hơn (Gran Torino, Space Cowboys, Mystic River). Gần đây hơn nữa, Netflix đã chuyển hướng sang dòng phim hoạt hình với các tác phẩm của đạo diễn Nhật Bản Hayao Miyazaki.

Tuy nhiên, giới yêu chuộng ‘‘điện ảnh thế giới’’ cho tới giờ này vẫn nhận thấy mạng Netflix còn thiếu khá nhiều tác phẩm ‘‘quan trọng’’ của làng nghệ thuật thứ bảy, trong đó có các tác phẩm châu Âu từng đoạt giải nhất tại ba liên hoan lớn là Venise, Berlin và Cannes. Ngoài ra, các nền điện ảnh đã tỏa sáng từ lâu như Iran hay Thổ Nhĩ Kỳ hay đang trỗi dậy như Arhentina hay Hungary dù cho ra lò nhiều tác phẩm có giá trị, nhưng dường như vẫn chưa đủ ‘‘tiềm năng’’ thương mại để hiện diện trên mạng Netflix.

Đối với công ty phân phối MK2, việc nhượng lại một phần quyền khai thác bộ sưu tập phim kinh điển là một cách để tạo thêm nguồn thu nhập, vào lúc các rạp xinê của công ty này nói riêng và của ngành phân phối phim nói chung đều phải đóng cửa. Còn đối với Netflix, việc hợp tác để có thêm nguồn cung cấp là nhằm để thu hút nhiều đối tượng khán giả khác. Theo công ty tư vấn FutureSource, trong thời gian phong tỏa, Netflix đã thu hút thêm 6 triệu thành viên, lên đến 15,8 triệu người đăng ký so với 9,5 triệu, so với cùng thời điểm năm 2019. Trên toàn cầu, Netflix hiện có hơn 183 triệu người đăng ký.

Trong cuộc chạy đua giành lấy thị phần phim video trực tuyến, mạng Netflix đã muốn tạo thêm nét mới lạ khác biệt, đa dạng hóa nguồn phim nhất là các nguồn đến từ châu Âu. Thị trường phim trực tuyến gồm nhiều đối thủ cạnh tranh đáng gờm là Disney+, Apple TV hay là Amazon Prime. Tuy nhiên, về mặt bản chất cũng như cơ cấu, Netflix và MK2 rất khác nhau. Việc đôi bên chấp thuận rồi ký kết hợp tác (vì cả hai phía đều có lợi trong thời buổi hiện nay) trước sau gì vẫn là một cuộc ‘‘hôn nhân’’ vì lý trí nhiều hơn là vì tình cảm.

viethoaiphuong
#468 Posted : Wednesday, May 20, 2020 4:26:29 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)


Ban nhạc The Rolling Stones và ca khúc Thành Phố Ma

Thanh Hà - RFI - 16/05/2020
Ban nhạc The Rolling Stones vừa ra mắt công chúng ca khúc Living In A Ghost Town, Sống Trong Thành Phố Ma. Một cơn ác mộng của Mick Jagger và Keith Richards đã thành hiện thực khi các thành phố lớn trên thế giới lần lượt "cách ly với thế giới bên ngoài" chống dịch Covid-19.

“Đời đang đẹp, bỗng chốc tất cả lặng câm. Đường phố không người. Còn lại những bóng ma trong thành phố chết”.

Đúng vào lúc hơn một nửa nhân loại bị cầm chân trong nhà, những thành phố không bao giờ ngủ đã bị cướp đi nhựa sống, ban nhạc The Rolling Stones cho ra mắt ca khúc Living In A Ghost Town, Sống Trong Thành Phố Ma. Từ Cape Town đến Kyoto, từ Luân Đôn đến Los Angeles hay Toronto chìm trong giấc ngủ. Phố xá thênh thang không một bóng người, những tuyến đường hầm hun hút vô cảm nuốt những đoàn tàu vắng, lạnh dưới lòng thành phố.

Cách nay gần một năm, trước đại dịch, nam danh ca Mick Jagger đã cùng với nhạc sĩ ghi ta Keith Richards chấp bút sáng tác. Trong 10 phút cặp nghệ sĩ này đưa chúng ta bước vào thế giới hoang vu, không một tiếng cười, đơn độc, lạnh giá của những thành phố chết. Họ không thể ngờ rằng, kịch bản đó như một định mệnh đợi chờ.


Tứ trụ Mick Jagger, Keith Richards, Ronnie Wood et Charlie Watts đã gần như hoàn tất ca khúc này trong các phòng thu ở Luân Đôn và Los Angeles. Có điều ban nhạc còn lấn cấn vì cảm thấy là lời ca u ám quá : “Những linh hồn vật vã trong đêm dài vô tận/ Vạn vật còn lại là những chiếc bóng không hồn/ Sống dưới lòng đất như những thây ma…”

Tất cả đã đổi thay khi các quốc gia trên thế giới lần lượt tự cách ly với thế giới bên ngoài, các sinh hoạt đều bị dừng lại, hàng quán lần lượt phải đóng cửa, các nhà hát, những rạp xi-nê lần lượt hạ màn. Thế giới còn lại một màu đen. Đó cũng là lúc Mick Jagger không còn do dự, ông đưa thêm vào lời ca từ “lockdown” để nhạc phẩm này thêm tính thời sự.

Cuối cùng, bản nhạc chỉ thực sự hoàn chỉnh một khi Mick Jagger giam mình trong khu tòa lâu đài của ông ở vùng Tourraine, miền tây nước Pháp. Nhạc sĩ Keith Richards thổ lộ thật lạ lùng khi thấy các thành phố càng chìm vào cõi chết của màn đêm bất tận thì đấy cũng là lúc ca khúc Living In A Ghost Town vươn vai thức dậy để bước ra ánh sáng.

Hạnh phúc hay điềm gở từ những con phố lặng câm ?

Nhạc phẩm mới nhất này của The Rolling Stones nói về một số những thành phố chết trên thế giới. Trước Mick Jagger, Keith Richards, thi sĩ Pháp Louis Aragon trong Dans Le Silence de La Ville - Trong tĩnh lặng của thành phố (1963) từng xem sự im lặng và tĩnh mịch của thành phố là khoảnh khắc hạnh phúc dễ vỡ của những đôi tình nhân.

Còn trong ca khúc Paris au mois d’août (1966) của Charles Aznavour, những con phố không bóng người bởi :

“Mỗi con đường, từng viên đá đều thuộc về những người yêu nhau, Paris tráng lệ đã nhạt mờ, chỉ còn ta với ta”

Thành phố chết thông thường hình ảnh những thành phố thu mình trong giấc ngủ không báo trước điềm lành. La Ville Morte năm 1956 của Yves Montant là một thành phố chết vì nhà máy đóng cửa, khai tử cả một tầng lớp công nhân, những người thợ mỏ. Trước đó thành phố chết trong lời ca, tiếng hát của Jean Ferrat năm 1953 là thành phố Brest bị dội bom hoang tàn đổ nát sau Thế Chiến Thứ Hai.

Paris không người, đường vắng trong tác phẩm Les Camions của Jean Roger Simon (1970) là một ẩn dụ tác giả nói về cái chết của chính ông :

“Một gã trong quan tài, trong bộ quần áo mới, một đoàn xe và dòng người theo sau…”

Thế giới của những con "bướm đêm"

Trong làng nhạc Pháp, có hai tác giả cũng thường bị những thành phố chết ám ảnh. Với Maxime Le Forestier (Ma Ville Morte năm 1975), phố chết đơn thuần là những thành phố về đêm. Còn Nino Ferrer trong Nỗi buồn phố vắng – Le Blues des rues désertes (1964) lê bước trong phố xá không đèn. Sương lạnh, gót giầy vang trong đêm vắng để tìm về với căn phòng đơn côi.

Quá si tình, Ferrer không thể ngờ rằng những con đường ở Paris vắng bóng người buổi sớm ban mai là thế giới riêng biệt của những người lao động cần cù đã bắt đầu một ngày mới như trong ca khúc Il est cinq heure, Paris s’éveille của Jacques Dutronc : nào là những chiếc xe đi giao sữa, những bác phu quét đường, những chủ hiệu bánh mì và quán cà phê đã sẵn sàng cho một ngày mới. Nhựa sống đã này sinh từ khi mặt trời chưa ló rạng.


viethoaiphuong
#469 Posted : Saturday, May 30, 2020 9:03:59 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

The Beatles và album "Let it be" - Sức sống vượt thời gian

RFI = 30/05/2020
50 năm trước, vào tháng 5 năm 1970, album Let it be (Hãy mặc kệ nó), album cuối cùng của ban nhạc huyền thoại, The Beatles chính thức lên kệ đĩa. Được mệnh danh là nhóm nhạc của thế kỷ 20, The Beatles xác lập kỷ lục mà chưa có ban nhạc nào đánh bại được, tiêu thụ 183 triệu đĩa hát.

Ban nhạc huyền thoại của thế kỷ 20

Kênh Spotify còn tiết lộ có khoảng 20,6 triệu lượt nghe The Beatles hàng tháng trên kênh này. Trong đó, hơn 30% khán giả nghe nhạc The Beatles ngày nay đều là thế hệ Thiên niên kỷ (Millennials) với độ tuổi 18 đến 24.

Âm nhạc của The Beatles có sức hút kỳ lạ như nhịp cầu xuyên suốt các thế hệ. Thế hệ ông bà, cha mẹ ngân nga hát “Let it be, Let it be.” và giờ con cháu họ vẫn hát nối tiếp “Speaking words of wisdom” trong ca khúc kinh điển, theo Gia Trình, từ New Zealand.

Giải mã sức hút của Let it be

Nhóm The Beatles có vô vàn những bài hát đi cùng năm tháng như Yesterday, Hey Jude nhưng Let it be luôn có chỗ đứng rất đặc biệt. Đó là bài ca của hy vọng, giai điệu của niềm tin, những hoài niệm về tình bạn, tuổi trẻ tràn đầy nhựa sống của bốn chàng trai vàng xứ sở sương mù.

Không ai có thể phủ nhận được sức sống kỳ diệu của ca khúc chủ đề khi khúc nhạc dạo piano thánh thót vang lên. Nếu mỗi bài hát có một số phận thì số phận của Let it be là buộc người nghe phải nhớ đến nó. Vì cái tựa đề đơn giản đến mức khó quên, giai điệu hát mộc mạc nhưng lại thẩm thấu sâu như gia tài âm nhạc Bộ Tứ để lại.

Album như một lời chia tay khán giả

Không được đánh giá cao như các album trước đó, album Let it be (1970) đánh dấu nỗ lực hàn gắn bốn thành viên của nhóm, Paul McCartney, John Lennon, George Harrison và Ringo Stars trước khi nhóm tách ra theo đuổi sự nghiệp solo.

