Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

những vấn đề cần biết về Văn Hóa -Xã Hội Việt Nam
viethoaiphuong
#1 Posted : Thursday, February 12, 2009 4:00:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Những tính nết Tốt và Xấu của người Việt


Tôi vừa đọc bài “ Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt “ trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đảo Văn Bình.
Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn “ quy tư “ về con Người chính mình và đồng bào mình. Cái nhìn khó nhất trên đời là con Người chính mình và con Người của đồng bào mình.
Nói về chuyện người thì ai cũng hám nghe, nhưng khi nói về mình về đồng bào mình, nhất là chuyện xấu thì thật là khó nghe, người nghe có cảm tưởng người viết có ý lên mặt dạy đời, nhưng khổ thay vơớ bệnh tình đất nước hiện nay, có chẩn đúng bệnh và có “ thuốc đắng có mới dã được tật “.


Ta biết ngày nay, con người Việt ta đã quá phân hóa, xã hội đã quá rối ren, vì mọi chuyện xấu trong xã hội đều do con Người không tốt làm ra.
Người ta đã chẳng nói: “ thế giới được dẫn đạo bởi những tư tưởng “, mà tư tưởng sai đưa đến hành động sai. Lại nữa khi những hành động sai đã quen nếp thì thất khó mà sửa đổi. Khi mà đầu óc đã vấy bẩn, đôi tay đã dính bùn, thì phỏng có làm được điều gì tốt đẹp nên thân, cứ xem những người CSVN cứ chạy quanh những hiện tượng sa đọa hôm nay thì ta thấy rõ, cái sa đoạ lớn nhất là vong nô bán nước.
Vấn đề của đất nước ta bắt nguồn tận mãi tâm khảm mỗi người, có tính cách nội khởi trong mỗi người, mọi người, không thể cứ “ xoa dầu cù là “ ngoài hiện tượng rối ren để mà chữa các thói xấu của mình và tệ nạn xã hội được!
Vấn đề khó nhất và nguy hiểm nhất của con người là chính mình, vì mình bị chính cái không gian của mình che khuất và thời gian quá khứ và tương lai ám ảnh, nên không bao gìờ mình có cái nhìn chính xác con Người mình Nơi đây ( không gian đang sống ) và Bây giờ (từng giây phút hiện tại ). Do đó mà không thấy vấn đề gây ra nan đề, thì làm sao mà tìm ra đáp đề.
Vì “ Việc người thì sáng, việc mình thì quáng “ nên người ta thường hay xét nét về người khác, còn đối với mình thì lại rất đại lượng, do đó mà luôn luôn con Người” đã cũ vẫn như cũ “ hay ngày càng tệ hơn!
Ông Bình có nêu lên 10 điều tốt và 10 điều xấu của người Việt ta, trong đó cách này hay cách khác đều có phần của mỗi chúng ta.
Trong 10 điều tốt như: Tư chất thông minh; Cần mẫn, nhẫn nại; chịu đựng khó khăn;tinh thần đùm bọc của gia đình;quý trọng việc học và người có học; yêu nước nồng nàn; biết giữ gìn bản sắc dân tộc. . ., thì theo tôi những đức tính có tư chất thông minh, tinh thần đùm bọc gia đình, qưý trọng việc học,. . . là những mẩu tinh hoa còn sót lại từ nền văn hoá xưa rất xưa, mà ta bỏ quên và khinh suất, nó khởi tận từ nền văn hoá hoà bình, cũng như từ nước Văn Lang cũa Tổ tiên xưa, đây là một vấn đề dài hơi, không thể nêu ra trong khuôn khổ bài này.
Còn đức tính cần mẫn; nhẫn nại; chịu đứng khó khăn, một phần là do hoàn cảnh bị nô lệ lâu dài buộc phải thích ứng với hoàn cảnh khó khăn để sinh tồn.
Cón 10 điều xấu như: không tôn trọng giờ giấc, vô kỷ luật, không tôn trọng của công, vô trách nhiêm, hay nói dối, nói quanh, không làm ăn chung hùn hạp được với người khác ( cái tiểu tâm, tiểu trí, tiểu danh, tiểu lợi do hoàn cảnh bị nghèo đói sinh đạo tặc mà nhiễm vào ), thì theo thiển ý những tính xấu này đều được tiêm nhiễm vào do bị áp bức bóc lột trong những đêm trường nô lệ, cái tệ hại nhất là đến khi được độc lập cứ ù lì như trước , không có những cuộc vận động chung để tẩy xoá cái xấu và phát triển cái tốt, mà ai nấy cứ theo đường cũ mà sống với nhau, nên tiếp tục gây ra những thảm hoạ như ngày nay.


Cố triết gia Kim Định đã có những nhận định dẫn chứng như sau:
Tính hay nết xấu của người Việt
( Vấn đề Quốc học: 5.- Nết xấu của. . . : Kim Định )
I .- Nết xấu của dân tộc
1.- Do bị bóc lột áp bức mà nhiễm vào
“ Hỏi rằng có nét xấu nào gọi được là dân tộc tính chăng? Nên phân biệt, nếu là xét về Thể thì không có vì nhờ nền văn hoá đạt Cơ ( trong phạm trù Ý, Từ , Dụng, Cơ ) , thì tất cả những nhu yếu nền tảng đều đã có chỗ ứng đáp. Nhưng nếu xét về Dụng tức là do hoàn cảnh ngoại lai thì mấy nét xấu sau đây có thể gọi được là gắn liền với dân tộc, một là gian vặt hai là cẩu thả và ba là thiếu lòng chung.
Cả ba gây nên do tình trạng của nước bé nhỏ sống bên cạnh một nước quá lớn, hay bị xâm chiếm đô hộ thì tất nhiên phải chịu nhiều bất công nên nhu yếu sinh tồn bắt phải tìm những lề lồi ngang ngửa quặt quẹo để sống.
Trong các lối đó phải kể trước hết là:
a.-Sự gian lận
Thí dụ lúc người Pháp còn cai trị lập ra sở Đoan, muốn để giữ độc quyền mua bán muối. Mua vào 6 xu bán ra 9 cắc (hay là 90 xu tức 15 lần đắt hơn. Đây là thí dụ có thực ở Bắc Việt). Với giá mua rẻ mạt như vậy tất nhiên dân làm muối quá khổ, cần phải gian lận, giấu giếm một ít để bán lậu. Thế là có cả một hệ thống buôn muối lậu mà ai cũng cho là phải lẽ. Nói là gian lận thì không đúng, vì đó là của mồ hôi nước mắt mình, nay bị ngoại bang tham tàn đến cướp miếng cơm thì mình có quyền phản kháng nhưng vì quá yếu phản kháng vô ích chỉ còn cách làm lén một việc không hề phạm tới quyền lợi của ai, vì thế được mọi người chấp nhận. Nhưng chính sự chấp nhận đó lâu ngày gây nên tật xấu là gian dối. Tôi có đọc trong một quyển sử Pháp nào đó lời phàn nàn rằng sau bốn năm quân Đức chiếm đóng, người Pháp phải nói dối để tự vệ, để giúp du kích quân.... thế là khi lấy lại được độc lập thì nhiều người Pháp đã mắc tật nói dối, gian lận...
Mới có 4 năm Đức chiếm đóng mà tật gian dối đã xâm nhập một số người Pháp, huống chi từng ngàn năm Bắc thuộc, rồi 80 năm Pháp thuộc thì người Việt Nam thoát sao khỏi cảnh bị tẩm nhuận trong việc ăn gian nói dối. Khi nó lan vào giới công chức nhất là những đợt cao cấp thì sẽ làm tê liệt mãi mãi quê hương ta. Không một việc lớn nào có thể hiện thực khi chính quyền gồm phần lớn những đầu óc tham nhũng.
b.- Cầu thả
Tật xấu thứ hai cũng do cảnh tiểu nhược quốc bên cạnh nước khổng lồ, không bao giờ được hưởng thái bình lâu dài nên cứ phải làm lại cuộc đời luôn luôn. Sự kiện đó gây nên tâm trạng “ ăn xổi ở thì “ lâu ngày đâm ra quen không thích những lối làm việc dài hơi. Thế là lâu ngày đoạ ra cầu thả.
Đấy là một nết xấu rất tai hại, Con đường người Việt tráng nhựa thì hầu như phải làm lại một năm. Dây điện cao độ do người Việt mắc chưa xong mà các cây sắt đã quằn hoặc trệ xuống. Quyển Kinh Thư do trung tâm học liệu xuất bản mà không có đến cả một mục lục. Quyển Xuân Thu thì phải kể là thùng rác... Hầu hết cách chua xuất xứ trong các sách khảo cứu của ta còn xa lắm mới đạt sự cẩn thận của khoa học gia... Đây là một tật xấu rất tai hại, có sửa đổi được thì nước mới trông tiến bộ. Sau trận thế chiến thứ hai thì Nhật và Đức là hai nước đã phục hưng một cách mau lẹ hiện nay Nhật đứng thứ ba Đức thứ bốn sau Mỹ, Nga. Cái gì đã giúp hai nước này tiến được như thế? Có nhiều lý do nhưng các nhà quan sát đều nhận thấy ở cả hai nước một yếu tố chung thuộc tinh thần đó là sự ham mê việc làm, nhờ vậy việc nào làm cũng tới nơi tới chốn.
Có thể nói đức tính này đứng đầu trong các nhân tố đẩy đà tiến mạnh của hai nước Đức Nhật. Đấy là tấm gương trong mà người nước ta cần phải soi đêm soi ngày cho tới lúc bất cứ việc gì to nhỏ không làm thì thôi, đã làm là làm tới chốn. Chỉ có thế nước nhà mới trông theo kịp thế giới.
c.- Thiếu lòng chung
Nét xấu thứ ba là thiếu lòng chung không chú ý đến lợi ích công cộng. Điều này xem ra trái ngược với tinh thần công thể mà chúng tôi đã gọi là một dân tộc tính. Quả thiệt nó là một dân tộc tính phát xuất từ tình huynh đệ phổ biến, nên đã được thi hành ở nhiều đợt: gia đình, làng xã, quốc gia. Tuy nhiên xuyên qua các đời tinh thần công thể đã không gặp bầu khí thuận lợi cho sự nẩy nở do tình trạng luôn luôn bị đô hộ.
Một khi chủ quyền đã vào tay ngoại bang thì khó có thể còn lòng chung, và lúc ấy lòng chung chỉ còn được biểu lộ qua những vận động đánh đuổi xâm lăng.
Sự đánh đuổi này có nhiều độ: có khi là phá cầu cống đê điều có khi là tẩy chay hay làm việc công cho qua lần... Thế là ít lâu công dân cũng như công chức mất tinh thần lo cho công ích để chỉ còn biết lo cho gia đình.
Vì thế hiện nay ta thấy các nhà tư gia của các ông bự thì rất đẹp, đang khi các cơ sở chung thì rất tồi tệ. Ngược hẳn với bên Đài Loan nhà của các ông lớn xuýt xoát như nhà dân có hơn cũng không nhiều, đang khi đó các công sở đều đẹp đẽ tráng lệ, nước nhà lại trong tình trạng chậm tiến. Và cũng là những bóng đen che khuất lấp mất những đức tính cố hữu của dân tộc.
Vì thế muốn nhìn ra cần phải vượt nhiều đợt trật đường do ngoại bang, thí dụ “bình sản” là một nét dân tộc nhưng vì bị ảnh hưởng của Tàu (tự đời Tần, Hán... xem Cửa Khổng) nên bình sản co lại như miếng da lừa: Ngoài Bắc còn có 20 phần trăm, Trung còn có 26 phần trăm, đến Nam vì chịu thêm một ách đô hộ mới của Pháp nữa nên chi còn được có hơn hai phần trăm. Vậy nếu căn cứ trên số lượng công điền hiện có thì làm sao nói được “bình sản” là một nét của dân tộc. Muốn thấy câu trên đúng thì phải vượt qua nhiều đợt trở ngại chắn khuất. Chính vì sự vượt qua này khó khăn không phải ai cũng có mắt tinh tường để minh biện, nên khi nói đến dân tộc tính ít có sự đồng ý là vì vậy. Bởi vì trong mọi địa hạt đều có sự lấn át tương tự như trong vụ bình sản nhưng không hiện lên trong hình tích đếm đo được. Tuy nhiên vẫn có đó trong tình trạng hôn mê và ta có thể dùng những tỷ lệ ruộng công trên (20, 26, 25 phần trăm) làm như tiêu biểu của sự sa sút của đức tính dân tộc gây nên do những căn do bên ngoài.
Còn cái tật xấu nguy hại nhất là chia rẽ, đây không phải là dân tộc tính, vì nó trái hẳn với triết lý bọc Âu Cơ. Vậy đó chỉ là ác quả của cuộc ngoại nhân đô hộ. Thực dân Tàu hay Pháp đều dùng lối chia để trị, lâu ngày sự chia rẽ thấu vào xương tủy dân bị trị, nên nay sự chia rẽ đã trở nên quốc nạn. Nhiều người Việt tỵ nạn không ngần ngại tuyên bố là sợ người Việt. Người Việt mà còn sợ người Việt, thì mong gì được ngoại bang kính yêu. Xem trong sử tự đầu bao cuộc khôi phục độc lập đã thất bại cũng vì chia rẽ. Hiện nay trong nước ta trở nên nô lệ cho Nga Sô và nhất là cho Tàu do bọn Việt Cộng.
Vậy muốn phục quốc mà không trừ nổi nạn chia rẽ thì phục quốc chỉ là chuyện diệu vợi.
Còn vụ cẩu thả và gian lận cũng do nền thống trị ngoại nhân. Với óc quật cường của dân ta không đánh đuổi được chúng thì phá hoại. Làm cho qua lần là môt hình thức phá hoại. Gian lận cũng thế, tài sản của mình bị thực dân cướp đoạt làm sao không dành lại. Nhưng sức yếu thì phải dùng lối gian lận, lâu ngày trở thành thói quen .
Đó là tật xấu cần phải tẩy rửa . Tẩy rửa để xây dựng lại con người Nhân chủ để cho nó mạnh hơn không chỉ hành động như môt con người yếu đuối chỉ biết làm những điều tiêu cực “ . ( Hết trích )


2 .- Do bị vây khổn trong thôn trang
Để cho dễ hiểu, ta nên nhận biết dân tộc ta có hai thành phần, một thành phần làm nghề nông , gồm Sĩ Nông, sống quay quần trong các làng xóm sau những luỹ tre xanh. Còn thành phần khác ở thành thị chuyên về Công Thương, đa số là gốc từ Tàu, qua các cuộc xâm lăng. Nhờ công thương phát triển hơn mà người Tàu phát triển được nhiểu lãnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. . . Nhìn khắp Đông Nam Á ta đều có thể nhận diện ra điều này. Ngoài các tật xấu như đã nêu trên, đa số nhân dân ta còn có cái thất lợi lớn hơn nữa là chỉ sống trong môi trường khó khăn ở nông thôn.
Số là khi bị người Tàu cai trị cũng như khi đã độc lập, người Việt vẫn lấy thôn làng làm cứ điểm để bảo vệ cái gốc Sĩ, Nông của mình hầu tránh nạn đồng hoá. Còn Công Thương thì người Hoa ở trong nước ta nắm phần lớn. Họ nắm phần lớn huyết mạch kinh tế của mình, nhiều khi họ đầu cơ tích trử làm cho dân Sĩ Nông điêu đứng ! .
Lại nữa làm nghề nông thì khi nào cũng khổ, được mùa thì lúa gạo rẻ không có tiền tiêu, khi mất mùa thì thiếu cả tiêu và cả ăn, như thế thì làm sao mà phát triển mọi thứ được. Cha ông chúng ta đã bảo : “ Cái khó bó cái khôn “ là thế !
Khi nền kinh tế không phát triển thỉ mọi ngành khác đều bị đình trệ, nhất là văn hoá, vì khi sống trong vòng túng quẩn người ta khó có đủ điều kiện sống theo Lễ Nghĩa ( phú qúy sinh lễ nghĩa ) được. “ Bần cùng sinh đạo tặc” là thế !
Cứ nhìn vào hiện tình trong nước ngày nay thì rõ. Cái khó luôn bó cái khôn, cứ bị bó mãi trong nghèo đói và ngu dốt nhiều đời tất con Người sẽ trở lại lốt ngợm!!
Người Tàu đã giam hãm dân tộc chúng ta trong nghèo đói và ngu dốt triền miên, rồi bảo dân tộc ta là man di mọi rợ!( Nam man ). Ngày nay Bắc Kinh đang xiết gọng kìm lên cộng nô để đẩy mạnh công việc đồng hoá mà họ đã mưu toan qua nhiều ngàn năm nay!


Do cái tư tưởng “ vi nhân bất phú, vi phú bất nhân “ cũng như cái lối học chuộng từ chương khoa cử của Hán Nho, nên cha ông chúng ta không đi vào công thương, và nghiên cứu khoa học kỹ thuật để giúp phát triển kinh tế, như vậy làm sao nâng cao dân sinh và dân trí được, đó cũng là một lý do kìm hãm xã hội ta trong cảnh khốn cùng lạc hậu .
3 .- Vài hiện tượng sa đoạ gần đây
Gẫm lại, nếu mọi người con dân đất Việt thâm tín rằng mình thuộc giống nòi cao quý, con Rồng cháu Tiên, người Phật giáo tin rằng mình là Phật sẽ thành, người Công giáo tin trong mình có đền Chúa ngự, người Nho giáo tin là “ Thiên lý tại nhân tâm “ tức là Thượng Đế ở ngay trong lòng mình , các tín đồ các tôn giáo khác cũng có niềm tin cao quý như vậy, thì đâu con dân đất Việt lại ăn ở bất xứng tàn tệ với nhau như thế, để lâm vào cảnh bị phân hoá trầm trọng không lối thoát như ngày nay !
Sống trong cảnh phân hoá trầm trọng, thay vì tìm cách cứu gỡ, lại ngày càng đối xử cực đoan với nhau mà không sao tiêu diệt được nhau, thì chỉ làm cho cảnh phân hoá càng thêm tồi tệ !
Đây là lúc cần đến sự hướng dẫn tích cực của các nhà lãnh đạo tôn giáo các vị trí thức khoa bảng cho đường lối tích cực, cho phương thức hữu hiệu để tháo gỡ cái mối tơ vò trên.
Cái sảy quên gốc nảy ra cái ung phân hoá của dân Việt là ở chỗ đó.
Thí dụ: Trước đây, tuy người Việt nào cũng bảo mình là con Rồng cháu Tiên, tức là con cháu của Tổ tiên đầy lòng nhân ái và lẽ công bằng, nhưng trong sự đối xử với nhau có đâu được như là đồng bào, nay khi tỵ nạn ra ở nước ngoài, lại lùi thêm một bước nữa là không gọi nhau bằng đồng bào mà là đồng hương, nghĩa là muốn phủ nhận cái gốc Rồng Tiên rồi, để mà ăn thua đủ với nhau !
Đây là cái ngõ bí rất khó tháo gỡ, nếu không trở về gốc Tổ tiên để un đúc Nhân Trí Dũng thì xem ra vô vọng.
Sai một ly lạc đi một dặm là vậy!
Chỉ có đường lối “ Chí Nhân và Đại Nghĩa “ thì may ra có lối thoát, còn chạy lộn quanh theo lối CS thì ngàn đời như thế, rồi cũng là “ vẫn thế “! Cứ để cho anh em đồng bào sống trong cái vòng “ Tư tưởng ngõ cụt “ thì rất có lợi cho ngoại nhân dễ bề trục lợi, thôn tính và vây hãm.
Không ai đóng cữa Chùa, thì lỗi nói chung là của tất cả các sãi, không nên ngồi bắt lỗi nhau mà cùng rủ nhau ra đóng cữa Chùa đang mở toang !
Lúc trước có nhiều người nghĩ là việc nước có chính quyền lo, nhưng khi nước mất và mọi nhà tan rồi thì tìm ai mà đòi hỏi lại cái nhà của mình, vì dân là cái gốc mà đã tan rồi thì chính quyền dẫu có còn thì cũng chẳng biết để làm gì !


Quên cái gốc nhân ái và công bằng của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long một cách vô ý thức hay có ý thức đều nảy ra cái ung phân hoá chia ly, có kêu gào nhau đoàn kết mấy cũng chỉ là những tiếng kêu trong sa mạc !
Đáp đề của nan đề đất nước của chúng ta không ở đâu xa, không phải bên Moscow, bên Bắc Kinh hay Washington, mà chính trong lòng mỗi chúng ta và đồng thời trong tất cả chúng ta .
Việc thứ hai khi qua các nước Tây phương, ta đổi cái tên lộn ngược, tên trước họ sau : Tên trước là (Me first ), mối liên hệ này với tha nhân là “ I , that “ , tức là “ tôi với người đó ( cái đó ) “ . Ai cũng you cả, Thượng Đế cũng you, con mèo cũng you nốt .
Do đó mà họ sống theo lối cá nhân chủ nghĩa, coi nhẹ mối liên hệ với những người khác, đầu mối cho sự phân hoá.
Còn người Tây phương chỉ có một luân Chủ Nô mà thôi, nay một số thanh niên nam nữ lơ là hay bỏ tinh thần tôn giáo mà sống theo “ kiểu thích và không thích “, ( likes and dislikes ) thì tốc độ sự phân hoá càng nhanh. Không biết chỉ có luật pháp, là hàng rào bên ngoài có tác dụng gìn giữ được đến bao lâu?


Còn Việt Nam ta là đặt Họ ( Family first ) trước Tên sau, nghĩa là dân mình tôn trọng và sống theo tính thần công thể, coi trọng tôn ti trật tự, lấy Luân thường Đạo lý làm trọng: ta có Ngũ Thường để tu thân, có Ngũ Luân để ăn ở với nhau theo lẽ công bằng, đây là lối sống nghĩa nặng tình sâu . Đó là tiêu chuẩn đạo lý chung cho mọi người y cứ.
Nay qua đây sống ở Tây phương, nếu ta coi luân thường đạo lý là cổ hủ, xem gia đình không là nơi ươm tình người nữa, mà sống theo cá nhân chủ nghĩa thì dễ đánh mất Tình Người. Con người mà để đánh mất tình người thì chỉ còn có Lý, mà Lý chay và cực đoan nữa thì dễ sa vào vòng gian ác lưu manh.! Gương Tam vô của CSVN đang sờ sờ ra đó.
Việt Cộng cũng nói là chúng tôi có” Tình Hữu Ái Giai Cấp”, nhưng khốn nỗi đây là mối tình băng đảng, nếu có thì cũng để xuí dục nhau dấy động lòng căm thù để tàn hại giai cấp khác, chứ đâu là “ tình đồng bào” hay tình “ Tứ hải giai huynh đệ “.
Con người quên Gốc và thiếu Tình người tất không phải là con người tốt về đường ăn lối ở, chỉ tổ gây rối cho gia đình và xã hội.
Cái gương không mấy tốt đẹp của môt số thanh niên hư hỏng người Mỹ đối với cha mẹ cũng cho ta thí dụ cụ thể về điều nhức nhối thấu xương trên, ngày nay những cảnh sống thương luân bại lý này cũng không hiếm hoi gì nơi một số gia đình Việt Nam..
Có một điều rõ ràng nhất là những ai còn giữ được nề nếp gia đình thì bất cứ ở đâu và nơi nào cũng thành công tốt đẹp !

Đành rằng khi sống ở nước ngoài ta phải theo tục lệ của nước đó, trong giấy tờ khai sinh hay căn cước ta phải đổi lộn tên ngược như thế, nhưng khi ở chung trong cộng đồng người Việt với nhau, ta phải để ý đền vấn đề này, tức là vấn đề sống theo tinh thần gia tộc, theo tinh thàn công thể, để còn ngó mặt nhau. Ngày nay đã có những người Việt Nam không muốn sống gần, giao thiệp với người Việt Nam nữa, cả hai bên đều mang nhục vong bản chung mà không nhận biết.
Vì vậy mà chúng ta nên luôn nhắc nhở nhau lưu tâm đến vấn đề hệ trọng đó, cũng như giúp cho thế hệ trẻ hiểu rõ được ý nghĩa tốt đẹp của nền văn hoá trọng công thể qua cái tên, cũng như giới thiệu với dân địa phương nét đẹp văn hoá này của ta.
II.- Cái hay còn giữ được
Nguồn gốc và ơn ích của gia đình Việt


( Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc: Phần phụ trương I. Lược ý Đề tài thảo luận. Kim Định )


“ Trẻ Việt học rất giỏi ai cũng hãnh diện. Người Mỹ rất ngạc nhiên, không hiểu tại đâu. Ðã có người đi điều tra tận mãi bên Ðông Á, họ không thấy cái gì chứng tỏ là người Á Ðông có thiên phú trội hơn người Âu Tây, nên hầu hết đi đến kết luận sau: lý do căn để là bởi gia đình.
1.- Gia đình vững thì con em học giỏi
Ðiều ấy cũng xẩy ra cho các gia đình Mỹ bậc trung lưu trở lên.
Ngoài ra về tiền của, các gia đình trung lưu của người Ðông phương cũng tiến mau hơn . . . , ấy cũng nhờ gia đình .
Nội một gia đình lỏng lẻo hay ăn cơm tiệm, con cái sớm ra ở riêng. . . gây tốn phí gấp bao.
Chỉ kể sơ qua hai ơn ích đó đủ chứng tỏ ga đình là một giá trị rất lớn cần phải hét sức duy trì.
Ðến khi nghiên cứu về nguồn gốc văn hoá mới thấy giá trị còn cao hơn nhiều lắm. Các nhà xã hội học nhận thấy rằng:
.- Ở đâu gia đình vững thì không có chế độ nô lệ
Cái đó dễ hiểu vì người trong gia đình có ai bị bắt làm nô lệ bao giờ. Vậy mà tinh thần gia tộc của ta đã được duy trì qua bao ngàn năm.
Khởi đầu là Hồng Bàng thị .
Chú ý chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc.
Tinh thần đó đã vẫn giữ được từ khi Bộ lạc bước lên đợt Quốc gia, thành ra quốc gia cũng chỉ là bộ tộc mở rộng, cũng như bộ tộc cũng chỉ là mở rộng thị tộc, như thị tộc là nối tiếp gia tộc. Chính vì thế mà người trong nước xưng nhau bằng những danh xưng thuộc gia đình như bà con, cô, bác, chú, thím, cha, ông.
Và bất cứ ai dù không ở trong gia tộc cũng xưng hô là ông, bà, cô, thím, chị, em . . .
Ðó là hiện tượng rất lạ.
Tôi còn nhớ cảm tưởng thú vị xưa khi đọc sách Tây họ bỡ ngỡ biết bao vì người ăn mày bên ta cũng được gọi là ông là bà.
Họ ngạc nhiên vì bên Âu Tây ai cũng gọi nhau bằng you, vous, Chúa cũng gọi là you, , mà con mèo cũng gọi là you.
Vi xã hội họ không xây trên mẫu gia đình mà trên mẫu chủ nô.
Ai có của thì là chủ ai không có của thì là nô. Ðó là nền móng xã hội La Hy.
Người Tàu cũng chỉ có ngộ với nị, nên xã hội nhiểu nô lệ hơn bên ta, và phá chế độ nô lệ muộn.
Bên La Mã xưa có phép đầu phiếu “ bách tiền ” gọi là Centuric. Tiếng này gốc từ tiếng La Tinh Centrum là trăm. Hễ ai có được một trăm ngàn thì có quyền bỏ phiếu, nhiều trăm ngàn thì bỏ nhiều phiếu. Không có tiền không được bỏ phiếu. Ðó là tại xã hội xây trên tài sản chứ không trên tình gia đình, mà vì quy chế tài sản là tuyệt đối ( quyền tư hữu tuyệt đối ), nên 2, 3 người có, 7, 8 người không, thành ra đến 70 – 80 % người trong xã hội là nô lệ, chỉ chừng 20 % là có tự do. Ðời ấy người ta chỉ mới biết có công bằng trừu tượng khái quát mà chưa biết đến công bằng xã hội, tức là người nào trong nước cũng phải được tham dự tài sản trong nước. Công Bằng xã hội mới được nói đến từ thế kỷ 19.
Còn bên ta có ngay từ đầu với phép công điền công thổ, tức là ai ai hễ đến tuổi đều được làng cấp ruộng. Làng tôi mỗi đinh được 5 sào, nhưng có người giữ miếng đất hay vườn quá 5 sào mà không tiện chia cắt thì người đó phải theo “ rong canh ” những sào dư : mỗi sào 5 thùng thóc. Người đến tuổi đinh được có phần điền mà không có ruộng thì được người khác theo rong canh cho 25 thùng, thành thử không ai trong nước là vô sản hết. Ông Paul Mus có nói người Việt Nam nghèo thiệt, nhưng nghèo cả hàng tổng: lợi tức không có chênh lệch quá lớn về giàu nghèo như các xã hội tư bản. Ðó là nhờ phép công điền.
Phép công điền đã được nói bóng trong truyện Mẹ Âu Cơ đẻ cái bọc 100 trứng , bà sợ vất ra ngoài đồng thế mà rồi con nào cũng được phương trưởng cả . Ðại ý là con nào cũng được bao bọc như nhau. Vất ra ngoài đồng tức là nền nông nghiệp theo chế độ công điền, nên con nào cũng phương trưởng hết. Không ai phải làm nô lệ vì thiếu phần điền.
Ðến sau Việt Nho lược đồ hoá lý tưởng trên bằng phép Tỉnh Ðiền: nghĩa là chia lô dât ra 9 lô theo hình chữ Tỉnh ( 井 ) cho 8 gia đình 8 lô , còn lô giữ để nộp cho vua , trong đó có đào một cái giếng chung chữ Nho kêu là tỉnh, nên gọi là Tỉnh Ðiền . Tỉnh điền hay bọc Mẹ Âu Cơ ném ra ngoài đồng đều chỉ phép công điền công thổ mà tôi gọi là Bình Sản : tài sản chia đều cho mỗi người dân .
Phép ấy tiên Tổ ta đã có ngay từ Hồng Bàng thị. Chữ Thị nói lên tinh thần gia tộc, mà về sau các bà còn mang trong tên . Lâu ngày người ta coi thường chữ ấy, nhưng ở thời khai nguyên thì chữ đó cao trọng lắm, nó chỉ tinh thần mậu hệ, đặt vợ trước chồng. Nước được lập ra do 50 con theo Mẹ lên núi, chứ không do 50 con theo Cha xuống biển, nghĩa bóng là văn hoá vẫn giữ được tình người, mà trong triết gọi là giữ được nguyên lý Mẹ. Còn văn hoá Tây Âu thì không, nên mang tiếng đực rựa : duy Dương, duy Lý, mà hình thái cùng cực là Cộng sản duy vật chống lại mọi thứ tình: tình Nhà, tình Nước, tình Trời, gọi là Tam vô: vô Gia đình, vô Tổ quốc, vô Tôn giáo, cho nên thuyết Tam vô Cộng sản cũng nẩy sinh từ Tây Âu là chuyện đương nhiên và những người còn cố bênh vực Karl Marx , Hồ Chí Minh đổ tội cho Lénin, cho Ðồng Duẩn là tỏ ra chưa nghiên cứu thấu triệt văn hoá Âu Tây .
Cũng như nói đến Việt Nam có chế độ nô lệ thì chỉ là nói theo “ đảng tính ” tức là đảng nói vậy chứ có xét đến nguồn gốc thì có trung thực đâu.
Ðành rằng trong thực tế không giữ được đầy đủ như trong lý tưởng, nên có những hiện tượng nô lệ. Chú ý hiện tượng chứ không phải chế độ. Nếu chế độ thì là việc luật pháp, người nô lệ có tiền cũng không thoát ra khỏi chế độ nô lệ. Còn hiện tượng không có hàng rào luật lệ nào. Con sen nếu trúng số độc đắc thì lập tức có thể trở nên bà chủ, bà giám đốc, không ai ngăn cản cả . Nếu là chế độ thì có tới 70 – 80% người dân nô lệ . Còn hiện tượng thì chỉ vài phần trăm, và cũng chỉ là con ăn đầy tớ. Ðôi khi bị xử tệ như nô lệ thì cũng chỉ là chuyện làm ẩu của chủ nhà chứ không có luật pháp nào cho phép coi đầy tớ như sự vật.
Tuy nhiên vì ảnh hưởng Hán Nho nrên chế độ công điền có suy vi dần nhưng nói chung thì đến đầu thế kỷ 20 quá bán ruộng đất ta vẫn còn là công điền. Ðến khi Pháp cai trị miền Nam ( Bạc Liêu, thí dụ ) công điền nhiều nơi trụt xuống chỉ còn vài ba phần trăm, vì có đồn điền của tư nhân chiếm hàng ngàn mẫu. Ðó là chế độ Tư bản Tây Âu nương thế bảo hộ xen vào phá vỡ chế độ bình sản của ta, đây là nói kiểu thông thường . . .
Còn nói theo kiểu triết lý chính trị thì đó chính là Dân Chủ .
Nói theo chiều tiêu cực thì dân chủ là thoát nạn chuyên chế, còn tích cực là Ăn Nói .
Ðược ăn là được tham đự tài sản trong nước gọi là Bình Sản.
Ðược nói là được tự do phát biểu ý nghĩ của mình .
Như vậy Dân Chủ chân thực phải có Bình Sản, và được tự do suy tư nói nghĩ .
Thiếu hai cái đó thì chỉ là dân chủ giả hiệu. Xã hội Âu Tây có chế độ nô lệ, nên phải dày công mới lập được chế độ dân chủ, lúc ban đầu cũng chỉ có dân chủ trên pháp lý, chưa có bình sản, nên tự do bị gọi là tự do chết đói. Cộng sản đã có ý sửa lại chỗ đó bằng tuyên bố dân là chủ tài sản quốc gia.
Nhưng thực chất vẫn là tư bản, chỉ khác chủ tư bản xưa là cá nhân, nay là chính quyền, dân vẫn là vô sản , đã vậy tự do cũng mát luôn nên khốn khổ hơn vô sản xưa muôn vàn .
Xét theo mấy điều trên ta thấy gia đình là thể chế gây ơn ích hết sức sâu xa. Ơn ích ngay đời ta : con em học hành giỏi, bố mẹ làm ăn chóng nên cơ nghiệp. Còn đời xưa là chế độ dân chủ chân chính có bình sản, có tự do , làm nên một xã hội có Tình, có Nghĩa , một quê hương tổ quốc thâm sâu.
Thật không ngờ nơi ta ra chào đời, sống bên cạnh những người thân yêu trong quảng đời tươi đẹp nhất lại chất chứa nhiều minh triết xuyên qua bao đời cho đến nay ta vẫn còn được hưởng.


