Welcome Guest! To enable all features please Login or Register.

Notification

Icon
Error

18 Pages«<161718
Youtube _ Nhac & Tranh Ảnh & Thắng Cảnh _ Từ bạn bè cõi ảo !
viethoaiphuong
#341 Posted : Sunday, January 6, 2019 10:55:39 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 05 tháng 1 năm 2019

20 năm vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris


Hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante cùng với đoàn diễn viên Nhà thờ Đức Bà Paris nhân đợt biểu diễn năm 2001
Vanina Lucchesi / AFP

Trong giới yêu nhạc Pháp, hầu như ai cũng biết Richard Cocciante là người đã soạn nhạc (tác giả Luc Plamondon đặt lời) cho toàn bộ vở kịch Nhà thờ Đức Bà Paris. Thế nhưng ít ai biết rằng một trong những nguyện vọng của tác giả này là đem vở nhạc kịch Notre Dame de Paris đến biểu diễn tại Sài Gòn, nơi ông từng sinh ra.

Tác giả Richard Cocciante từng có tuyên bố như trên khi trả lời phỏng vấn báo Le Parisien (số ra ngày 26/12/2018) nhân đợt biểu diễn kỷ niệm 20 năm vở nhạc kịch Notre Dame de Paris. Trong hai thập niên qua, tác phẩm này đã được trình diễn tại 21 quốc gia trên thế giới kể cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và tại nhiều nước châu Âu.

Richard Cocciante sinh tại Sài Gòn năm 1946 trong một gia đình có hai dòng máu, bố người Ý mẹ người Pháp. Ông sống ở Việt Nam cho tới năm 10 tuổi, sau đó ông theo bố mẹ trở về châu Âu. Có lẽ cũng vì thế mà tác giả Richard Cocciante hy vọng một ngày nào đó sẽ nhìn thấy bản gốc vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris được biểu diễn tại Việt Nam (cho dù đã từng có kế hoạch tại Việt Nam dựng bản phóng tác của nhạc sĩ Vũ Huy Tiến từ vở nguyên tác tiếng Pháp vào năm 2014).

Năm nay tròn 20 tuổi, Nhà thờ Đức Bà Paris phiên bản mới đã thay đổi toàn bộ thành phần diễn viên. Ca sĩ người Canada Daniel Lavoie là gương mặt duy nhất đã từng tham gia vào nguyên tác (trong vai cha xứ Frollo), từ đợt biểu diễn đầu tiên cho tới phần ghi âm bản chính gốc. Ngoại trừ tên tuổi này ra, hầu hết các nghệ sĩ còn lại đều là gương mặt mới : Hiba Tawaji ca sĩ người Liban vào vai Esmeralda (thay thế cho Hélène Ségara), ca sĩ người Ý Angelo del Vecchio xuất hiện trong vai thằng gù Quasimodo (sau nam danh ca Garou đến từ vùng Québec), còn Martin Giroux thay thế nam danh ca người Pháp Patrick Fiori trong vai diễn Phoebus …..

Khi chọn biểu diễn tại nhà hát Palais des Congrès (ở Paris) cho tới ngày 06/01/2019, một cách tượng trưng, đoàn diễn viên trở về với cội nguồn, nơi mọi chuyện đã bắt đầu hai thập niên trước, bởi vì cách đây đúng 20 năm, tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris đã ra mắt công chúng trên cùng một sân khấu. Lần này, ngoài sinh nhật 20 tuổi, đoàn diễn viên còn ăn mừng một sự kiện khác đầy ý nghĩa : từ khi ra đời cho tới tận ngày 06 tháng Giêng 2019, vở kịch này đã được biểu diễn đúng năm ngàn lần trên sân khấu.

Được phóng tác từ quyển tiểu thuyết cùng tên của văn hào Victor Hugo, vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris thành công trước hết nhờ cốt truyện sống động hấp dẫn cộng thêm với những giai điệu cực kỳ dễ nhớ. Thế nhưng, theo lời kể của tác giả Richard Cocciante, vào thời ấy chẳng có nhà sản xuất nào chịu bỏ tiền ra để tài trợ cho việc dàn dựng tác phẩm này trên sân khấu. Vào giữa những năm 1990, thể loại nhạc kịch bị cho là lỗi thời, ít có khả năng thu hút khán thính giả.

Nhà sản xuất Charles Talar là người duy nhất đã đồng ý đầu tư vào dự án này sau khi được nghe một số ca khúc chủ đạo đánh bằng đàn piano. Điều đó có thể giải thích vì sao hai tác giả Luc Plamondon và Richard Cocciante đã mất hơn 5 năm trời để hoàn thành tác phẩm. Những ca khúc đầu tiên viết cho vở kịch (hai nhạc phẩm Belle và Vivre) từng được sáng tác kể từ năm 1993 nhưng mãi đến năm 1998 mới được ghi âm và phổ biến.

