Welcome Guest! To enable all features please Login. New Registrations are disabled.

Notification

Icon
Error

22 Pages«<202122
Nhac & Bảo Tàng tranh ảnh nghệ thuật...
viethoaiphuong
#421 Posted : Tuesday, October 8, 2019 12:41:56 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 8,511
Points: 8,685

Thanks: 728 times
Was thanked: 72 time(s) in 71 post(s)

Paris : Nhà hát Châtelet mở cửa trở lại

Tuấn Thảo - RFI - ngày 07-10-2019


Nhà hát Châtelet (Théâtre du Châtelet) được xây cất vào năm 1862
Tuấn Thảo / RFI

Sau hơn hai năm đóng cửa trùng tu, nhà hát Châtelet vừa được khai trương trở lại, tiếp đón khán giả vào đầu mùa thu năm 2019. Chi phí công trình sửa chữa lên tới hơn 30 triệu euro, phần lớn do Tòa đô chính Paris đảm nhận, phần còn lại nhờ vào sự tài trợ của tập đoàn khách sạn Accor.

Trong giai đoạn cuối cùng của quá trình trùng tu, toàn bộ hệ thống điện cũng như các kỹ thuật sân khấu mới đã được lắp đặt lại. Sân khấu chính, phòng diễn tập hay trong hậu trường, các hệ thống chữa cháy, lò sưởi hay thông gió đã được làm lại đúng theo tiêu chuẩn an toàn thời nay. Nhà hát Châtelet được tân trang bên trong cũng như bên ngoài.

Các bức tượng thiên thần bằng đồng được dựng lại ở trên nóc nhà hát. Còn 4 bức tượng bằng đá trắng nguyên là 4 môn nghệ thuật được nhân cách hoá, đã từng biến mất vào đầu thế kỷ 20, cũng được khôi phục. Dựa vào những bức ảnh chụp lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp, các nhà điêu khác đã tạc lại 4 bức tượng y hệt như thời nhà hát vừa được xây cất. Bốn pho tượng này là hiện thân của Nghệ thuật Múa, Âm Nhạc, Chính Kịch và Hài Kịch được dựng ngay ở mặt tiền nhà hát.


Pho tượng thiên thần được dựng trên nóc nhà hát. Còn mặt tiền có 4 tượng đá tượng trưng cho nghệ thuật Múa, Âm Nhạc, Chính Kịch và Hài Kịch
Tuấn Thảo / RFI

Trong hội trường với 2.000 chỗ ngồi và sân khấu lớn, trần nhà bằng kính chiếu sáng từ bên trong cũng như các chùm đèn thủy tinh, tất cả đã được tân trang, theo đúng phong cách thời Đệ Nhị Đế chế (Second Empire) dưới triều đại Napoléon Đệ Tam. Theo trưởng ban đặc trách công trình trùng tru, các kiến trúc sư đã muốn khôi phục lại phong cách tân cổ điển thế kỷ 19, khá đơn giản khi thoạt nhìn từ phía ngoài, nhưng nhiều chi tiết tỉ mỉ hoành tráng ở bên trong. Tóm lại, công trình sửa chữa đã khôi phục lại nét lộng lẫy rực rỡ của nhà hát Châtelet, rất gần với những gì họ đã thấy qua các tài liệu lưu trữ có từ thời nhà hát này mở cửa vào giữa thế kỷ 19.


Được hoàn tất vào năm 1862, Nhà hát Châtelet (Théâtre du Châtelet) đã ra đời cùng lúc với Nhà hát Thành phố (Théâtre de la Ville). Hoàng đế Napoleon Đệ Tam đã quyết định xây dựng hai nhà hát này để làm giảm nỗi bất bình của người dân Paris thời bấy giờ. Trong quá trình quy hoạch đô thị nhằm hiện đại hóa ‘‘Kinh đô Ánh sáng’’, nam tước Haussmann đã cho san bằng bảy nhà hát nhỏ nằm dọc đường Boulevard du Temple. Vào mùa xuân năm 1862, Théâtre du Châtelet đã được khánh thành với sự hiện diện của Hoàng hậu Eugénie, vợ của hoàng đế Napoléon III. Thuộc quyền sở hữu của Thành phố Paris, nhà hát Châtelet sau đó đã được đưa vào danh sách các Di sản Thế giới của UNESCO từ năm 1991.