Bây giờ xin nhắc đến những điểm làm ta có thể ngửa mặt lên hãnh diện. Đó là mấy đức tính gọi được là dân tộc tính .
3.- Trước hết là tinh thần gia tộc
Điều này phát xuất tự cái Cơ ( theo phạm trù Tứ, Ý, Dụng, Cơ ) nên toàn quốc gọi nhau bằng đồng bào theo huyền sử cùng phát xuất từ bọc mẹ Âu Cơ, tức nước xây trên mẫu mực gia tộc . Người trong nước xưng hô nhau bằng lối xưng hô trong gia tộc : bà con, cô bác . Đó gọi là gia tộc hóa lối xưng hô.
Ngược lại Tây Âu không có tinh thần gia tộc mạnh nên phi ngôi hoá lối xưng hô : ai cũng là you, vous cả . Vậy ta cần duy trì tinh thần gia tộc như nét đặc trưng của ta . đó là điều cho đến nay còn giữ được nhiều, là vì trong thực tế có, lợi bớt tốn : cùng ăn, cùng ở bớt tốn hơn. Nhất là vụ học: con Mỹ thường ở apartment riêng tốn hơn gấp hơn 2, 3 lần ở với bố mẹ
a.- Chăm học
Chăm học cũng là một dân tộc tính phát xuất tự đầu được ghi lại trong tên huyền sử Văn Lang là nước của những người có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải chăm học . Vậy nước ta tự mãi xa xưa đã coi trọng việc học, đặt quan văn trên quan võ. . .
Đây là điểm rất lợi cho dân Việt . Người ta tính ra đến 60% so với Chicano ( Mễ ) chỉ có 30 % . Tuy đó là con số khó thể đoan chắc, nhưng ta có thể nói dân Việt đi học đông vào bậc nhất cũng như giỏi đứng vào hàng đầu.
b.- Cần cù
Cần cù cũng là đức tính dân tộc cần được duy trì. Theo huyền sử Vua Hùng sinh ra bởi tổ chung với người Mường gọi là Lang Đa Cần. Tên này gợi lên ý chuyên cần làm việc. Hiện nay nhiều hãng ưa thâu dụng nhân công Việt vi tính này. Khi tôi ở Đại học Loyola một giáo sư Mỹ lúc đầu rất tẻ lạnh với tôi, bỗng một hôm ông vồn vã hết sức, thì ra là do mấy người Việt trong hãng bạn của ông làm việc rất chăm chỉ…
Có kiệm ước mới dư giả để thực thi lòng quảng đại. Cần chú ý rằng đức kiệm ước này rất dễ mất trên đất Mỹ , nên cần tập từ những cái nhỏ ( vặn nước, tắt đèn. . . ) để nuôi dưỡng dức đó.
c.- Lễ độ
Còn có thể kể thêm đức lễ độ biểu lộ nhiều nhất do học sinh, sinh viên trong lớp đối với giáo sư.


Đó là dăm ba đức tính dân tộc đã làm cho đoàn người tỵ nạn Việt Nam đáng nể . Rất nhiều nhà quan sát tiên đoán rằng không bao lâu nữa đoàn người Việt sẽ trở nên giàu có và nắm những vai trò quan trọng.
Vậy thì đây là những đức tính cần được nuôi dưỡng môt cách cụ thể và thiết thực.
Cho tới nay nói đến duy trì văn hoá chúng ta mới dậm chân ở đợt Từ ( Ý, Từ, Dụng, Cơ ) như làm văn nghệ , báo chí. . . Cần đi mạnh vào đợt dụng, cần cụ thể hơn tức bàn đến những điểm thiết thực rồi tìm cách sửa đổi, ai nấy cố tự sửa, và sửa cho con cháu.
Thí dụ :
Đức kiệm ước biết tắt cái đèn lúc không cần, vặn nước đánh răng cho nước chả y ồ ồ tốn nước gấp trăm lần. Ăn uống nhai ngồm ngoàn đầy tiếng động . Xé thư người khác. . .
Còn nhiếu chuyện quá nhỏ mọn nhưng dễ làm cho ta phải cúi gầm mặt khi thấy một người Việt Nam làm trước mặt ngoại bang ( như chen nhau khi sắp hàng . . . )
Những điều này nếu không sửa đổi mạnh trong gia dình thì không học đâu được.
Ở trường không ai dạy những cái tế nhị đó.
Bởi vậy tuy tầm thường mà hoá rất khó, nhận thức ra đã khó, mà khi thấy người khác phạm thì mấy ai dám sửa, trừ phi là bạn thân lắm, hoặc cha mẹ với con cái. Đã vậy rất khó sửa , nói 5 lần 7 lượt cũng không xong . . .
Chớ cho rắng đó là những cái quá nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Thưa rằng những cái nhỏ đó mới làm cho đời sống trở nên có văn vẻ ( tức được thấm nhuần văn hoá ) . Chính cái phần bé nhỏ đó là phần tinh tế của công việc hội nhập xã hội văn minh . Chính vì những cái nhỏ nhặt đó làm cho chúng ta đỏ mặt trước ngoại nhân .
Văn hoá của một dân phải nhằm mục tiêu làm cho đời sống của dân ấy có văn vẻ tế nhị hay ít nhất không gây Khó chịu cho tha nhân, không làm cho người cùng hội phải hổ thẹn vì đồng hương mình.
Chúng tôi mong ước, chúng ta sẽ thảo luận kỹ về điểm này và cử ra một uỷ ban, hay ước mong có những người nào đó có cơ duyên viết một quyển tựa như phép lịch sự của Âu Mỹ trong việc ăn uống, nói năng, xử sự, giao tiếp để đồng bào tỵ nạn ý thức mà châm chước giữ gìn.


Xin nhắc lại câu định tính văn hóa Việt là cái khối “ xù xì da Cóc trong bọc trứng Tiên “, và ước mong cho việc làm văn hóa mở rộng hơn nhiều: xuống thì tới chỗ Dụng là mài dũa những cái xù xì da cóc, lên thì tới tận Ý tận Cơ, tức gồm thêm triết lý xây trên cơ cấu của Việt tộc, đó là phần “ trong bọc trứng Tiên “ cần phải chú tâm vun tưới. Vì trứng Tiên mới chính là cái Cơ, cái nõn, cái nền triết Việt. Một nền văn hóa đẹp đẽ đến đâu mà thiếu Ý thiếu Cơ thì chỉ là một nền văn hóa nông cạn. Văn hóa Tây Âu hơn ta ở Ý tức họ có một nền triết học rất đồ sộ, nhưng họ lại kém ta ở cái Cơ, vì cơ chưa ổn nên triết họ còn cần đổi nền. Ta thì thiếu triết, nhưng hơn họ cái Cơ. Nhưng là hơn trong tiềm lực, chứ trong thực tế thì kể là không, vì cái Cơ của ta ví như trứng tiên bị bọc trong xù xì da cóc, có còn mấy ai thấy đâu. Vì vậy đã đến lúc làm văn hóa phải vươn xa hơn đợt Từ để đạt đợt Ý và đợt Cơ. Hễ có Cơ thì rồi có Ý. Chính cái Cơ mới là tinh hoa văn hóa của ta. Chính cái Cơ mới làm cho ta nhìn rõ đâu là tinh hoa, đâu là cặn bã, nếu ta không nghiên cứu và thấm nhuần thì ít thế hệ sắp tới sẽ không thấy Văn hóa Việt đáng duy trì ở chỗ nào, và do đó sẽ trở nên người vong bản, vong quốc. Chính cái Cơ mới bơm sinh lực vào cho Ý, cho Từ, cho Dụng. Hơn thế nữa, chính cái Cơ mới giúp chúng ta khả năng đóng góp vào nền Văn hóa thế giới.


Hiện nay con người đang trải qua cơn khủng hoảng trầm trọng. Các nhà trí thức Âu Mỹ gọi đó là một sự trống rỗng của Tây Âu (nihilisme occidental) nghĩa là mọi giá trị cao cả của Tây Âu đã sụt giá. Họ không còn tin tưởng vào những giá trị cổ truyền nữa, với hậu quả là hiện họ đang trở nên vô hướng vô hồn trong mọi cấp từ “ tu thân “ qua “tề gia “ đến “ trị quốc “ đều thiếu đạo. Họ có chống cộng là trên bình diện kinh tế tức tư bản chống cộng sản chứ thiếu triết, nên nước có tiếng chống cộng hơn hết là Mỹ mà trong nước tràn ngập người thiện cảm với cộng sản. Chính vì vậy nước Mỹ thiếu lãnh đạo trong chính trị và nhất là trong văn hóa, đành để thế giới Tự Do trở nên con thuyền không lái. Lâu nay trong họ đã nhiều người nhận ra cần thiết lập một nền Văn hóa mới, một nền văn hóa có khả năng tổng hợp được các giá trị đông tây kim cổ.… Thế nhưng cho tới nay chưa ai tìm ra nền. Theo cơ cấu luận thì Âu Tây duy hữu, hữu vi. Còn Ấn Độ thì duy vô: vô vi. Đều không phải là cơ cấu tổng hợp. Chỉ triết lý An Việt mới có cơ cấu tổng hợp: “ có mà như không, không mà lại có “. Chỉ có cơ cấu lưỡng hợp đó mới đủ khả năng tổng hợp những giá trị lẻ tẻ (do lương tri) của Âu Ấn để chỉ hướng đi cho con người ngày nay đang đầy xao xuyến khắc khoải.
Thế nhưng có điều bất hạnh là triết lý giàu tính cách tổng hợp kia lại không được mấy ai biết đến. Âu Tây đã đành mà ngay đến những người trong khối Việt Nho cũng không hơn. Đấy là chỗ người Việt tị nạn cần lưu tâm. Đấy là chỗ chúng ta có thể đóng góp cho thế giới. Hiện tình nhân loại chỉ biết sống trên bình diện lợi hành, trên nữa không còn đạo lý nào cả. Vì vậy đầy chia rẽ, rất là nguy hiểm. Ngay khối Cộng sản còn đang trong giai đoạn chinh phục lẽ ra phải đoàn kết lắm để tránh họa vậy mà cũng vẫn chia năm...
viethoaiphuong
#2 Posted : Sunday, March 28, 2010 10:25:50 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)


Những căn bệnh đang hủy hoại xã hội Việt Nam


Từ năm 1989 đến 1991, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ hàng loạt của các nước nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô. Hơn 20 năm qua, nếu có dịp đến thăm các quốc gia này, người ta sẽ thấy rằng chính phủ mới và nhân dân tại các nước này đã kịp làm được khá nhiều điều; đời sống kinh tế, xã hội của người dân tốt hơn hẳn so với trước kia, nhưng vẫn còn rất nhiều việc mà chính phủ và nhân dân họ phải nỗ lực thực hiện để xóa đi di sản do những năm dài dưới chế độ cộng sản để lại trên con đường trở thành những quốc gia phát triển, giàu mạnh, dân chủ, tự do. Và tùy theo nội lực của từng nước mà quá trình này nhanh hay chậm, nhẹ nhàng hơn hay nặng nề vất vả hơn. May mắn như nước Đức, nhờ có Tây Đức với một tiềm lực kinh tế hàng đầu của châu Âu, vậy mà trong những năm qua chính phủ Đức đã phải đổ không biết bao nhiêu tiền để vực dậy Đông Đức, xóa đi khoảng cách về mọi mặt giữa hai bờ Đông Tây. Nhưng dù sao, các nước Liên Xô và Đông Âu vẫn có những nội lực nhất định – các nước này trước khi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã là những quốc gia có nền kinh tế công nghiệp tư bản bước đầu, có nền văn hóa dày dặn, người dân của họ dù sao cũng đã hiểu thế nào là dân chủ, tự do… nên quá trình thay đổi thế chế chính trị cũng đỡ nhọc nhằn vất vả hơn những quốc gia không có được những “hành trang” như vậy. Ví dụ như Việt Nam chẳng hạn. Đôi khi nghĩ đến một ngày nếu vận hạn của đất nước đã qua, Việt Nam may mắn chuyển đổi thể chế chính trị thành một quốc gia dân chủ pháp trị, thì một điều có thể thấy trước đó là cái giá phải trả do di họa của những năm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam để lại trên đất nước này phải nói là vô cùng nặng nề, và những mất mát, thiệt thòi là vô cùng lớn.

Thứ nhất là ở Việt Nam, thời gian cầm quyền của Đảng Cộng sản cho đến nay đã kéo dài hơn một số quốc gia khác – 65 năm trên miền Bắc và 35 năm trên toàn lãnh thổ, nên cái hại cũng nặng nề hơn. Thứ hai là do nội lực của đất nước và của dân tộc, trước khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo cho đến ngày nay, Việt Nam vẫn chỉ là một nước nông nghiệp nghèo nàn đang phát triển, từ hạ tầng cơ sở vật chất kinh tế, kỹ thuật… đều chưa có gì đáng kể. Cộng với một tầm nhìn ngắn, văn hóa “lùn” của các thế hệ lãnh đạo nối tiếp nhau từ trên xuống dưới, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không thấy cái hại lâu dài, hoặc vừa làm vừa phá, hoặc chỉ lo vơ vét, tham nhũng mà không nghĩ gì đến tương lai của đất nước và dân tộc, nên sau bao nhiêu năm cầm quyền, trên khắp đất nước nhìn đâu cũng thấy dấu vết của sự phá hoại trên mọi lĩnh vực. Bao nhiêu đất dọc theo biên giới phía Bắc, biển, đảo… đã mất, biết bao giờ mới đòi lại được. Rừng bị tàn phá, tài nguyên bị khai thác một cách vô tội vạ, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, một số sông ngòi bắt đầu khô cạn, bây giờ người ta lại bắt đầu phá nát Tây Nguyên với những dự án khai thác bauxite lợi ít hại nhiều, bộ mặt các thành phố lớn, nhỏ thì hỗn độn, quy hoạch yếu kém, kiến trúc lộn xộn một cách không thể sửa chữa nổi v.v… Chưa nói đến cơ cấu luật pháp hay một nền giáo dục yếu kém cần phải xây dựng lại từ đầu, rất mất thời gian. Chưa kể cả một xã hội bị băng hoại về mặt đạo đức, những giá trị, chuẩn mực bị lệch; con người hoặc bị nhồi sọ bởi lối giáo dục tuyên truyền một chiều phải mất thời gian mới hiểu ra được đâu là sự thật đâu là dối trá, hoặc bị tồi tệ đi do phải sống trong một môi trường xã hội có quá nhiều điều không tử tế v.v… Nhưng điều nguy hiểm nhất đối với số phận của đất nước và dân tộc Việt Nam, đó là nếu sự thay đổi thể chế chính trị đến chậm thì nguy cơ phụ thuộc, thậm chí mất nước vào tay nước láng giềng phương Bắc là điều mà hiện nay nhiều người đều đã thấy.

Có những di hại có thể thấy rõ vì nó hữu hình và có thể xây dựng lại, có thể hồi phục sau một thời gian vài ba thập niên tùy theo. Nhưng có những cái di hại vô hình khó thấy hơn mà hậu quả của nó thì rất nặng nề và sự điều chỉnh, sửa chữa cũng vô cùng khó khăn, mất thời gian. Đó là những di hại về văn hóa, con người, về tinh thần mà những quốc gia đã từng trải qua chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo đều phải trả giá.

Một môi trường sống bị ô nhiễm, bị hủy hoại. Môi trường tinh thần cũng vậy. Có những căn bệnh tinh thần mà nếu sống trong một xã hội như xã hội Việt Nam hay Trung Quốc (vốn là một hình mẫu để chính quyền Việt Nam bắt chước theo y hệt nên những căn bệnh cũng giống nhau) lâu ngày con người sẽ bị lây nhiễm ít nhiều mà không hay.

Bệnh vô cảm

Xã hội Việt Nam bây giờ có quá nhiều điều phi lý, trái tai gai mắt, và cũng có quá nhiều những bi kịch, những câu chuyện thương tâm. Mỗi ngày mở những tờ báo ra, bật TV lên, hoặc ngay trong đời sống thường ngày, người ta phải đọc, nhìn, nghe hay chứng kiến tận mắt biết bao nhiêu chuyện như vậy. Tổng Giám đốc X bị bắt vì tham nhũng hàng tỷ đồng. Công ty Y bị phát hiện có dấu hiệu lừa đảo, làm thất thoát hàng trăm tỷ. Một khu nhà hay một cây cầu vừa mới xây đã bị sập, lún vì làm ăn gian dối, bớt xén vật tư. Một bữa tiệc sinh nhật của con cái một “quan lớn” tốn kém hàng trăm triệu đồng trong đó chủ nhân bữa tiệc vung tay tặng các bạn mỗi người một chiếc xe gắn máy hiệu @. Một em bé chết oan vì bị điện giật trên đường do dây điện bị hở, không ai chịu trách nhiệm. Một tai nạn giao thông thảm khốc do đường hẹp, lô cốt chặn, chen lấn nhau hoặc đôi khi chỉ vì do chất lượng đường xá tồi khiến người đi xe ngã xuống và bị xe tải phía sau cán lên. Một người phụ nữ nghèo đi mót cà phê bị chó nhà giàu cắn chết nhưng công an lại không truy cứu tội hình sự người quản lý trang trại đã để mặc chó cắn chết người v.v… Đầu tiên khi đọc hoặc nghe những chuyện như vậy, người ta phẫn nộ, bức xúc, thương cảm. Nhưng rồi hàng ngày cứ phải đọc mãi, chứng kiến mãi với mức độ phi lý, bất công ngày càng lớn hơn, người ta thành quen đi, không còn ngạc nhiên trước bất cứ chuyện gì nữa. Người ta quen dần với những điều không tử tế, với cái xấu, cái ác… và trở nên vô cảm dần dần mà không hay.

Tai hại của điều này là đến lượt mình, mỗi người khi phải làm một điều không tử tế hoặc không lương thiện sẽ tự bảo rằng chung quanh mình ai cũng làm như vậy, ai cũng đang sống như vậy, có sao đâu?

Cái xấu, cái ác lên ngôi

Chưa cần phải từ nguồn báo chí truyền thông của “thế lực thù địch” nào, chỉ cần theo dõi báo chí trong nước, do nhà nước kiểm soát nội dung và cho phép phát hành, cũng có thể thấy ở Việt Nam hiện nay, cái xấu, cái ác đang lộng hành ra sao. Có nhiều người sẽ bảo xã hội nào mà chả có cái xấu, cái ác, ở Mỹ chẳng hạn, cũng có những cảnh bạo lực, giết người, thậm chí sát nhân hàng loạt… đó thôi. Nhưng vấn đề ở đây là cái xấu, cái ác, sự thiếu lương thiện đang tràn lan ở mọi cấp độ từ những hành vi nhỏ nhặt hàng ngày như chen lấn giành đường nhau, dúi tiền cho cảnh sát giao thông để được cho qua khi bị bắt lỗi và cảnh sát cũng thản nhiên nhận tiền như là chuyện bình thường phải vậy, hoặc sẵn sàng cãi vã, chửi bới nhau thậm chí đánh nhau chỉ vì những chuyện xích mích không đáng… cho đến những hành vi ở mức độ lớn hơn. Nhiều khi rùng mình vì mức độ trơ tráo vô đạo đức trong những hành vi tội lỗi như khi một ông hiệu trưởng không những dụ dỗ, ép dâm hàng loạt học sinh tuổi vị thành niên mà còn buộc các em phải lên giường với hàng loạt quan chức để có lợi cho mình; hay mức độ dã man một cách thản nhiên như khi một con người có thể để mặc cho đàn chó cắn xé đồng loạt đến chết mà không cứu; hay những cô cậu học sinh còn ở tuổi cấp hai có thể thản nhiên đánh bạn, thản nhiên quay video clip tung lên mạng và những học sinh khác thì ngồi xem mà không phản ứng gì. Khi một xã hội mà những điều không tử tế, cái xấu, cái ác đã trở thành chuyện bình thường trong khi điều tử tế, cái đẹp, cái thiện dần trở thành hiếm hoi, bất bình thường thì đó là điều thực sự phải báo động đỏ từ lâu rồi.

Sự bạc nhược, cầu an

Khi phải sống chung quá lâu với những điều bất công phi lý, với các xấu cái ác đang tràn lan, và biết rằng có kêu thì cũng chẳng thay đổi được gì, số đông người Việt dường như đã chọn cho mình một “phương châm” sống an toàn, đó là mặc kệ, mọi chuyện đã có nhà nước lo, họ chỉ lo kiếm sống, lo cho bản thân và gia đình. Và điều đó tạo ra một căn bệnh khác cũng phổ biến không kém: sự bạc nhược, cầu an. Đối với đám đông này, đừng nói với họ về sự thối nát của chế độ, về gánh nặng nợ nần đang đổ lên đầu các thề hệ sau do việc vay nợ nước ngoài, việc mất đất mất biển và cả nguy cơ mất nước trong tương lai, việc các nước khác người dân được có những quyền gì cũng như nhu cầu tự do dân chủ trong nhân dân… Họ sẽ lảng tránh, sợ hãi, không tin, và tiếc thay con số này vẫn còn khá lớn. Chưa kể những kẻ mà quyền lợi gắn chặt với chế độ này và vẫn cố sống cố chết bênh vực cho chế độ này là không tính đến. Đó là lý do vì sao một đảng cầm quyền có quá nhiều sai lầm và tội lớn đối với đất nước, với nhân dân trong suốt bao nhiêu năm qua như Đảng Cộng sản Việt Nam lại vẫn tiếp tục tồn tại.

Sự giả dối

Trong lịch sử giành chính quyền và giữ chính quyền của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng rất nhiều “chiêu thức”, trong đó có sự dối trá, mỵ dân. Có thể nói sự dối trá, nói một đằng làm một nẻo là “chính sách” xuyên suốt trong đối nội cũng như đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ bao lâu nay. Và từ bao nhiêu nay người dân Việt Nam đã phải sống trong một môi trường giả dối, từ khi còn đi học trẻ em Việt Nam đã phải học tin vào những điều giả dối cho đến khi trưởng thành nhìn xung quanh xã hội toàn những điều giả dối – bằng giả, hàng giả, chất lượng công trình và cả chất lượng tác phẩm văn hóa văn nghệ nhiều thứ cũng là giả… Và cũng như các căn bệnh đã kể trên, đến một lúc nào đó sự giả dối cũng trở thành căn bệnh phổ biến trong xã hội – người ta chạy theo thành tích, chạy theo những giá trị ảo, giá trị giả bên ngoài và đánh giá nhau cũng bằng những cái bên ngoài đó như căn nhà, chiếc xe, áo quần, mảnh bằng phó tiến sĩ, tiến sĩ “mua”… mà không xét đến giá trị thật bên trong của một con người.

Hoài nghi và mất lòng tin

Và khi phải ăn uống hít thở hàng ngày với một bầu không khí giả dối như vậy thì lẽ đương nhiên con người trở nên mất lòng tin, hoài nghi vào tất cả mọi thứ. Từ một nguyên nhân sâu xa nhất là sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống lý luận chính trị Mácxít-Lêninnít, lý thuyết về chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản… mà bao nhiêu năm nay Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn ra sức nhồi nhét vào đầu người dân, trong lúc chưa tìm ra được một hệ thống lý luận khác để thay thế (thật ra thì đã có sẵn những hệ thống lý luận của các nước dân chủ pháp quyền khác để mà học hỏi nhưng vấn đề là nhà nước Việt Nam không muốn học!), cùng với sự xuống cấp, tha hóa về mọi mặt trong đời sống đạo đức xã hội, khiến con người mất lòng tin và căn bệnh hoài nghi này cũng phổ biến không kém. Điều tai hại hơn là người ta không tin cả vào những điều tốt, sự tử tế.

Môi trường xã hội Việt Nam hiện nay là một môi trường mà cái ác cái thiện lẫn lộn, môi trường văn hóa nghệ thuật cũng vậy – cái đẹp cái xấu lẫn lộn, thật giả lẫn lộn, dễ làm cho con người, nhất là giới trẻ, bị nhiễu về mặt nhận thức, thẩm mỹ cho đến phương hướng, mục đích sống… không biết phân biệt, thẩm định hay dở, đúng sai. Xã hội cứ thế mà nhiễu loạn cả lên.

Và tất cả những căn bệnh đó như những tế bào ung thư đang tàn phá cả xã hội Việt Nam mà nếu không có một sự thay đổi toàn diện, triệt để về mặt thể chế chính trị thì mọi sự “sửa chữa” kiểu như thay tên Đảng, thay tên nước, thay đổi nhân sự này chính sách kia… cũng chỉ như những cố gắng vá víu tạm bợ, che chỗ này vá chỗ kia trên ngôi nhà đã thực sự mục ruỗng từ bên trong mà thôi.

Song Chi

viethoaiphuong
#3 Posted : Tuesday, May 25, 2010 11:56:18 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)


Nền Tảng Văn Hoá Việt Nam

Phạm Hy Sơn

Người Việt chúng ta dạt dào tình cảm, từ tình yêu nước thương nòi, yêu quê hương, thương yêu cha mẹ anh chị em đến bạn bè, làng xóm. Tình cảm làm con người mơ mộng, dễ xúc động trước cảnh, trước người.

Thêm nữa tiếng Việt âm thanh trầm bổng tự nhiên nên khi chúng ta nói giọng cao, giọng thấp của các âm mang dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng nghe tựa như một bản nhạc hay một bài thơ rồi.

Sách cổ Tàu ghi người Việt nói líu lo như chim hót. Mới đây khi tôi vào mua đồ sửa chữa xe (part), người bán hàng cho biết ông ta đã sống ở Việt Nam mấy năm và nhận xét khi chúng ta nói chuyện âm điệu lên lên, xuống xuống nghe như nghe một bản nhạc.

Vì thế tổ tiên chúng ta đã để lại một kho tàng văn chương đồ sộ là tục ngữ, ca dao ghi lại mọi khía cạnh của đời sống từ tình yêu man - nữ đến tôn giáo, trời đất , phong tục tập quán , quan niệm về sự sống, sự chết, cách trồng tỉa, thời vụ . . ..

Hai tập Tục Ngữ Phong Giao của Ông Nguyễn văn Ngọc được sưu tập vào năm 1928 gồm hơn 6.500 câu tục ngữ, hơn 850 bài ca dao và 366 bài thơ đố.

Sau này Ông Trọng Toàn trong hai tập Hương Hoa Đất Nước do nhà Xuất bản Bốn Phương in năm 1956 thu tìm được 2.077 bài gồm từ hai đến mười câu thơ. Không biết những câu phương ngôn của các địa phương xa xôi đã được ghi nhận hết chưa. Trong hơn hai ngàn bài ca dao Ông Trọng Toàn ghi nhận, tính trung bình mỗi bài có 5 câu thơ thì chúng ta có hơn mười ngàn câu ( 2.077 x 5 =10.385) .

Điều đó chứng tỏ chúng ta có một nền văn học rất phong phú, rất sớm, cách đây nhiều ngàn năm, không thua người Trung Hoa về thời điểm và có thể cả về số lượng vì khi Khổng Tử soạn kinh Thi đã chỉ chọn được hơn ba trăm trong số những bài ca dao từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu để dạy người Trung Hoa.

Ông Phan Khôi trong bài khảo luận về Tục ngữ Phong giao đăng trên báo Tao Đàn ngày 1-08-1939 cho rằng: " Trong hạng phong giao tả tình Việt Nam, những câu nói về trai gái hay vợ chồng chiếm một phần lớn chẳng khác trong Quốc Phong của Kinh Thi bên Tàu .... Chưa nói đến cái hay chỉ nói đến cái nhiều cũng đủ thấy chỗ đặc sắc của phong giao xứ ta. . . . Sau một hồi nghiên cứu về Tục Ngữ Phong Giao, tôi thấy ra nó có cái địa vị trong văn học vững vàng mà rực rỡ lắm. "

Tại sao dân tộc chúng ta sáng tác nhiều thơ văn đến thế ?

Trước hết phải nói người Việt là một dân tộc chuộng thơ văn. Câu nói "mỗi người Việt Nam là một thi sĩ " không có gì quá đáng vì người Việt sống bằng tình cảm, dạt dào tình cảm, tâm hồn dễ rung động lại sống trong một đất nước xinh đẹp, núi cao, sông rộng, biển cả mênh mông, cỏ cây bốn mùa xanh tốt, con người hiền hòa dễ mến.
Trước cảnh ấy, người ấy, tất tức cảnh thành thơ :
- Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc bờ ao ,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Đây là cảnh đẹp trên đường vào xứ Nghệ :
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh, nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Đứng trước cảnh núi cao, sông dài, biển rộng, con người bâng khuâng tự hỏi :
- Núi kia ai đắp mà cao,
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu!

Ngày nay chúng ta thường hiểu Ca Dao là một thể thơ bình dân, nhưng nguyên thủy ca có nghĩa là hát và dao là bài hát ngắn. Vậy từ ngàn xưa trải dài qua cuộc sống dân tộc chúng ta mặc nhiên là ca sĩ trước khi trở thành thi sĩ mà không ai để ý.