Chính vì vậy, cả album không có nhiều đột phá về phong cách, hay thể nghiệm mới mẻ như album Sergent Pepper’s Lonely Hearts Club Band (1967) hay Abbey Road (1969). Album Let it be cho thấy sự tan rã của nhóm là điều không thể tránh khỏi khi cá tính âm nhạc của mỗi thành viên đều định hình rõ nét, chín muồi và đầy xung đột.

Sau khi nhóm tan rã, John Lennon tiết lộ rằng Paul McCartney muốn chiếm lĩnh vị thế trụ cột và chi phối nhóm. Bộ đôi không còn sáng tác chung như ngày đầu mới thành lập nữa, cho dù luôn đề tựa tác giả dưới cái tên ghép quen thuộc Lennon/McCartney. Bỏ qua câu chuyện “bếp núc” hậu trường, Let it be vẫn là một album tương đối dễ nghe, mang âm hưởng buồn nhưng không nhạt nhòa nhờ một số ballad xuất sắc.

Dấu ấn của Paul McCartney

Hai ca khúc đinh nhất của album là Let it be và The long and winding road đều mang dấu ấn đậm nét của Paul McCartney. Ngoài ra còn có Across the universe sáng tác bởi John Lennon và Get back sáng tác bởi George Harrison.

Let it be là một ballad rất tươi sáng, nhẹ nhàng, nói về sự lạc quan khi con người gặp khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Mở đầu với nhạc dạo piano thánh thót, điệp khúc bài hát được tôn lên nhờ sự hòa giọng nhuẫn nhuyễn Paul, John và George. Ca từ bài hát có câu “Mother Mary comes to me” gây ra nhiều tranh luận. Tuy nhiên, Paul đã giải thích Mary trong bài hát ám chỉ mẹ anh, bà Mary McCartney mất sớm vì căn bệnh ung thư, không phải Đức mẹ Mary như các fan lầm tưởng.

Ca khúc Let it be ngầm truyền tải một thông điệp xung đột giữa thành viên trong ban nhạc. Cho dù họ có tan vỡ, bài hát chiếu sáng những tia hy vọng cho một ngày tái hợp không xa.

“For though they may be parted ; There is still a chance that they will see ; There will be an answer, let it be.”

“Với những ai có thể chia ly ; Vẫn có cơ hội mà họ có thể nhìn thấy ; Sẽ có câu trả lời, hãy mặc kệ nó.”

Bài hát nổi tiếng khác là The Long and winding road (Con đường dài và quanh co) được phối khí bởi piano cùng dàn nhạc dây. Tựa đề ca khúc được Paul nghĩ ra khi thăm nông trại High Park Farm của anh ở tại vùng quê Scotland bình yên. Ca từ đẹp, giai điệu mềm mại, khắc khoải khiến cho người nghe đắm chìm trong tâm trạng đang yêu ai đó hơn là tình yêu thiên nhiên đơn thuần.

Tác phẩm không có cấu trúc chuẩn mực như các sáng tác truyền thống của The Beatles. Giai điệu dạo đầu được lặp lại nhiều lần, cùng hiệu ứng lan tỏa của dàn nhạc dây khiến cho bài hát có độ mở về không gian và thời gian. Trong cuộc phỏng vấn năm 1994, Paul từng nói đây là một bản tình ca buồn, vì anh muốn tìm kiếm cảm xúc sâu thẳm, gói ghém hết vào một bài hát như vậy.

Rất nhiều nghệ sỹ thập niên 2000 như Faith Hill, The Corrs cover lại nhưng vẫn thiếu sự tinh tế và đặc biệt không có bản phối khí đẹp như tranh.

"Many times I've been alone ; And many times I've cried ; Anyway you'll never know ; The many ways I've tried ; And still they lead me back ; To the long winding road ; You left me standing here ; A long long time ago..."

"Rất nhiều lần tôi cô đơn ; Và nhiều lần tôi đã khóc ; Em có bao giờ biết đến không ; Rất nhiều lần tôi đã cố gắng ; Và đều dẫn tôi trở lại ; Con đường dài và quanh co ; Em để tôi đứng chờ nơi đây ; Rất rất lâu rồi…"

Album Let it be khép lại sự tồn tại của nhóm The Beatles nhưng nó đã mở ra trang sử mới cho âm nhạc pop/rock đương đại. John Lennon từng bị chỉ trích khi phát biểu The Beatles còn nối tiếng hơn chúa Jesus. Tuy nhiên, không ai phủ nhận rằng các thành viên The Beatles là những tài năng âm nhạc thực thụ. Họ vừa có thể tự sáng tác, biểu diễn, phối hợp ăn ý và định hướng thẩm mỹ cho cả thế hệ về sau.

Nửa thế kỷ nhìn lại, chúng ta phải thốt lên rằng “Let it be… classic music” (Hãy mặc kệ nó là… nhạc cổ điển) như cách Paul McCartney từng ví von về giá trị âm nhạc Beatles.

***

(Nguồn: The Rollingstone, Spotify, The Beatles)


viethoaiphuong
#470 Posted : Sunday, June 7, 2020 6:22:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Roy Orbinson, kẻ si tình mộng mơ

RFI - 06/06/2020
Một người đàn ông bước lên sân khấu với bộ vest đen, đeo kính đen, cất tiếng hát những bản nhạc buồn làm tan vỡ triệu con tim và ra đi đột ngột trong cơn đau tim ở tuổi 52. Đó là chính là Roy Orbison, người được Elvis Presley nhận xét là ca sỹ suất sắc nhất hành tinh.

Gia Trình nói về ngôi sao pop/rock chinh phục trái tim người nghe bởi chất giọng truyền cảm với những bản nhạc melancholy (đa sầu, đa cảm) như Only The Lonely, In Dreams, Crying.

Album vinh danh sự nghiệp

Gần ba mươi năm sau khi ông qua đời, năm 2017, dàn nhạc giao hưởng danh tiếng nhất London, Royal Philharmonic hồi sinh ký ức âm nhạc đẹp nhất khi kết hợp với gia đình ông biểu diễn các bài hát để đời của Roy Orbinson. Tạp chí âm nhạc uy tín Rolling Stone đã bình chọn cố nghệ sỹ (sinh năm 1936 - mất năm 1988) vào top 100 nghệ sỹ biểu diễn xuất sắc nhất mọi thời đại. Dàn nhạc giao hưởng thu âm tại studio nổi tiếng Abbey Road, các con trai của Orbison ghi âm tại Black River Studios, tại Nashville, một studio mà cha họ từng sở hữu.

Album ghi nhận đóng góp không nhỏ từ những người con của Roy Orbison trong vai trò nhạc sỹ: Wesley và Roy Jr cùng chơi guitar, Alex chơi trống và thậm chí cả cháu nội Roy III, chơi tambourine trong bản hit nổi tiếng Oh Pretty Woman (Ôi, người đàn bà đẹp).

Bản ghi âm mới không đánh mất đi kho cảm xúc của bản hát gốc, diễn tả sự mê hoặc trước người phụ nữ đẹp. Giai điệu không buồn bã, nhưng bài hát vẫn có nét ưu tư, phiền muộn của Roy trong sự theo đuổi của kẻ si tình cho đến khi người phụ nữ tìm đến bên anh.

Album A Love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp, 2017) là hợp tuyển các bản nhạc gắn với tên tuổi của Roy Orbison xuyên suốt sự nghiệp sáng tác và biểu diễn từ thập niên 60 và cuối thập niên 80. Dưới bản phối khí dàn nhạc giao hưởng, người nghe được thưởng thức bữa tiệc âm nhạc thịnh soạn: chất giọng truyền cảm lồng trong tầng lớp âm thanh trầm bổng.

Đầu thập niên 1960, Roy Orbison đã từng dội bom liên tiếp bảng xếp hạng Billboard Top 10 với 9 ca khúc kinh điển như Oh Pretty Woman, In dreams, Only the lonely, Crying. Sau đó, tên tuổi của Roy chìm xuống trước làn sóng British Invasion (Cuộc xâm lăng của văn hóa Anh Quốc) điển hình như nhóm The Beatles hay The Rolling Stones trên xứ sở cờ hoa. Mặc dù ông vẫn tổ chức nhiều live concert suốt thập niên 70, nhưng không có bản hit xuất sắc, nổi trội như thập niên 1960.

Thập niên 1980 chứng kiến sự trở lại đầy thăng hoa của ông khi bản nhạc lừng lẫy một thời In dreams (Trong những giấc mơ) được chọn làm nhạc phim Blue Velvet (Màn nhung xanh, 1986) do nữ minh tinh Isabella Rosellini thủ vai.

Ca khúc ru khán giả trong mộng mị, lạc vào hồi ức cuộc tình tan vỡ. Kỳ lạ thay, nó rất khớp với nội dung bộ phim thriller bí ẩn, bi kịch mà đạo diễn David Lynch “mát tay” lựa chọn. Thành công của soundtrack phim Blue Velvet tạo nên đòn bẩy mạnh mẽ cho sự trỗi dậy của âm nhạc Roy với công chúng.

In dreams I walk with you, in dreams I talk to you ; In dreams you're mine, all of the time ; We're together in dreams, in dreams.

Trong những giấc mơ, anh đi dạo và nói chuyện cùng em ; Trong mơ, em thuộc về anh mọi lúc ; Chúng ta luôn bên nhau trong giấc mơ.

Âm nhạc buồn và bi kịch cuộc đời

Cho dù nhịp điệu bài hát nhanh hay chậm, hầu hết khán giả và thậm chí chính Roy Orbinson đều phải lòng chất giọng truyền cảm của ông. Một giọng nam không dày, không ấm, nhưng lại có độ rung tạo được thiện cảm đến không ngờ. Ca từ và giai điệu những bài hát ông đa phần đề cập tới nỗi buồn, sự cô đơn, sự tan vỡ tình cảm trong tiết tấu nhịp chậm rãi.

Phải chăng những bi kịch lặp lại trong cuộc đời của Roy đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới những sáng tác của ông? Người vợ đầu Claudette đã qua đời trong tai nạn xe phân khối năm 1966. Hai năm sau, hai trong số ba con trai của Orbison cũng qua đời vì hỏa hoạn năm 1968. Trong một cuộc phỏng vấn, Roy thổ lộ rằng “Để trở thành một nhạc sỹ kiêm ca sỹ biểu diễn, mỗi ca khúc phải đến từ sâu thẳm bên trong bạn, và bạn phải đối xử, tôn trọng nó như những nghệ sỹ thực thụ”. Vì thế, khán giả luôn mặc định tên tuổi của ông luôn gắn bó với những bản nhạc nói về sự cô đơn hay mất mát trong tình yêu.