Nhà hát Châtelet được xây cất cùng lúc với Nhà hát Thành phố (Théâtre de la Ville), thời hoàng đế Napoleon Đệ Tam

Trái với các sân khấu khác ở thủ đô Paris, nhà hát Châtelet được điều khiển bởi một êkíp chứ không phải là một giám đốc duy nhất. Hai đồng giám đốc Ruth Mackenzie (người Anh) từng điều khiển liên hoan Holland Festival và Thomas Lauriot dit Prevost (người gốc Bỉ) từng là giám đốc Théâtre de la Monnaie ở Bruxelles, cùng đặt mục tiêu mở rộng các bộ môn nghệ thuật hầu phổ biến rộng rãi hơn đối với những thành phần (nhất là giới trẻ) vẫn còn xem kịch opéra hay múa ballet là những hình thức nghệ thuật nặng tính ‘‘hàn lâm’’.

Kể từ ngày được khai trương vào mùa thu 2019 cho tới mùa hè năm 2020, ban giám đốc bán 10.000 vé với giá 10€ cho giới trẻ dưới 25 tuổi. Bên cạnh đó, có 1.000 vé miễn phí sẽ đưựoc tặng cho các hiệp hội hay trường học có nhu cầu nhưng không có đủ phương tiện tài chính. Sáng kiến này do hiệp hội Robins des Bois đề xướng, chủ yếu để thu hút thêm giới trẻ, ngoài việc đi xem biểu diễn, họ còn được khuyến khích gia nhập các xưởng sáng tác nghệ thuật, phát huy năng khiếu qua việc tham gia vào quá trình sáng tạo.


Nhà hát Châtelet là nơi trao César, giải thưởng điện ảnh hàng năm của Pháp
REUTERS/Charles Platiau

Mục tiêu của ban giám đốc là tìm thế cân bằng trong việc giới thiệu các tài năng Pháp cũng như đến từ nước ngoài. Trong thời gian đầu, nhà hát chủ yếu chọn những tác phẩm đã từng thành công trên sân khấu này như vở múa đương đại của William Forsythe “A Quiet Evening of Dance” từng được giới phê bình tán thưởng tại Liên hoan Nghệ thuật múa Montpellier, nghệ sĩ Abd el Malik giới thiệu vở kịch “Les Justes” của văn hào Albert Camus, hay là vở nhạc kịch lừng danh Broadway “An American in Paris” (Một người Mỹ ở Paris) từng được biểu diễn tại Châtelet, nay chuẩn bị trở lại trên cùng một sân khấu ……

Trong cách dựng chương trình biểu diễn cho mùa 2019-2020, ban giám đốc thời nay đã muốn cho thấy họ vẫn trung thành với tính cách đa nghệ thuật của nhà hát Châtelet. Kể từ khi được xây dựng, Châtelet đã không bị ‘‘đóng khung’’ trong một hình thức biểu diễn. Nhiều vở kịch của các tác giả nổi tiếng như La Reine Margot của Alexandre Dumas, Germinal của Émile Zola hay Le Bossu của Paul Féval đã được dựng trên sân khấu nhà hát.

Chi phí công trình sửa chữa nhà hát Châtelet lên tới 30 triệu euro

Đầu thế kỷ 20, nhà hát Châtelet đã giới thiệu với công chúng Pháp các tác phẩm của những nhạc sĩ đương thời như Georges Bizet, Camille Saint-Saëns, Jules Massenet, Maurice Ravel …. cũng như những nhà soạn nhạc cổ điển thời trước như Mendelssohn, Wagner, Liszt, Schumann, Brahms .... Ngoài là sân khấu yêu chuộng nhất của các đoàn múa ballet Nga, nhà hát này cũng đã từng gây scandal qua các tác phẩm táo bạo như “Le Martyre de Saint-Sébastien” của Gabriele D'Annunzio và Claude Debussy, hay là “Parade” của Jean Cocteau và Erik Satie. Cũng chính với một phiên bản mới của tác phẩm này, nhà hát Châtelet đã được khai trương trở lại.

Về phía ca nhạc, nhà hát Châltelet từng tiếp đón nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như diva quá cố người Mỹ Jessye Norman, đã nhiều lần dưng chân tại Paris trong các vòng lưu diễn châu Âu của bà. Ngoài ra còn có hai đợt biểu diễn để đời của Barbara vào năm 1987 và 1993. Hình ảnh của phu nhân tóc huyền ngồi đàn trên sân khấu Châtelet từ đó đi vào lòng người mến mộ.
viethoaiphuong
#422 Posted : Sunday, October 13, 2019 12:54:45 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 8,511
Points: 8,685

Thanks: 728 times
Was thanked: 72 time(s) in 71 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 12 tháng 10 năm 2019

Vĩnh biệt ‘‘Hoàng tử nhạc tình’’ José José


José José có tên trên Đại lộ Danh vọng Hollywood năm 2004 Lucy Nicholson / Reuters

Được mệnh danh là Vị hoàng tử của dòng nhạc trữ tình, nam ca sĩ người Mêhicô José José là một trong những giọng ca lẫy lừng nhất châu Mỹ La Tinh. Theo nguồn tin từ phía gia đình, ông qua đời hôm 29/09/2019 vì bệnh ung thư, hưởng thọ 71 tuổi tại một bệnh viện bang Florida, Hoa Kỳ.