Điều đó dễ hiểu vì ngôn ngữ của chúng ta qúa dồi dào âm điệu, nói ra tiếng là đã thành như ca hát. Tiếng Việt rất phong phú về âm, chúng ta có khoảng 15.000 âm do sự biến hóa của các dấu kể trên với 12 nguyên âm i ,o, a. .. và các nguyên âm kép như oa, oe, iu.... So với Trung Hoa, tiếng Bắc Kinh (Quan Thoại) chỉ có khoảng 1.300 âm - chưa bằng 1/10 Việt Nam ; với Nhật số âm còn ít hơn, khoảng 120 âm ( Tài liệu lấy từ Tiếng Việt Mến Yêu của Ông Đỗ thông Minh đăng trong Tập San Lê Hoa số Xuân 2006, trg 116 ).

So số vần trong 8 câu thơ Lục bát của ta với 8 câu thơ luật Đường của Trung Hoa thì số vần gấp hơn 2 lần ( 11 đối với 5) :
( Chữ Vần )
Làm trai nết đủ trăm đường : đường
Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay. : thường, nay
Công cha, đức mẹ cao dày, : dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ. : ngày, thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ, : giờ
Trưởng thành, con phải biết thờ hai thân. : thờ, thân
Thức khuya, dậy sớm chuyên cần, : cần
Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con. : phần
Ca Dao Cộng : 11 vần

Đưa Cho Vợ ( Chữ vần)
Quanh năm buôn bán ở ven sông, : sông
Nuôi đủ năm con với một chồng. : chồng
Lăn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông. : đông
Một duyên, hai nợ âu đành phận ,
Năm nắng, mười mưa chẳng quản công. : công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc ,
Có chồng hờ hững cũng như không. : không
Trần Tế Xương Cộng : 5 vần

Có lẽ vì số âm ít nên Trung Hoa và nhiều nước khác không có thể thơ có vần ở giữa (yêu vận) như loại thơ Lục Bát của ta.

Nhờ âm, điệu dồi dào nói không đã thành thơ, thành nhạc thì việc làm một vài câu thơ tả tình, tả cảnh hay nói về phong tục tập quán ( tục ngữ) hoặc những lời khuyên dạy con cháu (châm ngôn ) không khó nên từ xa xưa, trước khi có học hành chữ nghĩa, người Việt đã sáng tác rất nhiều câu thơ chúng ta gọi là ca dao. Vì là những bài "thơ" ngắn có vần, điệu êm tai, dễ nhớ nên được phổ biến rộng rãi và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Bất cứ người Việt Nam nào, dù là người nông dân không bao giờ cắp sách tới trường, cũng thuộc ít nhiều những câu tục ngữ, ca dao liên quan tới cuộc sống hàng ngày về phong tục tập quán, cách cày cấy, thời tiết . .. như :
- Cơn (mưa) đàng đông vừa trông vừa chạy.
- Tháng Chạp thì mắc trồng khoai ,

Tháng Giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà. . ..
- Lạy trời mưa xuống ,
Lấy nước tôi uống ,
Lấy ruộng tôi cày ,
Lấy bát cơm đầy ,
Lấy rơm đun bếp.
- Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Người bình dân từ thuộc ca dao đi đến việc dễ dàng sáng tác những câu ca dao.
Vì vậy phần lớn ý của ca dao đơn giản, bình dị ; cách gieo vần cũng thế nên có người nói ca dao giống vè nhiều hơn thơ :
- Tin bợm mất bò ,
Tin bạn mất vợ, nằm co một mình.
-Tay mang túi bạc kè kè,
Nói quấy nói quá cũng nghe ầm ầm.

Tuy nhiên có những bài ca dao rất hay cả về ý lẫn lời như bài dưới đây :
-Trèo lên cây bưởi hái hoa ,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc ,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay ,
Sao anh không hỏi những ngày còn không !
Bây giờ em đã có chồng ,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Đó là tâm tình của đôi trai gái ở sát nhà nhau, biết nhau từ nhỏ, lớn lên "tình trong như đã mặt ngoài còn e". Rồi chàng phải lên đường tòng chinh hay vì nhà nghèo phải đi xa làm thuê làm mướn, khi trở về thì:
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. ( Nguyễn Du )

Ôm mối thất tình chàng buồn rười rượi. Thế rồi một hôm nàng được phép chồng về thăm cha mẹ. Nghe giọng ai quen mà nhìn không thấy mặt vì hai nhà cách nhau bờ giậu. Lòng chàng bồn chồn đứng ngồi không yên hết leo lên cây bưởi ngó sang, lại xuống vườn cà sát bờ rào giả hái nụ tầm xuân ( hoa hồng dại) để mong thấy mặt nói lời than thở. Hai câu chót dùng vần trắc ( biếc, tiếc ) diễn tả nỗi lòng đau khổ :
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc ,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay !
Và nàng cũng vậy, sau khi trách chàng sao không dạm hỏi trước khi ra đi, đã tỏ rõ nỗi lòng nuối tiếc không cùng vì ván đã đóng thuyền mất rồi ! Còn nền luân lý khắt khe, còn danh phận phải giữ gìn, không thể làm gì hơn. Nàng cũng dùng vần trắc (gỡ, thuở ) ở hai câu cuối để bày tỏ lòng mình:
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!

Mấy câu ca dao sau đây nói lên nỗi buồn cô quạnh, mênh mang của con người:
Đêm qua ra đứng bờ ao ,
Trông cá, cá lặn trông sao, sao mờ ,
Buồn trông con nhện giăng tơ ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai!

Thiết tưởng những thi sĩ tài danh như Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân... chưa chắc đã làm được nhưng câu thơ hay hơn.

Chúng ta so sánh mấy giòng thơ sau đây với bài thơ Thề Non Nước của thi sĩ Tản Đà. Cả hai đều nói lên lòng chung thủy đợi chờ xem bài nào cô đọng hơn, xúc động hơn :
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà ,
Bóng sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ không mòn,
Tào khê nước chảy, lòng còn trơ trơ.
Ca Dao

Thề Non Nước
Nước non nặng một lời thề ,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy ,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. . ..
Tản Đà

Lối hát Quan Họ Bắc Ninh, hát Ví hay hát Đối của đồng bào dân quê miền Bắc, Hát Trống Quân vào đêm Trung Thu , Hò kéo gỗ, Hò giã gạo, Hò miền Nam, Hát Ru v. v. hầu hết dùng thể thơ Sáu Tám cả.

Nhưng nói đến thơ bình dân mà không nói đến vè là một thiếu xót. Vè là loại bình dân nhất, dễ làm nhất thường dùng để chế nhạo, trêu cợt :
Nghe vẻ nghe ve ,
Nghe vè xóm Cả,
Họp hành cãi vã,
Như đám mổ bò,
Việc làng không lo ,
Khấu đầu nộp vạ. .. .

Về sau, người ta dùng hai câu thơ bảy chữ có vần trắc cộng với thể thơ Sáu Tám thành thơ Song Thất Lục Bát sở trường diễn tả sự buồn phiền, ai oán trong Bần Nữ Thán, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc ( có người cho rằng 2 câu thơ 7 chữ do biến thể từ thơ Đường luật, sau khi đọc kỹ ca dao tôi thấy không đúng. Lối gieo vần trắc ở giữa đã có rất nhiều trong ca dao, thí dụ vắn tắt như bài Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa ở trên ).

Có thể nói nền văn hoá Việt Nam không bị biến hoá hay đứt đoạn nhờ những bài hát hay những vần thơ bình dân. Tổ tiên chúng ta khởi công xây dựng văn hoá bằng những câu nói đơn sơ nhưng có vần có điệu như: " Cầu được, ước thấy. ", " Ăn trông nồi, ngồi trông hướng. " Mất bò, mới lo làm chuồng. "

Từ đó tiến tới loại thơ gần với thơ Sáu Tám. Chúng ta lần lượt đọc những câu sau đây để hiểu rõ hơn sự tiến triển của ca dao Việt nam:
- Đãi *** sáo lấy hạt đa,
Đãi *** gà lấy tấm.
Hay:
-Nắng sớm thì đi trồng cà ,
Mưa sớm ở nhà phơi thóc .
- Cố đấm ăn xôi ,
Đấm thì vô hồi, xôi chẳng được ăn.
- Mặt nạc đóm dày,
Mo nang trôi sấp biết ngày nào khôn.
- Ba vợ, bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi!

Tới thể Sáu Tám là thể thơ hoàn chỉnh nhất, không những được giới bình dân sử dụng mà cả những người có học nơi cửa Khổng Sân Trình không những dùng để sáng tác tiểu thuyết dài bằng thơ mà còn dùng để viết sử nữa như Nguyễn huy Tự, Nguyễn Thiện với truyện Hoa Tiên, Nguyễn Du với Truyện Kiều, Nguyễn đình Chiểu với Lục Vân Tiên, Phạm đình Toái và Lê Ngô Cát với Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca v. v..

Ngày xưa nhà Nho thi cử phải thông thạo Phú Lục, Văn sách là những loại văn thơ của Tàu, không học văn thơ Việt Nam nên loại thơ chính thức các cụ hay làm là thơ Đường (loại thơ bảy chữ tám câu ).

Nhưng nếu tổng cộng tất cả thơ được các cụ sáng tác bằng chữ Nho chưa chắc bằng số thơ các cụ sáng tác bằng chữ ta (nôm) qua thể Sáu Tám.

Điều đó giải thích tại sao chúng ta không bị Tàu hóa và nêu rõ địa vị quan trọng của tục ngữ ca dao trong nền Văn Hóa Việt Nam.

Đó mới chỉ là xét qua theo hình thức, xét phần nội dung tức những tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán chứa đựng trong những câu nói, câu thơ bình dân kể trên mới là phần quan trọng. Sau đây là những điểm chính :

- Tín ngưỡng : Tín ngưỡng tức niềm tin tôn giáo. Người Việt Nam xưa đã có tôn giáo, đó là Đạo Trời trước khi các đạo Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa tới truyền bá.

Người Việt tin Ông Trời là đấng tối cao tạo dựng vạn vật, có toàn quyền năng mà mỗi khi cần xin điều gì, người ta vái lạy :
Lạy Trời mưa xuống ,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày ,
Lấy bát cơm đầy ,
Lấy rơm đun bếp.

Đối với những kẻ độc ác, bất nhân người ta tin sẽ khó lòng thoát khỏi bị Trời trừng phạt với câu: " Lưới Trời lồng lộng. ", " Trời có mắt. " hoặc " Không có Trời ai ở được với ai." hay :
- Đừng cậy khoẻ, chớ cậy giàu ,
Trời kia còn ở trên đầu, còn kinh.
- Của Trời, Trời lại lấy đi,
Giương hai mắt ếch làm chi được Trời !
Nên người ta phải ăn ở hiền lành, có nhân, có nghĩa :
- Làm ơn ắt hẳn nên ơn ,
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ .
Do đó người ta tin tưởng vào Đạo Trời :
- Dù ai nói ngược, nói xuôi ,
Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng.

Đạo Trời là đạo tự nhiên như ăn ngay ở lành, hoà thuận, thương yêu. Ông Trời đối với người Việt rất gần gũi và thân yêu , không cầu kỳ cao xa như Ngọc Hoàng Thượng Đế của người Trung Hoa, Thiên Chúa đáng sợ đáng kính của người Do Thái trong Kinh Cựu Ước.

Câu truyện cổ kể ngày xưa Trời ở sát với người nhưng anh chàng kia được vợ dặn ở nhà trông cái váy phơi trên cây sào. Anh chàng quên không để ý, đến lúc nhớ ra thì cái váy đã bị gío thổi bay mất. Chàng ta không biết thế lại nghi là trời ăn cắp nên lấy cây sào đâm trời, trời giận mới bay lên cao như bây giờ.

Hình ảnh Ông Trời đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam nên hơi một tí là người ta kêu Trời. Vui cũng kêu Trời, buồn cũng kêu Trời: "Trời ơi vui qúa ! " , " Trời ơi sao tôi khổ qúa ! "

Đạo Phật đã hiện diện ở Việt Nam hơn 2 ngàn năm nhưng không xóa được hình ảnh Ông Trời trong đầu óc họ, trái lại người ta vẫn thường nói: " Nhờ Trời, nhờ Phật ". Được như vậy là vì Ông Trời trong Đạo Trời của Việt Nam là đấng thiêng liêng, có toàn quyền năng, đấng tạo dựng vạn vật mà đạo Công Giáo gọi là Thiên Chúa, Đạo Hồi gọi là đấng A - Lát, người Trung Hoa gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tất cả , dù cách diễn tả có đôi chút khác, nhưng đều thờ một đấng tối cao mà thôi ( Trong kinh sách xưa của đạo Công Giáo, những nhà truyền giáo Âu Châu cũng kêu Thiên Chúa là Đức Chúa Trời ).

- Nhân sinh quan : Cũng như tư tưởng của Lão Trang du nhập về sau, người Việt Nam đã sớm nhận ra cuộc đời ngắn ngủi như hoa sớm nở, tối tàn :
- Người đời khác nữa là hoa ,
Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn.

Tuy cuộc đời ngắn ngủi, phi lý nhưng người Việt chúng ta quan niệm đã sống thì sống cho có ý nghĩa, đừng phí phạm tháng ngày :
- Đời người được mấy gang tay ,
Ai hay ngủ ngày, chỉ được nửa gang .
Và đã sống thì phải sống sao cho hào hùng, sống sao có ích cho đời :
- Làm trai cho đáng nên trai ,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan.

Ngoài ra tục ngữ, ca dao còn đề cập đến nhiều vấn đề như giáo dục, tâm lý người đời, phong tục, tập quán, thời tiết, nông vụ . .. :

Giáo dục :
- Cá không ăn muối cá ươn ,
Con không nghe lời cha mẹ trăm đường con hư.
-Dạy con, con chẳng nghe lời ,
Con nghe ông hểnh đi đời nhà con.
- Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Lòng hiếu thảo :
- Công cha như núi Thái Sơn ,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra .
Một lòng thờ mẹ kính cha ,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con .
- Công cha đức mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân.

Thời tiết :
- Ngày tháng 10 chưa cười đã tối.
- Mồng chín tháng Chín không mưa ,
Mẹ con bán cả cày bừa mà ăn.
Mồng chín tháng Chín có mưa ,
Mẹ con đi sớm về trưa mặc lòng.

Thời vụ :
- Tháng Chạp là tiết trồng khoai ,
Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.
Tháng Ba cày bở ruộng ra,
Tháng Tư gieo mạ thuận hoà nơi nơi. . ..
- Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. . ..

Phong tục, tập quán :
- Tháng Giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng Ba hội hè.
Tháng Tư đong đậu nấu chè ,
Ăn tết Đoan Ngọ trở về tháng năm. . ..
- Phép vua thua lệ làng.
- Chồng cô, vợ cậu, chồng dì ,
Trong ba người ấy chết thì không tang.
- Lạy cha ba lạy, một quì,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng .

Tâm lý :
- Yêu nên tốt, ghét nên xấu.
- Khó khăn ở chợ leo teo ,
Ông cô, bà cậu chẳng điều hỏi sao.
Giàu sang ở tận nước Lào,
Hùm tha, rắn cắn tìm vào cho mau.

Tóm lại, chỉ nhận xét riêng về phần Ca dao chúng ta thấy nước Việt từ ngàn xưa đã có một nền văn hoá riêng, phong tục tập quán riêng, tín ngưỡng riêng ( thờ Trời, thờ Ông Bà Tổ Tiên ) , bờ cõi riêng được xác tín qua bài thơ sau đây của danh tướng Lý thường Kiệt :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tạm dịch :
Vua Nam ở đất nước Nam ,
Sách trời phân định biên cương rõ ràng .
Giặc nào dám tới hoành hành,
Tất nhiên đại bại tàn tành như tro .

Sự phân định bờ cõi cũng như xác định nền văn hoá Việt được Cụ Nguyễn Trãi hùng hồn nhắc lại trong bài Bình Ngô Đại Cáo sau khi dân tộc ta đánh đuổi quân Minh về nước :
Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng Văn Hiến đã lâu ,
Sơn hà cương vực đã chia ,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Ngoài ca dao, chúng ta còn có một kho tàng văn hoá cổ khác là các truyện cổ tích lưu truyền trong dân gian mà mãi về sau một số được ghi lại thành sách vở vào khoảng thế kỷ 13, 14 bởi các Ông Lý Tế Xuyên với Việt Điện U Linh tập và Trần Thế Pháp với Lĩnh Nam Trích Quái. Sau này còn các Ông Nguyễn Dữ viết Truyền Kỳ Mạn Lục, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết Tang Thương Ngẫu Lục sưu tập những truyện cổ trong dân gian. Những truyện loại này được truyền từ đầu môi của cha mẹ, ông bà hay các bậc gìa cả kể lại cho con cháu, từ đời này đến đời khác về truyền thuyết của dân tộc, các vị vua Hùng dựng nước, các vị anh hùng cứu nước như Đức thánh Gióng, Hai Bà Trưng, các vị thần linh như Thần núi Tản Viên, Chử Đồng Tử. . .. Qua những câu chuyện ấy, người ta biết được nguồn gốc của mình, biết được tổ tiên mình dựng nước và giữ nước ra sao, đất nước mình có những vị thần minh bảo trợ và các vị anh hùng hào kiệt từng chiến thắng kẻ xâm lược, những thuần phong mỹ tục phải duy trì (tục cưới hỏi trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, tình nghĩa vợ chồng, anh em trong truyện Trầu Cau...).

Cũng như ca dao, truyện cổ tích len lỏi vào tâm hồn người Việt như những mạch suối ngầm nên trải qua bao nhiêu cơn quốc biến với chính sách đồng hoá gắt gao từ đời Hán đến đời Minh, đời Thanh với chỉ thị thấy bất cứ dấu vết văn hóa nào như sách vở, bia đá, ca lý dân gian của người Việt thì một mảnh, một chữ, một câu cũng phải đốt, phải đục hết ( Chỉ dụ của Minh thành Tổ ngày 21-8-1406). Sách vở, bia đá thì người Tàu tha hồ thu, tha hồ đục. Cái gì của Tàu trả cho Tàu. Cái gì của Việt một mảy may không hề sứt mẻ.

Nhìn qua sách vở viết bằng chữ Nho (Hán), hoặc nghiên cứu về các luật lệ, cách thức tổ chức triều đình xưa một số người Việt và người ngoại quốc vội cho rằng người Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung hoa. Đó là một điều sai lầm vì người Việt xưa kia chưa có chữ thì viết bằng chữ Nho, các triều đại xưa thấy đạo Nho của Khổng Mạnh có lợi cho vương quyền nên cũng bắt trước Trung Hoa trong tổ chức triều nghi, đặt ra các luật lệ theo chiều hướng ấy hoặc như vua Gia Long nhà Nguyễn đem gần nguyên bộ luật của Nãm Thanh ra áp dụng. Đó chỉ là bộ mặt của các vương triều, các bộ luật không ảnh hưởng đến hầu hết dân chúng vì " Phép vua thua lệ làng ". Ngay cả các nhà Nho nổi tiếng về Hán học như các cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến. .. sau khi đỗ đạt thành danh thì lại qui ẩn nơi thôn dã sau lũy tre xanh, sống hòa mình với bà con của mình, ăn măng, ăn rau gía, uống rượu nếp, lấy cần câu tiêu khiển chứ không uống rượu bồ đào, lụa là, xe ngựa như người Trung Hoa :
- Thu ăn măng trức, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp ,
Nhìn xem phú qúi tựa chiêm bao.
Nguyễn bỉnh Khiêm
Hay:
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được ,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Nguyễn Khuyến

Một học giả người Pháp khi đã nghiên cứu kỹ văn hóa Việt Nam thấy rằng nền tảng văn hóa Việt Nam không hề thay đổi dù trải qua hai lần bị ngoại bang đô hộ ( Trung hoa và Pháp) với mưu toan đồng hoá. Ông ví Văn hóa Việt như một cây tre, nếu cạo những lớp sơn (văn hóa ngoại lai ) bên ngoài thì bên trong cây tre vẫn là cây tre.

Văn hóa Việt không ghi trong sách vở, văn bia, không viết bằng ngòi bút mà " viết " bằng lời nói, bằng một thứ ngôn từ rất huyền diệu được phổ biến và lưu truyền nhanh chóng. Trong bất cứ thời kỳ đen tối nào của dân tộc Việt, những câu ca dao hô hào lòng yêu nước hay phỉ báng quân thù không những không hủy được mà còn phát triển mạnh hơn như thời quân Thanh sang xâm lăng ra lệnh cho người Việt phải kết tóc thành bím thả ra phía sau như một cái đuôi. Việc này họ đã thành công ở bên Tàu nhưng thất bại ở Việt Nam :
Trèo lên trên núi mà coi ,
Kìa kìa Ngô khách mọc đuôi đàng đầu !

(Chỉ có loài thú vật như trâu, bò, lừa, ngựa. .. mới có cái đuôi mọc ở chỗ xấu và dơ nhất. Đây là lời nhạo báng rất nặng nề dành cho kẻ xâm lăng ).

Sự kiểm soát tư tưởng không thời nào khắt khe, tàn bạo và tinh vi như thời cộng sản vì ở khắp mọi nơi, mọi chỗ đều có đảng viên làm tai mắt. Những người dùng ngòi bút để chống đối như những nhà văn, nhà thơ trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm hay Ông Nguyễn chí Thiện thì bị tù tội, văn sách bị tịch thu, bị cấm nhưng ca dao vẫn nảy nở và được lưu truyền rộng rãi :
- Một người làm việc gấp hai ,
Để cho cán bộ mua đài (radio), sắm xe.
Một người làm việc gấp ba ,
Để cho cán bộ xây nhà xây sân.
- Đôi giép râu xéo nát đời son trẻ ,
Mũ tai bèo che lấp cả tương lai .
Ngay cả những câu ca dao kỳ tai hại, cực kỳ nguy hiểm đối với chính quyền mà họ cũng không tài nào ngăn cấm được vì người ta không viết thành truyền đơn hay biểu ngữ nhưng lại ghé sát vào tai nói cho nhau nghe :
- Bao giờ hồ cạn, đồng khô, (ám chỉ Ông HCMinh và PV Đồng )
Búa liềm thì cũng là đồ bỏ đi .. . . . . ..

Thời nay dù sách vở thuận tiện nhưng tục ngữ, ca dao vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành nếp sống của người Việt từ nông thôn tới thành thị và ngay cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài mỗi khi muốn nói đến một cách cư xử hay một tập quán nào ( như nghi lễ cưới xin ) người ta vẫn dùng tục ngữ, ca dao để chứng dẫn.

Có người cho rằng trước sức bành trướng ào ạt của văn minh phương Tây ,văn hóa Việt Nam sẽ bị trốc gốc. Chúng tôi thiết nghĩ đó là một ý tưởng bi quan, chúng ta đã qua thử thách của lịch sử trong qúa khứ. Một thử thách khác đang thể hiện nơi người Việt tị nạn sống khắp thế giới. Tuy là thiểu số nhưng nơi nào chúng ta cũng có khuynh hướng hội tụ thành quần thể với các sinh hoạt văn hóa riêng của mình như sách báo, đài phát thanh , đài truyền hình, ca nhạc, trường học, chùa, nhà thờ, các đoàn thể, hội đoàn. . . . Điều đó chứng tỏ nền Văn Hóa của chúng ta có thể tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào.

PHẠM HY SƠN
(Người Việt Chúng Ta )



viethoaiphuong
#4 Posted : Wednesday, August 4, 2010 6:20:16 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Sưu Tập Văn Học Dân Gian

LTS: Đây không phải là “mục vui cười” kể chuyện hài hước, cợt nhả (joke) mà là mục sưu tập những chuyện đã được quần chúng truyền tụng rộng rãi suốt Bắc Trung Nam, có tính cách phê phán, châm biếm, mỉa mai (critic, satiric, ironic) chế độ cộng sản thống trị.
Hai điều này khác nhau, một đàng vụ mua vui, một đàng mang tính chất đấu tranh. Mở mục này, Người Dân nhằm ba mục đích: để khỏi thất truyền, để cộng sản biết tâm tình dân chúng, và để một số đồng bào Miền Nam thấy rằng không phải cứ là dân Miền Bắc thì là cộng sản hoặc không chống cộng.

Người Dân hy vọng mục này khiến thân hữu/bạn đọc sẽ cầm bút để bắt đầu tham gia vào hàng ngũ “biện sĩ” trong một lãnh vực của mặt trận đấu tranh tư tưởng, văn hóa.

Người Dân cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng, vì tính chất “dân gian”, nên ngôn ngữ trong một số câu chuyện có thể bị coi là không thích hợp với các em bé. Xin quí vị lớn tuổi trong gia đình đọc, kiểm duyệt trước, để chuẩn bị giải thích, nếu muốn các em hiểu biết về lối châm biếm, mỉa mai của “dân gian” ngoài đời như thế nào.

THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN

Để tiếp nối chương trình Văn Học Dân Gian của NgD trong việc duy trì một bộ môn văn hóa dân tộc, nên “hay hèn cũng thể nối điêu”, người viết chỉ xin phụ thêm một số đề tài, ngoài những đề tài mà các bạn đã viết trên những số trước. Điều đáng chú ý là bộ môn văn hóa này quá phong phú dưới thời nước nhà rên siết dưới gông cùm cộng sản, mà những sự hà khắc làm đề tài cho nền văn học dân gian có thể lấy thúng mà đong không xuể, nếu chịu khó sưu tầm thì viết được cả một tập sách dày.

Bị đè nén, áp bức, bóc lột nhưng hễ công khai phản kháng, chống đối, phê bình bất cứ dưới hình thức nào, thì cũng lập tức bị khủng bố, tù đày; điển hình như trường hợp các nhân sĩ trong phong trào Nhân Văn/Giai Phẩm trước đây và mới rồi vụ Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Trần Mạnh Quỳnh, vv… Cho nên văn học dân gian nảy nở, do tiếng nói của các chiến sĩ vô danh phát huy tinh thần phê phán qua những vần thơ, câu vè, câu hát phản ảnh một chân lý nhuộm đầy màu sắc thực tế phũ phàng để loan truyền trong dân gian, nhạo báng bạo quyền. Tinh thần phê phán này ví như liều thuốc an thần cho người dân thấp cổ bé miệng, giải tỏa những ẩn ức trong lòng, pha loãng những ưu tư phiền muộn miên man, mua lấy nụ cười sảng khoái cho mình và cho cả những người đồng hội đồng thuyền. Do tiếp cận với thực tế, bộ môn văn học này rất giản dị; tác giả lại vận dụng tài tình tư tưởng một cách nhẹ nhàng, nên rất dễ truyền cảm. Bởi vậy nó trở thành một thứ vũ khí khá nặng ký của người bị trị giáng lên đầu quân thống trị, vì nó được loan truyền trong quảng đại quần chúng, làm suy giảm uy thế của kẻ cầm quyền, lại còn gây mầm mống những chống đối nguy hiểm cho chế độ. Cũng cần nói thêm rằng loại hài hước này còn là thước đo những bất mãn, bất công, điều xấu của chế độ bị dùng làm đề tài sáng tác. Và thước đo này càng dài càng thể hiện rõ ràng mức độ oán hờn của nhân dân đối với bọn thống trị phi nhân. Sau đây người viết sao chép ra một số ít đề tài về từng loại thể văn để độc giả cười vui trong chốc lát:

THƠ

Sau khi Hồ Chí Minh ký Hiệp Định 6-3-46 nhượng thực dân Pháp chủ quyền về thuộc địa Nam Kỳ, có bài thơ Khóc Ông Hồ họa nguyên vận bài Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương:

Trăm năm ông lão cáo già ơi!
Cái đất miền Nam mất thật rồi.
Chôn chặt vàng quyên ba tấc đất, [1]
Tung hê độc lập bốn phương trời.
Cán cân Bắc bộ rơi đâu mất,
Miệng túi miền Nam thắt chặt rồi.
Hiệp định năm năm là mấy chốc,
Trăm năm ông lão cáo già ơi!

Rồi đến khi ông về chầu Các Mác, còn dối lại cho đàn em xuất công quỹ hàng tỉ bạc ra để ướp xác, bèn có bài thơ họa nguyên vận bài Lỡm Ông Cuội có đền thờ ở làng Ngang thuộc tỉnh Hà Nam của cụ Tam Nguyên Yên Đổ như sau:

Qua đường Ngọc Hà có chỗ lội,
Có lăng ông Hồ cao vòi vọi.
Đàn bà đến đấy vén quần lên,
Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối.
Ông Hồ ngồi trên mỉm miệng cười
Cái gì trăng trắng như con cúi?
Đàn bà khép nép đứng lên thưa:
Con trót hớ hênh ông xá tội.
Không! Không! Con có tội chi mà,
Lại đây ông cho giống ông nội.
Từ đấy Việt cộng đẻ ra cuội
Đẻ ra toàn một phường nói dối.

THỂ DÂN CA

Chế độ quản lý dạ dày con người qua hình thức hộ khẩu là một chế độ thâm độc có một không hai của cộng sản. Không phục tùng là không có gạo, uy lực “bà cả đọi” luôn luôn đe dọa con người, nên mới có lời than:

Ngày xưa roi điện thì om,
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương.
Ngày xưa nô lệ có cơm,
Ngày nay độc lập xương sườn lòi ra.

Nhân phẩm con người xuống cấp cũng chỉ vì miếng ăn:

Ngày xưa roi điện thì om,
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương.
Ngày xưa nô lệ có cơm,
Ngày nay độc lập xương sườn lòi ra.

Còn về vụ đấu tranh giai cấp, thì cộng sản chủ trương san bằng “trí phú địa hào phải đào cho tận gốc trốc cho tận rễ”, giết, giết hết, để chỉ còn có một giai cấp “đại đồng” thôi. Nhưng trên thực tế thì chúng lại phân chia quyền lợi rõ ràng, như phân phối lương thực thì có chợ vua quan, chợ trung gian nịnh thần, chợ thương nhân, chợ vỉa hè. Và lương bổng thì:

Hai trăm ngồi phán [2]
Trăm tám ngồi nghe
Tranh nhà tranh xe
Là anh trăm rưởi
Tất ta tất tưởi
Là chị chín mươi
Dở khóc dở cười
Là anh sáu chục
Cửa nhà lục đục
Là chị bốn lăm
Khoai sắn quanh năm
Là anh băm chín
Bữa ăn bữa nhịn
Là chị băm hai
Có làm không nhai
Là em nông nghiệp.

Sau này thì Việt cộng cũng diễn trò đổi mới nhưng cái trò đổi mới nửa chừng xuân chỉ là âm mưu củng cố địa vị để vơ vét cho đầy túi tham trước khi sụp đổ theo vết xe của quan thày Liên Xô và các “đồng choé” Đông Âu. Và văn học dân gian cũng sẽ đổi mới dài dài.

*****

Lối tuyên truyền phỉnh nịnh mê hoặc quần chúng của cộng sản có thể xếp vào hạng bịp bợm siêu nhiên.

Chúng oang oang trên loa phóng thanh ngày đêm ca tụng đủ mọi thứ tốt đẹp của chế độ “xuống hàng chó ngựa” (xã hội chủ nghĩa). Thí dụ như về vấn đề công bằng xã hội, chúng bảo chủ trương là san bằng giai cấp. Có nghĩa là không có kẻ giầu người nghèo, kẻ sang người hèn, tất cả đều “mắm sốt” như nhau. Dựa vào đó, chúng bày trò giết chóc “địa chủ, phú nông, cường hào gian ác” hàng mấy trăm ngàn người trong phong trào “cải cách ruộng đất”.

Nhưng hỏi rằng thực tế ra sao, thì dân gian bèn ca rằng:

Nhà ai giầu bằng nhà cán bộ
Hộ nào sang bằng hộ đảng viên?
Dân tình thất đảo bát điên
Công an mặc sức vung tiền vui chơi.