Giai điệu đã làm cho nhà sản xuất Charles Talar phải xiêu lòng chính là nhạc phẩm Belle (có nghĩa là Người Đẹp hay Giai Nhân). Chính ông đã đề nghị phát hành trước bài hát này dưới dạng đĩa đơn để thăm dò phản ứng của người nghe, tầm vóc và quy mô của kế hoạch dàn dựng vở nhạc kịch trên sân khấu còn tùy theo sự đón nhận của công chúng. Kết quả là nhạc phẩm Belle lập kỷ lục số bán với tổng cộng hơn 2,5 triệu bản, bài hát cũng được xếp hạng cao trong vòng 60 tuần lễ liên tục, trong đó có 18 tuần ngự trị ở hạng đầu thị trường Pháp và sau đó đoạt giải thưởng âm nhạc Victoires de la Musique dành cho ca khúc hay nhất trong năm (1999). Một số bài khác cũng giành được vị trí quán quân chẳng hạn như nhạc phẩm Le Temps des Cathédrales (Kỷ nguyên Thánh đường) hay là Vivre (Sống) tính cả hai phiên bản của hai nữ ca sĩ Noa và của Hélène Ségara.

Về phần mình, tác giả Luc Plamondon cho biết ông đã lấy cảm hứng để đặt lời cho ca khúc Belle, sau khi được xem lại bộ phim ‘‘Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà’’ Paris của đạo diễn Jean Delannoy với Gina Lollobrigida và Anthony Quinn trong vai chính. Trong đoạn phim Quasimodo bị phạt tội, phải quỳ gối và bị trói bằng dây xích, cho nên Thằng Gù mới thốt lời than van và xin Giai Nhân làm ơn cứu kẻ tật nguyền (Thằng Gù Quasimodo gọi tên Belle trong cách xưng hô chứ không hề dùng tên Esmeralda). Động lòng thương xót kẻ xấu số, người đẹp Esmeralda mới đem bình rót nước uống cho tội phạm khỏi chết khát, bất kể hình dung ghê tởm dị hợm của Thằng Gù.

Bản nhạc Belle trở thành bài hát cực kỳ phổ biến của vở nhạc kịch Nhà thờ Đức Bà Paris, từng được dịch trong nhiều thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng Anh, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nga, Tiệp, Belarus, Ba Lan, Hàn Quốc ….. Còn trong tiếng Việt bài này có đến hai lời ca khác nhau. Phiên bản tiếng Việt đầu tiên từng được Bằng Kiều, Nguyên Khang, Tiến Dũng cùng thể hiện. Tác giả Hà Quang Minh đặt lời thành nhạc phẩm ‘‘Ta Vẫn Yêu Người’’ với những câu như sau :

Tìm làn mây trôi, trôi về cuối nơi chân trời xa vời. Lòng thầm nghe bao sầu lắng trong tim người cười nói. Ôi nỗi nhớ như êm mãi mưa hoài từng phút hiu quạnh. Ta bỗng mơ về giấc mơ chẳng thể tìm đến. Tình như bóng dáng trăng cao bao ngày nào đâu tới được. Tình như những ánh sao xa cho lòng chất thêm u hoài. Ðể mình ta mãi mãi mang theo khát vọng, mình ta thở dài. Mình ta mãi mãi trông mong giấc mơ xa vời. Nào có ai người sẽ đến bên đời ru giấc rã rời. Chỉ có nỗi buồn cùng những đêm ngà nhìn bóng trăng tàn ……

Phiên bản tiếng Việt thứ nhì của bài Belle (Nàng) cũng từng được Trần Thái Hoà, Thế Sơn, Trịnh Lam ghi âm thành một bài tam ca khác. Trong cách chuyển ngữ, tác giả Thái Thịnh đã đặt lời gần sát hơn với nguyên tác qua những câu mở đầu :

Nàng là một nhan sắc tuyệt thế giữa nhân gian. Nàng là bông hoa mỹ miều hóa công đã ban tặng. Ôi như cánh chim tuyệt vời giữa xuân ngời rực rỡ khung trời. Tôi thấy đang mở rộng dưới chân mình địa ngục tăm tối. Hồn tôi đắm đuối với nét khoe tươi gợn trên áo nàng. Ngàn muôn giáo huấn tín ngưỡng đức tin bỗng dưng phai tàn. Ai, nào ai nói đứng trước dung nhan nàng không rung động. Là đang nói dối giấu diếm con tim khát khao vô vọng. Tôi ước ao một lần bước chân thật gần đến bên nàng. Đan ngón tay vào dòng tóc êm đềm tựa suối thiên đàng ......