Lúc ông còn sống, giới hâm mộ từng xây dựng một tượng đài ở công viên Claveria, nơi ông từng sinh ra, để vinh danh nam ca sĩ. Điều đó đủ cho thấy tầm ảnh hưởng cũng như vị trí của José José trong làng nhạc La Tinh. Khi biết tin ông vừa qua đời, hàng trăm người dân thủ đô Mexico đã tụ tập về đây để cầu nguyện và đốt nến tưởng niệm.

Sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, José José (1948-2019) từ nhỏ đã thừa hưởng năng khiếu nghệ thuật của song thân. Bố ông (José Sosa Esquivel) là một giọng ca tenor nổi tiếng làng kịch opéra, còn mẹ ông (Margarita Ortiz) là nghệ sĩ dương cầm cổ điển. Từ nhỏ ông học hát và học đàn ghi ta. Cùng với hai người bạn (Paco Ortiz, Alfredo Benítez), ông thành lập ban nhạc trẻ đầu tiên năm ông 15 tuổi (1963). Điều mà gia đình ông không hề tán đồng, do ở nhà bố mẹ ông chỉ nghe dòng nhạc hàn lâm, các nghệ sĩ cổ điển.

José José chính thức vào nghề ca sĩ năm 17 tuổi, qua việc ghi âm đĩa đơn đầu tay (năm 1965) với hãng đĩa Orfeón. Tuy ghi âm lại các bài phóng tác của nhạc phẩm Il Mondo (Thế giới) của Jimmy Fontana và Ma Vie (Đời tôi) của Alain Barrière, nhưng ông lại gặp thất bại... Dù vậy, José José vẫn không thất vọng nản chí và ông phát hành album đầu tiên vào năm 1969, với những bản bolero và những tình khúc lãng mạn hòa quyện với một chút ảnh hưởng của nhạc jazz và bossa nova.

Ngay từ album đầu tay, ông đã lấy nghệ danh José José, chữ José đầu tiên là tên thật của ông và chữ José thứ nhì, là để tưởng niệm thân phụ của ông đã qua đời một năm trước đó (vào năm 1968) vì chứng nghiện rượu. Album này đánh dấu thành công bước đầu trong sự nghiệp ca hát của ông. Bản nhạc La Nave del Olvido (Con thuyền quên lãng) của Dino Ramos, tác giả người Argentina giúp cho ông thành danh trong làng nhạc Mêhicô.

Thành danh nhờ Liên hoan Ca khúc La Tinh

Đúng một năm sau, vào mùa xuân năm 1970, ông đại diện cho Mêhicô tại Liên hoan Ca khúc La Tinh (Festival de la Canción Latina) với tình khúc El Triste do nhạc sĩ Roberto Cantoral sáng tác. Cho dù ông chỉ đứng hạng ba sau các thí sinh đại diện cho Brazil và Venezuela, nhưng giới phê bình cũng như công chúng đều tán thưởng lối diễn đạt xuất thần của ông.

Do liên hoan này được phát sóng qua truyền hình vệ tinh, nhạc phẩm El Triste là ca khúc đầu tiên của José José thành công trên thị trường quốc tế, điều đó mở đường cho ông lưu diễn Nam Mỹ. Còn bài hát El triste được xuất bản tại Châu Âu, Brazil, Israel và Nhật Bản.

Kể từ đầu những năm 1970 trở đi và trong hơn hai thập niên liền, José José trở thành một trong những ca sĩ chuyên hát tình ca nổi tiếng nhất ở châu Mỹ Latinh, không ngại sự cạnh tranh với các ca sĩ hàng đầu khác chuyên hát tiếng Tây Ban Nha như Julio Iglesias, Nino Bravo, Danny Rivera hay là Camilo Sesto. Trong giai đoạn thành công rực rỡ nhất, José José đã biểu diễn trên những sân khấu có nhiều uy tín như Madison Square Garden, Radio City Music Hall hay là nhà hát lớn tại sòng bạc The Dunes ở Las Vegas.