Sự tốt đẹp của chế độ như thế nên dân gian bèn dùng những mẫu tự đầu của nhóm chữ “Xã Hội Chủ Nghĩa” biến thành những nhóm chữ sau đây:

Xạo hết chỗ nói, xóa hết chữ nghĩa, xuống hàng chó ngựa, xếp hàng cho ngay, xếp hàng cả ngày, xếp hàng cả năm, siết họng công nhân, xuống hàng chó ngựa, xuống hố cả nút để nói lên kết quả của nền cai trị vô luân.

*****

Dân tộc Việt rất sính thơ văn, nên trong mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị đến thôn quê, đâu đâu cũng truyền khẩu những tiếng hát, câu hò, câu ca, câu ví đượm màu sắc văn học dân gian, để diễn tả tâm tình trong từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng đối tượng, từng môi sinh.

Đây là một nét đẹp, nét hay, nét đặc thù của dân tộc gắn liền với đời sống hàng ngày của cộng đồng, từ đời này qua đời khác, thể hiện bằng những vần điệu thơ mộng, huê tình, lằng lơ bay bướm, hồn nhiên sảng khoái, ai oán tiếc thương, cũng có khi lại mỉa mai giễu cợt, châm biếm khôi hài. Tóm lại là một nền văn học thực tại trên đủ mọi khía cạnh của cuộc sống thường ngày.

Dài dòng văn tự, có vẻ hơi quá lý thuyết, thiếu cụ thể. Chi bằng xin viện dẫn ra đây vài mẫu hiện thực của nền văn học dân gian thời trước và thời nay, để độc giả thưởng lãm, với một nụ cười đồng thuận đồng tình.

Trước đây, dù dưới sự đô hộ của bọn thực dân hà khắc, nhưng đời sống nhân dân còn có phần nào tự do, nên đó đây còn vẳng lên những vần ngây thơ lãng mạn, như:

Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm?
Hỡi ai đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than đôi lời!
Qua đình ghé nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
Qua cầu ghé nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu.
Chim khôn đậu nóc nhà quan
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng.
Cành tre câu bóng trăng vàng
Con cò trắng đỗ, nhịp nhàng gió đưa.
Lưng trời tiếng sáo vi vu
Cá buồn đớp bóng trăng thu tan tành.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Bắt được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà?

Nhịp điệu như trên cứ thế dài dài. Nhưng rồi… cách mạng thành công! Cộng sản ngự trị trên khắp dải non sông đất nước. Xã hội lâm cảnh gian nan cơ cực. Dân tình mang kiếp sống khổ ải điêu linh. Thì những vần thơ xưa mất đi âm hưởng để nhường chỗ cho những điệu ai oán than van, mỉa mai châm biếm, đôi khi hết sức cay độc sỗ sàng:

Tự do chết đói với nhau
Độc lập đứng dậy làm trâu kéo cày
Ba bảy hai mươi mốt ngày
Hạnh phúc tràn đầy là đạp xích lô.
*
Cướp đường, cướp chợ, cướp sông
Cướp sâu, cướp cạn, cướp trong, cướp ngoài
Cướp đông, cướp xuống thôn đoài
Dân ta căm giận hoài hoài không quên.
*
Gia đình giờ chẳng có tiền
Ốm đau lại viếng, tật nguyền lại mang
Ruộng đồng, cây trái bỏ hoang
Không người săn sóc, hoang tàn rất mau.
*
Ai về qua tỉnh Nam Hà
Hãy xem lũ khỉ xây nhà bê tông.
Khỉ ơi! Mày có biết không?
Chúng ông làm chủ mà không bằng mày? [3]
*
Ai về Nam Định, Hải Phòng
Cho ta nhắn tụi thằng Đồng một câu:
Liệu mà tụt xuống cho mau
Kẻo rồi bị chém beng đầu đến nơi.
*
Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Đồng
Ba thằng cùng béo, vặt lông thằng nào?
Vặt lông cả đám cho tao!
*
Đảng là mẹ, Bác là cha
Từ khi Bác chết, Đảng ta góa chồng
Sinh ra rặt rắn vắng rồng
Thạch Sanh không thấy, Lý Thông quá nhiều.
________________________________________________________

Chú thích của Người Dân:

1. Vàng quyên trong Tuần Lễ Vàng, nói là để mua khí giới đánh Pháp.
2. Tiền hồi 1965: lương tháng 200$ hàng bộ trưởng; 180$ thứ trưởng; 150$ giám đốc, quận trưởng; 90$ chánh sự vụ, phường trưởng; 60$ chủ sự; 45$, 39$, 32$ nhân viên.
3. “Chính quyền” Nam Định xuất công quỹ lớn lao ra xây cất nhưng phần vì dốt nát, phần vì bớt xén vật liệu, xây xong, công trình sụp đổ ngay lập tức.

Trích: Nguoi Dan
viethoaiphuong
#5 Posted : Tuesday, October 12, 2010 9:25:54 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Cần phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ Nam bộ

* NGUYỄN HỮU HIỆP/ Thứ bảy, 09/10/2010

Cũng như người Nam bộ, ngôn ngữ Nam bộ rất chân quê, giản dị, nhưng lại cực kỳ phong phú, đa dạng. Có để tâm tìm hiểu, người ta mới nhận ra rằng, ở mỗi một trường hợp, mỗi một tình tiết, dân gian đã sử dụng ngôn từ rất tinh tế, hình tượng và tất nhiên vô cùng chính xác. Về phương diện này, đôi khi chính “người Nam bộ hôm nay” cũng chưa chắc đã thấu triệt hoàn toàn ý nghĩa cụ thể của từng từ, cụm từ. Người đọc thỉnh thoảng vẫn bắt gặp đó đây những cách giải thích từ, ngữ hết sức tùy tiện, cũng như nhận định, xem xét sự kiện hết sức hời hợt, chủ quan, không chỉ làm “loạn mắt” mà còn dẫn đến sai lầm nghiêm trọng.

Giải thích tùy tiện có khi còn làm mất đi cái hồn của ngôn ngữ, làm hoen ố tính trong sáng vốn có của tiếng Việt đáng yêu, nhứt là tiếng Việt Nam bộ.



Trong quyển “Văn hóa đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam” – Đại học quốc gia Hà Nội – “tài liệu dùng để tham khảo giảng dạy và học tập trong các trường đại học”, đã giải thích ngược: “Nước rong: nước cạn. Nước ròng: nước lớn”! Hay sách “Diện mạo văn học dân gian Nam Bộ” đã giải thích chữ buôi (trong câu “Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược”) là “bơi. Tiếng Nam bộ xưa”! Cá buôi là một loài cá, quê hương của nó không chỉ khu biệt ở Nam bộ, mà nó cũng có nhiều ở những nơi khác. Đó là “thứ cá sông tròn mình, nhỏ con mà có nhiều mỡ” (“Đại Nam quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của). Trong kho tàng ca dao dân ca Nam bộ cá buôi được nhắc đến khá nhiều, và thời trước nó cũng đã nghiễm nhiên là một loại thủy đặc sản quý hiếm”:

Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội xuôi,
Anh với em xa cách ngậm ngùi,
Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ưng.

Hay:

Ngó lên trời thấy cục mây bạch,
Ngó xuống vàm rạch thấy cá chạch đỏ đuôi,
Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược,
Nước chảy ngược con cá vược lội theo,
Con cá heo nó khóc, con cá lóc nó sầu...

Hoặc:

Năm tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho đặng đãi người khách sang

Ba tiền một khứa cá buôi,
Cũng mua cho được mà nuôi mẹ già.

Và:

Dòng nước chảy xuôi.
Con cá buôi lội ngược.

Anh thương nàng biết được hay chăng...

Phải chăng con cá buôi ngày nay đã tuyệt chủng nên có sự lầm lẫn? Không! Nó vẫn còn, tuy rất hiếm. Đó là một loại cá có tập tính sống thành bầy đàn. Khi đàn cá trưởng thành, chúng tách ra sống thành từng cặp. Và người đi bắt cá buôi thường bắt một lần được cả cặp, do con cá đi cùng cứ lẩn quẩn bên người bạn tình vừa bị bắt. Cá buôi có đặc điểm là chỉ ăn bọt nước và phiêu sinh vật nhỏ trong nước phù sa nên ruột rất sạch. Người ta chỉ có thể đánh bắt, chứ không câu được.

***

Trong phạm vi của một bài viết nhỏ không cho phép người viết dài dòng giải thích bởi không khéo sẽ mắc phải “nói sang đàng”. Các nhà văn, nhà thơ, các nhà soạn văn bản, và nhất là giới nghiên cứu về ngôn ngữ bao giờ cũng tỏ ra rất trân trọng, và luôn ý thức gìn giữ, bảo lưu tính tích cực của vốn từ mà thực tiễn nhân dân vẫn đang sử dụng phát triển. Bởi nếu không như thế thì sẽ không tránh khỏi tình trạng nghèo hóa ngôn ngữ, nếu không muốn nói đó là một hành vi phủ nhận “công ơn sinh thành” của lớp lớp thế hệ cha ông mình – những người đã phải trải quá trình lao động, chiến đấu vô cùng gian nan, vất vả, để rồi từ sự cọ xát cuộc sống trong sinh hoạt đời thường, họ mới lần lượt sáng tạo và phát minh ra cả một kho tàng ngôn ngữ cực kỳ phong phú, chuyển giao lại cho chúng ta thừa hưởng.

Ngôn ngữ - tiếng nói của Nam bộ mộc mạc, chân quê, nhưng rất đích xác, phong phú. Chẳng hạn như để mô tả trạng thái của nước, ngôn ngữ Nam bộ có đến hàng chục cách: nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đầy mà, nước rặt, nước nhửng, nước nhảng, nước ưng, nước quay, nước lên, nước đổ, nước lộn, nước dâng, nước bò, nước sụt, nước trồi, nước môi, nước xẹt, nước lụt, nước tống, nước chụp, nước phân đồng... Hoặc như nói về cái chết của con người, chắc hẳn không dưới hàng trăm cách nói, mà cách nào cũng có nghĩa riêng như: mất, qua đời, tắt hơi, nghỉ thở, “đi”, ngủm, sụm, ngoẻo, hui, đền tội, tử thần kêu, đi chầu Diêm chúa, “đi bán muối”, anh dũng hy sinh, đền xong nợ nước, ly trần, tạ thế, quy tiên, theo ông theo bà, tiêu diêu lạc cảnh, Chúa gọi, Phật rước, về bên kia thế giới, về cõi vĩnh hằng, trở về cát bụi v.v.

Cách xưng hô, thói ăn nết ở, nói, cười... mỗi mỗi hầu như người Nam bộ nào cũng sẵn có “cả kho”, ít gì cũng hàng trăm, thậm chí hàng ngàn – từ nào cũng mang ý nghĩa riêng, biểu tỏ rất hình tượng, chân xác, đồng thời thể hiện rất đúng tâm trạng hoặc trạng thái của nhân vật, ngay cả tại “thời điểm khoảnh khắc”. Phong phú đến mức không ai tài nào có thể ghi lại được một cách đầy đủ!

Trước đây người ta cho rằng tiếng Nam bộ là... phương ngữ, xem như nó chỉ có giá trị giao tiếp nội bộ, khu biệt trong một địa phương – ít nhiều có ý “phân biệt”! Nhưng dần về sau, khi đã nhận chân được rằng, tiếng Việt Nam bộ quả đã thực sự đóng góp rất tích cực trong việc làm giàu ra cho ngôn ngữ toàn dân thì, cách hiểu ấy không còn phù hợp. Không ít nhà nghiên cứu đã đổi gọi lại, không dùng phương ngữ Nam bộ nữa mà gọi là ngôn ngữ Nam bộ.

Ngôn ngữ Nam bộ cũng là ngôn ngữ của dân tộc, ngôn ngữ của nhân dân. Nhân dân là cha đẻ của ngôn ngữ là người sử dụng, giữ gìn và phát huy sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ ấy. Nếu vì lý do nào đó ngôn ngữ toàn dân bị héo hắt thì một ngày không xa đương nhiên nó sẽ teo tóp dần, lúc ấy ta còn gì trong tay để “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”?

Danh nhân văn hóa thế giới – từng căn dặn: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa. Mỗi dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc mình trong nghệ thuật”.

viethoaiphuong
#6 Posted : Tuesday, October 26, 2010 5:43:52 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Sông nước trong tiếng miền Nam

NamKyQuoc.VN -



Nam bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Bài viết này muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống, đến tính cách, tâm lý của con người và tính cách, tâm lý đó sẽ ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền .



Sông nước là một phần, nếu không nói là phần quan trọng nhất
của sinh hoạt người miền Tây Nam bộ.

Nam bộ là miền đất nhiều sông lắm rạch. Số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước vì vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào ngôn ngữ toàn dân (NNTD): rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng…; nước lớn, nước ròng, nước rong, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương…; ghe, tam bản, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng... Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà còn phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu hò, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để nhà văn, nhà thơ khai thác.

Ngoài những ý nghĩa chung phản ánh những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, nhiều từ ngữ sông nước còn được dùng theo nghĩa phái sinh để gọi tên những sự vật, hiện tượng khác theo cách mở rộng nghĩa. Năm 1895, Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam Quốc âm tự vị đã định nghĩa từ bùng binh: “khúc sông rộng phình tròn ra”. Đến năm 1970, Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức ghi nghĩa từ bùng binh là “khu đất rộng nối các trục đường trong thành phố”: bùng binh Ngã Sáu, bùng binh Ngã Bảy… Như vậy một từ chỉ sông nước đã được dùng để gọi tên giao lộ của các con đường trong thành phố.

Nếu phương ngữ Bắc bộ gọi loại ôtô lớn chở hành khách trên các tuyến đường dài, thường là các đường liên tỉnh là ôtô ca (hay xe ca, xe khách) thì phương ngữ Nam bộ gọi là xe đò theo nghĩa đò là “thuyền chở khách trên sông nước theo một tuyến nhất định”.

Trong Từ điển tiếng Việt (viện Ngôn ngữ học), quá giang là “đi đò ngang qua sông”. Ngoài nghĩa đó, phương ngữ Nam bộ còn có thêm cách dùng phổ biến “đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó” (vẫy xe xin đi quá giang một đoạn).

Khi thuyền chở đầy và nặng, không thể chở hơn được nữa, người ta nói là thuyền khẳm: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm...” (Nguyễn Đình Chiểu). Phương ngữ Nam bộ còn mở rộng nghĩa của khẳm là “quá nhiều, quá sức chứa”. Ví dụ: tiền vô khẳm, lời khẳm, thêm một ly nữa là khẳm… Chìm xuồng cũng thường được dùng ở nghĩa bóng: “cố ý bỏ qua, không đề cập tới nữa”: vụ đó kể như xử chìm xuồng rồi.

Phần lớn làng xã ở Nam bộ đều nằm hai bên bờ sông rạch. Từ đây dẫn đến một đặc điểm là đặt địa danh gắn liền với sông nước. Nhiều địa danh ở các tỉnh Nam bộ và Sai Gon mang tên nhóm từ sông nước này: Bàu Mây, Cồn Phụng, Cù Lao Dài, Giồng Trôm, Giồng Quéo, Láng Cò, Rạch Cá Trê, Rạch Cá Lóc, Rạch Bà Mụ… (Bến Tre); Vàm Cỏ (Long An); Vàm Cống (An Giang); Tắt Thủ (Cà Mau); Bàu Nai, Bàu Cát, Giồng Ông Tố, Bưng Sáu Xã, Rạch Chiếc, Rạch Miễu, Láng Le, Láng Thé, Rỏng Tràm, Rỏng Bàng, Vàm Sác… (Saigon).

Nếu so sánh địa danh ở các tỉnh Nam bộ với địa danh ở các tỉnh Bắc và Trung bộ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tính bình dị, dân dã của địa danh Nam bộ, trong đó các địa danh có từ ngữ sông nước kết hợp với danh từ chỉ động vật, thực vật, tên người nổi tiếng trong vùng… chiếm một tỷ lệ khá lớn.

Những hình thức văn học dân gian như ca dao, hò, lý, cải lương… cũng đã khai thác và phản ánh những hình tượng thiên nhiên, tâm tư, tình cảm con người… qua những từ ngữ sông nước này. Trong ca dao Nam bộ, hình ảnh ghe xuồng, sông rạch xuất hiện với tần số cao.

Trong số các nhà văn Nam bộ, nhà văn lão thành Sơn Nam đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác và khảo cứu về vùng đất và con người Nam bộ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về Sơn Nam: “Là nhà văn, đi đâu anh cũng quá giang theo xuồng ghe của thương hồ. Anh đi sông lớn, sông nhỏ, theo kinh theo rạch, anh đi khắp cả sông nước miền Tây” (tạp chí Sông Hương, số 235, 9.2008). Bởi thế không lạ gì khi những từ ngữ sông nước xuất hiện nhiều trong các truyện và ký của Sơn Nam:

– Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa, nối liền qua những lung, bàu, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… (Hương rừng, tập Hương rừng Cà Mau).
– Dưới sông, từng dề lục bình trôi theo ngọn nước ròng (Giấc mơ ngoài bãi tha ma, tập Hương rừng Cà Mau).
– Bấy lâu nay, ở vùng sông nước chằng chịt với chợ làng, chợ nổi ven sông, đêm thanh vắng nghe những câu hò, câu lý xen nhau dài theo con rạch, con kinh dường như vô tận, qua khúc loi, khúc vịnh, về đêm, trên nhánh bần gie có đóm đậu sáng ngời. (Từ U Minh đến Cần Thơ, Hồi ký).

Một nhà văn khác – nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – sớm thành công và nổi tiếng với những sáng tác đậm chất Nam bộ, cũng viết về vùng đất và con người Nam bộ với ngôn ngữ vừa bình dị vừa tinh tế. Trong các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, những từ ngữ sông nước cũng được sử dụng khá nhiều và giàu giá trị biểu cảm.
viethoaiphuong
#7 Posted : Monday, December 13, 2010 7:48:37 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

NGÀY XƯA VÀ NGÀY NAY

http://sphotos.ak.fbcdn....55_5198405_6650622_n.jpg[/img]

Nữ sinh ngày xưa



Nữ sinh ngày nay



Phở xưa



Phở nay



Bửa ăn xưa



Bửa ăn nay



Hớt tóc xưa



Hớt tóc nay



Xưa



Nay



Ban nhạc xưa



Ban nhạc nay



Xưa

[img]http://sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc4/hs927.snc4/74007_453786677155_86620102155_5198574_6948354_n.jpg" alt=""/>

Nay

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng ,
Xếp tàn y lại để dành hơi


* posted by Mắt Buồn - TV - VB
viethoaiphuong
#8 Posted : Tuesday, December 21, 2010 1:06:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng"

Người ta thường ngỡ những món ăn của vua chúa ngày xưa như "nem công chả phụng" chỉ còn trong những câu dân gian lưu truyền chỉ sự xa hoa của vua chúa ngày xưa.
Thế nên ít ai ngờ ở Huế ngày nay vẫn có người giữ được bí quyết làm những món ăn "trong mơ" ấy. Đó là bà Tôn Nữ Thị Hà (còn có tên là Tôn Nữ Hà), ngụ tại hẻm 28, phố Lê Thánh Tôn, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.




Bà Tôn Nữ Thị Hà.
Người giữ bí quyết làm "nem công chả phụng",
Ẩm thực, am thuc, nem công chả phụng, bí quyết,
món ngon, đặc sản Huế, món ăn dâng vua


Một thời thất truyền

Bà Hà kể lại, vốn là con cháu thuộc hoàng tộc, bà được những người cô ruột là những phu nhân quan Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Lễ và Đốc phủ trong triều đình truyền dạy cho những kỹ thuật, mẹo nấu ăn cung đình.

Bà Hà kể ngày xưa các vua triều Nguyễn rất chú trọng đến việc ăn uống, trong cung có hẳn một ban gọi là Thượng Thiện Đội (thời vua Minh Mạng) lên tới 50 người chuyên lo việc bếp núc, ăn uống cho Hoàng tộc. Những người này phải tuân thủ một số điều cấm nhằm đảm bảo thức ăn vừa ngon, vừa có tác dụng trị bệnh, bằng cách kết hợp những thảo phẩm trong chế biến.

Sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, những đầu bếp trong cung vua lưu lạc khắp nơi, những món ăn cung đình vì thế bị lãng quên theo thời gian. "Thời buổi loạn lạc tiền bạc đâu mà chế biến thức ăn như trong cung. Đầu bếp phải đổi nghề kiếm sống, người về quê làm ruộng, người theo kháng chiến, không còn ai chú tâm đến chuyện gìn giữ những món ăn cung đình nữa", bà Hà nhớ lại.

Riêng bà Hà nhờ có kiến thức y tế nên được mời đến công tác tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tại đây ngoài công việc của một y tá, bà Hà kiêm luôn nhiệm vụ đầu bếp nấu ăn cho bệnh nhân. "Bệnh nhân ăn theo bệnh lý, tức mỗi người ăn một kiểu khác nhau, tôi phải nấu 1200 suất cơm mỗi ngày có khẩu vị khác nhau", bà Hà nói. Chuyện cô y tá có tài nấu nướng, những món ăn có chế độ dinh dưỡng hợp lý góp phần giúp hàng trăm bệnh nhân sớm khỏi bệnh được nhiều người biết đến. Một lần, khi tình cờ một vị Đại sứ ghé thăm Huế và ăn các món ăn do cô nấu, ông bất chợt gợi ý: "Sao chị Hà không mở nhà hàng ẩm thực, tôi sẽ làm thực khách trung thành". "Lúc đầu nghe cũng thấy to tát, khó thực hiện nhưng nghĩ lại thấy ông ấy nói cũng phải, biết đâu mình lại có cơ hội làm sống lại nghệ thuật ẩm thực cung đình bị mai một lâu nay", bà Hà suy nghĩ. Nhờ người thân, bạn bè ủng hộ, nhà hàng của bà được khánh thành từ mùa hè năm 1993 nằm trong một con hẻm trên phố Lê Thánh Tôn.

Kỳ công nấu nướng



"Nem công chả phụng" là đây


Vốn con nhà Hoàng tộc, được đào tạo công việc bếp núc từ nhỏ nên với nghệ nhân Tôn Nữ Hà, những công thức nấu nướng đã trở thành bài học thuộc nằm lòng, từ bữa ăn chính cho đến bữa điểm tâm, ăn dặm.

Bà Hà cho biết, để chế biến món ăn người đầu bếp không chỉ có kiến thức chuyên môn mà phải có khả năng sáng tạo khi chế biến, không phải cứ nhất nhất theo công thức có sẵn bởi "công thức chỉ có tính tương đối, phải tuỳ theo đặc tính từng loại thực phẩm để nêm gia vị cho phù hợp" như lời bà nói. Khác với chế biến món ăn thông thường, khi chế biến món ăn cung đình người đầu bếp phải nêm gia vị nhiều lần nhằm đảm bảo mùi vị vừa miệng, lại giữ được chất tươi nguyên của thực phẩm. "Sau khi nêm gia vị ướp thực phẩm, đầu bếp cần nêm bổ sung lúc thức ăn đang sôi. Khi tắt lửa phải nêm thêm lần nữa và cuối cùng trước khi bày ra dĩa phải nêm lần cuối. Một món ăn cung đình phải nêm gia vị không dưới ba đến bốn lần khi nấu", nghệ nhân Tôn Nữ Hà "bật mí".
Hay như chế biến món chè kê là món ăn lỡ (ăn giữa bữa) khoái khẩu của các vua, hoàng hậu... nếu không có kinh nghiệm nấu, chè rất dễ bị cháy khét, không còn mùi vị. "Trước khi nấu, người ta lót một lớp đậu xanh ở đáy nồi. Khi đậu sôi mới cho kê vào, hạt kê được chín tới nhờ hơi nước bốc lên từ những khe hở do lớp đậu tạo ra", đầu bếp Hà chia sẻ bí quyết nấu nướng.

Theo bà Hà, khi chế biến món ăn cung đình Huế có rất nhiều "mẹo vặt" giúp món ăn ngon hơn. Ví dụ để làm mất mùi tanh khi chế biến thịt ba ba, thịt lươn, trước khi nấu người ta dùng rượu gừng, nước muối để khử qua.




Bà Tôn Nữ Hà cũng là một trong những người được cấp hàng chục bằng chứng nhận đã tốt nghiệp các khóa đào tạo về ẩm thực. Ngoài những bằng được cấp trong nước như "Bằng tu nghiệp dinh dưỡng", bằng pha chế thực phẩm, bằng pha chế rượu Bartender... bà còn được nhiều trường đại học, học viện du lịch ở nước ngoài cấp bằng danh dự như Bằng đầu bếp của trường Đại học du lịch và nấu ăn Tây Ban Nha, Hàn lâm viện Tây Ban Nha...

Sức mạnh của ẩm thực

Theo bà Hà, ẩm thực Huế nói riêng và ẩm thực Việt Nam nói chung được người nước ngoài đánh giá rất cao, đặc biệt ẩm thực cung đình Huế nổi tiếng không chỉ ở cách chế biến mà còn ở cách trình bày, trang trí món ăn bắt mắt mà không phải nơi nào cũng làm được. Khách du lịch phương Tây rất thích cách trang trí món ăn cung đình Huế. Các trường Đại học du lịch Tây Ban Nha, Pháp , Iraq ... từng mời bà sang dạy cho đầu bếp của họ cách chế biến, trình bày món ăn cung đình Huế.



Trong những chuyến xuất ngoại như vậy người đầu bếp xứ Huế không quên quảng bá với bạn bè về vẻ đẹp quê hương. Bà kể rằng nhiều người lần đầu nghe bà giới thiệu, thấy bà chế biến món ăn Huế đều không khỏi tò mò và muốn đến Huế ngay để được thưởng thức. Có một kỷ niệm liên quan đến món ăn Huế khiến bà nhớ mãi là bữa tiệc hơn 200 khách tổ chức tại một khách sạn ở Tây Ban Nha nơi bà sang giảng dạy. "Hôm đó chủ khách sạn nhờ tôi làm vài món ăn Việt Nam theo yêu cầu của khách. Những món ăn Việt Nam ấn tượng với thực khách đến mức kết thúc bữa tiệc, hàng chục vị khách nán lại đòi gặp bằng được những người nấu ăn chỉ để bắt tay và nhắc đi nhắc lại một câu "Việt Nam"", bà Hà thuật lại.

Hay kỷ niệm 14 năm trước đây cũng là một chuyện đáng nhớ với bà Hà. Cuối năm 1996, trong một bữa ăn chiêu đãi hàng trăm nhân viên của một hãng kinh doanh Pháp, đến lúc tiệc sắp kết thúc, một người Pháp đứng tuổi đại diện cho các nhân viên của hãng đề nghị gặp người nấu món ăn ngay tại buổi liên hoan rồi ông nói trên micro: "Đến khi thưởng thức những món ăn này, tôi mới hiểu rằng trước đây người Pháp đã không hiểu gì về sức mạnh văn hóa Việt Nam".

Theo sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên, chế độ ăn uống của vua ngày 3 lần như sau: Điểm tâm 12 món (6h sáng); Ăn trưa 50 món mặn và 16 món ngọt (11h). Số lượng món ăn chiều cũng giống món ăn trưa.



Các món ăn cung đình lúc đầu là do truyền lại từ đời này sang đời khác, sau thì các sứ thần khi đi sứ về, họ cung tiến vua những món ăn lạ và ngon. Món nào đặc biệt sẽ được liệt vào danh sách rồi truyền tiếp sang đời sau, cứ thế, món ăn cung đình phong phú và đa dạng hơn
__._,_.___
viethoaiphuong
#9 Posted : Saturday, April 23, 2011 8:22:20 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Đờn ca tài tử Nam Bộ

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2011-04-23

Đờn ca tài tử Nam Bộ đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nguồn gốc bắt đầu từ nhạc Lễ của cung đình Huế.


Photo: RFA
Ban nhạc Đờn ca tài tử
Lịch sử phát triển

Nó theo chân những công thần nhà Nguyễn lưu lạc vào Nam và được nhào nặn lại theo cốt cách của người phương Nam vốn ưa chuộng đời sống sông nước giang hồ. Âm hưởng Quảng Nam Quảng Ngãi cũng dần dà mất dần nhường lại cho một làn điệu đặc thù phương Nam sau nhiều năm sống chung với người lao động và cả tài tử văn nhân miền Nam của nhiều thế hệ.
Đờn ca tài tử được diễn tấu bởi 4 loại đờn là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và độc huyền cầm, sau này khi vọng cổ xuất hiện cây đàn tranh được thay thế bằng cây guitar có phím sâu. Theo nhiều tài liệu còn lại cho thấy thuở mới xuất hiện nó được trình diễn trong những nhóm nhỏ tại các dịp lễ cưới hỏi, hay đám giỗ, đám thôi nôi hay sau các vụ thu hoạch khi mọi người rãnh rổi việc nông nhàn. Những đêm trăng sáng, nam nữ thanh niên tụ nhau lại nghe và tham gia nếu biết hát. Mọi người say sưa với những cuộc chơi như thế cho đến khi mỏi mệt thường thì vào lúc nửa đêm về sáng.
Tuy nhiên, đờn ca tài tử mất dần khi chiến tranh tràn vào miền Nam và nhất là khi các phương tiện truyền thông ngày một trở nên tân tiến. Một thời gian rất lâu loại hình này không còn xuất hiện như xưa mà chỉ rải rác trong các khu vực xa hẳn thị tứ nơi người dân không còn gì giải trí ngoài cây đờn guitar phím lõm của mình.

Kết hợp với du lịch sinh thái

Vài năm gần đây báo chí rộn lên những bài viết về phong trào đờn ca tài tử kết hợp với du lịch sinh thái. Loại hình nghệ thuật này đã biến mất rất lâu nay xuất hiện trở lại khiến nhiều người có hiểu biết lịch sử phát triển của nó không khỏi vui mừng và hy vọng cho loại hình nghệ thuật dân dã phát xuất từ vùng đất miền Nam này có cơ sống lại.
Khách du lịch sinh thái thường là người ngoại quốc và những nhóm nhỏ từ mười lăm tới hai mươi người. Một nhóm đờn ca tài tử thường là 5 người, hai ca sĩ và ba nhạc sĩ. Buổi trình diễn của họ kéo dài khoảng nửa giờ và sau đó khách lại lên ghe đi tham quan những nơi khác.
Bên dưới những bóng dừa rợp mát của Bến Tre hay Mỹ Tho, Vĩnh Long, ... khách lịch sự ngồi yên lặng nghe tiếng đờn dạo lên một điệu lý, điệu vắn trước khi bắt vào chương trình. Không loa, không micro những nghệ sĩ trình diễn cố hết sức chuyển chút âm thanh đến người tứ xứ mà ngôn ngữ của họ không cho phép đồng cảm một chút gì trong những luyến láy chữ nghĩa Việt Nam.
Một nghệ sĩ trong nhóm đờn ca tài tử này, anh Chín Nguyên người vào câu vọng cổ vừa rồi rất ngọt cho chúng tôi biết:
“Khách du lịch hiện nay thì có người hướng dẫn truyền đạt lại. Mình trình diễn bài gì hay đờn bài gì thì hướng dẫn sẽ dịch lại. Theo mình đoán thì khách cũng hài lòng vì có hướng dẫn dịch ra cho họ nghe liền. Cũng như bây giờ mình lên hát điệu gì đó nói về lịch sử của Việt Nam hay nói về tình yêu quê hương đất nước thì hướng dẫn sẽ phiên dịch nội dung cho khách nghe. Tại vì khách đi du lịch quốc tế thường thì có một hoặc hai hướng dẫn.”
Nhạc sĩ Tám Long, người chơi guitar trong ban cho biết thêm:
“Nó khác hơn như tụi tui đây phục vụ theo khách như anh đã biết rồi đó. Phục vụ theo khách thì mình chơi bài bản thì nó cũng hổng đa hệ. Tại vì khách nước ngoài người ta không hiểu tiếng Việt của mình thành ra tụi tôi chơi mấy bản ngắn ngắn, điệu lý vậy thôi.”
Người cố cựu còn nhớ thời khẩn hoang lập ấp ở Nam Bộ có hai nhóm đờn ca tài tử nổi tiếng là nhóm ông Kỳ Quờn và nhóm ông Ba Đợi. Ông Kỳ Quờn thì ở miền Tây còn nhóm ông Ba Đợi thì thuộc nhóm miền Đông. Hai bên đều có công phát triển bộ môn đờn ca tài tử bằng cách cải biên các bản nhạc gốc từ Cung đình Huế để phù hợp với tâm tình và con người miền Nam. Sông nước bao la thích hợp với những điệu hò, điệu lý hơn là nguyên mẫu các bài có gốc từ xứ Quảng...