Đáng chú ý, Billy Steinberg và Tom Kelly, hai tác giả của ca khúc I drove all night (Anh đã lái xe cả đêm) đo ni đóng giày cho Roy Orbison thể hiện. Ông ghi âm ca khúc này năm 1987, một năm trước khi qua đời, nhưng bản nhạc chỉ được phát hành 5 năm sau đó.

Với nhịp điệu nhanh, tác phẩm khơi gợi lại bi kịch đời tư của Roy Orbison khi nhân vật chính phải chạy đua với thời gian, khát khao gặp được người tình như trong một giấc mơ. Bản ballad Roy thể hiện tạo được sự bùng nổ của cảm xúc, sự đè nén của cô đơn trong ca từ và nhịp điệu thôi thúc.

What in this world keeps us from falling apart? No matter where I go ; I hear the beating of our one heart ; I think about you when the night is cold and dark ; Uh-huh, yeah ; No one can move me the way that you do ; Nothing erases this feeling between me and you.

Điều gì trên thế giới này khiến chúng ta phải chia xa ; Cho dù bất cứ nơi đâu ; Anh vẫn nghe thấy nhịp đập một con tim giữa đôi ta ; Anh nghĩ về em giữa màn đêm tối tăm và lạnh giá ; Không ai có thể lay động anh như cách em từng làm ; Không gì xóa nhòa cảm xúc giữa anh và em.

Cơn đau tim đột ngột đã cướp đi hơi thở cuối cùng của Roy ngày 6 tháng 12 năm 1988 tại nhà mẹ ông tại Nashville, Mỹ, trong khi còn rất nhiều kế hoạch dang dở. Album riêng đã ghi âm xong vào tháng 11, tham gia siêu nhóm nhạc Traveling Wilbury, xuất hiện trên hàng loạt chương trình truyền hình.

Một năm sau đó, album Mystery Girl (Cô gái bí ẩn, 1989) chính thức ra mắt, được giới phê bình và khán giả đánh giá cao, gồm các ca khúc xuất sắc như California Blue, You got it và nổi bật nhất A love so beautiful (Một tình yêu rất đẹp). Không phải ngẫu nhiên mà dàn nhạc Royal Philhamonic chọn tên ca khúc này làm tiêu đề cho album vinh danh Roy Orbinson. Nhắc đến ông, thứ âm nhạc buồn bã và giọng hát trữ tình đó, bất cứ nỗi đau nào đều thua xa nỗi đau Roy Orbison gây ra cho hàng triệu con tim vì khán thính giả phải nghe đi nghe lại Một tình yêu rất đẹp.

We were too young to understand, to ever know that lovers drift apart ; And that's the way love goes ; A love so beautiful ; A love so free ; A love so beautiful ; A love for you and me ; And when I think of you ; I fall in love again.

Chúng ta còn quá trẻ nên không thể hiểu, không biết rằng những người tình thường trôi xa ; Đó là cách tình yêu đến ; Một tình yêu rất đẹp ; Một tình yêu tự do ; Một tình yêu giữa anh và em. Khi anh nghĩ về em, anh muốn yêu em trở lại.

(Nguồn: Theo Rolling Stone, The Guardian, AllMusic)



1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 6/7/2020(UTC)
viethoaiphuong
#471 Posted : Saturday, June 13, 2020 6:30:34 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Ben E.King, bất hủ với "Stand by me", qua đời

Minh Anh - RFI - 02/05/2015
Cựu thành viên nhóm nhạc The Drifter, Ben E.King, đồng tác giả với Jerry Leiber và Mike Stoller của ca khúc « Stand by Me », đã qua đời ngày 30/04/2015, thọ 76 tuổi. Ca khúc được ông thể hiện lần đầu tiên vào năm 1961 hơn bao giờ hết đã đi vào lịch sử dòng nhạc soul nói riêng và âm nhạc nói chung.

Cũng như bao ca sĩ dòng nhạc soul khác, Benjamin Earl Nelson, tên thật của Ben E.King, sinh ngày 23/09/1938, tại Henderson, bang North Carolina, bắt đầu sự nghiệp ca hát trong nhà thờ, trong một nhóm nhạc Gospel. Đến năm 14 tuổi, theo cha mẹ lên sinh sống tại khu phố Harlem ở New York. Tại đây, ông gia nhập nhóm nhạc doo-wop The Four B’s, một dòng nhạc bắt nguồn từ rhythm’n’blues.

Vào một ngày mùa hè năm 1958, nhóm nhạc này đã thu hút sự chú ý của George McKinley Treadwell, quản lý của ban nhạc The Drifters, do ca sĩ Clyde McPhatter thành lập năm 1953. Ben E.king, lúc này vẫn chưa có nghệ danh, trở thành giọng hát chính cho ban nhạc The Drifters.

Cùng với ê-kip mới, Ben E.King lần lượt thành công với đĩa nhạc There Goes My Baby, Dance With Me, This Magic Moments và Save The Last Dance for Me. Hai đĩa cuối đã dẫn đầu các đĩa nhạc ăn khách nhất trong năm 1959. Điều mà ban nhạc The Drifters cho đến lúc đó vẫn chưa thể nào thực hiện được.

Đến mùa xuân năm 1960, Ben E.King rời ban nhạc The Drifters do các bất đồng về tài chính với Treadwell và người quản lý của ông. Đến với hãng đĩa Atlantic, Ben E.King đã bắt đầu cho ra đời các đĩa đơn đầu tiên. Nhưng phải đợi đến lúc ca khúc Stand by Me ra đời, giọng hát của Ben E.King mới thật sự thăng hoa, nhờ vào sự giúp đỡ của Leiber và Stoller.

Vài nốt nhạc, với một ngón đàn bass mà chỉ cần nghe qua một lần là có thể nhớ liền. Rồi đến giọng hát của Ben E.King. Dẫu ai chưa biết đến tên nhạc sĩ, nhưng chí ít cũng biết đến bản nhạc nổi tiếng nhất của ông vốn đi vào lòng người : Stand by Me.

Từ đó, ca khúc này đã có đến gần 400 phiên bản khác nhau, từ Otis Redding, Sam Cooke, Marvin Gaye, thậm chí bằng giọng hát của John Lennon. Với đủ phiên bản, ca khúc cũng được phát đi tới hơn 7 triệu lần tại Hoa Kỳ. Một lần duy nhất, cũng đủ làm nên tên tuổi Ben E.King.
viethoaiphuong
#472 Posted : Monday, June 15, 2020 1:45:07 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)



Nat King Cole, biểu tượng văn hóa của thế kỷ 20

RFI - 13/06/2020
Không cần chờ đến sự kiện George Floyd, phân biệt đối xử với nghệ sỹ da màu luôn là cơn sóng ngầm trong làng âm nhạc thế giới và đặc biệt tại Mỹ. Tuy nhiên, nghệ sỹ vĩ đại nhất thế kỷ 20, Nat King Cole là người tiên phong phá bỏ thành trì định kiến đó.

Gia Trình nói về chất giọng quý giá của những ca khúc kinh điển như Unforgettable, Smile, Nature Boy lần đầu tiền chiếm sóng trên đài phát thanh và truyền hình Mỹ ở thập niên 50. Vẻ đẹp âm nhạc của ông Nat King Cole không có biên giới và càng không thể bó hẹp ở bởi màu da cho dù gần một thế kỷ trôi qua.

Chất giọng thiên phú và tư duy âm nhạc xuất sắc

Nat King Cole tên thật là Nathaniel Adams Coles, sinh năm 1919 tại bang Alabama, Mỹ. Tài năng âm nhạc sớm bộc lộ khi mẹ ông dạy chơi piano năm 4 tuổi. Nat King Cole bỏ học trung học năm 15 tuổi để lập ra nhóm nhạc riêng do ông làm trưởng nhóm, King Cole Trio. Mới đầu, ông chỉ chơi bass, guitar và piano và chưa hát nhiều. Nhóm King Cole Trio liên tiếp có những bản hit, đặc biệt lần đầu tiên chiếm sóng trên kênh phát thanh Mỹ năm 1946. Đây là sự kiện quan trọng khi nhóm nhạc Mỹ gốc Phi được phát trên kênh radio quốc gia. Đồng thời, sau đó Nat King Cole hát nhiều hơn và chuyển hẳn sang hát pop ballad hơn là nhạc jazz như thời kỳ đầu.

Giọng hát của Nat King Cole luôn được coi là gia tài vô giá, cho dù ông không được đào tạo cơ bản trở thành ca sỹ. Ai có thể không say mê khi giọng hát rất giản dị, mộc mạc? Nat King Cole sở hữu chất giọng baritone rất ấm, hơn thế nữa, ông có giác quan đặc biệt để kiểm soát độ ngân và độ cao chuẩn xác từng nốt. Ca sỹ Aron Neville đã thốt lên rằng giọng hát Nat King Cole có phép màu thôi miên người nghe.

Phải chăng chất giọng thiên bẩm khiến ông trở nên tên tuổi vĩ đại ? Không chỉ bởi giọng hát, Nat King Cole chứng tỏ một tư duy âm nhạc vượt trội trong cách xử lý bài. Ông chú trọng vào cảm giác thư giãn, giải trí của người nghe hơn là sự phô diễn của nghệ sỹ. Chính vì thế, màu sắc âm nhạc của Nat King Cole tạo được không gian ấm áp, nhẹ nhàng. Người nghe được thả hồn vào chất giọng mượt như nhung, nhưng không bị căng như dây đàn.

Cây đại thụ làng nhạc jazz thập niên 60-70, Frank Sinatra còn tiết lộ thể loại nhạc duy nhất ông nghe để thư giãn và xả stress là Nat King Cole. Âm nhạc của Nat không chỉ đơn thuần là ứng dụng giải trí mà còn nâng tầm lên thành một liệu pháp tâm lý bằng âm nhạc. Khán giả nghe nhạc Nat như thưởng thứ rượu quý cho đến khi say mềm như ca từ của bản nhạc kinh điển Smile (Hãy mỉm cười).

Smile tho' your heart is aching ; Smile even tho' it's breaking ; When there are clouds in the sky ; You'll get by If you smile ; Thro' your fear and sorrow ; Smile and maybe tomorrow ; You'll see the sun come shin-ing thro' for you.

Hãy mìm cười cho dù trái tim bạn đau đớn ; Hãy mỉm cười khi tim bạn tan vỡ ; Luôn có mây mù trên bầu trời ; Khi bạn đến ; Nếu bạn mỉm cười ; Đi qua được nỗi sợ hãi và u buồn ; Mỉm cười và có thể ngày mai ; Bạn sẽ thấy mặt trời chiếu sáng.