Đợt biểu diễn đầu tháng Giêng 2019 đánh dấu 20 năm ngày vở nhạc kịch Notre Dame de Paris ra đời. Không ai có thể ngờ rằng hai thập niên sau, tác phẩm này lại trở thành vở nhạc kịch Pháp nổi tiếng nhất ở nước ngoài với hơn mười ba triệu lượt khán giả trên thế giới. Hai tác giả người Ý Richard Cocciante (soạn nhạc) và người Canada Luc Plamondon (đặt lời) tiếp tục mang tiếng chuông Nhà thờ Đức Bà Paris đi đánh xứ người từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á. Tiếng chuông ngân vang ấy vẫn còn vọng mãi trong lòng người mến mộ cho tới tận ngày nay.

viethoaiphuong
#342 Posted : Saturday, January 12, 2019 8:32:07 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 12 tháng 1 năm 2019

Tình khúc Joe Dassin qua các giọng ca nữ


Ca sĩ Joe Dassin (trái) và thân phụ là đạo diễn Jules Dassin, tháng Tư 1971 tại nhà hát Olympia, ParisAFP

Nếu còn sống năm nay Joe Dassin sẽ tròn 80 tuổi, do ông sinh ra vào cuối năm 1938. Thế nhưng, ông đã vĩnh viễn ra đi khá sớm, lúc ông mới ngoài 40 tuổi. Gần bốn thập niên sau ngày Joe Dassin qua đời, giới hâm mộ giọng ca này nay đã già đi nhưng vẫn trung thành như thuở nào.

Đầu năm 2019, bộ toàn tập Joe Dassin gồm 14 cuộn CD được tái bản. Khác với những lần trước, bộ đĩa này gồm 13 album phòng thu theo trình tự thời gian (được Joe Dassin ghi âm trong giai đoạn những năm 1966-1979) được bổ sung thêm một tuyển tập chọn lọc gồm những ca khúc ít được phổ biến, chẳng hạn như những ca khúc đầu tay của Joe Dassin, lúc ông mới vào nghề.

Theo ông Jean-Claude Robrecht, chủ tịch Hội Những người hâm mộ Joe Dassin, năm 2019 đánh dấu đúng 60 năm ngày nam ca sĩ thực hiện bản ghi âm đầu tiên. Vào năm 1959, Joe Dassin lúc ấy mới 21 tuổi ghi âm ca khúc chủ đề cho bộ phim "La Loi" (Luật Pháp) tựa tiếng Ý là "La Legge", còn tiếng Anh là "Where the Hot Wind Blows", do thân phụ của ông là Jules Dasin làm đạo diễn. Bộ phim tập hợp dàn diễn viên nổi tiếng thời bấy giờ là Marcello Mastroianni, Yves Montand và Pierre Brasseur xung quanh ngôi sao màn bạc người Ý Gina Lollobrigida. Vào thời ấy, ông ghi âm với tên thật của mình là Joseph Ira Dassin.

Joe Dassin chỉ thật sự thành danh và trở nên quen thuộc với công chúng Pháp từ năm 1969, thời ông hay chuyển ngữ phóng tác sang tiếng Pháp các bản nhạc pop hay country nổi tiếng của làng nhạc Anh Mỹ. Nhạc phẩm Yellow River chẳng hạn trở thành L’Amérique trong tiếng Pháp, một cách để nhắc nhở nguyên quán của ca sĩ người Mỹ, cho dù ông cbủ yếu hát tiếng Pháp.

Trên album tưởng niệm Joe Dassin, các giọng ca nữ của Canada chủ yếu ghi âm (cover) những bản nhạc ăn khách từ năm 1969 trở đi, nhưng thật ra Joe Dassin đã bắt đầu sự nghiệp từ một thập niên trước, tính từ lúc ông thực hiện bản ghi âm đầu tay vào năm 1959. Còn album phòng thu đầu tiên của Joe Dassin được thực hiện vào năm 1964 nhưng mãi tới năm 1966 mới được phát hành.

Rốt cuộc ông phải mất đúng 10 năm để khẳng định vị thế của mình, để được công nhận như một tên tuổi lớn trong làng nhạc Pháp. Những bản nhạc ăn khách của Joe Dassin từng được nhiều thế hệ nghệ sĩ hát đi hát lại, và đó chủ yếu là những giọng ca nam (Tuyển tập ‘‘Ils chantent Joe Dasin’’ phát hành vào năm 1998), trước khi có phong trào mời các nghệ sĩ trẻ ghi âm các tập nhạc ‘‘tribute’’ để tưởng niệm các tài năng đã khuất hoặc để vinh danh các nghệ sĩ đàn anh còn sống.

Mãi tới năm 2007, Isabelle Boulay (Mon Village au bout du Monde) cũng như Amel Bent (L’Été Indien) mới đem lại những bản phối rất thoáng và rất mộc, khác với sắc thái (nói nôm na là rất màu mè) của dòng nhạc nhẹ những năm 1970 mà ta thường được nghe nơi Joe Dassin. Cách đây 5 năm, đến phiên Hélène Ségara dành trọn một album gồm 13 bài song ca ảo, hòa quyện kết hợp tiếng hát của cô với giọng ca của Joe Dassin. Trên album này không hẳn bài nào cũng đạt, lối hoà âm hơi máy móc điện tử đôi khi lại phản tác dụng, trong một số bài, Hélène Ségara đã không làm mất đi cái hồn của bản nhạc nguyên tác.