Còn bài bản mà các nhóm đờn ca tài tử hiện nay đang dùng để hát phục vụ khách du lịch thì sao, anh Chín Nguyên cho biết:
“Đờn thì cũng học thầy hay ca cũng phải học thầy chỉ ba cái rồi mình có năng khiếu rồi cộng thêm. Bài ca nói chung là thường thì do soạn giả chứ không có tự biên ra. Những điệu nào mình am hiểu về ca đờn thì có thể theo để viết cũng được nhưng mà ít thôi chứ không nhiều.”
Nhạc sĩ Tám Long giải thích làm cách nào mà khách nước ngoài đồng cảm được với những bản nhạc mà nhóm cố gắng chuyển tải, anh nói:
“Có số anh em hướng dẫn người ta rành người ta dịch ra. Thí dụ tôi ca một bản quê hương thì nội dung của bài ca quê hương đó được hướng dẫn viên dịch ra quê hương là như thế nào! Chứ còn khách nước ngoài nói chung mình ca tiếng Việt làm sao người ta biết? Người ta chỉ biết dụng cụ đờn. Thí dụ cây đờn kìm, cây đờn cò, cây đờn guitar của mình tại sao móc phím như vậy. Rồi mình phải nhấn nhá như thế nào đó.
Tụi tôi ở đây nói thiệt với anh giờ lớn tuổi rồi mà ở nhà thì không có công việc gì làm thành thử ra vốn có biết đờn nên đi làm để có đồng ra đồng vô để đổ xăng đi chơi với bạn bè. Nói chung làm thì lương hỏng có..mà cũng hỏng có cơm trưa nữa.”

Đã mai một

Tình trạng nghèo nàn từ bài hát tới người thưởng thức khiến nhiều người để ý tới với loại hình nghệ thuật dân gian này không khỏi lo ngại. Giáo sư Trần Văn Khê, người bỏ cả đời để nghiên cứu và giới thiệu nền dân nhạc Việt Nam ra khắp thế giới, khi chúng tôi hỏi thăm sự hiểu biết của ông về đờn ca tài tử xưa và nay có khác nhau nhiều lắm không, ông nói:
“Khác nhiều lắm! Cái tinh thần hồi xưa hễ vui thì đờn chơi còn không vui thì để một chỉ hay một lượng vàng cũng không đờn! Còn bây giờ khác! Bây giờ hễ bỏ tiền ra thì nó đờn. Hồi xưa chơi tài tử nghĩa là chơi không phải chuyên nghiệp, tức là vui thì chơi không vui thì thôi. Bây giờ không còn là tài tử nữa mà trở thành bán chuyên nghiệp và chuyên nghiệp.
Thành ra đi đờn trên TV cũng phải trả tiền, rồi du lịch cũng phải trả tiền thì cái đó là lẽ đương nhiên bởi vì lấy tiền du lịch thì phải trả tiền cho họ chứ họ làm cho du lịch mà không trả tiền thì đâu có được. Thành ra cái tinh thần không còn nữa và đờn cho du lịch thì họ đâu biết gì, miễn cho có tiếng vậy thôi.
Cái chơi hồi xưa là cái chơi do mỗi người có tùy hứng, có sáng tác. Mỗi người làm cái chữ cho hay. Đờn thiệt hay để làng của mình hơn cái làng bên kia, hơn trong nghệ thuật đó. Chơi với nhau cho vui thì nó mới có tiến bộ. Ngày xưa có chất lượng ngày hôm nay có số lượng mà không có chất lượng.”
Cô Kim Nguyên, một ca sĩ nghiệp dư gia nhập vào nhóm như một công việc có thu nhập và cô cảm thấy rất thích nghề này mặc dù thu nhập không đủ để trang trải cuộc sống ngày một đắt đỏ. Cô kể sinh hoạt chính của mình khi tham gia nhóm đờn ca tài tử:

“Em hát nếu mà gom lại thì chắc khoảng hai năm tại vì bị gián đoạn. Lúc trước em nghỉ đi bán ở cửa hàng trên thành phố rồi mới về làm lại cả năm nay. Lúc trước xin vô làm em không biết bài gì hết. Bạn bè nó chép sao đó em học thuộc rồi xuống điểm làm rồi hát thôi chứ ở nhà không có tập thêm. Lúc trước chỉ hát được mấy bản lý bản vắn nhỏ thôi rồi sau này mới học thêm. Em làm suốt luôn, không nghỉ. Thu nhập của em bình quân khoảng ba triệu một tháng.”
Chúng tôi tò mò hỏi cô có bao giờ thấy khách nghe hát có cử chỉ chê bai một cách lộ liễu hay không. cô cho biết:
“Em làm đa số là khách Tây nên không gặp trường hợp này.”
Còn họ có khen? Không lẽ cứ ngồi im xem từ đầu tới cuối không chê không khen gì hết hay sao?
“Có, nhưng khi họ khen thì chỉ diễn tả mà thôi chứ hỏng biết khen gì chỉ hiểu thôi. Khi họ nói “good” thì mình biết là tốt mà hỏng biết tốt về cái gì vì họ nói tiếng Anh nên không biết!”
Nhạc sĩ Tám Long cho biết những nhận xét của mình về lớp trẻ hiện nay khi phong trào đờn ca tài tử tự phát trở lại:
“Bây giờ mình chơi nó đa dạng hơn. Cái phong trào đờn ca tài tử bây giờ nó mở rộng, hầu như là từ thành thị đến nông thôn rồi xóm ruộng vườn ….Thí dụ như bây giờ lâu lâu mình về dưới quê rồi mấy anh em mới gom lại rồi ngồi trải nệm trải chiếu làm bậy một xị rồi ngồi đờn ca chơi vậy đó…
Hồi thời mình còn nhỏ năm 68 tui mới mười mấy tuổi thôi rồi chiều lại thấy mấy anh lính nghĩa quân mấy ảnh đi học đờn với nhau rồi mình học. Lúc đó tôi mới học Đệ Thất, mình nghe rồi mình khoái….nghe rồi tự học thôi chớ nói chung tôi chưa học thầy nào hết.
Hồi xưa thì ở một huyện, một xã chỉ có một vài người biết đờn ca chơi thôi còn bây giờ mấy em mình nó thông minh lắm. Thí dụ như nó học khoảng vài ba tháng thì được chút đỉnh rồi. Hồi xưa tôi học 6 câu vọng cổ mà học cả năm trời vậy chớ…”


Dưới cặp mắt của một người cả đời nghiên cứu âm nhạc dân gian, GS Trần Văn Khê khẳng định tinh thần của đờn ca tài tử không còn nữa, hay ít ra nó đã mai một dần kể từ khi những chiếc radio đầu tiên phát sóng các bài vọng cổ đầu tiên.
“Tinh thần tài tử nó mất từ khi có radio và khi đài phát thanh kêu vô đờn thì bắt đầu mất rồi. Từ khi có du lịch thì càng mất nữa. Nhưng điều đó không thể nào mình tránh khỏi được, bởi vì bất cứ nghệ thuật nào thì nó không phải bất di bất dịch, nó cũng phải thay đổi theo môi trường, phải thay đổi theo quan điểm thẩm mỹ, theo thị hiếu của quần chúng thành ra cũng có nhiều chuyện lắm…
Nhưng mình phải làm sao giữ cho nó còn cái tinh thần đó để ít nhất cũng còn một số người chơi. Người nào làm ra tiền thì cứ làm ra tiền. Nhưng mà bây giờ phần nhiều sống trong thời đại mà đem tiền vô thì người ta thích, kể cả chính quyền không bao giờ làm chuyện gì về văn hóa. Bởi vì làm văn hóa thì phải bỏ tiền ra mà không cần thu tiền vô, chứ còn kinh doanh thì bỏ tiền ra phải có tiền vô! Bây giờ người ta chỉ sống trong thời đại kinh doanh mà không còn sống trong thời đại văn hóa nữa.”
Chúng tôi xin mượn lời của Giáo Sư Trần Văn Khê để kết thúc bài này. Với niềm hy vọng mong manh là loại hình đờn ca tài tử này sẽ giúp cho nhiều người kiếm sống, tuy vất vả và khá nhọc nhằn nhưng dù sao thì việc làm của họ cũng giới thiệu được phần nào một nét đẹp văn hóa Việt Nam, văn hóa dân gian Nam Bộ.
viethoaiphuong
#10 Posted : Wednesday, May 11, 2011 9:14:00 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)
Văn hóa làng



Dân cư Thái Bình phần lớn sống ở nông thôn, quây quần trong các làng - một đơn vị kinh tế tương đối độc lập bởi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu mang nặng tính tự cung tự cấp.

Nền văn hóa Thái Bình mang đậm chất văn hóa làng, có nguồn gốc và cơ sở là văn hóa làng.

Dòng họ - thành tố trực tiếp cấu thành văn hoá làng

Hầu hết các làng ở Thái Bình đều có rất nhiều dòng họ cùng sinh sống, thường từ 10 đến 20 dòng họ, phổ biến là họ Nguyễn, Lê, Trần,... có những dòng họ có bề dầy hàng ngàn năm như họ Bùi ở Tân Bình - Vũ Thư, từ đường họ thờ Bùi Quang Dũng từ thời Đinh (thế kỷ X). Mỗi dòng họ có người hiển đạt thường gắn liền với danh tiếng và niềm tự hào của cả làng, nhiều khi làng được biết đến qua những nhân vật lịch sử của một dòng họ cụ thể, như Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ quê ở làng Hải Triều thì gọi là Trạng Hải Triều. Về tên gọi, có khoảng 100 tên gọi các dòng họ, nhưng số chi phái thì rất nhiều.

Trong làng thường có một vài họ có số lượng vượt trội so với các họ còn lại, hôn nhân thường theo xu hướng lấy người trong làng khác họ, quan hệ "họ hàng" giao thoa với nhau chằng chịt; mối quan hệ giữa dòng họ này với dòng họ kia thường được xem xét bằng quan hệ đan xen từ những thành viên của bố họ, do vậy những mâu thuẫn nảy sinh thường được giải quyết nội bộ. Quan hệ giữa người làng với nhau trong các mối quan hệ cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh đã tạo nên nguyên lý cố kết bền chặt theo tâm thức "một giọt máu đào hơn ao nước lã". Cũng chính vì làng nhiều họ nên tính gia trưởng, cục bộ, bè phái ở Thái Bình vốn có từ xa xưa vẫn tồn tại đến nay nhưng trong chừng mực nào đó tính dân chủ làng xã thuở trước được hình thành và duy trì trong cơ chế làng nhiều họ.

Hương ước - một công cụ duy trì và điều chỉnh sự phát triển của văn hoá làng

Hương ước là những lệ làng thành văn, cũng có khi gọi là khoán ước, hương khoán hay hương biên. ở mỗi làng, trước đây thường tồn tại các qui ước sau:

Tộc ước: là những qui ước của một họ được ghi trong gia phả hoặc truyền miệng quy ước về đảm bảo trật tự kỷ cương, truyền thống dòng họ, nghi thức tế lễ tổ tiên.

Giáp ước: là những qui định của hàng giáp với các thành viên trong tế lễ, hiếu hỉ hay trong việc thực hiện nghĩa vụ của hàng giáp đối với làng nước.

Hương ước: có loại được soạn thành văn bản, có loại bất thành văn; có loại gồm đầy đủ các qui định về mọi lĩnh vực như cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng, về văn hoá giáo dục, tôn giáo tín ngưỡng, trật tự an ninh... được xem như một bộ luật tục của làng; nhưng có dạng chỉ qui định về một vấn đề cụ thể như sử dụng công điền, tế tự,... Hương ước thành văn có loại được viết trên giấy hàng năm đọc trước làng để duy trì, bổ sung, sửa đổi; có loại được khắc vào bia đá hoặc trên chuông đồng để lưu truyền (như thể lệ cúng giỗ, ruộng công...). Dù duy trì ở dạng nào thì hương ước cũng được coi là sản phẩm văn hoá của làng, là một thứ luật tục buộc mọi thành viên trong làng phải thực hiện.

Chợ



Một góc chợ quê

Hệ thống chợ làng ở Thái Bình hình thành rất sớm. Chợ là nơi không chỉ để mua bán, trao đổi hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá giữa mọi người trong làng, với người làng khác, giữa vùng này với vùng khác. Chợ thường được đặt ở trung tâm làng, tên chợ thường trùng với tên làng.

Các chợ làng liên kết với nhau thành hệ thống, trong vòng bán kính từ 3 đến 5 km ngày nào cũng có chợ phiên của làng để những người buôn thúng bán mẹt có thể quanh năm chạy chợ.

Loại chợ nhỏ gọi là chợ Hôm, chợ Mai, mỗi ngày đều họp khoảng vài tiếng đồng hồ, người đi chợ ít, hàng hoá không nhiều, thường hình thành ở những làng ven biển làm nghề chài lưới. ở những làng lớn, chợ thường họp theo phiên vào những ngày cố định trong tháng, mỗi tháng có khoảng 6-12 phiên chợ. Các làng có chợ tự quyết định thời gian họp sao cho không trùng với ngày họp chợ của các làng lân cận.

Chợ lớn có tường xây, mái ngói bán cả gia súc gia cầm như trâu, bò, lợn, gà; còn chợ nhỏ thường mái rạ, lều tranh, ngày phiên cũng có cả gia cầm và hàng xén. Mặt hàng truyền thống của mỗi chợ gắn với sản xuất và nghề thủ công của từng làng, từng vùng; như chợ vùng trồng cói có chiếu và mặt hàng chế biến từ đay, cói; vùng ven biển có tôm, cua, cá biển; chợ làng rèn có sản phẩm nông cụ và vật dụng từ nghề rèn nghề đúc,.... Do vậy quá trình giao lưu giữa các vùng qua những phiên chợ làng là một nhu cầu tất yếu.

Nguồn: e-cadao
viethoaiphuong
#11 Posted : Sunday, June 26, 2011 3:38:37 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Vì sao người VN bây giờ hay nổi cáu, và dễ trở nên độc ác?

Song Chi


Khi còn ở Sài Gòn, tôi nhớ cứ mỗi lần ra đường là mình trở nên bực bội, căng thẳng, dễ dàng nổi cáu. Bởi khói bụi, ô nhiễm, nạn kẹt xe tắc đường liên miên, nạn ngập nước mùa mưa, giao thông hỗn loạn… Nhiều khi phải mất hàng tiếng đồng hồ để đi một quãng đường lẽ ra chỉ mất 10, 12 phút chạy xe gắn máy để tới một cuộc hẹn công việc hay hẹn với bạn bè. Và khi tới nơi được thì tâm trạng cũng mất vui.

Có những lúc tôi chứng kiến người khác sẵn sang nổi đóa, cãi nhau, chửi nhau ầm ỹ chỉ vì một vụ va quẹt nhỏ hay vì không nhường nhau trên đường. Ngay cả chính tôi cũng thế, có những lúc sẵn sàng vằn mắt quát lên ngay khi người khác chạy xe ẩu, lạng lách qua mặt chẳng hạn. Để rồi sau đó thừ người ra tự hỏi: sao mình có thể rất kiên nhẫn trong công việc-một công việc vốn phải làm việc với rất nhiều người và rất nhiều sức ép, nhưng lại dễ mất kiên nhẫn đến thế khi đi trên đường? Tự hỏi rồi tự trả lời, là bởi vì cuộc sống có quá nhiều thứ làm cho con người dễ phát khùng lên. Không dám phát khùng trong công việc-vì nó là nồi cơm, là sự nghiệp, hay với đồng nghiệp, người thân; thì nổi khùng với những chuyện vặt vãnh khác, với người xa lạ. Thế thôi.

Rõ ràng cuộc sống ở VN bây giờ gây cho con người quá nhiều những sự căng thẳng, bực bội. Nói như thế thì nhiều người sẽ bẻ lại: cuộc sống ở đâu mà chẳng căng thẳng, nhiều sức ép, con người phải quay cuồng với công việc từ sáng đến tối. Và xã hội nào mà chẳng có những vấn đề phải giải quyết. Cứ thử sang Mỹ, sang Nhật, hay Anh, Pháp…xem. Nhưng sự căng thẳng ở VN nó làm cho chúng ta bực vì hầu hết những vấn đề đang tồn tại trong xã hội nó vô lý quá, lẽ ra nó phải khác, nó không được phép ngang nhiên tồn tại như vậy.

Ví dụ nạn tắc đường. Đã tắc đường mà còn cứ đào đường lên sửa quanh năm, rồi quây lô cốt chiếm diện tích mặt đường hết ngày này qua tháng khác, bên cạnh đó là nạn buôn bán tràn lan lấn chiếm lề đường làm người đi bộ phải đi tràn xuống lòng đường, làm sao không tắc thêm? Mà có phải báo chí không nói đâu, nói mãi, chả thay đổi gì. Hay nạn nước ngập trời mưa, cứ mỗi năm mỗi ngập hơn, năm nào chả có người chết vì cống hở, vì điện giật…rồi vẫn cứ thế.

Nhìn lại tất cả mọi chuyện lớn nhỏ trong mọi lĩnh vực xã hội ở VN, chúng ta nhận ra một thực tế là hầu hết những “vấn nạn” đều đã tồn tại từ lâu. Và dù dư luận đã ta thán, kêu gào lên rất nhiều, nhưng chẳng có cái gì được cải thiện, chỉ có ngày càng tệ hơn. Điều đó làm cho con người bực bội hơn gấp nhiều lần. Đã vậy lại quá nhiều những sự vô lý, bất công cứ nhan nhản trong xã hội. Đã vậy người dân lại cứ bị “quấy nhiễu” thường xuyên về mặt tinh thần bởi những chính sách thay đổi xoành xoạch của nhà nước.

Như chuyện học hành phân ban, thi cử của học sinh. Cứ thay đổi xoành xoạch như là đánh đố. Thi tốt nghiệp cứ mỗi năm lại thay đổi môn, học sinh chỉ được biết trước ngày thi khoảng một tháng, rồi lúc thì kiến nghị bỏ thi tốt nghiệp, lúc lại tính chuyện gộp cả hai kỳ thi tốt nghiệp và thi đại học vào làm một v.v..Không chỉ học sinh mà phụ huynh, thầy cô cũng đau cả đầu. Hay chỉ riêng một chuyện mua bán ngoại tệ, kinh doanh vàng miếng chẳng hạn, có biết bao nhiêu thứ chỉ thị, cấm đoán cứ thay đổi làm người dân đến chóng mặt.

Tất cả những sự thay đổi liên tục, cái sau nhiều khi chỏi ngược với cái trước ấy vừa chứng tỏ một sự yếu kém, bất lực trong điều hành quản lý đất nước của nhà nước, vừa khiến người dân luôn ở trong một tâm trạng không yên ổn, hết sức mệt mỏi.
Xã hội bất ổn, kinh tế bất ổn. Vật giá leo thang hàng ngày, rồi điện tăng, xăng dầu tăng, đồng tiền ngày càng mất giá. Cuộc sống có quá nhiều thứ để phải lo, phải đối phó mà toàn là những thứ không đáng. Có lẽ vì vậy mà người VN bây giờ nhìn chung dễ bị ức chế, dễ nổi khùng, cách này cách khác.

Dư luận xã hội từng có một dạo bàng hoàng trước hiện tượng nữ sinh đánh nhau, lột áo làm nhục nhau rồi quay video clip tung lên mạng. Các nhà giáo, nhà tâm lý học, xã hội học đều đặt câu hỏi vì sao lại đến nỗi thế. Sự xuống cấp của đạo đức, của giáo dục-đã đành. Nhưng nó còn phản ánh sự bức bối trong tâm hồn các em. Bức bối, tức tối, bất mãn gia đình, trường lớp…không biết trút vào đâu, thế là đánh nhau, làm nhục nhau, như một hình thức để giải tỏa tâm lý.



Clip nữ sinh đánh nhau tràn ngập trên mạng. Nguồn: vnexpress.net

Nếu thường xuyên vào các mạng xã hội như facebook, chúng ta sẽ thấy có những sinh hoạt kiểu như thành lập các nhóm fan của ca sĩ này nghệ sĩ nọ. Rồi lại có những nhóm được lập ra để chê bai, chỉ trích một ca sĩ nào đó vì hát quá dở hay vì phong cách biểu diễn kém hoặc đơn giản, chỉ vì không thích. Các bạn vào đó viết những lời bình luận châm biếm, chửi bới, ném đá ca sĩ/nghệ sĩ mà họ không ưa. Đọc những lời bình loạn, chửi bới quá nặng nề, tưởng như thấy được cả gương mặt hả hê của người viết. Đó cũng là một hình thức giải tỏa tâm lý, chửi bới lăng nhục người khác chỉ vì không có gì vui hơn để làm.

Ngay cả đội ngũ thầy cô giáo, những người lẽ ra phải tượng trưng cho khuôn mẫu của đạo đức đối với học sinh, thì chúng ta cũng nhận thấy không ít những trường hợp cô bảo mẫu bạo hành trẻ, các thầy cô giáo sẵn sàng nổi nóng, văng những lời lẽ phản sư phạm vào mặt học sinh. Áp lực đời sống chăng? Nỗi bực dọc cơm áo gạo tiền và những cay đắng của nghề chăng?

Ngày càng nhiều những vụ xô xát, án mạng với tính chất ngày càng man rợ mà nguyên nhân nhiều khi chỉ vì va chạm nhau trên đường, vì nạn nhân lỡ “nhìn đểu” nên bị đâm cho bõ ghét hay một câu nói, một món nợ tiền bạc rất nhỏ…Chứng tỏ sự bức xúc, tức tối xã hội bị dồn nén bên trong, không biết làm cách nào để giải quyết, gặp dịp thế là bùng phát thành tội ác.



Các bị cáo trẻ trong vụ án giết người chỉ vì “nhìn thấy ghét” tại TP.HCM.
Nguồn: vietbao.vn

Báo chí cũng đã nói nhiều đến những vụ công an đánh chết người, nhiều khi chỉ vì những lý do rất nhỏ như quên đội mũ bảo hiểm! Chỉ cần vào google search mấy chữ “công an đánh chết người” là sẽ ra cho ra hàng loạt kết quả.

Có những cái chết đầy oan ức, thương tâm, xôn xao cả dư luận như vụ anh Nguyễn Văn Khương bị tay thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp đánh chết chỉ vì quên đội mũ bảo hiểm, khiến người dân bất bình dẫn đến cuộc bạo động lớn nổ ra ở Bắc Giang ngày 25.7.2010. Vụ ông Trịnh Xuân Tùng ở Hà Nội bị tay trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh gẫy hai đốt sống cổ ngày 28.2.2011 , từ vong sau khi vào bệnh viện một tuần cũng vì không đội mũ bảo hiểm. Hay vụ anh Nguyễn Công Nhựt, bị chết trong trụ sở CA huyện Bến Cát (Bình Dương) ngày 25.4.2011, sau 5 ngày bị bắt giữ trái pháp luật để điều tra về vụ mất cắp lốp xe, sau đó công an còn vu cho anh là tự tử… Những chuyện như thế này không còn là hiếm nữa, có thể xảy ra cho bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào trên đất VN, nếu một ngày chẳng may rơi vào tay…”công an nhân dân”.

Gần đây, có những vụ công an đánh cả trẻ em như vụ cháu Ngô Đình Phát (11 tuổi ở phường Thủy Xuân – TP Huế) bị trung úy Trần Nguyễn Hồng Quang đánh phải nhập viện ngày 15. 6 vì em lỡ ăn cắp tiền của cô ruột.

Công an đánh cả phụ nữ đang mang bầu như trường hợp chị Dương Thị Mỹ Ngọc bị ông Nguyễn Thanh Hải, công an phường Tân Phú, quận 9, TP.HCM đánh đa chấn thương phần mềm ngày 3.4 chỉ vì chị không chịu bán cua giá rẻ cho ông này; hoặc đánh cả người bị khuyết tật như tay trung úy Thái Quang Vinh, cảnh sát khu vực thuộc Công an phường Đức Thuận, thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) đã cãi nhau và đánh một người thợ sữa chữa điện tử bị khuyết tật, tháng 4.2011. ..



Cháu Phát 11 tuổi bị công an đánh bầm tím cả mông, đùi. Nguồn: dantri.com.vn
Đến mức này thì phải đặt câu hỏi phải chăng đội ngũ công an VN hầu hết có vấn để về mặt…tâm lý, tâm thần? Họ muốn đánh chết ai thì đánh, chỉ để chứng tỏ ta đây có quyền, hay đó là một sở thích bệnh hoạn, hoặc, cũng như đã nói ở trên, giới công an cũng thường xuyên rơi vào tâm trạng bức bối, bất mãn nên hễ gặp dịp là xả vào thân thể người khác-những nạn nhân đang ở trong tay họ?
Tất cả những điều này cho thấy tâm hồn con người VN nói chung không được bình yên, không thư thái, thậm chí bất mãn đối với cái xã hội mà họ đang sống.
Nó cũng cho thấy đạo đức, nhân cách, những phẩm chất tốt đẹp của con người VN đang bị hủy hoại một cách đáng ngại.

Xây dựng lại một đất nước bị tàn phá về kinh tế đã khó, nhưng xây dựng lại một xã hội trong đó con người bị méo mó, lệch lạc,tàn phá về mặt nhân cách, tâm hồn, sẽ khó hơn rất nhiều.

viethoaiphuong
#12 Posted : Thursday, May 30, 2019 5:56:11 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)


Tâm Duong : người dân tộc ăn tết hội mùa xuân

Hoài Phương Phạm : đấy là ở vùng nào của VN nhỉ?

Tâm Duong : Chắc là vùng núi phía Bắc, đường sá hiểm trở khó đến thăm tùng nhà nên qui định cùng nhau liên hoan tập thể trong 1 ngày qui định thành lệ!

Hoài Phương Phạm : cám ơn anh cho biết thêm chi tiết về bức ảnh rất ấn tượng này !

viethoaiphuong
#13 Posted : Tuesday, October 22, 2019 1:54:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Thu Hằng - RFI - Thứ Hai, ngày 21 tháng 10 năm 2019

Hà Nội qua cảm xúc của một cựu đại sứ Pháp


Phố cổ Hà Nội vào thu cây bàng lá đỏpixabay.com/9636137

Ngày 14/07/2016, lần cuối cùng ông Jean-Noël Poirier chủ trì lễ Quốc khánh Pháp với tư cách là đại sứ Pháp tại Việt Nam. Tiếng nhạc rộn ràng, tiếng chúc mừng, cười nói, nhưng tâm trí của ông đồng thời hướng ra phía ngoài thành phố, nơi để lại cho ông biết bao kỉ niệm trong bốn năm làm đại sứ.

Khác với đa số đại sứ thường viết hồi kí, ông Jean-Noël Poirier chọn làm phim Mon Hanoi- Hà Nội của tôi để lưu lại cảm xúc, cũng như chia sẻ quan sát của ông về người dân Việt Nam qua cách sống của họ ở Hà Nội. Vì những thước phim sống động, những lời tự sự thân mật, dễ đi vào lòng người và ít hàn lâm hơn, như giải thích của ông với RFI Tiếng Việt.

“Ở Hà Nội, ngay lập tức tôi có cảm giác như đang ở nhà, tôi thấy rất thoải mái. Ở Hà Nội, tôi có cảm giác gần gũi, thân quen. Khi phân tích sâu hơn một chút cảm giác này, tôi thấy Hà Nội có gì đó hơi giống Paris khi tôi còn trẻ trong những năm 1960-1970. Đó là một thành phố còn rất bình dân, rồi sau đó phát triển nhanh chóng với những công trình được xây khắp nơi, nhưng lại luôn giữ được nếp sống dân dã ở góc phố.

Ngay ở trung tâm thành phố vẫn có những gánh hàng rong bày bán ăn trưa, những người bán ngô dạo với cả một nồi to ở sau xe, như thời tôi còn trẻ, có những người lau chùi cửa kính đi dọc phố và rao “Thợ lau kính đây !”, giống những tiếng rao của người bán hàng rong ở Hà Nội ngày nay. Tôi tìm thấy ở Hà Nội hình ảnh của một Paris dân dã ngày xưa, mà giờ không còn nữa”.


Hà Nội được xây dựng trong giai đoạn đẹp nhất của kiến trúc thế giới

Hà Nội của cựu đại sứ Pháp là tiếng rao hàng rong, tiếng khoan cắt của thợ làm đường, là hình ảnh người lái xe ôm chống cằm chờ khách, các bà, các chị tập thể dục buổi sáng quanh Hồ Gươm, là tiếng trẻ con ríu rít nô đùa trên hè phố, rồi những cột điện chằng chịt, nặng chĩu dây mà ông cho rằng người thợ phải cực kì kiên nhẫn mới tìm ra được đường dây cần sửa, và không quên được những mảng tường rêu phong, loang lổ, những ngôi nhà hình ống mà ông tưởng như trò chơi lego, và đặc biệt là những biệt thự cổ thời Pháp mang đậm nét kiến trúc thuộc địa.

“Ở Hà Nội, có những nét kiến trúc Pháp giai đoạn cuối thế kỷ 19-nửa đầu thế kỷ 20 mà tôi cho rằng đó là giai đoạn đẹp nhất của kiến trúc hiện đại. Từ khoảng 1870 đến 1950, có rất nhiều công trình đẹp được xây dựng, ngay cả các tòa nhà cũng được trang trí. Kiến trúc trong giai đoạn này đã thành công rực rỡ. Và Hà Nội may mắn được xây dựng vào đúng thời kỳ mà nền kiến trúc thế giới nổi tiếng là đẹp, còn kiến trúc Pháp thì đang trên đỉnh cao về tính hiện đại và tao nhã”.

Hà Nội như một bài học ngoài trời về lịch sử kiến trúc, từ nghệ thuật mới đến art décor hoặc những đường nét tối giản của những năm 1940 đều xuất hiện trên những ngôi nhà, biệt thự hay tòa nhà công sở ở Hà Nội.

“Hà Nội và người Hà Nội rất gắn bó với di sản có từ thời thuộc Pháp. Rất nhiều công trình được xây trong giai đoạn đó hiện bị xuống cấp và chịu nhiều biến đổi lớn trong nhiều năm gần đây. Nhưng đúng là hão huyền khi nghĩ rằng có thể khôi phục, trả lại nguyên trạng cho tất cả những ngôi nhà đó vì hiện nay, trong một số biệt thự đó có đến 15 hộ gia đình sinh sống, thay vì trước đây chỉ có một gia đình. Vì thế vườn tược biến mất, người ta xây thêm tầng và làm thay đổi hoàn toàn những căn biệt thự đó.

Theo tôi, những căn nhà đó khó lòng mà phục hồi lại được. Vả lại tôi không chắc là nên cải tạo lại chúng vì chúng đã trở thành một cái gì đó rất khác. Ngoài ra, có một số căn biệt thực mang tính biểu tượng đặc biệt, không bị chia thành nhiều hộ khác nhau. Chúng vẫn trong tình trạng tốt và đáng được trùng tu”.