Phá bỏ khuôn khổ cho nghệ sỹ da màu

Sự vĩ đại của Nat King Cole còn thể hiện ở tầm nhìn của chất giọng thiên phú. Trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Thụy Sỹ, Nat King Cole nói : “Tôi luôn tìm cách làm vừa lòng nhiều người nhất có thể vì khán giả đều có gu riêng. Khi cả hai đều thích nhau, đó là câu chuyện kinh doanh tốt đẹp”. Thực tế, Nat chứng tỏ đầu óc kinh doanh nhạy bén khi luôn muốn mở rộng tệp khán giả, vượt khỏi ranh giới địa lý và màu da. Hình ảnh ông trước công chúng bao giờ cũng lịch lãm trong áo sơ mi thắt nơ, mái tóc óng mượt, khác biệt hẳn vẻ bụi bặm, râu ria của những nhạc công da màu.

Trong thập niên 50-60, xã hội Mỹ phân hóa sâu sắc giữa người da trắng và da màu. Trong âm nhạc, chỉ có một vài phân khúc dành cho người da màu như nhạc R&B hay gospel. Cùng thời kỳ với hai ngôi sao da trắng là Elvis Presley và Bing Crosby, Nat lập kỳ tích về mặt nghệ thuật khi gặt hái thành công với nhiều bản hit khác nhau. Hơn thế nữa, ông còn thành công hơn về mặt văn hóa vì đã phá bỏ định kiến về khuôn khổ xã hội cho nghệ sỹ da màu.

Cuộc biểu diễn ngày 12 tháng 4 năm 1956 tại Birmingham, Alabama, là sự kiện đáng nhớ với ông. Bang nhóm gồm hơn 100 người đàn ông da trắng lên kế hoạch tấn công concert từ bốn ngày trước đó. Sáu người đàn ông tìm cách túm chân và quật ông ngã xuống sàn diễn. Kết quả là Nat bị chấn thương nhẹ ở lưng và hủy diễn các concert tiếp theo.

Ông đã phá vỡ nguyên tắc truyền thống của người da trắng và da màu tại thời điểm đó. Hình mẫu ban nhạc đa sắc tộc của King Cole Trio có thể coi xúc phạm với người da trắng. Hơn thế, biểu diễn cho đám đông khán giả hai màu da là sự xúc phạm khác với cộng đồng người da màu.

Một sự kiện đáng chú ý khác trong năm 1956 là Nat dẫn Chương trình The Nat King Cole Show chính thức phát trên kênh truyền hình NBC. Chương trình thu hút lượng khán giả khổng lồ với sức hút Nat King Cole nhưng đài NBC thua lỗ nặng vì không có nhà tài trợ. Rất chua xót, không nhà tài trợ thương mại nào dám bỏ tiền ra với người dẫn chương trình da màu. Chương trình hàng tuần này phải hủy bỏ sau gần một năm lên sóng. Mặc dù sự tồn tại ngắn ngủi của Nat King Cole Show nhưng ông phá bỏ điều cấm kỵ : truyền hình chỉ dành cho người da trắng.

Di sản âm nhạc của thế kỷ 20

Nat King Cole qua đời vào tháng 2 năm 1965 ở tuổi 46 do căn bệnh ung thư phổi. Mặc dù mất sớm nhưng ông để lại bộ sưu tập âm nhạc đồ sộ và triết lý âm nhạc sâu sắc. May mắn hơn chút, ông đã có cô con gái thừa hưởng gene âm nhạc của mình, nữ ca sỹ Natalie Cole (sinh năm 1950 - mất năm 2015). Natalie Cole là nghệ sỹ tài năng, không chỉ hát mà đóng phim, tập trung vào dòng nhạc chính pop và R&B.

Hai giải Grammy quan trọng nhất sự nghiệp của Natalie Cole đều gắn liền với hai tác phẩm song ca với người cha quá cố : Unforgettable (Không thể nào quên) năm 1991 và When I fall in love (Khi tôi yêu) năm 1996. Cho dù được ghi âm bốn mươi năm sau bản gốc đơn ca, bản song ca của Natalie Cole làm bừng tỉnh ký ức và không gian âm nhạc lãng mạn mà người cha đã dày công kiến tạo. Điều đó nhắn nhủ chúng ta rằng tư duy âm nhạc của Nat King Cole, ngôi sao vĩ đại nhất thế kỷ 20, là bất tử như chất giọng quý giá của ông.

*****

(Theo Guardian, MRP)
viethoaiphuong
#473 Posted : Friday, June 19, 2020 6:44:40 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Covid-19 : Làng nhạc Pháp bị thất thu 4,5 tỷ euro

Tuấn Thảo - RFI - 19/06/2020
Theo khảo sát gần đây của công ty kiểm toán Ernst&Young, các đợt biểu diễn nhạc pop-rock và nhạc nhẹ là những nạn nhân kinh tế đầu tiên của dịch Covid-19, mức thiệt hại được ước tính lên tới 2,3 tỷ euro. Các phòng ghi âm, các tiệm bán đĩa, các nhà xuất bản và phân phối cũng bị vạ lây. Thiệt hại chung của toàn ngành công nghiệp nhạc Pháp lên tới 4 tỷ rưỡi euro.

Công ty kiểm toán Ernst&Young đã thực hiện cuộc khảo sát theo yêu cầu của tổ chức ‘‘Tous pour la musique’’ (TPLM), một đoàn thể bao gồm các đại diện của giới chuyên ngành, từ các nghệ sĩ, các chuyên viên kỹ thuật âm thanh và hình ảnh, các giám đốc nghệ thuật, các hãng đĩa, các rạp hát cũng như giới quản lý, phân phối cùng với giới sản xuất chuyên đầu tư vào các chương trình biểu diễn. Tính tổng cộng, nghiệp đoàn này đại diện cho hơn 250.000 nhân viên làm việc trong ngành kỹ nghệ âm nhạc tại Pháp.

Theo tổ chức TPLM, dịch Covid-19 đã làm tê liệt cả một guồng máy hoạt động trong ít nhất là ba tháng. Ngành công nghiệp âm nhạc tại Pháp nói chung đã mất khoảng 43% doanh thu trong năm 2020 tương đương với 4,5 tỷ euro. Các hoạt động bị tác hại nhiều nhất vẫn là các chương trình biểu diễn âm nhạc, kể cả những chương trình có hợp đồng cố định với các nhà hát hay là các đợt lưu diễn đi một vòng các rạp hát cũng như các liên hoan. Chỉ riêng trong lãnh vực biểu diễn trực tiếp trên sân khấu, làng nhạc Pháp mất khoảng 83% doanh thu, so với cùng thời kỳ năm trước. Trong ba tháng vừa qua, tính tổng cộng đã có 4.300 buổi biểu diễn đã bị hủy bỏ, trong đó có các đợt biểu diễn nhạc pop-rock, nhạc nhẹ, nhạc kịch, nhạc cổ điển và nhạc jazz. Mức thiệt hại tính chung lên tới hơn 2 tỷ euro.

Thời gian hậu phong tỏa dường như cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Với các quy định giãn cách xã hội, các nhà hát chỉ được quyền tiếp đón 50% lượng khán giả và như vậy có rất nhiều khả năng các chương trình biểu diễn (nhất là các show đòi hòi nhiều đầu tư) sẽ bị hủy bỏ. Theo dự phóng, cứ trên 10 chương trình biểu diễn, có đến 8 sẽ bị thua lỗ nếu được tổ chức với các điều kiện mang tính ràng buộc như hiện thời. Doanh thu đến từ khán giả vẫn không đủ để trả cho tất cả các chi phí đầu tư vào việc sản xuất show biểu diễn.

Theo ông Jean-Noël Tronc, chủ tịch hiệp hội Sacem bao gồm các tác giả, các nhà soạn nhạc và các nhà xuất bản, đây là lần đầu tiên các đại diện của giới chuyên ngành có cùng một tiếng nói. Theo ông, ngày 21/06 tới là Ngày hội Âm nhạc (La Fête de la Musique), nhưng hầu như chẳng có ai thật sự có tâm trạng vui mừng, không khí chung hiện giờ khá là ảm đạm chứ không háo hức lễ lạc, cũng chẳng chào đón liên hoan. Bởi vì đối với giới chuyên nghiệp, hầu như đa số các hoạt động vẫn còn bị tê liệt, đình trệ.

Theo ông JérômeTréhorel, giám đốc của liên hoan nhạc rock Vieilles Charrues, ngành kỹ nghệ âm nhạc cần có sự giúp đỡ của nhà nước, bằng không sẽ có nhiều công ty, cơ sở văn hóa cũng như một số liên hoan sẽ phải đóng cửa luôn. Ngành kỹ nghệ âm nhạc tại Pháp tuyển dụng tổng cộng 257.000 nhân viên, trong đó có khá nhiều người không chỉ làm một công việc duy nhất, mà làm tùy theo hợp đồng, chẳng hạn như một chuyên viên kỹ thuật âm thanh có thể làm việc cho nhiều liên hoan âm nhạc khác nhau, mỗi liên hoan kéo dài khi thì một tuần, lúc thì cả tháng.

Còn theo ông Ben Barbaud, giám đốc liên hoan nhạc rock và metal Hellfest từng bị hủy bỏ vì dịch Covid-19, nên có một kế hoạch hỗ trợ ở đầu nguồn, để tránh cho các công ty chuyên đầu tư vào ngành giải trí sa thải nhân viên. Các liên hoan chẳng hạn một khi buộc phải đóng cửa, có nguy cơ tác động dây chuyền đến nhiều ngành khác nhau : nghệ thuật, kỹ thuật, quảng cáo, tiếp thị và tất cả các nghề phục vụ có liên quan.

Theo đại điện của tổ chức TPLM, giới chuyên ngành yêu cầu chính phủ Pháp áp dụng một số biện pháp từng được ban hành cho nhiều ngành nghề khác. Trước hết miễn đánh thuế cũng như giảm bớt các khoản đóng góp vào quỹ an sinh xã hội ít ra trong năm 2020. Hồi đầu tháng 5, chính phủ Pháp đã cam kết sẽ áp dụng các biện pháp này trong vòng 4 tháng đối với giới nghệ sĩ và giới chuyên ngành văn hóa nói chung. Thế nhưng, đoàn thể TPLM cho rằng 4 tháng là vẫn chưa đủ và yêu cầu được hưởng các biện pháp ưu đãi ít nhất là trong vòng một năm.

Về phía các ban tổ chức liên hoan cũng như các ban quản lý nhà hát, giới này yêu cầu chính phủ ban hành những quy định cụ thể và rõ ràng hơn, hầu nới lỏng các điều kiện cho phép mở lại các nhà hát, hội trường hay các rạp biểu diễn. Ngành công nghiệp âm nhạc ở Pháp cho rằng đó là những điều kiện tối thiểu để khuyến khích khán giả trở lại và như vậy tạo được luồng dưỡng khí cần thiết cho một ngành nghề bị ‘‘nhấn chìm’’ dưới nước trong vòng ba tháng qua.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 6/19/2020(UTC)
viethoaiphuong
#474 Posted : Sunday, June 21, 2020 11:30:01 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Sam Smith - Thành thật với nỗi cô đơn

RFI - 20/06/2020
Nổi tiếng từ khá sớm ở tuổi 21, ngôi sao nhạc pop người Anh từng sở hữu 4 giải Grammy, 5 ca khúc lọt top 10 bài hát xuất sắc và 1 giải Oscar bài hát xuất sắc nhất trong phim James Bond. Tuy nhiên, thành công và nổi tiếng sớm lại gây ra nhiều phiền toái với cuộc sống riêng tư, khi Sam Smith công khai mình là người đồng tính.