Còn trên album mang tựa đề Elles chantent Dassin cũng vậy. Những bài hát của nam danh ca người Pháp gốc Mỹ lại có thêm những bản hoà âm mới. Lối phối khí khi thì thiên về dòng nhạc folk hay country, lúc thì rất bossa nova khoác lên trên những giai điệu nổi tiếng của Joe Dassin những lớp màu sắc khác lạ. Tuy nhiên, những giọng ca nữ hợp với dòng nhạc của ông vẫn là những giọng ca trung trầm (như Susie Arioli hay là France d’Amour) …..

Lúc sinh tiền, Joe Dassin thật sự nổi tiếng sau khi chọn đúng hướng đi của ông. Sau thời gian đầu hát những ca khúc khôi hài dí dỏm, ông thật sự tỏa sáng và ngự trị trên đỉnh cao trong một thập niên liền, khi chuyển qua hát nhạc tình. Joe Dassin nổi tiếng nhờ có giọng nam trung ‘‘baryton basse’’, khi hát toàn hơi ông chủ yếu dùng giọng ngực chứ ít khi nào sử dụng giọng óc. Âm sắc của chất giọng nam trung (baryton) vốn đã trầm ấm, biểu cảm.

Nơi Joe Dassin, chất giọng của ông lại càng cực kỳ mùi mẫn ở những nốt thật trầm (bass), nhờ có âm lượng và uy lực, nên giọng ca nghe có chiều sâu và bề dày, khi hát mạnh vẫn đầy đặn, êm ả, chứ không hề đanh thép. Có lẽ cũng vì thế mà trong giai đoạn đăng quang, đạt tới tột đỉnh huy hoàng trong những năm 1971-1977, hầu hết các ca khúc viết cho Joe Dassin đều khai thác cách hát thật trầm với những vết gãy có duyên trong cách nhã chữ.

Điều đó có thể giải thích vì sao khi nghe các bản nhạc của Joe Dassin qua lối trình bày của các giọng ca nữ, giới hâm mộ lại càng muốn tìm lại các bản nhạc gốc của Joe Dassin, do ông ghi âm từ nhiều thập niên trước. Gần bốn mươi năm sau ngày nam danh ca gốc Mỹ qua đời, giới hâm mộ tiếng hát này, nay có thể không còn đông đảo, nhưng vẫn say mê cuồng nhiệt như thuở nào.



viethoaiphuong
#343 Posted : Monday, January 14, 2019 11:24:33 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Paris : Michael Jackson qua lăng kính hội họa đương đại


Kehinde Wiley: Michael Jackson được vẽ phỏng theo bức họa hoàng đế Pháp Philip II.
Kehinde WileCollection Olbricht © Kehinde Wiley

Minh Anh - RFI - ngày 12 tháng 1 năm 2019
Chín năm sau ngày Michael Jackson từ giã cõi đời, một cuộc triển lãm mang tên « Michael Jackson : On the Wall » đã được mở ra ở Grand Palais, tại thủ đô nước Pháp. Người xem có dịp khám phá làm thế nào hình ảnh ông hoàng nhạc Pop hiện diện khắp nơi và nhất là làm thế nào hình ảnh, tác phẩm và cuộc đời ông đã mang lại cảm hứng cho giới họa sĩ đương đại.

Tổng cộng có khoảng 120 tác phẩm (hình ảnh, hội họa, video) đã được trưng bày tại Đại Điện (Grand Palais) ở Paris. Từ một bức chân dung giản dị hai mầu đen trắng của họa sĩ Trung Quốc Yan Pei Ming, cho đến bức họa cao ba mét theo trường pháp Rubens, cho thấy hình ảnh một Michael Jackson ngồi trên lưng ngựa phỏng tác theo bức họa hoàng đế Pháp Philippe II.

Cô Vanessa Desclaux, phụ trách cuộc triển lãm, được tổ chức với sự kết hợp National Portrait Gallery de Londres giải thích với phóng viên đài RFI :

« Chúng tôi buộc phải hạn chế bớt. Khi tôi bắt tay vào dự án này, tôi đã quá đỗi ngạc nhiên khi phát hiện ra danh sách các tác phẩm. Có nhiều cách giải thích : làn sóng truyền thông, nhiều hình ảnh Michael Jackson lưu truyền trên các mạng truyền thông. Rồi tác động mà Michael Jackson tạo ra trong các clip video. Những sáng tạo mà ông ấy trình làng trong các buổi trình diễn và cũng có việc Michael Jackson được nuôi dưỡng cảm hứng từ nhiều nghệ sĩ khác nhau. Tôi nghĩ là rất nhiều họa sĩ đã rất nhậy cảm về điều này ».