Vùng Ile-de-France của Pháp và thành phố Hà Nội đã thực hiện nhiều dự án hợp tác trùng tu và còn một số dự án khác sẽ được triển khai. Ông Jean-Noël Poirier cho biết, không chỉ dừng ở những công trình cổ, chương trình hợp tác của vùng Ile-de-France còn có mục tiêu cao hơn : đáp ứng những thách thức mới nảy sinh trong quá trình đô thị hóa ở Hà Nội, như ô nhiễm không khí, tắc đường…

“Hà Nội có chung thách thức như những đô thị không ngừng mở rộng khác do tình trạng nhập cư, mỗi năm lại có tương đương một quận mới được hình thành. Tình trạng này sẽ không ngừng, ở Hà Nội, hay ở thành phố Hồ Chí Minh, sự phát triển sẽ tiếp tục và kéo theo tình trạng ô nhiễm và đáng tiếc là sẽ còn tồn tại trong thời gian dài trước khi giải quyết được vấn đề. Vì thế, chương trình hợp tác, dĩ nhiên không chỉ với mỗi Pháp, cố gắng giúp đỡ hết sức chính quyền Việt Nam xử lý tình trạng này.

Bắc Kinh từng gặp vấn đề ô nhiễm trong vòng vài chục năm. Nhưng không khí ở Bắc Kinh đã được cải thiện từ vài năm gần đây. Vì thế, cần lạc quan ! Sau giai đoạn chất lượng không khí bị sụt giảm, có thể xem xét lại vấn đề và tôi hy vọng là Hà Nội sẽ thành công”.

Hà Nội như một nhà hàng lớn ngoài trời

Hiếm có một vị đại sứ nào lại thích “la cà” hàng quán vỉa hè như vậy. Để khám phá một Hà Nội khác, bình dị, ông học đi xe máy để dễ lách trong những con ngõ nhỏ ở khu Văn Chương. Để thưởng thức vị thật của ẩm thực Hà Nội, ông sẵn sàng kéo ghế đẩu, ngồi vỉa hè vì “ngon nhất là ăn uống ngoài đường phố”.

“Ăn ở vỉa hè, tôi rất thích đi phố cổ, vừa là một khu du lịch, vừa là một khu bình dị, rất tấp nập. Trong phố cổ có nhiều quán cơm vỉa hè rất ngon và rất đa dạng, rất phong phú. Nhưng khu nào cũng có nhiều nơi ăn bánh cuốn, ăn bún đậu mắm tôm. Tất cả các loại món ăn miền Bắc thì đều ăn được tại Hà Nội”.

Nguyên đại sứ Pháp ví “Hà Nội như một nhà hàng lớn ngoài trời”. Ông lập riêng một danh sách các địa chỉ “bí mật” mà ông vẫn tự hào dẫn bạn bè tới khám phá : “Không xa đại sứ quán Pháp có quán bánh xèo tuyệt ngon. Ở khu thành công, có bánh cuốn Lào Cai, với nguyên liệu do tự tay bà chủ chế biến. Và dĩ nhiên còn có món phở bò yêu thích của tôi nữa. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ để địa chỉ, để tránh ghen tị”.

Và khi trả lời RFI Tiếng Việt, ông vẫn giữ riêng cho mình quán phở “ruột”.

“Rất nhiều người hỏi tôi địa chỉ của quán phở bò ngon nhất tại Hà Nội. Đây là một bí mật rất riêng. Nói chung, có thể nói phở bò ở Hà Nội là cực kỳ ngon. Khắp nơi trong thành phố, có thể tìm thấy một quán cà phê và một quán phở ngon và sạch”.


Trong phim của ông, dù có mải mê tìm hiểu, Hà Nội vẫn giấu trong mình những nét bí ẩn, cần kiên nhẫn khám phá và đôi khi chút tình cờ cũng mang lại điều thú vị, như khu Văn Chương, “nơi lý tưởng để thoát khỏi công việc văn phòng khi tản bộ” và làm ông liên tưởng đến Belleville, Ménilmontant ở Paris.

“Để khám phá nét đẹp và duyên của Hà Nội, phải mất một chút thời gian. Có lẽ, đối với khách nước ngoài đến Hà Nội lần đầu tiên, thì khó hiểu và khó tìm thấy những điểm thú vị của Hà Nội. Ví dụ, các biệt thự cũ, các khu bình dị được giới thiệu trong phim, thì phải đi hơi xa, không phải trong trung tâm thành phố, phải đi khu khác mà bình thường khách du lịch không đi.

Có một địa điểm “hotspot”, một địa điểm du lịch “nóng” bây giờ ở Hà Nội mấy tháng vừa qua là đường sắt. Có nhiều quán cà phê mọc lên hai bên đường sắt. Có rất nhiều khách du lịch, kể cả Việt Nam và nước ngoài, đi dọc đường sắt để nhìn thấy tầu hỏa đi qua, đi ra đi vào ga Hà Nội. Đây là một cảnh rất ấn tượng !”

Phố cà phê tầu hỏa đã bị cấm vì an toàn của người dân. Phong cảnh, nét sống ở Hà Nội khiến ông Jean-Noël Poirier có cảm giác như cùng lúc vừa ở Pháp, vừa ở Việt Nam. Vì thế, trút trang phục đại sứ sau bốn năm nhiệm kỳ, ông quyết định thử sống như người Hà Nội, với một công việc… rất khác.

“Sau khi hết nhiệm kỳ, tôi quyết định thành lập một công ty tư vấn cho công ty nước ngoài và những dự án lớn nước ngoài muốn đầu tư và phát triển tại Việt Nam. Làm doanh nghiệp ở Việt Nam không dễ lắm đối với người nước ngoài, cách làm việc khác một chút với cách làm của phương Tây. Và đây là công ty đầu tiên.

Năm ngoái (2018), tôi cũng quyết định thành lập một công ty thứ hai, nhưng trong lĩnh vực dịch vụ cho cá nhân. Đây là một công ty giặt là, giặt khô kiểu Pháp. Tại vì làm đại sứ 4 năm ở Hà Nội, tôi thấy là dịch vụ giặt khô ở thủ đô Hà Nội chưa đạt tới tiêu chuẩn châu Âu. Tôi đã mở một cửa hàng trong trung tâm thành phố và tháng sau (tháng 11) sẽ mở hai cửa hàng khác trong khu Mỹ Đình và Tây Hồ”.


viethoaiphuong
#14 Posted : Thursday, October 31, 2019 2:00:27 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Hội thảo: ‘Nhạc Vàng’, di sản trường tồn của Việt Nam Cộng hòa

Ngọc Lễ - VOA - 31/10/2019
Nhạc Vàng mà sự thịnh hành của nó gắn liền với miền Nam Việt Nam trước 1975 giúp cho khán thính giả ngày nay sống lại thời Việt Nam Cộng hòa và có thể được xem là di sản có sức sống nhất của chế độ đã qua, các nhà nghiên cứu nhận định tại một hội thảo mới đây ở tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.

Nhạc Vàng là tên thường gọi của thể loại nhạc được sáng tác và trình diễn dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Ngoài tên gọi này, một phần của nó còn được gọi là ‘nhạc sến’ hay ‘nhạc boléro’, dựa trên thể điệu và lời ca.

U sầu, hoài niệm

“Nhạc Vàng là một trong những phương tiện giữ cho ký ức của nền Cộng hòa sống mãi,” ông Vinh Phạm, nghiên cứu sinh Tiến sỹ về Văn học đối chiếu tại Đại học Cornell, nhận định tại hội thảo về nền Cộng hòa và các giá trị Cộng hòa Việt Nam tại Đại học Oregon, Eugene, hôm 15/10.

Điều này thấy rõ trong các chương trình ca nhạc và nhạc hội được tổ chức ở hải ngoại để người gốc Việt tôn vinh nền văn hóa của họ vốn thường trình diễn những bài hát có nội dung về Việt Nam Cộng hòa, ông nói.

Ông Vinh đưa ra dẫn chứng là có giai thoại về ‘ba thứ không thể thiếu’ trong các gia đình người Việt ở Mỹ, trong đó có những đĩa nhạc của Paris by Night hay Asia, hai nhà sản xuất băng đĩa hàng đầu của người Việt ở hải ngoại, bên cạnh... chai nước mắm và tô phở.

“Những bài hát như thế này thường được xem là để gợi nhớ về thời kỳ trước năm 1975,” ông nói.

Ông Vinh cho biết thể loại nhạc này thường bị các nhà phê bình ngày nay đóng khung là ‘âu sầu, áo não’ (melancholy).

Theo ông Vinh, sự u sầu này có nghĩa là ‘mất đi một thứ gì đó’ và ‘ít nhất trong phạm vi văn học và âm nhạc sự mất mát đó chính là mất mát thật sự nền Việt Nam Cộng hòa’.

“Nói cách khác, vật bị mất (gây ra cảm giác u sầu) ở đây không nằm trong phạm vi vô thức mà trái lại được đóng khung và định danh rõ ràng là một đất nước.”

Ông dẫn chứng là trong các chương trình ca nhạc của người Việt ở Mỹ, ngày 30/4 năm 1975 được gọi là ‘Ngày Mất nước’. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và những công dân của quốc gia này sống lưu vong thì âm nhạc của chế độ cũ giúp họ nhận thức rõ về sự mất mát này, ông nói.

Trong khi đó, cách mô tả Nhạc Vàng là ‘hoài niệm’ (nostalgic) về thời xa xưa có ý nghĩa là ‘chấp nhận quá khứ là chuyện đã qua và chấp nhận thực tại’, ông nói.

“Với những gì mà cộng đồng người Việt ở hải ngoại, vốn tích cực tham gia chính trị, đã phản đối (chính quyền trong nước) lâu nay và cái cách mà Nhạc Vàng được sử dụng để củng cố tinh thần quốc gia của họ thì không thể nói là có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy họ chấp nhận quá khứ mà thay vào đó đó là sự phản đối Đảng Cộng sản,” ông nhận định.

“Cách dùng những từ như hoài niệm, u sầu lâu nay để phê bình Nhạc Vàng đã bỏ qua mục đích thật sự của những bài nhạc này,” ông nói.

Sau khi đất nước thống nhất, chính quyền trong nước có một thời kỳ cấm đoán gắt gao thể loại âm nhạc này vì cho rằng nó ‘quá diễm tình, yếu đuối và thể hiện nền văn hóa yếu ớt của miền Nam’. Thậm chí nó còn được miêu tả là ‘độc hại và phản động’.

Có hợp với giới trẻ?

Trao đổi với VOA bên lề buổi hội thảo về lý do tại sao Nhạc Vàng có sự trở lại ngoạn mục ở trong nước hiện nay, ông Vinh nêu lên các lý do là ‘làm ra tiền’, ‘dễ tiếp cận hơn trước’, ‘dễ nhớ dễ thuộc’ và ‘kết nối với thế hệ đi trước’.

“Anh có thể kiếm tiền bằng Nhạc Vàng dựa trên số lượt người xem hay nghe trên YouTube. Một số kênh về Nhạc Vàng trên YouTube có hàng triệu lượt xem mỗi mục đăng tải,” ông giải thích.

“Một lý do nữa là khán giả Việt Nam hiện nay có nhiều cách tiếp cận các sản phẩm văn hóa hơn. Vào những năm 1990, các băng đĩa Nhạc Vàng mà họ có được hoặc là sao chép lậu hoặc do người thân của họ mang từ nước ngoài về,” ông nói thêm. “Giờ đây mọi người chỉ cần rút điện thoại thông minh từ trong túi ra là có thể nghe Nhạc Vàng.”

“Mặc dù một số bài hát vẫn bị cấm nhưng khán giả có thể dễ dàng tiếp cận được.”

Ngoài ra, tính chất lãng mạn (poetic) của thể loại nhạc này khiến khán giả dễ dàng ghi nhớ và thuộc bài hát.

“Có những thanh niên có ông bà cha mẹ vẫn còn nghe Nhạc Vàng cho nên nó là một hình thức để họ kết nối với thế hệ đi trước,” ông Vinh nói thêm.

Trả lời câu hỏi liệu Nhạc Vàng có phù hợp với thị hiếu của các khán giả trẻ ở trong nước hiện nay, ông Vinh nói rằng giới trẻ ‘quan tâm đến nhiều thể loại âm nhạc khác nhau chứ họ không quan tâm đến duy nhất một thứ’ cho nên ‘không thể gom các khán giả trẻ thành một khối duy nhất’.

Tuy nhiên, theo những gì ông quan sát, ông cho rằng giới trẻ trong nước hiện nay hướng đến âm nhạc Hàn Quốc, Trung Quốc và nhạc Mỹ, trong đó nhạc Hàn rất được giới trẻ ưa chuộng.

Về vấn đề liệu sự hồi sinh của Nhạc Vàng có làm sống lại sự quan tâm và tìm hiểu về Việt Nam Cộng hòa và các giá trị của nó hay không, ông Vinh trả lời rằng ‘mặc dù những bài Nhạc Vàng có thể gợi lại những tình cảm thân thiết với Việt Nam Cộng hòa nhưng ở trong nước chúng đã được đưa ra khỏi bối cảnh ban đầu’.

“Những người hát Nhạc Vàng vì họ yêu giai điệu bài hát (không phải lời hát). Tôi không cho rằng có sự gắn bó cá nhân rõ ràng (với nội dung các bài hát),” ông nói thêm. “Một số bài hát cơ quan kiểm duyệt còn sửa một số chữ trong lời hát.”

Ông cho rằng các khán giả ở Việt Nam khi hát Nhạc Vàng họ ‘ít quan tâm đến chính trị’ và Nhạc Vàng chỉ đơn thuần là ‘một mặt hàng mới’ phục vụ người tiêu dùng.

Chính vì những lý do đó mà ông cho rằng Nhạc Vàng hiện nay ‘không còn là mối đe dọa chính trị’ đối với chính quyền trong nước.

Ông đưa ra dẫn chứng là có hiện tượng ‘trong nước trình diễn lại màn trình diễn ở nước ngoài’ (performing the performance), tức là tái hiện lại y chang khung cảnh sân khấu của các bài hát dàn dựng ở hải ngoại mặc dù họ đang ở Việt Nam trong khi những bài hát này vì không tiếp cận được bối cảnh ở Việt Nam nên phải dựng cảnh giả.

Cách làm đó đã cho thấy khán giả trong nước ‘phi chính trị hóa Nhạc Vàng’ – tức họ là trình diễn âm nhạc chứ ‘không truyền tải thông điệp chính trị’, ông Vinh phân tích.

Di sản có sức sống nhất?


Trong phần trình bày của mình, ông Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu về âm nhạc Việt Nam và hiện đang làm việc cho Thư viện Công tại San Francisco, cho rằng ‘có lẽ di sản về Việt Nam Cộng hòa có sức sống nhất ở Việt Nam ngày nay là âm nhạc’.

“Những bài hát vẫn còn sống mãi từ thời điểm đó tập trung vào tình cảm con người và những cảm xúc sâu thẳm trong lòng người,” ông nói.

Theo ông Gibbs thì sở dĩ âm nhạc phát triển mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam vì ‘có thị trường’ cho sản phẩm âm nhạc mang tính thương mại mà nhờ vào đó các nhạc sỹ có rất nhiều cơ hội kiếm tiền từ các sáng tác của họ và có được mức sống cao.

“Trong một thị trường sơ khai còn hỗn loạn, những nhà sáng tác và khán giả tìm kiếm âm nhạc mới mẻ giàu cảm xúc và phù hợp với giá trị chung của một bộ phận đáng kể dân chúng,” ông nói và cho rằng thị trường âm nhạc miền Nam lúc đó ‘hoàn toàn bản địa’ vì ‘không có hãng đĩa nước ngoài nào tranh thủ được thị trường’.

Ông giải thích rằng nhạc thị trường là một ‘điều mới mẻ’ ở miền Nam Việt Nam lúc đó vì nó không tồn tại dưới thời thuộc địa và ở miền Bắc.

“Âm nhạc của Việt Nam Cộng hòa hoạt động trong mối quan hệ của ba yếu tố: chính sách của chính quyền, động cơ lợi nhuận và tình cảm chung của người dân,” ông cho biết.

Ông nói thêm chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó do muốn tách bạch khỏi hệ tư tưởng và cách cai trị ở miền Bắc nên không thể ra lệnh cho các văn nghệ sỹ và người dân tuyệt đối tuân theo lệnh của chính quyền.

Tuy nhiên, ‘tâm lý chiến cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình công việc sáng tạo của các nhạc sỹ và có ảnh hưởng lên các tác phẩm âm nhạc được đưa ra thị trường’. Mặc dù vậy, khi nhạc thương mại chiếm lĩnh thị trường, trên sóng phát thanh và sóng truyền hình thì ảnh hưởng của chính quyền trở nên bị giới hạn.

Sau năm 1975, Nhạc Vàng mặc dù bị cấm đoán quyết liệt ở miền Bắc nhưng nó vẫn được cộng đồng người Việt ở hải ngoại gìn giữ và ngày nay đã được một bộ phận dân chúng miền Bắc, vốn trước giờ lạ lẫm với dòng nhạc này, chấp nhận, ông Gibbs cho biết.

Trả lời câu hỏi của VOA rằng dòng nhạc tâm lý chiến có giống như nhạc tuyên truyền cổ động chiến đấu ở miền Bắc hay không, ông Gibbs nói: “Tôi phải thừa nhận rằng với những gì mà tôi đã nghe thì (nhạc miền Nam) cũng có yếu tố tuyên truyền”.

“Ý tưởng tuyên truyền là nhấn mạnh vào hành động xấu xa của đối phương,” ông nói.

Cũng theo nhận định của ông, Nhạc Vàng ‘chắc chắn mang tính cổ động quân đội’ vì nó ‘bày tỏ sự cảm thông cho người lính, cho những người dân bị chiến tranh chia cắt’.

“Một số bài hát còn hướng đến thu phục những người bên ngoài chế độ (sống ở miền Bắc),” ông nói và cho biết những bài hát này nằm trong chương trình chiêu hồi (open arms) của chính quyền và có thể đi sâu vào phía đối phương.

“Tuy nhiên, họ biết rằng họ không thể sáng tác những bài hát mang tính chất quân sự mạnh mẽ bởi vì những bài hát như thế không có sức hút (đối với thị trường),” ông nói thêm.

viethoaiphuong
#15 Posted : Monday, November 11, 2019 7:20:13 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Bảo Đại : Từ hoàng đế Việt "lực bất tòng tâm" đến "thường dân" Pháp

Thu Hằng - RFI - Thứ Hai, ngày 23 tháng 10 năm 2017


Mộ phần hoàng đế Bảo Đại tại nghĩa trang Passy, quận 16, Paris.RFI / Tiếng Việt

Chín năm đầu đời, hoàng tử Vĩnh Thụy sống trong nghi lễ Nho giáo nghiêm ngặt của triều đình Huế. Hàng ngày, một thầy giáo đến dạy ông những lời chỉ bảo của Khổng Tử, những nghĩa vụ và trọng trách của một hoàng tử. Cứ như vậy, trong vòng bốn năm, hoàng tử Vĩnh Thụy « sống một mình, dùng bữa một mình theo nhịp điệu không hề thay đổi, ngày nào cũng giống ngày nào » (1). Khoảng một đến hai lần mỗi tháng, hoàng tử Vĩnh Thụy được phép dự bữa cơm của vua cha, hoàng đế Khải Định.

Năm 9 tuổi, hoàng tử Vĩnh Thụy chỉ nặng 20 kg, như giải thích trong cuốn hồi ký Le Dragon d’Annam (Con rồng An Nam, 1980) vì « chế độ đó không hề tốt cho bất kỳ đứa trẻ nào vì thiếu hoạt động thể chất. Điều này giải thích tại sao nhiều hoàng tử chết sớm. Ông tôi (vua Đồng Khánh) mất năm 25 tuổi, anh trai của ông tôi mất năm 14 tuổi ».

Được chỉ định là người kế ngôi, lên 9 tuổi, hoàng tử Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp du học. Tại đây, ông thích thú khám phá phương Tây và đặc biệt là các môn thể thao. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà sử học Pierre Brocheux giải thích thêm :

« Hoàng đế Bảo Đại là con trai của vua Khải Định và được chỉ định là người nối ngôi và giữ vai trò tối cao. Vì thế, hoàng tử Bảo Đại phải được nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường Pháp. Vì lý do này, hoàng tử Vĩnh Thụy sang Pháp (năm 9 tuổi) và được giao cho một cựu khâm sứ Trung Kỳ, ông Jean-François-Eugène Charles (được coi là cha nuôi của hoàng tử Vĩnh Thụy) và vợ, sống ở vùng Đông Pyrénées.

Sau đó, hoàng tử lên Paris học phổ thông, không phải trong một trường công lập, mà trong trường tư thục Cours Hattemer. Trường này dành cho giới tư sản giầu có, học phí rất cao, nhưng rất nổi tiếng.

Nhưng người ta cũng sắp xếp thêm cho hoàng tử một gia sư người Việt. Đó là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, lúc đó đang theo học hoặc đang chuẩn bị thi vào trường Bách Khoa (Polytechnique). Hoàng Xuân Hãn nói rằng khi ông chăm sóc hoàng tử Vĩnh Thụy, đó là một cậu bé tốt, rất thoải mái, chứ không phải là kiểu người ban ơn ».

Năm 12 tuổi, hoàng tử Vĩnh Thụy lên ngôi nhưng quay lại Pháp tiếp tục học tập theo đúng di chúc của vua cha Khải Định. Việc triều chính được một nhiếp chính do Cơ mật viện đề cử đứng ra cai quản. Ngay sau khi vua Khải Định mất, một thỏa thuận đã được ký kết, đặt Cơ mật viện nằm dưới sự chỉ đạo của Khâm Sứ Trung Kỳ. Từ đó, Khâm Sứ và văn phòng Khâm Sứ đưa ra mọi quyết định, đặc biệt liên quan đến vấn đề ngân sách.


Hoàng đế trẻ Bảo Đại tại nhà của cựu Thống Sứ Trung Kỳ Charles ở Pyrénées, năm 1926.
Flickr/Agence Meurisse

Bị tước quyền ngay trên đất nước

Trong cuốn hồi ký, vua Bảo Đại viết mãi sau này ông mới được báo tin và nếu biết được trước, sẽ không bao giờ ông chấp nhận điều đó. Chính thỏa thuận này đã hạn chế quyền lực của vua Bảo Đại, khiến người ta có cảm giác vị vua cuối cùng của Việt Nam thành « bù nhìn » trong tay người Pháp.

« Bảo Đại về Việt Nam năm 1932. Theo tôi, ông có rất nhiều ý tưởng cải cách trong đầu, như hiện đại hóa nền quân chủ. Nhưng ông gặp phải rất nhiều khó khăn. Trước hết là phía Pháp kìm hãm ông. Sau đó, phải nói đến vấn đề tài chính vì ngân khố hoàng gia được kho bạc Đông Dương chuyển vào, dường như chỉ khoảng 15% hay 20% tổng ngân sách chính phủ thuộc địa.

Vì vậy mà ông bất lực. Ông như bị trói chân trói tay, bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Điều này giải thích tại sao Bảo Đại thu mình trong các cuộc đi săn hay bên cạnh những người phụ nữ… Ông biết rõ người ta muốn làm gì với ông và những gì người ta muốn cấm ông làm. Trong thâm tâm, đó là cách để thoát khỏi triều đình buồn tẻ với rất nhiều nghi thức để đi gặp những người khác. Tôi nghĩ là điều này hoàn toàn hợp lý ».

Trong Thế Chiến II, tình hình tại Việt Nam trở nên phức tạp hơn, giữa một bên là chính quyền thuộc địa Pháp và một bên là quân đội Thiên Hoàng. Theo nhà sử học Pierre Brocheux, dựa trên lời kể của cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn, hoàng đế Bảo Đại rất thông minh và luôn theo sát tình hình chiến sự, trái ngược với những lời đồn thổi :

« Dù gì thì cũng phải nói rằng, đó là một người luôn cập nhật những gì diễn ra quanh mình và theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước. Ở điểm này, chúng ta có thêm một nhân chứng khác, đó là toàn quyền Đông Dương Decoux, lúc đó ông ở Đà Lạt nhiều hơn là ở Hà Nội. Trong hồi ký, ông tả lại làm thế nào hoàng đế Bảo Đại nắm được hết những gì đang diễn ra ở Đông Dương, ở châu Á lúc đó đang có chiến tranh hay tình hình thế giới. Gần như hàng ngày, cả toàn quyền và hoàng đế theo dõi trên bản đồ Thái Bình Dương và Đông Nam Á đà tiến quân hay sự rút lui của quân đội Thiên Hoàng ».

Hoàng đế Bảo Đại từng viết cho tướng De Gaulle những dòng chữ sau : « Các ngài đã phải đau đớn trong vòng 4 năm để không hiểu được rằng dân tộc Việt Nam, với 20 thế kỷ lịch sử và một quá khứ thường xuyên oai hùng, không muốn và không thể chịu đựng thêm được bất kỳ sự đô hộ hay bất kỳ một chính quyền nước ngoài nào nữa ».

Sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập, thống nhất ba kỳ theo yêu cầu của quân đội Nhật, rồi chấp nhận thoái vị theo yêu cầu của Việt Minh, nhận làm cố vấn tối cao chính phủ lâm thời Việt Nam, trở thành đại biểu Quốc Hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tham gia phái đoàn sang Trùng Khánh thăm Trung Hoa, hoàng đế Bảo Đại - giờ là « công dân Vĩnh Thụy » - quyết định lưu lại Hồng Kông, rồi sang Pháp sống đến cuối đời.

Trong thời gian này, chính phủ Pháp, với hy vọng chiếm lại Đông Dương, đã dựng nên hình ảnh một Bảo Đại « hoàng đế của các hộp đêm », « hoàng đế của các sòng bạc », « hoàng đế có không biết bao nhiêu nhân tình, vũ nữ » để hạ uy tín hoàng đế Việt Nam lúc bấy giờ. Ông Pierre Brocheux giải thích tiếp :

« Người Pháp đã dựng nên hình ảnh một quốc vương bất lực, thụ động, ít nhất là về mặt chính trị, phải đi tị nạn, bị lệ thuộc. Đó là những thông tin, những bộ phim được dựa trên thông tin hàng ngày, như Bảo Đại đi xem đua ngựa ở ngoại ô Paris hay có mặt trong một buổi tiệc và khiêu vũ. Ý tôi muốn nói đó là những hình ảnh bị bóp méo nhằm hạ thấp mọi khả năng cầm quyền của ông trong trường hợp trở lại lên ngôi ở Việt Nam nếu Việt Minh bị bại trận ».


Hoàng đế Bảo Đại. Ảnh chụp năm 1932.
Flickr/Agence Mondial

Yên nghỉ ở nghĩa trang Passy, quận XVI - Paris

Ngày 31/07/1997, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam qua đời tại Paris và được an táng tại nghĩa trang Passy rộng 1,7 ha, ngay gần quảng trường Nhân Quyền, ở quận 16. Phải chờ đến gần 10 năm sau, mộ phần vua Bảo Đại mới được xây dựng kiên cố bằng đá cẩm thạch đen với số hiệu 20 P 1997 thay vì một tấm bê tông đặt phía trên như trước đó.

Rất nhiều người Việt sống khắp nơi trên thế giới vẫn về viếng mộ hoàng đế Bảo Đại khi có dịp ghé Paris, từ những người cao tuổi, sống dưới thời nhà Nguyễn, đến thế hệ trẻ ngày nay, dù không sống dưới chế độ quân chủ.

Người phụ trách nghĩa trang Passy cho RFI tiếng Việt biết : « Có những nhóm nhỏ khách du lịch, tôi nghĩ là người Việt, thường xuyên đến đây, và quanh năm, thỉnh thoảng có những nhóm 30 đến 40 người. Nhưng phải nói chủ yếu đó là người cao tuổi, đôi lúc cũng có nhiều người trẻ. Về phần vợ của nhà vua, tôi thấy bà ấy ít nhất mỗi tháng một lần.

Nghĩa trang không chăm sóc, lau chùi các mộ phần ở đây. Gia đình người quá cố, nhiều khi là những người thân hoặc những người tôn trọng người quá cố đến dọn dẹp. Điều này giải thích tại sao mộ vua Bảo Đại bao giờ cũng sạch ».

Vẫn theo người phụ trách, nghĩa trang đôi khi nhắm mắt cho qua một số buổi lễ tưởng nhớ hoàng đế Bảo Đại vì họ hiểu truyền thống thờ cúng của Việt Nam.

« Đúng là thường có nhiều buổi tưởng niệm, dù không hẳn khiến gia đình vua Bảo Đại hài lòng. Vì thường họ đến đông, họ mang đồ lễ đến cúng và thỉnh thoảng để lại đồ trên mộ, làm bẩn xung quanh. Vì thế mà gia đình không hài lòng.

Chúng tôi cho phép cúng lễ ở đây. Nhưng thường chúng tôi sẽ gặp trưởng đoàn, họ cũng giải thích với chúng tôi là muốn tổ chức một buổi lễ chẳng hạn. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn phải theo dõi vì họ không hiểu là họ chỉ thăm mộ nhà vua một chút thời gian, nhưng vài ngày sau chẳng hạn, gia đình đến và thấy đồ thờ cúng mà họ không muốn nên họ bị « sốc ». Tôi hiểu điều đó, có lẽ tôi cũng sẽ phản ứng như vậy ».

***

(1) S.M. Bảo Đại, Le Dragon d'Annam (Con Rồng An Nam), Paris : Plon, 1980.

viethoaiphuong
#16 Posted : Wednesday, January 15, 2020 7:32:26 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Triều đình Việt Nam bỏ thi chữ Hán năm 1919: Cơ hội để Quốc ngữ ''lên ngôi''?


Đăng Cổ Tùng Báo, tờ báo song ngữ Hán - Quốc ngữ, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút (năm 1907). Trong ảnh, trang bìa chữ Hán và trang Quốc ngữ có bài ''Gái đảm''. Copy d'ecran

Trọng Thành - RFI - 15/01/2020
Năm 2019 vừa qua, trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam, một hiện tượng đáng chú ý là có nhiều hoạt động xoay quanh dịp kỷ niệm 100 năm kỳ thi chữ Hán cuối cùng. Kỷ niệm 100 năm để trở lại với di sản gần 1.000 năm Nho học (1). Nhưng dịp kỷ niệm này cũng là cơ hội để soi tỏ một giai đoạn tương đối ngắn mới đây, tuy được coi là quyết định đối với sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, song trên thực tế còn rất ít được nghiên cứu.

Khoa thi năm Kỷ Mùi (1919) là khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam. Lý do chấm dứt được vua Khải Định đưa ra trong lời phê tờ trình của bộ Học như sau: ''Trẫm nghĩ rằng quy chế cựu học đã không còn đáp ứng được điều mong muốn, trong khi con đường tương lai của tân học đang thênh thang mở rộng trước mặt'' (sách Khải Định chính yếu sơ tập) .... Quyết định bỏ thi chữ Hán năm 1919 của triều đình Việt Nam có phải là cơ hội để chữ Quốc ngữ lên ngôi?

Khoa cử Nho học chấm dứt nhường chỗ tự nhiên cho sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, về mặt lô-gic hình thức thông thường, đó là điều dễ chấp nhận. Thế nhưng trên thực tế, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ diễn ra như thế nào với quyết định đặt dấu chấm hết này đối với khoa cử Nho học?

Đây là chủ đề đã được thảo luận khá rộng rãi trong năm vừa qua tại Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ trên thực tế đã diễn ra từ sớm, trước rất nhiều so với quyết định của vua Khải Định bỏ hoàn toàn thi cử Hán học năm 1919.