Sam vẫn miệt mài hát về sự cô đơn, nước mắt trong tình yêu với dòng nhạc soul, dance-pop nhờ chất giọng tenor cao đặc biệt. Không chỉ dừng lại hát solo, Sam Smith chứng tỏ sự năng động trong việc hợp tác với các nghệ sỹ khác để tạo nên thỏi nam châm mới cho âm nhạc của mình.

Thần tượng George Micheal

Sinh ra và lớn lên ở thị trấn nhỏ ở ngoại ô London, Anh Quốc, Sam Smith theo học trường dòng Công Giáo. Anh vốn mặc cảm về cân nặng hơn là bị châm chọc về giới tính do thói quen trang điểm, chải mascara khi tới trường. Sam Smith bộc lộ giới tính từ rất sớm, năm 10 tuổi, khi sống cùng hai em gái trong ngôi nhà sơn màu hồng.

Lần đầu tiên xem concert của ca sỹ George Micheal năm 15 tuổi, Sam Smith đã phải lòng âm nhạc của thần tượng với ca khúc bất hủ Careless Whisper. Hơn thế nữa, khi nghe George Micheal thổ lộ về giới tính thật của mình, Sam Smith coi ông như người thầy vì “cách sống trung thực và chân chất với bản thân theo lối diễn đạt ấm áp”. Có thể thấy ít nhiều ảnh hưởng của George Micheal trong lối hát và những ca khúc dance-pop của Sam Smith. Tuy nhiên, nếu xét về giọng hát, Sam có phần nổi trội hơn thần tượng về độ cao cũng như dấu ấn sự cô đơn, lẻ loi trong từng bài hát.

Áp lực của sự nổi tiếng

Năm 2014 là năm đánh dấu bước ngoặt sự nghiệp của Sam Smith ở tuổi 22. Album In the Lonely Hour (Trong giờ khắc cô đơn) gặt hái thành công thương mại vang dội tại Anh Quốc và lọt vào top 10 ở Mỹ. Đây cũng chính là thời điểm anh công khai giới tính thật của mình. Sự thẳng thắn, bộc trực của Sam Smith như muốn dập tắt sự tò mò của công chúng, để tập trung vào chuyên môn âm nhạc.

Khi được công chúng để mắt tới, Sam Smith phải luyện tập giảm cân theo chế độ “intermittent fasting”, chờ 5h mới được ăn, không được ăn giữa các bữa. Từ năm 2015, anh giảm cân khá nhiều và không tuyệt đối không ăn bánh mỳ. Không chỉ áp dụng chế độ ăn kiêng, anh thay đổi sang mái tóc ngắn thay vì mái tóc dài xoăn do nguyên nhân rụng tóc. Kiểu tóc mới gợi nhớ lại ngay tới mái tóc thần tượng George Micheal trong tour lưu diễn Symphonica năm 2011.

Tuy nhiên, thay đổi hình ảnh không có nghĩa là Sam chuyển hưởng khỏi màu sắc buồn bã, u sầu anh vốn dĩ trung thành. Sam luôn biết cách biến một ca khúc vui nhộn như How Will I Know của Whitney Houston thành một ballad buồn sâu thẳm. Nếu như album đầu tiên In the Lonely Hour (2014) là sự săm soi tuyệt vọng trong trái tim của cậu bé trong tình yêu, album thứ hai The Thrill of it All (2017) đánh dấu sự trưởng thành của một người đàn ông bộc lộ hết cảm xúc ra vẻ ngoài. Giọng hát của Sam là vũ khí lợi hại, nó ám ảnh, chơi vơi giữa không gian, như sự tự tình với nỗi cô đơn của con người.

Những giấc mơ dị thường

Sự cô đơn, tuyệt vọng trong những bài hát của Sam là đề tài tốn giấy mực của giới truyền thông. Anh từng thú nhận về cảm xúc như một người phụ nữ trong thân xác đàn ông, luôn nhỏ lệ khỏi đôi mắt xanh ngọc bích. “Tôi rất tiếc nếu đã phát ngôn điều gì sai trái. Không muốn xúc phạm bất kỳ ai, vì ý định tôi rất thành thật và tử tế. Tôi chỉ muốn được đối xử như con người”.

Hơn thế nữa, Sam còn thổ lộ về ước mơ khi anh về già. Đó là giấc mơ dị thường và hạnh phúc nhất đối với người tự nhận thuộc giới LGBT. Anh sẽ mở cửa hàng hoa tươi tại miền quê nước Anh, vui thú nấu ăn đầm ấp bên gia đình gồm chồng, con cái. Đám tang của anh sẽ phát nhạc disco, thú vị hơn là nam giới sẽ ăn mặc cải trang thành nữ giới và ngược lại. Sam mơ ước về điều đó khi anh không thể hát được nữa với giọng hát nặng nề, tan vỡ, thở dốc như ngôi sao màn bạc Judy Garland cất tiếng hát Over The rainbow lúc về già.

Trái ngược với giấc mơ nghỉ hưu đó, Sam Smith thực tại vẫn tràn đầy năng lượng khi mở rộng hợp tác với rất nhiều nghệ sỹ. Điển hình như khi anh song ca với Calvin Harris trong bản nhạc dance Promises, kết hợp với Mary J Blidge trong ca khúc soul Stay with me hay chia lửa với Demi Lovato trong bài hát sôi động I’m Ready.

Về mặt thương mại, Sam muốn khuyến tán danh tiếng xa hơn, tới nhiều phân khúc khán giả bằng việc đứng chung sân khấu với các nghệ sỹ đương đại. Xét về mặt nghệ thuật, anh mong muốn tạo được màu sắc đa dạng, phong phú hơn trong âm nhạc và lối biểu diễn phối hợp. Khi hát đơn ca, giọng tenor của Sam Smith đôi khi gây cảm giác ám ảnh, chói tai ở những nốt rất cao. Nhưng khi kết hợp với chất giọng baritone hay alto, hai chất giọng khác biệt hòa giọng lại tạo được cảm xúc mới mẻ. Đó là sự cân bằng và hòa hợp lý tưởng về mặt kỹ thuật lẫn nghệ thuật, điển hình như ca khúc Dancing with a stranger (Khiêu vũ với người lạ) song ca ăn ý với nữ ca sỹ Normani. Bản nhạc dance-pop được xây dựng trên tiết tấu nhịp vừa phải, cảm xúc buồn man mác xen kẽ nuối tiếc.

Dòng chảy những bản ballad buồn của Sam Smith vẫn dài bất tận bất chấp sự soi mói về cuộc sống riêng tư. Phải chăng sự thành thật với nỗi cô đơn đã tạo nên dấu ấn riêng cho ngôi sao pop-dance sinh năm 1992 này?

I don't wanna be alone tonight (alone tonight) ; It's pretty clear that I'm not over you (over you, over you) ; I'm still thinking 'bout the things you do (things you do) ; So I don't wanna be alone tonight, alone tonight, alone tonight ; Can you light the fire? (light the fire, light the fire) ; I need somebody who can take control (take control) ; I know exactly what I need to do ; 'Cause I don't wanna be alone tonight, alone tonight, alone tonight

Em không muốn cô đơn đêm nay ; Đã quá rõ rằng em không còn say mê anh nữa ; Nhưng em vẫn nghĩ về những điều anh làm ; Vậy, em không muốn cô đơn đêm nay ; Anh có thể thắp lửa không? Em cần ai đó kiểm soát được mình ; Em biết chính xác mình cần gì ; Em không muốn cô đơn đêm nay.

*****

(Theo NYTimes, AllMusic)


viethoaiphuong
#475 Posted : Saturday, June 27, 2020 5:03:45 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Carole King - Người Mỹ không trầm lặng

RFI - 27/06/2020
Nước Mỹ yêu quý Carole King và luôn coi bà như một người bạn tâm giao trong âm nhạc. Một nữ nghệ sỹ sáng tác và biểu diễn vĩ đại nhất với kỷ lục 118 ca khúc top hit lọt vào Bảng xếp hạng Billhoard, 75 triệu album tiêu thụ khắp toàn cầu.

Theo Gia Trình, ít người biết rằng Aretha Franklin, Rod Stewart hay nhóm The Beatles đều từng thể hiện các ca khúc do Carole King sáng tác. Không chỉ là đại diện xuất sắc cho nghệ sỹ nữ thập niên 60-70, bà còn tiên phong vai trò hình ảnh giao thoa giữa nghệ sỹ sáng tác và biểu diễn.

Tài năng âm nhạc sớm bộc lộ

Carole King sinh năm 1942 tại Manhattan, New York trong gia đình bố mẹ người gốc Do Thái. Bà được dạy piano từ năm lên 4 tuổi và sớm bộc lộ năng khiếu biểu diễn khi lập nhóm nhạc Co-Sines ở trung học. Khi vào học Queen College, Carole tình cờ quen với nghệ sỹ sáng tác Neil Sedaka, Paul Simon và người bạn đời Gerry Goffin. Carole kết hôn với Gerry năm bà mới 17 tuổi, đồng thời cặp đôi đồng sáng tác và sản xuất những đứa con tinh thần quý giá.

Trước khi bà kết hôn, Neil Sedaka say mê Carole King, sáng tác ca khúc nổi tiếng Oh Carol để bày tỏ tình cảm với bà vào năm 1959. Ngay lập tức cặp đôi King và Giffin đáp trả bằng bài hát vui nhộn Oh Neil dựa trên nền nhạc bài của Sedaka. Cho đến giờ, đây là vẫn sự kiện sự hài hước nhất trong làng âm nhạc hiện đại, cũng khắc họa được tư tưởng thực tế pha chút dí dỏm của Carole trong kỹ năng viết lời.

Oh! Neil ; I've loved you for so long ; I never dreamed you'd put me in a song ; I'm Carol and I live in Tennessee ; I never hoped that you'd remember me ; Darling, when I saw you at the square dance ; My pulse skipped a beat ; My heart felt so heavy ; Like I had too much to eat.

Ôi Neil yêu dấu ; Em yêu anh đã quá lâu ; Em không thể mơ đến anh, đưa tên em vào bài hát ; Em là Carol đây và em sống ở Tennessee ; Em không hy vọng anh còn nhớ em ; Anh yêu khi thấy anh nhảy ở quả ng trường ; Tim em như ngừng đập ; Tim em quá nặng nề ; Hình như em ăn hơi quá nhiều.