Có nghệ sĩ thì lấy cảm hứng từ một số phận bi kịch của ông hoàng nhạc pop. Nhưng số khác lại cho ông một nét mặt rạng ngời… Bất kể đó là một Michael Jackson như thế nào đi chăng nữa, nhắc đến ông là người ta nghĩ đến điệu nhảy « Moon Walk » bất hủ.


viethoaiphuong
#344 Posted : Tuesday, January 15, 2019 12:59:03 PM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Pháp tôn vinh Leonardo da Vinci nhân 500 năm ngày giỗ


Ảnh chụp bản chương trình kỷ niệm Viva Leonardo da Vinci
Tuấn Thảo / RFI

Tuấn Thảo - RFI - ngày 15-01-2019
Năm 2019 đánh dấu 500 năm ngày Leonardo da Vinci qua đời. Sinh trưởng tại vùng Toscane của Ý, ông từ trần vào năm 1519 tại Amboise. Do vậy, năm nay vùng sông Loire nói riêng và nước Pháp nói chung đều long trọng tổ chức chương trình kỷ niệm thiên tài người Ý, tên tuổi của ông gắn liền với thời Phục Hưng.

Năm 1519 không những là năm Leonardo da Vinci (tiếng Pháp là Léonard de Vinci) qua đời, đó còn là thời điểm khởi công xây dựng lâu đài Chambord theo chỉ dụ của nhà vua François đệ nhất. Trong cùng một năm, Catherine de Médicis thuộc dòng dõi ‘‘Công tước truyền đời’’ đã sinh ra tại thành phố Florence (Firenze). Catherine de Medicis (1519-1589) sau đó trở thành hoàng hậu Pháp khi thành hôn với vua Henri đệ nhị (1533-1559).

Tất cả những nhân vật nổi tiếng này đều đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đem phong trào nghệ thuật Phục Hưng từ nước Ý du nhập vào Pháp. Phong trào Phục Hưng đặc biệt phát triển tại vùng sông Loire của Pháp. "Chiêu hiền đãi sĩ", nhiều đời vua Pháp đã tuyển mộ rất nhiều nghệ sĩ và nhân tài, các nhà trí thức hay kiến trúc sư để phát huy luồng tư tưởng tiên phong cũng như cả một nghệ thuật sống tại vùng sông Loire. 500 năm ngày giỗ của Leonardo da Vinci cũng có nghĩa là thời Phục Hưng khởi đầu cách đây 5 thế kỷ.


Bức tượng Leonardo da Vinci trước nhà hát Tosca de Milano
Tuấn Thảo / RFI

Ngoài Chambord, nhiều lâu đài khác cũng tham gia vào chương trình này. Trong đó, nổi tiếng nhất là các lâu đài Azay le Rideau, Valençay, Blois, Chenonceau và dĩ nhiên là lâu đài Clos Lucé, nguyên là nơi sinh sống và làm việc cuối cùng của nhà bác học Leonardo da Vinci. Do ông là cánh chim đầu đàn và hơn ai hết ông là gương mặt tiêu biểu nhất, nếu không nói là hiện thân của phong trào Phục Hưng của Ý. Qua hàng chục sinh hoạt lớn nhỏ khác nhau bắt đầu từ mùa xuân năm 2019, vùng sông Loire tìm cách tái tạo thời kỳ thịnh vượng này về mặt nghệ thuật và văn hóa thông qua một chương trình sự kiện phong phú, đa dạng.

Tâm điểm mùa lễ hội nằm tại lâu đài Clos Lucé, tư gia cuối cùng của thiên tài người Ý. Một cuộc triển lãm lớn diễn ra từ tháng 6 đến tháng 9/2019, khai thác mối tương quan giữa Leonardo da Vinci với vua François đệ nhất, dẫn tới việc thực hiện bức kiệt tác ‘‘Bữa ăn tối cuối cùng’’ (L'Ultima Cena) của Đức Chúa Giê Su với các môn đồ (1495-1498). Bức họa này nằm trên tường tu viện Santa Maria thành phố Milano, không thể nào di chuyển được. Để thay thế, một tấm thảm dệt theo bức bích họa được thực hiện tại Vatican sẽ được trưng bày tại lâu đài Clos Lucé.

Cách đó không xa, lâu đài Amboise tổ chức triển lãm theo chuyên đề ‘‘1519, ngày giỗ của Leonardo da Vinci’’ xoay quanh bức tranh sơn dầu và bộ sưu tập tranh khắc ‘‘Cái chết của Leonardo da Vinci’’ của danh họa François Guillaume Ménageot (1744-1816), cho thấy tài năng của thiên tài người Ý tiếp tục gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ đời sau. Một cách tương tự, Viện bảo tàng Sologne và Quỹ Fondaton du Doute tại Blois tổ chức chương trình sinh hoạt theo chủ đề "Nguồn cảm hứng của Leonardo da Vinci" tồn tại cho đến tận bây giờ.

Riêng lâu đài Chambord sẽ tổ chức cùng lúc hai sự kiện do ngày giỗ của Leonardo da Vinci cũng đánh dấu ngày khởi công xây dựng Château de Chambord. Cuộc triển lãm ‘‘Chambord 1519-2019’’ là giao điểm giữa quá khứ và tương lai, từ tháng 5 đến tháng 10/2019, dựa vào bề dày lịch sử của lâu đài, ban tổ chức đã mời nhiều kiến trúc sư quốc tế thử đưa ra một tầm nhìn xa, dùng máy vi tính và công nghệ cao cấp để thực hiện một sơ đồ hiện đại ba chiều của lâu đài Chambord trong tương lai. Còn chương trình lễ hội chính thức kỷ niệm 500 năm lâu đài Chambord sẽ diễn ra từ ngày 28/06 đến ngày 13/07/2019.