1915: Hồi trống báo ''chợ văn-chương'' sắp tàn

Sau đây là nhận định của nhà ngôn ngữ học Hoàng Dũng, Hội Ngôn Ngữ Học thành phố Hồ Chí Minh, với RFI tiếng Việt: ''Tôi hoàn toàn đồng ý là đây là một cơ hội, một cái dịp để cho người ta nhìn lại. Chữ Quốc ngữ như một dòng sông, nó có khởi đầu, và trên dòng chảy của nó chúng ta cắt ra 100 năm để chúng ta kỷ niệm, thì cái đó có những lý do khách quan. (…) Tại sao lại chọn cái đạo dụ của ông Khải Định, một ông vua mà lịch sử đánh giá rất là tệ hại ? Trong lời nói đầu của ông chủ tịch Hội ngôn ngữ học thành phố Hồ Chí Minh, để mở đầu cho hội thảo ngày 21/12 vừa rồi (2), tôi cho nói như vậy là đầy đủ, ông ấy nói thế này: Ta biết rằng chữ Quốc ngữ ở miền Nam sử dụng trước, sau đó lan dần ra cả nước. Và năm 1915, ở miền Bắc đã bãi bỏ thi Hương rồi. Ông Phạm Quỳnh nói đó là ''hồi trống sau cùng đã báo từ nay chợ văn-chương không họp nữa. Ai còn gồng nặng, gánh nhẹ mà quẩy về xoay nghề khác''.

Thực ra nói như thế là đúng, vì phải đến ba năm sau, tức 1918, khi Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học. Và năm 1919, khoa thi Hán học cuối cùng được tổ chức ở miền Trung, thì ''thần Cử-nghiệp'' đến đấy mới chính thức chia tay. Ta biết rằng trên sân khấu có hai nhân vật, một là chữ Nho, hai là chữ Quốc ngữ. Mà nhân vật chữ Nho bị đạo diễn cho đi xuống khỏi sân khấu rồi, thì chữ Quốc ngữ trở nên một mình một ngựa. Nếu không kể tiếng Pháp''.

Hơn một thập niên cải cách

Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến giai đoạn cải cách giáo dục, kéo dài hơn một thập niên, nhằm thay thế dần dần nền khoa cử lâu đời bằng nền giáo dục mới, với chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Một chủ đề hiện còn rất ít được nghiên cứu và gần như không được công chúng đông đảo biết đến.

Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng: ''Không phải là cái đạo dụ chính thức của Khải Định là một cái gì đó ghi nhận công lao của Khải Định đối với văn hóa Việt Nam. Tại sao nói như vậy ? Vì vua Khải Định chẳng qua là thực hiện một chính sách của người Pháp thời đó. Sau khi người Pháp chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ, thì họ đã có một chương trình cải cách giáo dục trong 10 năm, do ông toàn quyền Antony Klobukowski khởi xướng, rồi đến Albert Sarraut hoàn thành, để xóa bỏ dần nhà trường Hán học, bằng cách là trong các kỳ thi Hán học (thi Hương, thi Hội, thi Đình), họ đã xen cài chữ Quốc ngữ. Rồi cho đến lúc quen dần, thì 10 năm sau họ mới chính thức bãi bỏ bằng đạo dụ của Khải Định. Tôi nói rằng, theo cách nói của người Pháp, đấy là dấu chấm trên chữ i thôi, để kết thúc về mặt kỹ thuật, một tiến trình do chính người Pháp chủ trương, chứ không phải chủ trương của ông Khải Định''.

Cho đến nay, vai trò của những người có công đầu tiên trong việc chế tác chữ Quốc ngữ, như Francisco de Pina hay Alexandre de Rhodes đang ngày càng được công nhận trong xã hội Việt Nam, bất chấp một số phản đối ồn ào mới đây chống lại việc đặt tên đường Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes tại Đà Nẵng. Tri ân công lao của những người đóng góp cho văn hóa Việt Nam, dù là người trong hay ngoài nước, là câu chuyện ngày càng trở nên một lẽ dĩ nhiên.

Tâm lý ức chế

Thế nhưng vấn đề chữ Quốc ngữ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dường như vẫn là một câu chuyện ít nhiều vẫn còn được coi là nhạy cảm, có lẽ do bởi gắn liền trực tiếp với giai đoạn thực dân. Và đây có thể là một trong những lý do chính tạo không khí ức chế trong tâm lý của không ít nhà nghiên cứu, giới quan tâm – nguồn gốc sâu xa của việc hầu như rất hiếm công trình nghiên cứu đáng kể nào về sự phát triển của chữ Quốc ngữ giai đoạn bản lề này. Và đây dường như cũng là một lĩnh vực không mấy thu hút các nhà nghiên cứu trẻ.

Tâm lý ức chế khá phổ biến này được nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy (Hà Nội) thuật lại với RFI tiếng Việt. Theo ông, các nhà nho cải cách Việt Nam đầu thế kỷ XX đã ''đành phải chấp nhận'' chữ Quốc ngữ như một chuyện đã rồi, không có cách nào khác, nếu muốn dân tộc đi lên, thì phải chấp nhận nó. Bởi vì chữ Hán tắc đường rồi, và chấp nhận chữ Quốc ngữ thì còn hơn là chấp nhận tiếng Pháp. ''Cái khôn'' của các cụ là ở chỗ ấy, nhưng là cái khôn ngoan trong tình thế bị áp đặt, trong sự đã rồi. Nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cũng ghi nhận một thực tế là những người đứng đầu nhà nước quân chủ Nho giáo Việt Nam đã không tỉnh táo nghĩ đến việc mở đường cho chữ Quốc ngữ Latinh trở thành chữ viết quốc gia – trong thời kỳ còn kiểm soát toàn bộ hoặc một phần đất nước.

Áp đặt hay dung hòa?

Chữ Quốc ngữ dần dần trở thành chữ viết chính thức ở Việt Nam có phải đơn thuần do người Pháp áp đặt hay không là một chủ đề còn để ngỏ. Nhà nghiên cứu Hoàng Dũng đặc biệt chú ý đến những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền thực dân Pháp trong việc khuyến khích hay không chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này:

''Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ít người chú ý là thực ra việc phổ biến chữ Quốc ngữ ngay cả người Pháp là một chủ trương không dễ dàng. Họ phải đấu tranh nội bộ. Tôi đưa một dẫn chứng. Etienne Aymonier, một người biết nói tiếng Khmer, biết nói tiếng Việt, rồi ông lấy vợ người Chăm. Ông là tác giả của cuốn sách ngữ pháp tiếng Chăm, từ điển Chăm – Pháp. Về mặt chính quyền, ông đã từng làm đến công sứ Bình Thuận, ông đã từng làm hiệu trưởng đầu tiên của trường Hậu Bổ. Aymonier đã hai lần công khai viết rằng: việc phổ biến chữ Quốc ngữ là nguy hiểm cho người Pháp (3). Cách tốt nhất với người Pháp là biến người Việt trở thành một người Pháp gốc Á, tức là dạy tiếng Pháp cho người Việt. Trong nội bộ họ có những cuộc tranh luận rất là gay gắt. Và cuối cùng như ta đã biết là chủ trương phổ biến chữ Quốc ngữ thắng thế. Ý kiến của Aymonier bị gạt đi. Tôi chỉ nhắc lại một chút về lịch sử như thế để thấy rằng việc phổ biến chữ Quốc ngữ ở những năm này là vấn đề không dễ dàng''.

Từ Hà Nội, nhà nghiên cứu Hồ Hải Thụy cho biết thêm là, trên thực tế, việc thừa nhận chữ Quốc ngữ có thể coi là một ''biện pháp dung hòa'' tốt nhất trong giai đoạn lịch sử này, khi chính quyền thực dân Pháp đã ra nhiều bài học kinh nghiệm từ những nơi khác, trong đó có việc thực dân Anh ở Ấn Độ, tuy thống trị tiểu lục địa này từ lâu, nhưng đã không thể áp đặt được tiếng Anh, đồng hóa được nền văn hóa Ấn Độ. Theo hướng nhìn nhận này, thì giải pháp thừa nhận chữ Quốc ngữ chính là một sự thỏa hiệp giữa quyền lực thống trị thực dân với xã hội bản địa.

Chữ Quốc ngữ là ''hồn trong nước''

Vẫn về bước ngoặt đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đặc biệt lưu ý đến sự thức tỉnh bất ngờ của giới nhà nho cấp tiến. Trong hoàn cảnh đặc biệt này, đã nhận ra trong chữ Quốc ngữ, đến từ trời Tây, một phương tiện gây lại ''hồn nước'':

''Thái độ đối với chữ Quốc ngữ của nhà nho đương nhiên là phân hóa theo nhiều xu hướng. Xu hướng những nhà nho cấp tiến, chủ trương Duy Tân, đã tìm thấy ở chữ Quốc ngữ một phương tiện hết sức là tích cực, hết sức là căn bản, trong việc gây lại cái gọi là ''hồn nước'', diễn đạt cái tinh thần dân tộc, cái bản lĩnh dân tộc, tố chất dân tộc. Họ gửi gắm vào chữ Quốc ngữ rất là nhiều.

Mặc dù, nếu khảo sát kỹ, các nhà nghiên cứu thấy rằng các nỗ lực của các nhà nho người Việt suốt nhiều thế kỷ chế tác các chữ Nôm, và phương pháp làm chữ Nôm cũng rất đáng kể, đến mức có thể ghi được những sáng tác bằng tiếng Việt, mà điển hình là Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán… Ví dụ như vần điệu của các tác phẩm thơ như thế chứng tỏ những nỗ lực cực kỳ lớn của những người đã làm ra bộ chữ Nôm, dựa trên các mẫu tự chữ Hán.

Thế nhưng, các nhà nho ở thời hiện đại, đầu thế kỷ XX trở đi, thì lại nhìn thấy trong chữ Quốc ngữ rõ hơn cái tinh thần độc lập của dân tộc mình. Theo tôi, những nhà nho Duy Tân đó đã gửi vào trong chữ Quốc ngữ một kỳ vọng cực kỳ lớn. Đằng sau nó là những giá trị hết sức quan trọng, mang tính xu hướng, giá trị về tính độc lập. Rất có thể trước đó dùng các chữ mượn các phương cách của chữ Hán, thì đến lúc này người ta nhận ra là những cái bản sắc thể hiện ở đó không thể nào rõ bằng việc viết bằng chữ cái abc''.

Vì sao Quốc ngữ bằng chữ cái Latinh vốn xa lạ, lại có thể trở nên thân thiết với người Việt đến như vậy trong nhãn quan của giới nho sĩ, trí thức Hán – Nôm đầu thế kỷ XX ? Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho biết cảm nhận của ông:

''Theo tôi, người ta nhìn thấy chữ viết Quốc ngữ ghi tiếng Việt ở dạng hoàn thiện của nó, như một cái gì đó cực kỳ gắn bó với tiếng Việt (4). Bởi vì, cũng là abc, nhưng là một dòng chữ, một câu tiếng Pháp chẳng hạn, thì nó khác, dòng chữ Bồ Đào Nha thì nó khác. Nhưng đây là từng từ một của tiếng Việt. Người ta thấy tiếng Việt hiển hiện ra trong đó. Và người ta thấy: À, đây là Việt Nam! Còn cái việc đằng sau các ký tự này là chữ Latinh chẳng hạn, thì đối với họ, điều đó trở nên không quan trọng nữa. Theo tôi, (ý nghĩa gắn bó thiết thân của chữ Quốc ngữ với người Việt) là ở chỗ đó''.

Nhiều câu hỏi để ngỏ

Đối với nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, kỷ niệm một thế kỷ chấm dứt nền khoa cử chữ Hán, tồn tại trong suốt gần 1.000 năm, đã là một cơ hội tốt để soi tỏ giai đoạn bản lề cuối thế kỷ XIX - đầu XX, khi chữ Latinh ghi âm tiếng Việt bằng nhiều ngả đường khác nhau, từng bước khẳng định, vươn lên trở thành chữ viết quốc gia. Sự lên ngôi của chữ Quốc ngữ, trên thực tế, không gắn nhiều với cái mốc bỏ thi chữ Hán, với kỳ thi Hội – thi Đình cuối cùng tại Huế năm 1919.

Một số nhà nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh, để phục dựng lịch sử chữ Quốc ngữ giai đoạn này, rất cần khai thác những mảng tư liệu lớn trong đó có các loại sách dạy Quốc ngữ, chương trình giảng dạy liên quan đến Quốc ngữ, do các chủ thể khác nhau soạn thảo, từ chính quyền cho đến các tổ chức tư nhân, nội bộ Giáo hội Công Giáo…

Nhiều vấn đề mang tính lý thuyết cần được đào sâu, như quan hệ giữa chữ viết với tiếng nói, sự trưởng thành của chữ Quốc ngữ Latinh có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của bản thân tiếng Việt? Vì sao chữ Quốc ngữ Latinh lại trở nên gần gũi, gắn bó với người Việt hơn chữ Nôm truyền thống? Do dễ học, dễ đọc hay vì một lý do nào khác (4)? Cú pháp tiếng Việt đã phát triển ra sao trong giai đoạn đột biến này, trong bối cảnh tiếp xúc mạnh mẽ với tiếng Pháp (5)?

RFI xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu Hoàng Dũng, Hồ Hải Thụy và Lại Nguyên Ân.

Ghi chú :

1 - Tháng 8/2019, Viện Hàn Lâm Khoa Học Việt Nam tổ chức hội thảo quốc tế ''Khoa cử Nho học Việt Nam (1075 - 1919)'' là dịp thảo luận về toàn bộ tiến trình phát triển của khoa cử Nho học tại Việt Nam, các giai đoạn manh nha, phát triển, đỉnh cao, thoái trào, ảnh hưởng sâu rộng của khoa cử Nho học trong văn hóa Việt Nam, trong so sánh với các nền văn hóa sử dụng chữ Hán.

2- Hội Ngôn Ngữ Học SaiGon tổ chức một hội thảo mang tựa đề ''100 năm chữ Quốc ngữ'', cuối tháng 12/2019, quy tụ hơn 30 báo cáo, tham luận.

3 - ''Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19'', Lại Như Bằng dịch và giới thiệu, NXB Thế giới, 2018.

4 – Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hệ chữ cái abc ghi tiếng Việt, dễ hiểu, dễ học, gắn bó rõ ràng với phát âm của tiếng nói hàng ngày, người bản địa dù ít học cũng có thể dễ dàng sử dụng, trong lúc những con chữ Nôm, để hiểu được thường phải thông qua chữ Hán. Xét trên phương diện phát âm, một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến tính chất phản dân chủ tiềm tàng của chữ Hán. Các nhà nho trên thực tế, ngay từ trước Công Nguyên, đã biết cách phân tách phụ âm, phần vần và thanh điệu (kỹ thuật phiên thiết trong các sách về Vận Thư). Tuy nhiên, kiến thức này đã không được phổ biến rộng, và phát triển theo hướng trở thành công cụ ghi âm vị. Chỉ giới nhà nho mới có thể sử dụng. Sự tồn tại và hưng thịnh của chữ Hán về cơ bản gắn liền với sự độc quyền về văn hóa của tầng lớp nho sĩ. Về các xã hội Đông Á sử dụng chữ Hán, nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam, vì lý do này hay khác, đã cố tình bỏ qua việc xã hội Hàn Quốc (hay Triều Tiên), ngay từ thế kỷ XV, đã chế tác ra được hệ chữ cái phiên âm tiết (Hangul), hệ chữ vốn bị lép vế, hoặc bị cấm đoán trong suốt thời kỳ chữ Hán thống trị, nhưng đã trở thành chữ viết chính thức của người Triều Tiên, người Hàn Quốc hiện nay. Hệ chữ phiên âm Hangul của dân Hàn được giới nghiên cứu đánh giá rất cao trên phương diện ghi âm.

5 – Nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ (1922-1999), cố viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, từng nhấn mạnh đến ý nghĩa của tiếp xúc Pháp – Việt trong sự phát triển của tiếng Việt nói chung và chữ Quốc ngữ nói riêng: ''thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp đâu có dài. Nhưng tuy ngắn mà rất quan trọng trong ý nghĩa một đổi mới. Xã hội Việt Nam vốn khép kín đã, với tiếng Pháp, mở rộng dần tầm nhìn ngôn ngữ và văn hoá sang một không gian khác lạ là Pháp và phương Tây. (…) Ảnh hưởng quan trọng của tiếng Pháp đối với tiếng Việt là về hành văn, như có thể thấy rõ trong thơ mới và trong văn xuôi mới, văn xuôi mới nghệ thuật (…) văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học cũng đã tiếp nhận ảnh hưởng của văn xuôi báo chí và văn xuôi khoa học Pháp. (…) Như vậy, tiếng Pháp đã có mặt trong tiếng Việt. Sự có mặt ấy vẫn còn sức sống. Mất đi đâu được! Nó đã được đưa vào trong ý thức của người Việt qua những câu thơ Việt, những câu văn xuôi Việt'' (bài ''Nhìn lại thời tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp'', Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/1997).



viethoaiphuong
#17 Posted : Thursday, January 23, 2020 1:43:32 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)


"Ông tổ Quốc ngữ'' Francisco de Pina: Người bắc cầu văn hóa Âu - Việt


Trọng Thành - RFI - 22/01/2020
Với công chúng rộng rãi, lịch sử chữ Quốc ngữ tưởng không còn bí ẩn lớn. Đối với nhiều người, Quốc ngữ do các giáo sĩ châu Âu chế tác để truyền đạo, nhân vật hoàn thành cơ bản sứ mạng này là giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes.

Thế nhưng, lịch sử ít nhiều chính thống ấy đang bị xét lại. Quá trình chế tác chữ Quốc ngữ có thể đã diễn ra rất khác. Vai trò của Francisco de Pina - người thầy của de Rhodes - đang ngày càng được chú ý hơn.

Francisco de Pina sinh tại tỉnh Guarda, Bồ Đào Nha, khoảng năm 1585-1586. Sau khi theo học nhiều năm thần học, khoa học xã hội và nghệ thuật tại học viện Công Giáo ở Macao, thuộc Bồ Đào Nha, tu sĩ Dòng Tên này đến miền nam Việt Nam vào khoảng 1618. Francisco de Pina được coi là giáo sĩ châu Âu đầu tiên thông thạo tiếng Việt. Ông làm việc chủ yếu tại khu vực Hội An và vùng Thanh Chiêm, thủ phủ chính trị Đàng Trong của các chúa Nguyễn thời bấy giờ (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam hiện nay), cho đến khi qua đời, trong một tai nạn trên biển năm 1625.

Để tìm hiểu về những đóng góp của Francisco de Pina, RFI tiếng Việt có cuộc phỏng vấn với giáo sư Roland Jacques (1), bên lề một hội thảo khoa học về chữ Quốc ngữ tại Lisboa, hồi tháng 10/2019 (2).

Trong dòng sông lịch sử có những giai đoạn bị quên lãng, nhưng nhiều khi chính những gì tưởng như bị lãng quên ấy lại là nguồn mạch của tương lai. Di sản bị chôn vùi của Francisco de Pina, của giai đoạn các giáo sĩ Bồ Đào Nha nói chung, nếu được khôi phục trở lại, rất có thể sẽ cho thấy quá trình chế tác chữ Quốc ngữ, ngay từ đầu đã là sản phẩm của các hợp tác Âu - Việt mật thiết, không chỉ đơn thuần trong lĩnh vực tôn giáo và vì mục tiêu tôn giáo (xem thêm phần đóng khung cuối bài : ''Vì sao người Bồ Đào Nha đi tiên phong trong đối thoại ngôn ngữ và văn hóa Âu-Việt ?'').

Theo nhà nghiên cứu Roland Jacques, với Francisco de Pina, sự nghiệp chế tác chữ Quốc ngữ gắn liền với đối thoại văn hóa Âu - Việt. Chữ Quốc ngữ không đơn thuần là công cụ ghi âm, ghi lại lời nói, một phương tiện truyền giáo, mà còn là ''cơ sở cho những đối thoại'' giữa người Việt và người châu Âu trong chiều sâu tâm hồn. Chính ở bình diện quan trọng này mà chữ Quốc ngữ đã trở thành một di sản văn hóa sống, được nhiều thế hệ người Việt trân trọng, gìn giữ và phát triển. Dễ hiểu, dễ sử dụng, gắn liền với lời nói, chữ Quốc ngữ chứa đựng tiềm năng dân chủ hóa lớn lao, đã trở thành phương tiện giúp cho tiếng Việt trở nên độc lập (với chữ Hán), cho nền giáo dục phổ cập toàn dân.

Theo Roland Jacques, để hiểu đúng lịch sử chế tác chữ Quốc ngữ, cần đối chiếu quá trình này với dự án mang tính trực giác của Francisco de Pina. Trong tiến trình lịch sử lâu dài ấy, thành công hay những ''thất bại tạm thời'' của việc chế tác chữ Quốc ngữ gắn liền việc chữ Quốc ngữ có được giới trí thức bản địa tham gia tích cực hay không, văn hóa bản địa tham gia đến đâu vào thứ chữ viết của tương lai này, để cho những con chữ từ trời Tây thấm đẫm hồn nước Việt.

***

RFI : Xin Giáo sư cho biết nhận định chung của ông về lịch sử chế tác chữ Quốc ngữ Việt Nam và vai trò của Francisco de Pina.

GS Roland Jacques: Về phần mình, tôi rất hạnh phúc được làm nghiên cứu, từ lâu nay, về nguồn gốc của chữ Quốc ngữ. Như tôi đã có lần viết, cần phải phản biện lại lịch sử đã được viết trước đó, về nguồn gốc Quốc ngữ, của một số tác giả mà tôi vốn tôn trọng. Tôi cũng rất hạnh phúc là sau các bài viết và sách của tôi, đã có thêm nhiều nhà nghiên cứu tiếp nối con đường này.

Francisco de Pina là người đầu tiên nắm vững tiếng Việt, theo lời ghi nhận của Alexandre de Rhodes. ''Nắm vững tiếng Việt'', đó là nhận định mà de Rhodes đã dùng để nói về Pina. Có nghĩa là ông có thể dùng tiếng Việt không chỉ cho mục tiêu tôn giáo, mà còn cả về mặt văn hóa nữa.

Chúng ta biết rằng cuốn từ điển Việt - Bồ - La, xuất bản năm 1651, không do Pina trực tiếp biên soạn, mà đây là một tác phẩm tập thể. Alexandre de Rhodes luôn thừa nhận tác phẩm được xuất bản tại Roma này là sản phẩm của nhiều đồng sự, nhiều cộng tác viên người Việt. Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm một điều là cuốn từ điển này vừa là một thành công lớn, nhưng cũng là một thất bại.

RFI : Một thành công lớn. Nhưng vì sao là thất bại ?

GS Roland Jacques: Thất bại là bởi vì Alexandre de Rhodes đã không có phương tiện để biến ý tưởng chủ đạo của Pina thành hiện thực. Cụ thể là, cuốn từ điển này đã không có chỗ cho những tinh hoa của văn học Việt Nam, của thế giới chữ tượng hình Hán-Việt. Tuy nhiên, đây là một thất bại tạm thời, vì ít nhất thì ta cũng có được một bộ từ điển. Và điều kiện làm việc tại Việt Nam vào thời điểm này không còn tốt nữa, điều đó làm chậm lại đáng kể các nghiên cứu, tìm hiểu. Phải đợi nhiều thế hệ nữa, các nghiên cứu sẽ mới được tiếp tục.

Hiện tại tôi biết có nhiều tư liệu của thế kỷ XVIII hiện chưa được khai thác. Có hàng trăm, hàng trăm trang tư liệu mà tôi mong muốn có thể giới thiệu một lúc nào đó.

Ý tưởng chủ đạo của Pina là soạn ra được một công trình mang tính toàn thể, hướng về một nền văn hóa có truyền thống lâu đời, nhưng đặc biệt là hướng đến xây dựng một nền văn hóa cho tương lai, nhờ ở tiếng Việt.

Tôi đã được thừa hưởng trực giác này từ giáo sư Hoàng Tuệ (cố viện trưởng Viện Ngôn ngữ học), trực giác về vai trò to lớn của những cộng tác viên người Việt của Pina, những cộng tác viên người Việt của Alexandre de Rhodes, của Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc)… Pigneau de Béhaine đã nhấn mạnh đến vai trò của 8 thầy giảng (trong đó nhiều người Việt). Bộ từ điển Việt - Hán - Nôm - Latinh của Pigneau de Béhaine (hoàn thiện vào năm 1773) không phải là sản phẩm của riêng người châu Âu mà là sản phẩm của sự hợp tác mật thiết giữa một số người châu Âu, có kinh nghiệm về ngôn ngữ học, với nhiều người Việt sẵn sàng mở ra với cái mới.

Không có chữ Quốc ngữ, thì người Việt đã không thể tiến lên được, không thể phổ biến giáo dục cho toàn dân, không thể mang lại cho nhân dân những phương tiện cho các tiến bộ về mọi mặt, về chính trị, kinh tế, v.v. Trực giác của Pina là hướng đến một sự phát triển văn hóa chưa từng có, với chữ Quốc ngữ.

Năm 1651, với bộ từ điển Việt - Latinh đầu tiên, chỉ là một điểm dừng chân, một giai đoạn.

RFI : Cụ thể Francisco de Pina muốn gì xa hơn ?

GS Roland Jacques: Có thể nói là từ năm 1651 đến năm 1770, chúng ta đã không có sản phẩm đáng kể bằng Quốc ngữ, cả về mặt tôn giáo, hay các mặt khác. Pigneau de Béhaine chính là người đã hiểu được trực giác của Pina, tiếp nối trực giác của Pina. Rốt cục, hệ chữ viết tượng hình là một mấu chốt, cho phép thâm nhập vào chiều sâu của tiếng Việt. Pigneau de Béhaine và các cộng sự đã biên soạn được một tác phẩm tuyệt vời, bộ từ điển Việt - Hán - Nôm - Latinh nói trên. Và tiếp theo đó phải nói đến nhiều tác phẩm của thế kỷ XIX (trong đó đặc biệt phải kể đến Trương Vĩnh Ký) (3), và chúng ta có cuốn Đại Nam Quốc Âm tự vị của Paulus Của - Huỳnh Tịnh Của, đã kế thừa cuốn từ điển của Pigneau de Béhaine, với một số thay đổi.

Ta thấy đó chính là cái đích Pina muốn hướng tới. Quan niệm của Pina là phải thừa hưởng mọi thành quả của quá khứ, và hướng hẳn về tương lai. Nhìn theo hướng này thì bộ từ điển năm 1651 là một điều tuyệt vời, nhưng chỉ là một sản phẩm nhỏ, so với những gì mà ông kỳ vọng, mơ ước.

Mơ ước của Pina là gặp gỡ về văn hóa, khi đi đến chiều sâu của nền văn hóa Việt Nam, với quá khứ của Việt Nam, với những ảnh hưởng từ Trung Hoa. Nhưng điều đặc biệt quan trọng là hướng về tương lai. Pina đã thoáng nhìn ra triển vọng phát triển của tiếng Việt, nhờ ở việc phổ cập chữ Quốc ngữ.

Thư viện Biblioteca da Ajuda (thủ đô Lisboa), nơi lưu trữ bộ sưu tập Jesuítas na Ásia, trong đó có bản sao một bức thư, được coi là của Francisco de Pina, gửi bề trên năm 1622-1623, báo cáo hoạt động của giáo đoàn.

RFI : Dựa trên những bằng chứng nào Giáo sư khẳng định đấy là tư tưởng của Pina ?

GS Roland Jacques: Tôi rút ra điều này bằng cách dựa sát vào bản thảo do Pina để lại. Trong một lá thư gửi bề trên (4), Pina đã giải thích là trong giai đoạn đầu, các giáo đoàn Dòng Tên đã đi sai hướng, bởi vì họ đã không có đủ tinh thần cởi mở.

Pina ghi nhận thoạt tiên, giữa các nhà truyền giáo, không biết chữ Nôm, và các thầy giảng người Việt, biết chữ Nôm, không có phương tiện đối thoại. Chính chữ Quốc ngữ đã mang lại cơ sở cho đối thoại, thông qua các chữ viết tiếng Việt theo kiểu mới. Tiếng Việt qua đó được thanh lọc, để trở nên độc lập.

Chính trên cơ sở đó mà có được đối thoại Đông - Tây, giữa các tâm thức khác nhau, với sản phẩm là những trái quả mới. Pina không mơ đến những trái quả về phương diện tôn giáo, mà là một điều rất khác.

Pina so sánh các tác giả cổ điển của nền văn minh Latinh với những gì tương đương mà ông muốn tìm thấy trong nền văn hóa Việt Nam. Tinh hoa văn hóa của quý vị là gì, đâu là các truyền thuyết và những thần thoại của quý vị? Đấy chính là điều mà Pina muốn học và hiểu. Ngược lại, ông cũng hy vọng là người Việt đến với nền văn chương châu Âu. Chính ở đó mà hai bên có thể gặp nhau trong chiều sâu tâm hồn, trong những tư tưởng mang tính xây dựng, những tư tưởng hướng đến làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn, cải thiện chính xã hội của người Việt.

Trong bức thư dài nói trên, được viết vào năm 1622 - 1623, gửi đến bề trên, Pina đã trình bày kế hoạch làm việc to lớn này, cả về mặt tiếng Việt, về việc hoàn thiện hệ thống ghi âm, cũng như về mặt học hỏi những phần kinh điển trong văn chương, văn hóa Việt Nam.

Cá nhân tôi, tôi tin tưởng vào tiếng Việt, vào văn hóa Việt Nam. Cần phải cẩn trọng không để bị hấp thu quá mức các ảnh hưởng từ bên ngoài, bởi có nhiều ảnh hưởng độc hại. Cần phải trở lại với các cội rễ, những gì tinh túy ban đầu, song song với việc mở ra để đối thoại với tất cả các nền văn hóa khác. Nhưng điều quan trọng là phải bắt rễ trong chính mình.

''Uống nước nhớ nguồn'' - Đừng quên những người tiên phong đã để lại cho quý vị một phương tiện tuyệt vời này, đó là Quốc ngữ, đã cho phép tiếng Việt trở thành chính mình !

RFI : Xin cảm ơn Giáo sư Roland Jacques.

*******

Ghi chú

1 - Giáo sư Roland Jacques - người Pháp, nguyên là trưởng khoa Luật Công Giáo Đại học Saint-Paul của Ottawa (Canada) - là tác giả cuốn ''Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học (cho đến năm 1651)'' (dịch sang tiếng Việt năm 2007, NXB Khoa học Xã hội). 1651 là năm ra đời bộ từ điển nổi tiếng Việt - Bồ - La. Ông còn là tác giả cuốn ''Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và sự khởi đầu của Giáo hội Công Giáo tại Việt Nam'' (2004).

2 - Tham luận của Giáo sư Roland Jacques "Vài suy niệm về Francisco de Pina và những bước đầu tiên trong việc hình thành chữ quốc ngữ", tại hội thảo Lisboa, tháng 10/2019 (theo Diendan.org).

3 - "Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX", RFI tiếng Việt, ngày 06/04/2015.

4 - Bản sao bức thư của Pina gửi bề trên, dài 7 trang viết tay bằng tiếng Bồ Đào Nha, điểm xuyết một vài thành ngữ Latinh, một vài từ tiếng Nhật hay tiếng Mã Lai, và đặc biệt đáng chú ý là một số từ ''tiếng Việt chuyển tự'' (lúc đó Quốc ngữ Latinh còn đang manh nha). Bản sao thư này nằm trong số 61 tập lưu trữ (ước tính 60.000 trang), trong bộ sưu tập Jesuítas na Ásia, trong đó có 40 tập có liên quan đến Việt Nam (thư viện Biblioteca da Ajuda, thủ đô Lisboa). Việc chép lại bức thư, mang mã số 49/V/7, được thực hiện vào khoảng giữa thế kỉ XVIII. Giáo sư Roland Jacques gọi đây là ''viên ngọc nhỏ'' trong ''kho báu'', kho báu tức bộ sưu tập Jesuítas na Ásia. Sau khi phát hiện được bức thư, ông đã phải dành hai năm làm việc, ở Hà Nội, để tìm ra được cách giải mã.