Sự nghiệp sáng tác nhạc nở hoa

Bắt đầu sáng tác từ năm 15 tuổi, nhưng phải 4 năm sau, năm 1961, tên tuổi Carole King mới chính thức biết đến rộng rãi. Thành công vang dội của bản hit Will you love me tomorrow do nhóm nhạc nữ da màu The Shirelles thể hiện, chính thức mở màn cho sự nghiệp sáng tác thăng hoa của hai vợ chồng Carole. Ca khúc leo lên hạng 1 bảng xếp hạng Billboard và được coi là bản ballad đẹp nhất Carole King viết về tình yêu. Giờ đây, tên tuổi Carole King không còn trầm lặng nữa mà liên tiếp khuấy đảo bảng xếp hạng âm nhạc.

Tonight the light of love is in your eyes ; But will you love me tomorrow ; Is this a lasting treasure ; Or just a moment's pleasure ; Can I believe the magic in your sighs ; Will you still love me tomorrow ?

Đêm nay, ánh mắt anh tràn ngập tình yêu ; Liệu ngày mai anh có còn yêu em ; Liệu đây là kho báu vĩnh cửu ; Hay chỉ giây phút hân hoan ; Liệu em có tin vào phép màu của hơi thở ; Liệu ngày mai anh có còn yêu em ?

Hàng loạt bản hit choán ngôi bảng xếp hạng thập niên 60 như Take Good Care of My Baby, The Loco-Motion, Chains được nhóm The Beatles cover, đặc biệt là tác phẩm You Make Me Feel Like a Natural Womando nữ ca sỹ Aretha Franklin thể hiện. Càng về sau, các tác phẩm do Carole King viết khá trúc trắc về giai điệu, khó về cách xử lý nhưng ca từ rất sâu sắc. Bà đã tạo ra chuẩn mực mới về ca từ tại thời điếm đó.

Không chỉ toát lên sự giản dị, lãng mạn, điểm cộng lớn nhất của Carole King là truyền tải được quan điểm sống rất thực tế của người Mỹ. Thành công về sự nghiệp sáng tác cũng mở đường cho Carole King lấn sân trong vai trò ca sỹ trong thập niên 60. Tuy nhiên, bà chỉ ghi lại dấu ấn nhờ một bản hit duy nhất năm 1962 It Might as Well Rain Until September khi khán giả vẫn đóng đinh bà với hình ảnh nhạc sỹ.

Album để đời Tapestry năm 1971

Sau album đầu tay solo Writer (1970) không để lại nhiều dấu ấn, Carole King được người bạn lâu năm, nam nghệ sỹ James Taylor động viên theo đuổi sự nghiệp solo. Một năm sau, album Tapestry ra mắt năm 1971 đánh dấu đỉnh cao sự nghiệp của Carole. Bà giành được bốn giải Grammy quan trọng nhất trong đó có Ghi âm của năm cho It’s Too Late và Ca khúc của năm cho You’ve got a friend. Đây vẫn được coi là kỳ tích của một nhạc sỹ/ca sỹ nữ khi lần đầu tiên giành giải Ca khúc của năm. Album Tapestry trụ tại bảng xếp hạng Billboard trong gần sáu năm và trở thành album bán chạy nhất thập niên 70.

Stayed in bed all mornin' just to pass the time ; There's somethin' wrong here, there can be no denyin' ; One of us is changin', or maybe we've just stopped tryin' ; And it's too late, baby now, it's too late ; Though we really did try to make it ; Somethin' inside has died, and I can't hide ; And I just can't fake it, oh, no, no

Nằm trên giường cả sáng để giết thời gian ; Có đôi điều đó không ổn mà chúng không thể phủ nhận ; Một trong hai ta đã thay đổi hoặc chúng ta đã ngừng cố gắng ; Đã quá muộn rồi anh yêu, quá muộn ; Mặc dù chúng ta đã cố gắng hàn gắn ; Trong em, một vài thứ đã chết đi, em không muốn che dấu điều đó ; Và em không thể giả tạo nữa.

Điều gì tạo nên sức hút thần kỳ của Carole King trong album này ? Nhạc cụ chủ yếu sử dụng piano và pha ít trống, album pop/rock pha hơi hướng nhẹ của jazz, giàu cảm xúc vì chính nhạc sỹ là người truyển tải thông điệp sáng tác.

Cần lưu ý rằng thập niên 60 và 70 là sự bùng nổ của trào lưu phản chiến với tuyên ngôn Make Love Not War khởi nguồn từ chiến tranh Việt Nam. Thời điểm ra mắt Album Tapestry đúng điểm rơi của trào lưu này. Carole thành công khi khắc họa chân thực nhất đời sống tình cảm người Mỹ. Hai ca khúc I Can Feel the Earth Movevà You Make Me Feel like a Natural Woman mô tả trực diện về đời sống tình dục viên mãn, So Far Away khắc họa sự cô đơn lẻ loi. It’s Too Late nói về sự đổ vỡ tình cảm, Beautiful đề cao sự coi trọng giá trị bản thân, hay đề cao giá trị tình bạn trong bản hit bất hủ You’ve got a friend(Bạn luôn có một người bạn).

Một người bạn kiểu Mỹ

Gần 50 năm sau, thành công của album Tapestry là mũi tên trúng nhiều đích không chỉ riêng với sự nghiệp Carole King mà còn cả nền công nghiệp âm nhạc. Về mặt nghệ thuật, đó là sự tôn vinh nghệ sỹ tài năng vừa có thể sáng tác khiêm biểu diễn, đặc biệt về kỹ năng viết lời xuất sắc. Thành công về thương mại nói lên sự gắn bó hữu cơ giữa âm nhạc và đời sống, cụ thể là sự từng trải của người nghệ sỹ.

Trả lời phỏng vấn đài CBS, Carole thổ lộ rằng khán giả yêu mến bà vì họ coi bà như một người bạn thực tế và không viển vông. Âm nhạc của Carole không cần minh họa bằng các video clip gợi cảm, bốc lửa như Madonna như Beyonce. Thực tế, sự khêu gợi hay cảm xúc mãnh liệt được phản ánh hết trong ca từ, giai điệu khỏe khoắn, vút bay như ca khúc You Make Me Feel. Chính vì vậy, khán giả luôn tâm niệm Carole King là người bạn lớn trong âm nhạc, không trầm lặng và luôn thấu hiểu muôn vạn trạng cảm xúc.

(Theo CBS, All Music)


viethoaiphuong
#476 Posted : Sunday, July 5, 2020 1:41:28 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)


Sting - Thủ lĩnh âm nhạc đa diện

RFI - 04/07/2020
Sting không còn là tên tuổi xa lạ trong giới âm nhạc vì những tác phẩm có tính triết lý thâm thúy, có độ phủ và sức lan tỏa mạnh mẽ. Giọng ca chính và cựu guitar bass của nhóm nhạc rock Anh Quốc The Police luôn tự hào về gia tài âm nhạc trải dài hơn 40 năm qua.

Tuy nhiên, năng lượng sáng tạo của Sting không bị thời gian bào mòn. Ông vẫn liên tục làm mới các ca khúc của mình sáng tác theo thời gian. Năm 2019, album có tên giản dị My songs (Những bài hát của tôi) là minh chứng rõ nét cho tư tưởng và năng lượng sáng tạo của ngôi sao đa diện.

Năng lượng sáng tạo của My Songs

Album My Songs là hợp tuyển gồm 15 ca khúc top hit từ thời Sting hoạt động trong nhóm The Police lẫn sự nghiệp solo. Trước đó, Sting từng làm mới các ca khúc đinh của mình trong nhiều album khác nhau, ví dụ như Symphonicities (2010). Nếu như album Symphonicities là thử nghiệm mới mẻ trên nền dàn nhạc giao hưởng, phần sáng tạo trong My songs chủ yếu nhấn mạnh vào lối chơi trống và âm thanh điện tử nhằm tận dụng lợi thế công nghệ.

Thực tế, Sting nhận định việc cover hay làm mới các ca khúc cũ là chuyện hết sức bình thường : “Nhiều người cho rằng khi làm mới ca khúc, bạn phải làm nó trở nên xúc động, thần thánh hóa hoặc như cổ vật viện bảo tàng. Tôi không tin vào điều đó vì công nghệ luôn thay đổi và giọng hát cũng thay đổi theo thời gian”.

Mặc dù giới phê bình không đánh giá cao, Sting đang làm phép so sánh sự trưởng thành của một nghệ sỹ qua thời gian. Giọng hát của Sting có phần sâu lắng hơn, dầy dặn hơn và đa chất liệu hơn qua hơn 40 năm đứng trước microphone. Khó có thể kết luận giọng ca Anh Quốc này hay hơn hay dở hơn trước, nhưng chúng ta có thể thấy sự khác biệt về tuổi tác, cảm xúc và trải nghiệm. Trong album này, bản phối mới vẫn trung thành với chất liệu âm nhạc đa dạng pop/rock, jazz, world music, đặc biệt màu sắc âm nhạc Trung Đông của Desert Roses (Đóa hồng sa mạc) và Brand New Day (Một ngày mới).

Thông thường, một album hợp tuyển (discography complilation) thường chú trọng yếu tố thương mại nhiều hơn nghệ thuật nhưng Sting có vẻ tham vọng nhiều hơn thế. My Songs là một lát cắt điển hình nhất về sự nghiệp âm nhạc của ông. Một số bài được dựng lại, một số bài điều chỉnh đôi chỗ sao cho phù hợp, một số được đóng khung lại nhưng tất cả đều mang âm hưởng đương đại mà nghệ sỹ muốn hướng tới.

Nghệ sỹ - Chính trị gia - Triết gia

Với Sting, âm nhạc không chỉ là phương tiện nghe-nhìn, mà còn là tiếng nói mạnh mẽ nhất cho sự sinh tồn của nhân loại. Ông đã vượt ra khỏi khuôn khổ nghệ thuật để vận động tích cực cho các chiến dịch chống biến đổi khí hậu và chính trị toàn cầu.

Sting sống và làm việc như một công dân toàn cầu : Ông sống chủ yếu ở New York (Mỹ), cuối tuần bay đến Paris (Pháp) rồi quay trở lại Anh trong vài vài tuần. Ca khúc An English man in New York (Người Anh sống ở tại New York) ngầm ẩn chứa trải nghiệm và thông điệp sâu sắc này. Sting tự nhận mình là kẻ ngoài hành tinh hợp pháp khi nói về lượng người nhập cư kỷ lục tại New York. Thành phố New York (Mỹ) nơi Sting gắn bó, cũng là nơi cuộc sống năng động được xây dựng trên động lực của người nhập cư đến từ Anh Quốc, Nhật, Nam Mỹ, châu Phi. Sự đa dạng chủng tộc cũng như tài năng tạo được động lực phát triển cho xã hội. Những triết lý sâu xa như vậy đều truyền tải trong ca từ của các sáng tác của ông.