Hoàng hậu Catherine de Médicis cũng là một nhân vật lịch sử quan trọng đối với thời Phục Hưng, đặc biệt thông qua cuộc triển lãm "Các bức thảm của Hoàng hậu" tại lâu đài Chaumont sur Loire, từ tháng 9 đến tháng 12/2019. Song song với cuộc triển lãm này, còn có chương trình liên hoan "Nghệ thuật Sống thời Phục hưng" tại lâu đài Châteaudun, giới thiệu trang phục cũng như nghệ thuật ẩm thực có từ thế kỷ XVI. Tương truyền rằng bánh hạnh nhân macaron chính là do Catherine de Médicis đem từ nước Ý vào Pháp những năm 1533-1534 khi bà thành hôn với Henri đệ nhị và sau đó trở thành hoàng hậu nhiếp chính của nước Pháp.

Từ tháng 5 cho tới tháng 10/2019, lâu đài Villandry tổ chức chương trình ‘‘Đêm muôn ánh lửa’’, khi toàn bộ lâu đài chỉ được thắp sáng bằng nến, chứ không hề dùng đèn điện. Còn Azay-le-Rideau thử dùng công nghệ tối tân, đèn laser để thắp sáng lâu đài qua một chương trình biểu diễn kết hợp âm thanh và ánh sáng. Lâu đài Valençay tổ chức cùng lúc nhiều sự kiện trong đó có liên hoan Talleyrand và lễ hội âm nhạc xung quanh các nhạc khí thịnh hành vào thời Phục hưng.

Đó là những sự kiện quan trọng nhất, bên cạnh đó còn có nhiều thành phố khác như Orléans, Bourges, Blois, Amboise, Chambord hay là Tours đều có tổ chức chương trình chiếu ánh sáng theo chủ đề Phục Hưng lên các lâu đài và nhà thờ nổi tiếng nhất của các thành phố. Chương trình vinh danh Leonardo da Vinci kết thúc vào cuối năm 2019 với đỉnh điểm là các sinh hoạt văn hóa có tầm cỡ hàng đầu như triển lãm tại Trường Mỹ thuật Paris, đối chiếu tài năng hội họa của Leonardo da Vinci thông qua các bức phác họa với các tác phẩm của nhiều thế hệ nghệ sĩ như Raphael, Benozzo Gozzoli hay là Filippino Lippi. Viện bảo tàng của Công tước Henri d’Orléans tại Chantilly tổ chức triển lãm xung quanh bức tranh ‘‘Joconde khỏa thân’’ theo trường phái của thiên tài người Ý.

Cuối cùng, từ 24/10/2019 cho tới cuối tháng Hai năm 2020, Viện bảo tàng Louvre dàn dựng cuộc triển lãm cực kỳ hoành tráng về Leonardo da Vinci. Cho tới nay, Louvre luôn trưng bày nhiều bức kiệt tác của thời Phục Hưng, trong đó có La Joconde của ông. Lần này, ngoài bộ sưu tập của Louvre, còn có thêm các tác phẩm đến từ Pinacoteca de Breira thành phố Milano (Portrait de Musicien), Viện bảo tàng thành phố Parma (La Scapigliata), Viện bảo tàng Mỹ thuật Venise (L’Homme de Vitruve), Viện bảo tàng Vatican (Saint-Jérôme) cũng như Viện Bảo tàng Florence (L’Annonciation & L’Adoration des Mages).

Sở dĩ Louvre là viện bảo tàng cuối cùng tôn vinh Leonardo da Vinci do đã từng có tranh luận giữa Pháp và Ý liên quan tới việc cho mượn các tác phẩm nổi tiếng của Ý. Ban điều hành Viện bảo tàng Louvre giữ lễ bằng cách chờ cho tới khi nào triển lãm tại các bảo tàng Ý kết thúc thì lúc ấy Louvre mới tổ chức chương trình kỷ niệm, đúng theo phương châm : tiên chủ hậu khách.

viethoaiphuong
#345 Posted : Sunday, January 20, 2019 10:57:32 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 19 tháng 1 năm 2019

Maurane, hành trình cuối cùng với Jacques Brel


Tuyêrn tập Brel được phát hành 5 tháng sau ngày Maurane qua đời
© RFI/Edmond Sadaka

Trong số các dự án tưởng niệm thần tượng Jacques Brel nhân 40 năm ngày giỗ của nam danh ca quá cố, có đĩa nhạc của ca sĩ Maurane được nhiều khách hâm mộ chờ đợi hơn cả. Cả hai nghệ sĩ đều là người Bỉ, lập nghiệp tại Pháp. Và giờ đây, cả hai đều không còn trên cõi đời này.