Hầu như năm nào ông cũng đều có ghi âm những bài hát lập kỷ lục số bán, trong số này có những bài như Del Altar A La Tumba, De Pueblo ở Pueblo, Cuando Tu Me quieras, Dejame Conocerte (phiên bản tiếng Tây Ban Nha của Paul Anka), El Amar y El Querer, Gavilán o Paloma, El Amor Acaba, No Me Platiques Mas, Piel De Azucar và nhất là nhạc phẩm El Principe, bởi vì từ bài hát này mà ông được giới hâm mộ đặt cho biệt danh "El Príncipe de La Canción" (Hoàng tử Ca Nhạc).

José José hát nhạc tình như một người viết nhật ký hay tự truyện. Tiêu biểu nhất là những bài như El Triste hay là Mi Vida (của tác giả Rafael Pérez Botija, nhà soạn nhạc này đã tặng cho ông rất nhiều bài hát ăn khách). Nhân vật trong ca khúc thường hay khóc thương cho số phận của chính mình, ông mượn giai điệu để kể lể bao tâm tư nỗi niềm, những uẩn khúc làm con tim ray rứt nỉ non, cho tâm hồn chút than vãn ai oán. Có lẽ cũng vì thế những bài hát của ông lại trở nên gần gũi, thậm chí là một niềm an ủi đối với những kẻ tuyệt vọng, thất tình.

Những khúc nhạc tình cực kỳ lãng mạn, ca từ trau chuốt nhờ những tác giả hàng đầu, những yếu tố ấy hòa quyện với chất giọng mượt trầm giúp cho José José trở thành vị tinh tú sáng chói nhất trên một vòm trời đầy sao. Trong nửa thế kỷ sự nghiệp, José José đã bán được hơn 120 triệu đĩa hát, đoạt hai giải Grammy La Tinh cùng với nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng khác.

Trong giai đoạn huy hoàng nhất từ thập niên 1970 đến 1990, ông đã liên tục phát hành những bài hát ăn khách với tốc độ chóng mặt. Tuy nhiên, sự thành công vượt bực nhanh chóng, các đợt biểu diễn liên tục theo hợp đồng, cái vòng lẩn quẩn của tiền tài danh vọng, tất cả những áp lực đó đã khiến cho José José lâm vào chứng nghiện rượu giống như thân phụ của ông. Với sự giúp đỡ của gia đình, ông đã nhiều lần cai nghiện, sau một thời gian tưởng chừng phục hồi, nhưng cuối cùng vẫn bị vấp ngã trở lại.

Mis Duetos tuyển tập các bài bolero xuất sắc

Do chứng nghiện rượu, sức khỏe của José José bắt đầu suy yếu từ đầu những năm 1990. Ông bắt đầu bớt lưu diễn vì không còn đủ phong độ để hát như trước đây. Điều này ảnh hưởng tới nguồn thu nhập tài chính và cũng từ đó làm nảy sinh nhiều vấn đề trong gia đình. José José có nhắc đến điều này khi đóng vai chính trong bộ phim Perdoname Todo (Hãy tha thứ tất cả cho anh), nói về một người đàn ông đánh mất tất cả, tán gia bại sản cũng vì chứng nghiện rượu.

Vào năm 2001, ông ghi âm album studio cuối cùng của mình, tập nhạc Tenampa gặp thất bại do không được giới phê bình lẫn công chúng hưởng ứng. Giọng hát của José José càng lúc càng trầm nhưng không còn được mượt mà như trước. Đĩa hát cuối cùng của ông là tuyển tập Mis Duetos tập hợp nhiều bản song ca trong đời với những nghệ sĩ trẻ ăn khách nhất làng nhạc, từ những năm 1990 cho đến hiện thời.

Trái với những giọng ca ‘‘Latin Lover’’ cùng thời, thường hát đi hát lại những bản tình ca quen thuộc, José José đã xây dựng hẳn một bộ vựng tập gồm toàn là những ca khúc mới và nay đã trở thành những giai điệu quen thuộc, để đời. Ông đã giúp cách tân dòng nhạc bolero qua việc phối hợp thêm với nhạc jazz và bossa nova, đồng thời cách ngắt câu vuốt chữ của ông cũng ảnh hưởng nhiều đến các thế hệ sau này. Ngày giọng ca Hoàng tử vĩnh biệt cõi tình cũng là lúc ông đi vào huyền thoại của dòng nhạc La Tinh.


Users browsing this topic
Guest (3)
22 Pages«<202122
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.