See me walking down Fifth Avenue ; A walking cane here at my side ; I take it everywhere I walk ; I'm an Englishman in New York ; I'm an alien, I'm a legal alien ; I'm an Englishman in New York ; I'm an alien, I'm a legal alien ; I'm an Englishman in New York.

Bạn nhìn thấy tôi ở Đại lộ số Năm ; Tay tôi cầm gậy chống ; Tôi mang gậy đi muôn nơi ; Tôi là một người Anh sống ở New York ; Tôi là người ngoài hành tinh, một người ngoài hành tinh hợp pháp ; Tôi là một người Anh sống ở New York ; Tôi là người ngoài hành tinh, một người ngoài hành tinh hợp pháp.

Quả thực, Sting say mê với chủ đề về nền dân chủ, biến đổi khí hậu và chiến tranh. Sting và người vợ hiện tại Trudie, đã lập ra quỹ Rainforest Foundation năm 1989 nhằm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu.

Ông có thể trò chuyện hàng giờ về Brexit, nền dân chủ vì ông ủng hộ nước Anh ở lại với liên minh châu Âu. Sự uyên bác của nghệ sỹ chỉ ra rằng môi trường chính trị ngày nay không giải quyết được với các vấn đề xã hội nan giải như biến đổi khí hậu hay giúp đỡ nhân loại. Chính vì thế, dòng người nhập cư tăng đột biến và đó là trách nhiệm của tất cả nhân loại. Sting từng nhận định “là một nhạc sỹ, bạn có thể gieo mầm trong đầu óc ai đó và người đó có thể trở thành tầng lớp chính trị hay gây ảnh hưởng có thể thay đổi thế giới”. Những luồng tư tưởng đó được truyển tải vào ca khúc sâu lắng như Fragile (Mong manh).

If blood will flow when flesh and steel are one ; Drying in the colour of the evening sun ; Tomorrow's rain will wash the stains away ; But something in our minds will always stay ; Perhaps this final act was meant ; To clinch a lifetime's argument ; That nothing comes from violence and nothing ever could ; For all those born beneath an angry star ; Lest we forget how fragile we are ; On and on the rain will fall ; Like tears from a star like tears from a star ; On and on the rain will say ; How fragile we are how fragile we are.

Máu sẽ chảy khi da thịt và sắt thép là một ; Cạn khô màu trong ánh nắng ban chiều ; Cơn mưa ngày mai sẽ xóa nhòa tất cả vết ố ; Nhưng một vài thứ trong đầu chúng ta sẽ vẫn y nguyên ; Có lẽ hành động này có ý nghĩa ; Kết thúc một cuộc tranh cãi cả cuộc đời ; Không có gì đến từ bạo lực và có thể mãi mãi ; Với những ai sinh ra dưới chòm sao giận dữ ; Chúng ta đều quên mất con người mong manh đến nhường nào ; Mưa sẽ đổ như trút ; Như nước mắt từ những ngôi sao ; Mưa sẽ nói rằng... Chúng ta mong manh nhường nào.

Ngôi sao đa diện với sự nghiệp âm nhạc đồ sộ

Sting từng làm rất nhiều nghề trước khi trở thành ngôi sao: nhân viên sở thuế hay giáo viên tiểu học. Sau khi chuyển đến sống ở London với người vợ đầu, Sting thành lập nhóm nhạc The Police với tay trống Stewart Copeland và tay guitar Andy Summers. Năm 1978, The Police ra mắt album đầu tay với bản hit thành công Roxanne kể về chuyện tình một người đàn ông với cô gái điếm tên Roxanne. Dù chỉ tồn tại trong 7 năm, The Police vẫn được coi là một trong những ban nhạc thành công nhất nước Anh thập niên 70-80.

Tuy nhiên, Sting bị coi là tội đồ cho sự tan rã nhóm đến mức hai thành viên còn lại bất mãn (mặc dù nhóm tái hợp năm 2008 và tổ chức lưu diễn chung). Ngoài ra, Sting còn bị đồn thổi về tính cách kiêu ngạo và ngang ngược. Trước những đồn thổi về việc đạo nhạc, ông bảo vệ quan điểm khá rõ ràng “Trong nhạc pop, không có gì gọi là nguyên bản tự sáng tác. Chúng ta đều cóp nhặt ở ý tưởng sẵn có và sự nguyên bản đến từ việc chúng ta phiên dịch nó ra sao.”

Cho dù ở bất cứ vai trò nào, hình ảnh của Sting hiện lên như một một thủ lĩnh uyên bác, giọng hát làm chủ sân khấu và biết cách tán tỉnh khán giả một cách khôn khéo.

(Theo Guardian, NHK)
1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/5/2020(UTC)
viethoaiphuong
#477 Posted : Monday, July 6, 2020 5:06:19 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Ennio Morricone, nhà soạn nhạc phim nổi tiếng người Ý qua đời

Minh Anh - RFI - 06/07/2020
Làng nhạc phim điện ảnh vừa mất đi một cây đại thụ. Truyền thông Ý thông báo nhà soạn nhạc Ennio Morricone, nổi tiếng với những bản nhạc phim bất hủ đã từ trần tại Roma, trong đêm Chủ Nhật rạng sáng thứ Hai 06/07/2020, thọ 91 tuổi.

Theo truyền thông Ý, Ennio Morricone qua đời tại một bệnh viện tư nhân ở Roma sau khi bi ngã cách nay vài ngày, khiến ông bị vỡ xương đùi. Thông cáo của luật sư và cũng là bạn của gia đình, ông Giorgio Assuma, được hãng tin Ansa của Ý trích dẫn, viết rằng « ông ra đi với một niềm tin thanh thản ». Vẫn theo vị luật sư này, Ennio Morricone vẫn giữ « một tâm trí minh mẫn và một nhân cách lớn cho đến hơi thở cuối cùng ».

Ennio Morricone là một trong số các nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất và sung sức nhất trong làng nhạc điện ảnh : Hơn 500 nhạc phẩm cho điện ảnh với những giai điệu đi vào huyền thoại như « The Good, the Bad and the Ugly (Tạm dịch: Thiện, Ác, Tà), Once Upon a Time in the West (Ngày xửa ngày xưa ở miền Tây), Dollars Trilogy (Tam bộ khách vô danh) … ».

Được gắn một ngôi sao trên Đại lộ Hollywood nổi tiếng, ông từng được trao giải Oscar nhạc phim hay nhất cho bộ phim The Eight Sluts ở tuổi 87.


1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/6/2020(UTC)
viethoaiphuong
#478 Posted : Tuesday, July 7, 2020 5:35:46 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)


Mùa hè đầy ấn tượng với liên hoan "Normandie Impressioniste"

Tuấn Thảo - RFI - 06/07/2020
Sau gần một năm bị trì hoãn, cuối cùng chương trình văn hóa ‘‘Normandie Impressioniste’’ (Vùng Normandie ấn tượng) cũng được khai mạc hồi đầu tuần và sẽ kéo dài cho tới tháng 11/2020. Hơn 30 bảo tàng ở vùng Normandie giới thiệu hàng trăm sinh hoạt đủ loại : hội họa, nhiếp ảnh, âm nhạc, hội thảo, chiếu phim để tái tạo khung cảnh nghệ thuật của trường phái ‘‘ấn tượng’’.

Ra đời cách đây đúng một thập niên, liên hoan theo chuyên đề ‘‘Normandie Impressioniste’’ được tổ chức cứ ba năm một lần. Mỗi kỳ liên hoan trước vào năm 2010, 2013, 2016 đã thu hút trên một triệu lượt người tham gia. Năm 2020 là liên hoan lần thứ tư và cuối cùng cũng được diễn ra sau nhiều lần bị đẩy lùi do dịch Covid-19. Chương trình năm nay cũng đã có nhiều thay đổi so với kế hoạch ban đầu, thế nhưng theo bà giám đốc liên hoan Selma Toprak, ban tổ chức háo hức chờ đón ngày khai mạc sau một thời gian dài đầy bất trắc. Rốt cuộc, 50 cuộc triển lãm và khoảng 400 sự kiện lớn nhỏ được duy trì trên khắp vùng Normandie theo chủ đề ‘‘La Couleur au jour le jour’’ (Màu sắc, ngày qua ngày).

Nổi tiếng là nơi tạo nguồn cảm hứng của các danh họa ấn tượng, vùng Normandie trong mùa hè này là điểm hẹn của giới yêu chuộng nghệ thuật. Ngôi làng Giverny, chốn an nghỉ cuối cùng của danh họa Claude Monet, tổ chức cùng lúc hai cuộc triển lãm. Đầu tiên hết là ‘‘Reflets d’une collection’’ phản ánh bộ sưu tập gồm hơn 200 tác phẩm của Viện bảo tàng Monet ở Giverny. Bảo tàng này cũng tổ chức song song cuộc triển lãm trực tuyến theo chủ đề : Tranh vẽ ngoài trời từ Corot đến Monet, phản ánh nếp sống và sinh hoạt ở miền đồng quê Normandie, khi phong cảnh thiên nhiên được biến thành một xưởng vẽ lộ thiên, dưới ánh sáng tự nhiên ban ngày. Các kiệt tác hội họa ở đây chủ yếu được giới thiệu trên mạng.

Nếu muốn xem tận mắt các bức tranh nổi tiếng của các bậc thầy của trường phái ấn tượng như Renoir, Sisley, Manet, Cézanne, Corot, Signac, Bonnard hay là Monet, khách tham quan phải chịu khó đến tham quan các viện bảo tàng lớn ở vùng Normandie, trong đó có Bảo tàng nghệ thuật hiện đại André Malraux ở thành phố Havre. Nhân dịp này, bảo tàng André Malraux (còn thường được gọi là MuMa) khai trương cuộc triển lãm với chủ đề ‘‘Nuits Électriques’’ cho tới ngày 01/11/2020, qua đó cho thấy các danh họa ấn tượng là những nghệ sĩ đầu tiên phản ánh trong tác phẩm của họ những thay đổi trong nếp sống đô thị qua hệ thống thắp sáng thành phố bằng ánh đèn nhân tạo.

Còn tại Viện bảo tàng Mỹ thuật thành phố Rouen, từ ngày 11/07 cho đến ngày 15/11/2020, một cuộc triển lãm lớn giới thiệu 100 tác phẩm trong bộ sưu tập của nhà triệu phú người Pháp François Depeaux, ông từng trở nên cực kỳ giàu có cuối thế kỷ 19 nhờ khai thác các mỏ than đá. Sinh thời, ông François Depeaux đã mua và sưu tầm hơn 600 tác phẩm của các danh họa ấn tượng như Monet, Guillaumin, Pissaro, Renoir, Morisot, Degas, Cézanne, Gauguin, Caillebotte hay là Toulouse-Lautrec .