Maurane đã đột ngột qua đời vì lên cơn đau tim vào đầu tháng 5 năm 2018, mà khi nghe lại giọng hát của cô, giới hâm mộ lại càng ngẩn ngơ thương tiếc. Được phát hành vào trung tuần tháng 10/2018, tập nhạc này được cho ra mắt 5 tháng sau ngày Maurane từ trần. Theo lời cô con gái của nữ ca sĩ (Lou Villafranca 25 tuổi), dự án ghi âm ban đầu bao gồm 14 ca khúc, nhưng sau khi nghe đi nghe lại nhiều lần, gia đình cô đã quyết định loại bỏ hai ca khúc dí dỏm vui nhộn, cho rằng những ca khúc ấy không còn thích hợp với một dự án ghi âm mà cả tác giả lẫn người diễn đạt đều đã không còn trên cõi đời này. Cùng với nhóm nhạc sĩ chuyên đi biểu diễn với Maurane, cô con gái đã hoàn tất phần hậu kỳ cho album, đồng thời cô đã vẽ hình bìa cho đĩa hát.

Lúc còn sống, Maurane đã ráo riết chuẩn bị đĩa nhạc tưởng niệm bậc thầy Jacques Brel kể từ mùa xuân năm 2018. Dự án này từng được nữ danh ca người Bỉ ấp ủ trong vòng 15 năm trời, mỗi lần cô lên sân khấu, dòng nhạc của Brel vẫn thường được đưa vào trong danh sách các ca khúc biểu diễn. Sau nhiều năm đi hát, trước sự khuyến khích của gia đình cũng như sự thúc giục của giới đồng nghiệp, Maurane nghĩ rằng đã đến lúc cô nên ghi âm những ca khúc đã đồng hành với mình trong suốt cuộc đời ca hát.

Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ, bố là một nhà soạn nhạc (kiêm giám đốc nhạc viện thành phố Verviers), mẹ là giáo sư dương cầm, Maurane từ nhỏ đã thấm nhuần dòng máu nghệ thuật của song thân. Chính với dòng nhạc Jacques Brel mà Maurane đã chọn khởi nghiệp sân khấu. Năm 19 tuổi, Maurane đã diễn một trong những vai chính của vở nhạc kịch ‘‘Jacques Brel en Mille temps’’ của tác giả Albert-André Lheureux.

Thời còn trẻ, Maurane chủ yếu hát những ca khúc trào phúng của Brel về gia đình, xã hội nhiều hơn là tình cảm lứa đôi, do theo cô, dòng nhạc tình của Brel đòi hỏi nơi người diễn đạt rất nhiều kinh nghiệm từng trải. Mãi tới năm 1996, tức là hai năm sau khi Maurane đoạt giải thưởng Victoires de la Musique dành cho tài năng xuất sắc nhất khối Pháp ngữ, Maurane mới ghi âm nhạc phẩm ‘‘Quand on n’a que l’amour’’ (Khi ta chỉ có tình yêu) hát cùng với Céline Dion nhân đợt biểu diễn gây quỹ giúp đỡ Các quán ăn tình thương Les Restos du Cœur, với lối diễn đạt dày dặn chín muồi.

Brel và Maurane là hai tâm hồn nghệ thuật khác nhau. Brel có lối biểu hiện cực kỳ sinh động, diễn đạt qua từng ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, bài hát không chỉ có hồn nhờ cách hát, mà còn thêm chiều sâu nhờ ngôn ngữ của toàn cơ thể, có lẽ vì thế là Brel dù chỉ đứng một mình trên sân khấu, nhưng ông vẫn có thể hớp hồn toàn bộ khán giả trong thính phòng.

Khác với bậc đàn anh, Maurane có phong cách kín đáo trầm lắng, có lẽ cũng vì thế mà cô chọn hát những ca khúc dễ gợi lên khung cảnh trầm tư mặc tưởng, nhờ vào lối hoà âm phối khí rất mộc, đôi khi chỉ cần đệm duy nhất bằng tiếng đàn piano, mà giọng ca của Maurane vẫn làm dấy lên được những trận cuồng phong trong tâm hồn, cảnh đắm thuyền lúc hoàng hôn.

Cho dù một số bài hát trên album tưởng niệm Brel chẳng hạn như bài ‘‘Rosa’’ hay là ‘‘Vesoul’’ đã mất đi phần nào tính phổ quát do hình ảnh địa danh, cung cách con người hay nếp sống xã hội đã quá nhiều thay đổi, nhưng khi nói về tình cảm, thì hiếm có tác giả nào trong làng nhạc Pháp diễn đạt sự đỗ vỡ hay bằng tác giả Jacques Brel. Mỗi nghệ sĩ một vế, mỗi người một con đường nhưng cả hai bên (Brel và Maurane) đều muốn đến cùng một bến, họ tìm cách diễn đạt một cách trọn vẹn nhất cái tình cảm mất mát thiệt thòi, trầm luân kiếp người. Với tâm trạng của người vừa lỡ chuyến, tác giả khóc cho những gì mình đang đánh mất, dù có biết nhưng vẫn không cứu vãn được gì …….