Vì sao người Bồ Đào Nha đi tiên phong trong đối thoại ngôn ngữ và văn hóa Âu-Việt ?

(tổng hợp một số nhận định của GS Roland Jacques

trong cuốn ''Những người Bồ Đào Nha…)

Vào thời điểm các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đến Việt Nam, Bồ Đào Nha đã có một nền văn học phong phú bằng tiếng mẹ đẻ, sớm hơn so với nhiều các nước châu Âu cùng thời. Giới nghiên cứu về ngữ pháp và ngữ âm tiếng Bồ đã đạt được nhiều thành tựu trong thế kỷ XVI, hàng chục năm trước khi Pina ra đời.

Trong thời kỳ Phục Hưng này, tại Bồ Đào Nha cùng một số nước Tây Âu khác, như Tây Ban Nha, Ý, Pháp, ngôn ngữ quốc gia trưởng thành mạnh mẽ, bước đầu cạnh tranh với tiếng Latinh, vốn được coi là ngôn ngữ duy nhất của khoa học, lô-gích, văn hóa ở châu Âu.

Thế kỉ XVI, giới trí thức Bồ Đào Nha đã thành công trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ quốc gia. Thành tựu của Duarte Nunes de Leao về chính tả, với cuốn ''Orthographia de lingoa portugesa'' (xuất bản năm 1576), đã đặt những nguyên tắc nền tảng cho Pina và các nhà ngữ học châu Âu sau này. Sự phong phú về mặt phát âm của tiếng Bồ Đào Nha, đặc biệt với các nguyên âm, đòi hỏi những giải pháp chưa từng có, để lại nhiều kinh nghiệm cho những người kế tục trong việc tìm kiếm các ký hiệu tương thích để ghi âm tiếng Việt. Tiếng Bồ được coi là ngôn ngữ gần như duy nhất ở châu Âu mà phạm vi sử dụng tiếng gần như trùng khớp với không gian quốc gia, nói một cách khác tính thống nhất ngôn ngữ rất cao, tương tự như người Việt với nước Việt Nam (tr. 56 – 59).

Pina cũng được thừa hưởng các thành tựu tại Nhật Bản của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, đặc biệt là nhà ngữ học xuất chúng Joao Rodrigues, biệt hiệu là ''Tsuzzu'', nổi tiếng với một bộ từ điển Nhật – Bồ (1603) và một cuốn ngữ pháp tiếng Nhật (1604). Tiếng Bồ đã trở thành công cụ phân tích tiếng Nhật của các thầy tu Dòng Tên ở Nhật Bản, và Pina đã tiếp nối con đường này. Học Viện Macao của Bồ Đào Nha cũng là nơi đào tạo nổi tiếng về tôn giáo phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản).

Bên cạnh việc tiếng Bồ đã đi vào giai đoạn trưởng thành, cùng kinh nghiệm phong phú trong hiểu biết về văn hóa Nhật Bản, Trung Quốc, các giáo sĩ Bồ Đào Nha còn được thừa hưởng gia tài tiếng Latinh, vốn được coi là ngôn ngữ nhân văn, ngôn ngữ phổ quát của thời kỳ Phục Hưng. Tiếng Latinh vào thế kỷ XVII tiếp tục là phương tiện cho phép trí thức các ngành có thể giao lưu một cách thuận thiện và hiệu quả, chứ không chỉ là ngôn ngữ trong nội bộ Giáo hội Công Giáo.
viethoaiphuong
#18 Posted : Friday, January 24, 2020 12:26:53 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)


Bài cúng tất niên chiều 30 Tết theo 'Văn khấn cổ truyền Việt Nam'


Thông thường, lễ tất niên hay được tiến hành vào chiều 30 Tết. Song có những gia đình vì điều kiện thời gian, công việc đã tổ chức vào các ngày trước đó (29, 28 âm lịch).

Để tiến hành nghi lễ này, các gia đình lau chùi, trang hoàng bàn thờ với mâm ngũ quả, hương, hoa tươi, đèn nến đầy đủ; trang hoàng nhà cửa với hoa mai, cành đào, chậu quất... tùy theo phong tục từng vùng miền.

Bài cúng tất niên chiều 30 Tết theo 'Văn khấn cổ truyền Việt Nam'

Sau khi công việc trang hoàng nhà cửa hoàn tất, gia chủ chuẩn bị mâm cỗ cúng tất niên để gặp mặt gia đình cuối năm. Mâm lễ cúng tất niên thường có: Mâm ngũ quả, hương hoa, giấy tiền vàng mã, đèn nến, trầu cau, rượu, trà, bánh chưng (hoặc bánh tét).

Cỗ mặn hoặc chay với đầy đủ các món ăn ngày Tết, được chế biến thơm ngon, bày biện đầy đặn, trang nghiêm. Trong đó, nếu cúng mặn thì không thể thiếu gà trống.

Văn khấn lễ tất niên chiều 30 Tết (Theo Văn khấn cổ truyền Việt Nam - NXB Văn hóa Thông tin):

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần)

- Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương.

- Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

- Con kính lạy ngài Kim niên Đương cai Thái Tuế chí đức tôn thần.

- Con kính lạy các ngài Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

- Con kính lạy ngài Bản xứ Thần linh Thổ địa tôn thần.

- Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ Thổ, Long mạch, Tài thần, Bản gia Táo quân, cùng tất cả các vị thần linh cai quản trong xứ này.

- Con kính lạy chư gia Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tiên linh nội ngoại họ ...

Hôm nay là ngày 30 tháng Chạp năm ...

Tín chủ (chúng) con là: ...

Ngụ tại ...

Trước án kính cẩn thưa trình: Đông tàn sắp hết, năm kiệt tháng cùng, xuân tiết gần kề, minh niên sắp tới.

Chúng con cùng toàn thể gia quyến sắm sanh phẩm vật hương hoa, cơm canh thịnh soạn, sửa lễ tất niên, dâng cúng Thiên Địa tôn thần, phụng hiến Tổ tiên, truy niệm chư linh.

Theo như thường lệ tuế trừ cáo tế, cúi xin chư vị tôn thần, liệt vị gia tiên, bản xứ tiền hậu chư vị hương linh giáng lâm án toạ, phủ thuỳ chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ toàn gia lớn bé trẻ già bình an thịnh vượng, bách sự như ý, vạn sự tốt lành, luôn luôn mạnh khoẻ, gia đình hoà thuận.

Thành tâm bái thỉnh, cúi xin chư vị tôn thần và gia tiên nội ngoại chứng giám phù hộ độ trì.

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy).


(bài trên Net)



viethoaiphuong
#19 Posted : Monday, January 27, 2020 7:35:33 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Tranh dân gian trong Tết cổ truyền Việt Nam

Thu Hằng - RFI - 27/01/2020
Ngoài “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ - Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, Tết xưa còn có tranh dân gian được trang trí trong nhà và cũng để cầu chúc « Phúc-Lộc-Thọ », « Vinh hoa-Phú quý »… Tranh dân gian là một thú chơi ngày Tết rất thịnh hành thời xưa.

Tranh khắc gỗ dân gian xuất hiện sau khi kỹ thuật in mộc bản ra đời. Tuy nhiên, bằng chứng cổ nhất, được giáo sư Philippe Papin nêu lên (1), là những bức tranh trong đền Độc Lôi (xã Nam Giang, tỉnh Nghệ An), được vẽ trong thế kỷ XVIII và hiện được bảo quản ở Hà Nội. Thế kỷ XVII-XVIII cũng là giai đoạn thịnh hành của nghề in mộc bản và tranh dân gia, từ thành thị đến nông thôn. Sau đó, tranh dân gian phát triển mạnh đến đầu thế kỷ XX, rồi giảm dần vào nửa cuối thế kỷ XX.

Thời các làng tranh dân gian nhộn nhịp dịp Tết

Trong những thập niên cuối thời kỳ hưng thịnh của tranh dân gian Việt Nam, nhà nghiên cứu người Pháp Maurice Durand, Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient), đã sưu tập rất nhiều ván khắc và tranh dân gian ; tất cả được giới thiệu trong cuốn Tranh dân gian Việt Nam (Imagerie populaire vietnamienne, 1960).

Tranh dân gian còn được gọi nôm na là tranh Tết vì thường được in và bán vào dịp Tết âm lịch cho khắp nơi ở chợ quê. Tết xưa, Tết nay khác nhau như nào qua những bức tranh dân gian và hoạt động in tranh được miêu tả trong sách của Maurice Durand ? Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiệp, Khoa Lịch sử và Văn bản học, Viện Khảo cứu Cao cấp Pháp (Ecole pratique des Hautes Etudes, EPHE), dịch giả cuốn Tranh dân gian Việt Nam, nhận xét :

« Tết xưa, hay nói chính xác hơn là trước năm 1960, có nghĩa là thời điểm cuốn Tranh dân gian Việt Nam của Maurice Durand ra đời, có vẻ như là chúng ta cảm nhận được các hoạt động Tết cổ truyền rất là sôi nổi, tức là các làng tranh truyền thống nhộn nhịp, sôi nổi làm tranh trước đó một vài tháng để có thể bán cho mọi người vào dịp Tết. Và hoạt động buôn bán diễn ra rất nhộn nhịp. Đó là hoạt động kinh tế gần như là chính của các làng truyền thống. Các gia đình, từ thành thị đến nông thôn, gỡ những tranh năm cũ và dán tranh mới lên tường, những tranh trang trí trên bàn thờ tổ tiên, hoặc là tranh trừ tà trong nhà hoặc trước cổng để xua đuổi tà ma và hy vọng một năm mới an lành.

Nhưng mà xã hội hiện đại bây giờ, tôi thấy hội họa rất là phát triển và những bức họa nổi tiếng rất đắt tiền được treo trong nhà nhưng mà treo hết năm này qua năm khác mà không có sự đổi thay vào dịp Tết, vào dịp Năm mới. Hoặc là người ta có thể bày biện những loại hoa quả theo ý muốn, thậm chí có những loại hoa quả rất là lạ và đắt tiền, những loại hoa quả rất lai tạp, chứ không như những loại quả truyền thống như chúng ta thường thấy ở nông thôn Việt Nam xưa. Sự sắp xếp, trưng bày cũng không theo một trật tự hay một ý nghĩa nhất định mà cứ tùy thích làm ».

Bốn làng tranh truyền thống

Như nhiều nghề thủ công khác, làm tranh dân gian cũng thường theo truyền thống « cha truyền con nối ». Mỗi nhà còn có bí quyết, kinh nghiệm riêng để tạo nét đặc trưng, từ cách xử lý giấy, hình vẽ, mầu sắc đến cách in từng lớp mầu. Trong thời kỳ hưng thịnh, tranh dân gian được được bán từ cửa hiệu đến hàng rong trên phố, và được mọi tầng lớp xã hội ưa chuộng vì thể hiện đời sống thường nhật của người Việt. Giá trị của tranh dân gian được nhà nghiên cứu Maurice Durand phân tích rất rõ trong cuốn sách, theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hiệp :

« Ông phân tích rất chi tiết giá trị của tranh dân gian Việt Nam nói chung, thể hiện qua các loại tranh, như tranh chúc tụng, tranh biểu tượng cầu chúc, tranh cầu phúc, bùa trừ tà, tranh về tín ngưỡng tôn giáo, tranh giải trí châm biếm, tranh minh họa các tác phẩm văn học… Nhưng ở ông, không có sự phân biệt các dòng tranh cụ thể như chúng ta thường thấy hiện nay ».

Tranh dân gian có bốn dòng chính : Tranh Đông Hồ của Bắc Ninh, tranh Hàng Trống ở Hà Nội, tranh Kim Hoàng của Hà Tây và tranh làng Sình của Huế.

« Dòng tranh Đông Hồ là dòng tranh khắc ván, sử dụng ván gỗ để in tranh trên giấy điệp và số lần in phụ thuộc vào số lượng màu của tranh. Đề tài khá là phong phú, thể hiện mọi mặt của đời sống xã hội và nhất là đời sống nông thôn thời xưa của Việt Nam.

Tranh Hàng Trống chủ yếu là tranh thờ, đặc biệt khai thác các chủ đề về tín ngưỡng với những gam mầu rất nổi trội. Tranh Kim Hoàng thì kết hợp nhiều kỹ thuật nhưng điểm khác biệt là chất liệu giấy. Họ sử dụng các loại giấy đỏ, giấy hồng điều hoặc là giấy Tàu vàng. Còn tranh làng Sình ở Huế là loại tranh thờ, tranh cầu phúc, được làm với kỹ thuật khá thô sơ và với họa tiết khá đơn giản ».

Cố học giả Lê Văn Hòe từng nêu cảm xúc riêng trong bài viết « Lẽ sống của tranh gà, tranh lợn » đăng trong tạp chí Xuân Văn Nghệ, Quý Tỵ, 1953. Đối với ông, « Tranh gà tranh lợn đỏ như xôi gấc, vàng như màu lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày,toàn mầu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời người rồi. Những mầu sắc ấy in sâu vào tâm não người nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực rỡ của tranh Tàu, tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh, đỏ thô kệch, điềm đạm, thật thà của tranh lợn, tranh gà ».

Tiếc là đến nay, tranh Kim Hoàng bị thất truyền từ lâu, tranh Hàng Trống chỉ còn một người giữ lại, làng tranh Đông Hồ cũng chỉ còn vài nghệ nhân. Có lẽ cuốn sách Tranh dân gian Việt Nam của Maurice Durand, cũng như kho tranh và ván khắc được lưu ở Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris, phần nào giúp những người tâm huyết khôi phục nghề truyền thống này ở Việt Nam ?

Khôi phục nghệ thuật dân gian Việt Nam

Trong lần xuất bản đầu tiên, do kỹ thuật in ấn còn hạn chế trong thập niên 1960, cuốn Tranh dân gian Việt Nam chỉ được in đen-trắng, cách sắp xếp tranh cũng khá lộn xộn. Nhưng đến năm 2011, giáo sư Philippe Papin thuộc Viện Khảo cứu Cao cấp Paris và ông Marcus Durand là con trai của tác giả đã tiến hành biên soạn lại và tái bản bộ sách (2).

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Hiệp, công việc chụp lại tranh, phủ mầu cho một số bức tranh do ông Marcus Durand thực hiện. Giáo sư Philippe Papin chịu trách nhiệm biên soạn lại và sắp xếp theo những chủ đề rất rõ ràng và dễ theo dõi cho độc giả :

« Ấn bản mới này hoàn hảo hơn nhiều so với ấn bản đầu tiên nhờ sự sắp xếp lại hợp lý hơn và tất cả các bức tranh được chụp lại với kỹ thuật và chất lượng cao, được đánh số, sắp xếp lại và văn bản cũng được biên tập, chú thích lại.

Ấn bản này gồm 473 bức tranh, có những bức tranh giống nhau về chủ đề nhưng khác nhau về mầu sắc và họa tiết. Đó là một bản có cả tranh mầu và tranh đen trắng và được xếp theo năm chủ đề chính : Cuộc sống thường nhật và nhịp độ thiên nhiên ; Tranh tôn giáo, tín ngưỡng ; Tranh minh họa lịch sử ; Tranh minh họa văn học Việt Nam ; Tranh minh họa văn học Trung Quốc ».

Năm 2017, cuốn Tranh dân gian Việt Nam được dịch sang tiếng Việt và do Nhà xuất bản Văn hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2018. Cuốn Tranh dân gian Việt Nam được Hội đồng Giải thưởng sách Quốc gia trao tặng giải B năm 2019. Giải A được trao cho hai bộ sách tập thể rất lớn gồm hàng chục tập, trong đó có một bộ về lịch sử Nam Bộ do giáo sư Phan Huy Lê chủ biên lúc sinh thời.

« Việc dịch thuật cuốn sách này cũng vấp phải khá nhiều khó khăn vì cuốn sách này được sử dụng bốn ngôn ngữ khác nhau, tiếng Pháp, tiếng Việt, chữ Hán và chữ Nôm. Và đề tài của cuốn sách cũng rất phong phú, nên khi dịch, tôi phải tham vấn rất nhiều đồng nghiệp, bạn bè, tùy theo từng chuyên môn để dịch cho chính xác.

Và nhóm chúng tôi có trao đổi với nhau để thống nhất về thuật ngữ, thống nhất về ý nghĩa của từng bản dịch một, ví dụ như một số bản dịch có cả nguyên bản chữ Hán và có bản tiếng Pháp, thì chúng tôi phải kết hợp cả hai bản làm sao cho thống nhất về ý nghĩa. Sau đó, khi lên trang, thì bản Việt ngữ phải làm sao cho nó ngắn gọn, súc tích nhưng mà phải đầy đủ ý để khớp với tranh vẽ của trang đó, không được tràn sang trang khác. Rồi chữ Nôm và chữ Hán, chữ Pháp, chữ Việt vào cùng một phông, cho nên bị nhảy chữ và một số chữ Nôm, chữ Hán bị biến thành một chữ khác, mà đôi khi mình không thể nào kiểm tra hết được ».

Cuốn sách dày 452 trang là một công trình công phu, trình bày rất đẹp mắt, từ chất lượng giấy đến mầu sắc. Một dấu hiệu đáng mừng cho thấy tranh dân gian vẫn còn thu hút độc giả hiện nay vì toàn bộ số lượng sách được phát hành lần thứ nhất đã bán hết. Lần tái bản sắp tới được dự kiến vào khoảng quý I năm 2020.


Đám cưới chuột, trong mục Cuộc sống thường nhật và nhịp độ thiên nhiên, trích từ cuốn Tranh dân gian Việt Nam của Maurice Durand, NXB Văn hóa-Văn nghệ TP HCM, 2017. Ảnh do dịch giả cung cấp.


(1) Papin Philippe, La diversité de l’imagerie vietnamienne et les figures de la vie ordinaire (Sự đa dạng của tranh dân gian Việt Nam và muôn mặt đời thường). In : Arts asiatiques, tome 66, 2011, pp. 83-98.

(2) Cuốn Imagerie populaire vietnamienne, tái bản năm 2011 được Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn chương của Pháp trao giải vào tháng 05/2011.

viethoaiphuong
#20 Posted : Thursday, January 30, 2020 9:46:31 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 9,337
Points: 11,166

Thanks: 763 times
Was thanked: 137 time(s) in 136 post(s)

Chùa Việt, chốn bình yên của nhiều người Việt Nam tại Pháp


Linh Sơn tự viện ở Joinville-Le-Pont, ngoại ô phía đông Paris.

Thùy Dương - RFI - 24/01/2020
Tròn một tháng sau dịp lễ Giáng Sinh và Tết tây, người Việt lại đón Tết Nguyên Đán. Dỡ cây thông trang trí Noel, nhiều người ở Pháp lại trang hoàng nhà cửa, mua cành đào, cây quất, cắm lọ hoa, gói bánh chưng đón chào thời khắc bước sang năm Canh Tý 2020.

Và đây cũng là dịp bà con tạm gạt sang một bên những lo toan thường nhật để đón một cái Tết ấm cúng. Với nhiều người sống xa quê, đi chùa là một hoạt động không thể thiếu trong dịp Tết cổ truyền. Không chỉ đi lễ, cầu cúng, với họ, lên chùa là để tìm về chốn thanh bình, để tâm an lạc.

Nhân dịp Tết Canh Tý, RFI có dịp trò chuyện với nhiều người Việt Nam sinh sống tại Pháp. Dù mới sang học tập, làm việc hay đã định cư lâu năm nơi đây, họ cũng đều duy trì thói quen đi chùa, thậm chí nhiều người còn đi chùa nhiều hơn so với khi còn ở quê nhà. Đó là trường hợp của chị Thúy Hằng, sống tại ngoại ô Paris. Chị chia sẻ:

« Tôi tên là Hằng, tôi sang Pháp đã được 13 năm rồi. Tôi cũng hay đi chùa bên Pháp. Một năm thì thường vào các dịp lễ Tết và rằm hay là lễ Phật Đản thì tôi sẽ đi chùa với gia đình. Thường thì tôi hay đi chùa ở gần nhà. Đó là chùa Linh Sơn và chùa Quan Âm. Những chùa này thì tôi thường đi vào dịp rằm, hay khi có giỗ cúng người thân bên gia đình nhà chồng, bởi vì gia đình chồng tôi đã sống ở đây được 40 năm rồi. Hoặc là đôi khi cần cho tinh thần mình khuây khỏa, hoặc cần cầu khấn điều gì đó thì mình cũng hay đi chùa.

Còn vào những dịp lễ lớn như là Tết, hay Trung Thu, lễ Phật Đản thì tôi đi những chùa lớn hơn. Đó là chùa Khánh Anh ở Evry. Chùa này là chùa lớn nhất ở Pháp, đúng hơn phải nói là chùa lớn nhất châu Âu. Thường thì lúc đi chùa tôi hay đi với cả gia đình luôn, và có cả má chồng, chồng, các anh chị em bên nhà chồng và cả các cháu nữa.

Ở Việt Nam, tôi cũng hay đi chùa, nhưng có lẽ là không thường xuyên như ở bên Pháp, vì ở Việt Nam mình chỉ đi vào những dịp lễ tết thôi. Tuy nhiên, lúc sang Pháp mình cũng may mắn vì gia đình chồng là người Việt Nam ở đây đã lâu rồi. Má chồng mình rất là thích đi chùa nên mình cũng có dịp để đi theo.

Vào những dịp như là Tết ta thì tôi cũng ráng cùng chồng và má chồng đi lễ chùa vào trước nửa đêm để mình đi hái lộc. Cái này cũng là một cái hay vì ở bên Pháp không có không khí Tết như ở Việt Nam đâu, bên này họ chỉ có tổ chức dịp Noel hay Tết tây thôi, còn Tết Việt Nam là hoàn toàn không có không khí. Nếu mình ở xa, nơi đất khách quê người, để duy trì được truyền thống hay không khí Tết thì mình phải tự tạo ra bằng cách mình đi đến chùa lễ rồi đi hái lộc đầu năm, 12h đêm, 1h sáng chùa vẫn mở cửa ».

Đi lễ chùa vào đúng thời khắc giao thừa cũng là thói quen của chị Đinh Thị Hồng Thêu, một nghiên cứu sinh tại Pháp. Chị Hồng Thêu chia sẻ: « Tết Nguyên Đán thì mình cũng vẫn định đến chùa Hoa Nghiêm. Mọi năm thì mình cũng vào chùa Hoa Nghiêm hoặc có dự lễ giao thừa trong đó. Còn năm ngoái thì không vào được vì con trai mình bị ốm đúng dịp đấy. Năm trước thì mình cũng vào, năm mới sang thì mình cũng vào trong đó, có hái lộc, có lễ cúng giao thừa.

Mình có thể rút thẻ, như ở Việt Nam gọi là thẻ, nhưng ở đây mình rất ấn tượng với việc là các sư thầy sư cô có trích những câu từ Kinh Pháp Cú. Mình với bạn mình mỗi người rút một cái rất ngẫu nhiên thôi nhưng cảm thấy rất đúng với chính bản thân mình, ai cũng cảm thấy ngạc nhiên sao đúng thế, rồi sau đó cũng có làm lễ, có đầy đủ hết các thủ tục, có cảm giác thân thuộc như mình vẫn ở Việt Nam ».

Sang Pháp, trong năm, chị Hồng Thêu vẫn giữ thói quen đi chùa như hồi còn ở Việt Nam. Chị giải thích thêm: « Tôi ở Pháp đã được 3 năm và tôi đã đi khá nhiều chùa ở Pháp. Tôi là người rất thích đến các chùa, bởi vì tôi luôn tìm thấy sự bình yên, an lạc bên trong khi đến chùa, chùa ở Việt Nam cũng thế mà ở Pháp cũng thế. Nhưng có lẽ ở Pháp bận hơn một chút và chùa ở Pháp thì không gần và không dễ để đi như chùa ở Việt Nam nên tôi đi cũng ít hơn, nhưng so với mọi người thì tôi đi cũng khá là nhiều.

Các chùa ở Paris mà mình đi thì khá nhỏ nhưng mà khá là đẹp, khá bình yên. Khi đến chùa ở Pháp thì thấy không rộng như ở Việt Nam, hoặc là do tôi chỉ đi một số chùa nhỏ nhỏ bên này, nhưng thấy cảm giác rất thân thiện, gần gũi, rất là dễ chịu, mình rất dễ gặp các quý sư thầy, sư cô trong chùa ở Pháp để nói chuyện, để có thể hỏi, có thể nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ của các sư thầy, sư cô bên này.

Ở Paris, chùa mà tôi hay đi nhất chính là chùa Hoa Nghiêm. Chùa Hoa Nghiêm ở Villeneuve Le Roi. Đây là chùa mà tôi được sư thầy của tôi ở Việt Nam giới thiệu khi tôi sang Pháp. Khi tôi bắt đầu Pháp, sư thầy có cho tôi địa chỉ liên lạc của sư cô ở chùa Hoa Nghiêm. Đây là chùa mình hay đi nhất. Trước đây, mình hay đi vào cuối tuần, nhưng sau này thì công việc khá bận, mình lại có con nhỏ bên này nữa, chùa lại không gần nên mình cũng đi ít hơn, nhưng đây vẫn là chùa mình đi nhiều nhất. Vì chùa có hai sư cô cũng khá lớn tuổi, vào đấy mình có thể giúp được các sư cô, giúp chùa những việc công quả như là dọn dẹp hay tham gia vào quá trình nấu nướng và được tham gia làm lễ.

Ngoài ra, tôi có đi Thiền Viện Trúc Lâm để ngắm cảnh, đi chùa Khuông Việt. Tôi có đi một số chùa ở tỉnh, ví dụ như chùa ở Noyant, chùa ở Lille, chùa Hộ Quốc ở Lille, chùa Pháp Vương ở Noyant. Khi sang Đức thì cũng có đi Viện Phật học ứng dụng châu Âu, tức là một nhánh của Làng Mai, của thiền sư ông Thích Nhất Hạnh ».

Dù thường xuyên có dịp đi lễ chùa hay không, đi chùa nào đi chăng nữa thì với nhiều bà con, lòng thành tâm vẫn là quan trọng nhất. Đó cũng là chia sẻ của anh Kiều Ân, một người sống xa Việt Nam đã hơn hai chục năm.

« Gia đình tôi ở Pháp cũng được hơn 20 năm rồi. Hàng năm thì nhà tôi cũng hay đi chùa, thường là vào những dịp quan trọng, chẳng hạn như vào Tết âm lịch hoặc Lễ xá tội vong nhân. Nói chung là gia đình chúng tôi cũng cố gắng đi chùa, khi nào có thời gian thì chúng tôi thường cố gắng lên chùa chơi. Gia đình tôi đã đi hầu hết các chùa ở vùng Ile-de-France (Paris và vùng phụ cận), chẳng hạn như chùa Trúc Lâm, chùa Khánh Anh, hoặc chùa Linh Sơn. Về cơ bản, tôi không thấy chùa ở bên Pháp khác chùa ở Việt Nam lắm và vào những dịp lễ lớn thì tôi thấy cũng có nhiều bà con đi chùa.

Tết năm nay thì gia đình tôi cũng cố gắng bố trí thời gian để đi chùa vì đây là dịp quan trọng đầu năm. Các cháu nhà tôi cũng rất thích đi chùa, các cháu nói với tôi là lên chùa rất là thanh bình và các cháu cũng rất thích ăn cơm chay ở chùa. Tôi nghĩ là đi chùa nào không quan trọng, vì chùa nào cũng thờ Đức Phật, quan trọng là lòng thành tâm của mình thôi! »

Đa phần những người được RFI phỏng vấn đều nói chùa mà họ đi thường không mấy khác biệt so với ở Việt Nam. Còn chị Thúy Hằng cho biết thêm : « Thường thì chùa ở Việt Nam mình thấy rất đẹp, yên tĩnh hơn, còn ở Pháp chùa hay được xây ở những nơi gần đường đi nên không yên tĩnh bằng ở Việt Nam. Tuy nhiên, chùa bên Pháp cũng có những cái hay riêng, rất sạch sẽ và văn minh. Những người đến chùa đa phần là người Việt hoặc người Tàu, còn người Lào, Thái, Campuchia thì họ thường đi những chùa khác. Còn những chùa mà mình biết đến thì thường thường người Việt Nam và người Tàu có rất là nhiều.

Khi đến chùa, mỗi khi đến dịp như rằm hay lễ tết thì trong chùa họ hay làm công quả. Có những người đến làm công quả, người ta làm những món ăn chay để bán cho những người đi lễ chùa mua, mà họ làm rất là ngon. Chính vì thế trẻ con, khi đi cùng bố mẹ, cũng rất thích, thích ăn đồ ăn chay. Sau khi họ bán đồ ăn chay cho những người đi lễ chùa, thì tiền họ thu được họ sẽ cho vào quỹ để chùa có thêm tiền tu bổ, hoặc họ làm các chương trình từ thiện nữa. Đó là điều tôi rất thích ở bên Pháp ».

Chùa Hoa Nghiêm, Linh Sơn, Khánh Anh … là những cái tên quen thuộc với người Việt Nam tại Paris và vùng phụ cận. Nhưng không chỉ có người Việt đến lễ chùa, có những người Pháp, nhất là những người lập gia đình với người Việt và rất gắn bó, có tình cảm “sâu nặng” với Việt Nam cũng rất thích chùa Việt. Đi lễ chùa cũng là dịp để họ gặp gỡ, giao lưu người Việt và tìm được cảm giác yên bình. Đó là trường hợp của anh Benjamin Couéraud, sống ở ngoại ô Paris. Trả lời phỏng vấn đài RFI ngày 19/01/2020, anh chia sẻ bằng tiếng Việt :

« Có những người Việt Nam thích đi chùa thường xuyên, tức là đi mỗi tuần một lần hoặc nhiều hơn. Nhưng mà tôi không thường xuyên đi chùa, tôi chỉ đi chùa vào những ngày lễ hội như là Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, lễ Phật Đản và lễ Vu Lan nữa. Sắp tới, có Tết Nguyên Đán thì tôi sẽ tham gia hoạt động của chùa Hoa Nghiêm.

Ở Việt Nam, tôi đã đi mấy chùa ở Hưng Yên và đi chùa Ốc ở Cam Ranh. Còn ở Pháp thì tôi đi chùa Linh Sơn ở Joinville Le Pont và chùa Hoa Nghiêm ở Villeneuve Le Roi. Tôi cảm thấy như ở Việt Nam 100% và tôi có thể gặp rất nhiều người Việt Nam. Ngoài việc làm lễ thì luôn có bữa ăn cơm với tất cả mọi người. Họ là những người liên kết với chùa, bỏ ra rất nhiều công sức để chuẩn bị một bữa ăn chay rất ngon và miễn phí cho tất cả những người đến. Đây là một cơ hội rất lớn để gặp người Việt Nam, nói chuyện và trao đổi.

Tôi không tham gia hoạt động tôn giáo khi có nhiều người vì cảm thấy không thoải mái, nhưng khi nào có ít người thì tôi thích lên chùa và suy ngẫm. Thỉnh thoảng lại gặp người giải thích thêm cho mình về Phật giáo, tôi rất thích. Thêm nữa, con gái tôi rất thích đi chùa, nó cảm thấy đó là nơi rất yên bình và thiêng liêng, cho nên nó đặt rất nhiều câu hỏi. Tôi có thể nói chuyện với những người trong chùa để trả lời nó. Có một bí mật, một chi tiết nhỏ nhỏ là tôi rất thích mùi thơm, khi đi chùa người ta đốt hương rất nhiều là tôi rất thích. Tôi cảm thấy đó là nơi rất yên bình. »

Bình yên khi đi chùa là cảm giác được nhiều người nhắc tới nhất khi được RFI phỏng vấn. Đối với họ, đi chùa không chỉ là để cầu khấn mà còn là để tìm được sự bình an trong tâm hồn và thấy lại được cảm giác “thân thuộc như đang ở Việt Nam”.
Users browsing this topic
Guest
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.