Ông cũng là người đầu tiên mua bộ tranh ‘‘Cathédrales’’ của danh họa Monet chuyên vẽ đi vẽ lại cùng một mô típ Nhà thờ Đức bà Rouen, dưới nhiều góc độ và thời điểm khác nhau, để đối chiếu cách dùng ánh sáng. Thành phố Rouen còn có danh hiệu ‘‘Kinh thành với 100 ngọn tháp chuông’’ theo cách gọi của Monet. Đến khi qua đời, ông François Depeaux đã tặng theo di chúc một phần của bộ sưu tập này cho thành phố Rouen. Hai thị trấn Bois-Guillaume và Bois-Guilbert, nguyên quán của gia đình ông cũng tham gia tổ chức triển lãm về các họa sĩ thuộc trường phái ấn tượng, trong đó có khá nhiều họa sĩ cũng nhờ ông François Depeaux, mà sau này trở nên nổi tiếng.

Cherbourg, Dieppe, Saint Lô, Caen, Honfleur, Louviers, Ouistreham, các viện bảo tàng tại các thành phố này đều tham gia vào chương trình ‘‘Vùng Normandie ấn tượng’’. Các cuộc triển lãm không chỉ dừng lại với các danh họa Pháp, mà còn được mở rộng sang các họa sĩ đến từ châu Âu, trong đó có các nghệ sĩ như Steinlen, Jansson, Regoyos Grimshaw hay là Gonzalès đến từ Thụy Điển, Đức, Bỉ, Hà Lan hay Tây Ban Nha.

Theo lời giải thích của ông Carl-Johan Olsson, trưởng ban quản lý triển lãm tại Bảo tàng Hoàng gia Thụy Điển ở Stockholm, vào những năm 1870-1880, có khá nhiều nghệ sĩ trẻ tuổi ở châu Âu đã muốn thoát khỏi các quy tắc nghệ thuật nặng tính hàn lâm tại đất nước của họ thời bấy giờ. Nhiều nghệ sĩ tiên phong không có ‘‘đất dụng võ’’, không tìm ra được nơi để tổ chức trưng bày các tác phẩm của họ. Đối với giới nghệ sĩ này, Paris tựa như là một vùng đất đầy hứa hẹn, tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho họ phát huy tài năng.

Quá khứ, hiện tại và tương lai, các họa sĩ thuộc trường phái ‘‘ấn tượng’’đã thay đổi triệt để cả nội dung lẫn hình thức trong nghệ thuật hội họa qua việc sử dụng màu sắc, lối tiếp cận tổng thể cũng như sắp đặt chi tiết và xa hơn nữa là cách khai thác ánh sáng tự nhiên, khi thì trực tiếp lúc thì phản chiếu, dùng nét vẽ chấm phá để gợi lên cảm giác trong suốt khi tia nắng xuyên qua cảnh vật, hay đục mờ khi ánh sáng bị cản lại.

Trong chiều hướng đó, khoảng 20 phòng tranh chuyên trưng bày các tác phẩm đương đại, phối hợp tổ chức triển lãm nghệ thuật nhiếp ảnh trong năm nay. Hầu hết các nghệ sĩ ở đây như James Welling, Stan Douglas, Michel Campeau, Catherine Opie, Barbara Kasten và Paul Graham, đều chụp ảnh như sáng tác một bức tranh trừu tượng. Trong cách dùng ‘‘pixel’’ thay thế cho bút cọ nét vẽ, trong cách sắp đặt và tương phản ánh sáng trong kỹ thuật in ấn, họ luôn tìm tòi thử nghiệm để tạo ra một tính thẩm mỹ khác lạ nhờ biết phối hợp các mảng màu sắc chấm phá. Hành trình thử nghiệm của giới nghệ sĩ thời internet và công nghệ số, cho thấy là phong trào hội họa ấn tượng vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ cho tới tận ngày nay.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/7/2020(UTC)
viethoaiphuong
#479 Posted : Wednesday, July 8, 2020 5:35:25 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,469
Points: 11,562

Thanks: 773 times
Was thanked: 183 time(s) in 182 post(s)

Các liên hoan ở Paris chiếu phim ngoài trời

Tuấn Thảo - RFI - 07/07/2020
Thủ đô Paris từng bước nối lại với các sinh hoạt văn hóa trong thời hậu phong tỏa. Nếu như một số sự kiện có nguy cơ bị hủy bỏ, chẳng hạn như lễ bắn pháo bông nhân ngày Quốc Khánh 14/07 hàng năm, thì ngược lại các liên hoan chiếu phim ở ngoài trời ở Paris và các vùng phụ cận sẽ được duy trì trong suốt hai tháng hè.

Một trong những sự kiện mới lạ năm nay là chương trình chiếu phim mang tên là Ciné Tarmak trong khuôn viên của Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Le Bourget, vùng ngoại ô phía Bắc thủ đô Paris. Gợi hứng từ các liên hoan chiếu phim dưới bầu trời đầy sao tại công viên La Villette, trong khuôn viên bảo tàng Louvre hay là trên đại lộ Champs Élysées nổi tiếng thế giới, Viện bảo tàng Hàng không và Không gian nằm gần phi trường Le Bourget lần đầu tiên tổ chức một liên hoan ngoài trời, không chỉ có chiếu phim mà còn kết hợp với nhiều sinh hoạt khác.

Để tránh làm y hệt như liên hoan chiếu phim La Villette, chương trình Ciné Tarmak cũng chiếu phim ngoài trời nhưng lại chiếu theo kiểu Mỹ, biến khuôn viên Viện bảo tàng thành một bãi đậu xe ‘‘drive-in’’ khổng lồ. Khán giả xem phim trên màn ảnh lớn nhưng vẫn ngồi ở trong xe, hoặc ngồi tại những chỗ có sắp đặt trước và như vậy thuận tiện dễ dàng hơn về mặt giãn cách xã hội trong thời hậu Covid-19, trong khi tại các liên hoan ngoài trời khác, khán giả thường tự chọn chỗ ngồi, nhưng đôi khi lại không tuân thủ đúng các quy định an toàn.

Trong khuôn khổ Ciné Tarmak, buổi chiếu phim dự trù kết thúc vào 10 giờ tối và sẽ được tiếp nối với một buổi hòa nhạc điện tử. Chương trình này do các tay DeeJay điều khiển, khán giả có thể nghe và xem trực tiếp trên màn ảnh lớn. Xung quanh màn ảnh khổng lồ, các loại xe tải foodtrucks bán đầy đủ thức uống và đồ ăn kể cả món mặn và món ngọt. Khán giả không cần phải đứng xếp hàng tại các quầy bán thức ăn, vì họ có thể đặt món với các nhân viên phục vụ và sau đó sẽ được giao ngay tận xe. Bằng hình thức này, ban tổ chức muốn tạo lại bầu không khí của các drive-in, có thể rất quen thuộc đối với người Mỹ, nhưng hình thức xem chiếu phim từ xe hơi lại khá mới lạ đối với dân Pháp.

Đối với người dân thủ đô Paris, họ chỉ biết đến phi trường Le Bourget mỗi lần được dịp đi xem Hội chợ Triển lãm quốc tế Hàng không và Không gian (Paris Air Show), tổ chức cứ hai năm một lần vào cuối tháng 6. Nhưng năm nay, họ được dịp khám phá Viện bảo tàng Le Bourget dưới một góc độ hoàn toàn khác biệt. Điều cần lưu ý là chương trình chiếu phim chỉ được tổ chức mỗi tuần một lần, vào các buổi tối thứ 7, kể từ ngày 04/07 cho tới ngày 22/08/2020.

Bên cạnh các mô hình thu nhỏ của tên lửa Ariane và máy bay siêu âm Concorde, ban tổ chức chủ yếu chọn những tác phẩm lịch sử cũng như phim truyện có nội dung liên quan với hai ngành hàng không và không gian. Chẳng hạn như các bộ phim Apollo 13, Bộ ba Ưu việt (Hidden Figures) hay là Bước chân đầu tiên (First Man) nói về các chuyến du hành vũ trụ và thám hiểm không gian của cơ quan không gian Hoa Kỳ Nasa. Bên cạnh đó, còn có bộ phim chiến tranh Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) hay các bộ phim khoa học viễn tưởng Star Trek, tập đầu tiên hay là Alien, hành khách thứ 8.

Chương trình chiếu phim ngoài trời Ciné Tarmak tổ chức tại Viện bảo tàng Le Bourget, có thể khá mới lạ, nhưng giá vé vào cửa lại hơi cao (40€ mỗi người), cho dù có tính chung suất chiếu phim, buổi hòa nhạc, pop corn, bánh kẹo và thức giải khát. Tuy nhiên, sinh hoạt này lại có thể thu hút nhiều giới trẻ yêu chuộng Instagram và luôn đi tìm các hình thức giải trí ‘‘thời thượng’’.

Đối với những khán giả nào muốn kết hợp nghệ thuật thứ bảy với sinh hoạt văn hóa miễn phí, thì chương trình chiếu phim ngoài trời ở công viên La Villette, có lẽ là thích hợp hơn cả. Năm nay, liên hoan này vẫn được duy trì, cho dù chương trình được rút gọn lại, trong khi cách sắp xếp tổ chức lại chặt chẽ hơn. Khác với năm trước, khán giả buộc phải đăng ký trên mạng ngày giờ và số thành viên tham gia, do ban quản lý muốn hạn chế số người xem phim ở cùng một nơi, dù rằng bãi cỏ trong khuôn viên La Villette là một không gian mở rộng và thông thoáng.

Được thành lập từ năm 1990, liên hoan chiếu phim ngoài trời La Villette thu hút khoảng 100.000 lượt người tham gia mỗi năm. Tuy nhiên năm nay, khán giả đến xem phim cũng sẽ buộc phải tuân thủ một số quy định như đeo khẩu trang cho tới khi được dẫn tới chỗ ngồi. Vì vấn đề vệ sinh chung, việc thuê ghế bố cũng sẽ bị hạn chế. Các chỗ ngồi trên bãi cỏ cũng được sắp đặt sao cho các nhóm khán giả đừng ngồi quá gần sát nhau. Ngoại trừ những ràng buộc này ra, liên hoan chiếu phim La Villette đều hoàn toàn miễn phí và sẽ giới thiệu liên tục từ ngày 23/07 cho đến ngày 22/08 hàng chục bộ phim đủ loại, xưa cũng như nay.

1 user thanked viethoaiphuong for this useful post.
Tonka on 7/8/2020(UTC)
Users browsing this topic
Guest (2)
24 Pages«<222324
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.