Bên cạnh những tình khúc để đời như "Ne me quitte pas" (Đừng lìa xa anh), "La chanson des Vieux Amants" (Bài hát của đôi tình nhân già), hay là "La Quête" (Hạnh phúc đi tìm), Maurane chủ yếu chọn những bản nhạc ít quen thuộc hơn với công chúng (không có các bài hát như Amsterdam, Bruxelles hay là Le Plat Pays) nhưng vẫn cho thấy cái tài nghệ sáng tác của Brel trong cách sắp chữ đặt lời, chẳng hạn như trong bài "Je ne sais pas" (Ta không biết), về mặt cấu trúc và ý tứ, bản nhạc này đã gợi hứng rất nhiều cho tác giả Jean Jacques Goldman sáng tác sau đó bản nhạc cùng tên cho Céline Dion.

Nhạc phẩm "Je ne sais pas" được xây dựng trên một ý tưởng chủ đạo : trên đời này điều gì ta cũng biết, nhưng một cuộc sống không còn hay không có (tình yêu của) người, thì ta không hề biết. Bài hát được viết như một niệm khúc cuối do nhân vật trong bài hát tiên đoán cái chết của chính mình, ý tưởng của bản requiem gói trọn trong những lời trăn trối. Có lẽ ngay cả Maurane cũng không ngờ rằng chuyến song hành với Brel lại là cuộc hành trình cuối đời về tới bên kia thế giới. Bản nhạc này có câu :

Không biết vì sao sương mù

Quanh tim bọc khăn che phủ

Thoi thóp hồn chuông nhà thờ

Cầu mong tình đừng tắt thở

viethoaiphuong
#346 Posted : Tuesday, January 29, 2019 7:28:30 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Mai Vân - RFI - ngày 28-01-2019

Hàn Quốc không hẳn là thiên đường cho giới trẻ mê K-pop


Nhóm k-pop BTS phát biểu tại Liên Hiệp Quốc, tháng 9/2018.
Mark GARTEN / AFP

Trong những năm gần đây, trào lưu K-pop xuất phát từ Hàn Quốc đã chinh phục thanh niên cả thế giới, trong đó có rất nhiều người Pháp. Quê hương của K-pop đã trở thành một nơi đầy sức quyển rũ, thu hút biết bao thanh thiếu niên từ khắp nơi trên thế giới.

Thế nhưng thực tế đôi khi không chỉ toàn màu hồng, điều đã được tạp chí Pháp Le Point đề ngày 24/01/2019 nêu bật trong bài phóng sự mang tựa đề : « Hàn Quốc, miền đất hứa của thế hệ Millennial », đặc biệt là ở Pháp.

Millennnial là thuật ngữ tiếng Anh dùng để chỉ thế hệ sinh trong những thập niên 1980, 1990 và đã trưởng thành khi nhân loại bước qua thế kỷ 21.

Đặc phái viên Le Point đã bắt đầu phóng sự bằng cách đưa độc giả đến tận Seoul, tìm hiểu về sinh hoạt của một thành phần du khách đặc thù của xứ sở kim chi : Những du khách là fan K-pop.

Ngay dưới tầng hầm một tòa nhà ở Hongdae, khu sinh viên ở Seoul, phóng viên Le Point đã tiếp xúc được với hai mẹ con người Pháp, vừa kết thúc 1 tiếng rưỡi đồng hồ học nhảy K-pop.

Người mẹ vui sướng tiết lộ : « Tôi rất mê nhảy múa. Tại đây thì tuyệt vời ». Bà theo một khóa học riêng ở trường Real K-pop Dance School, một cơ sở đã khéo biết tập trung vào lớp khách hàng vốn là những người hâm mộ K-pop đến từ 5 châu.

Chính cô con gái 15 tuổi của phụ nữ này là người đã biến mẹ mình thành fan K-pop. Cô bé giải thích : « Cách đây 3 năm, cháu khám phá ra một video của ban nhạc Hàn Quốc BTS và đã mê ngay. Cháu rất thích lối diễn xuất của họ… và họ lại rất đẹp trai ».

Thế là cô bé đã thuyết phục được gia đình đến tận Los Angeles để xem nhóm BTS trình diễn, rồi sau đó thuyết phục được gia đình đến viếng Hàn Quốc, xứ sở của nhóm thần tượng của mình. Ước mơ của cô là đến học ở Hàn Quốc một khi xong tú tài.

Tại thành phố Papeete, ở Tahiti, nơi gia đình này sinh sống, cô gái đã lập ra một nhóm girls band, mẹ của cô thì giúp thành lập một fan club Hàn Quốc trên toàn đảo. Và cả gia đình đều vui sướng với phim bộ và diễn viên Hàn Quốc.

BTS : Biểu tượng toàn cầu của K-pop

Biểu tượng của K-pop hiện nay gói trong ba chữ BTS, từ viết tắt của Bangtan Sonyeondan, nghĩa là « Hướng đạo sinh trong áo giáp chắn đạn », tên của nhóm nhạc gồm 7 chàng trai đã chinh phục trái tim của thanh niên thế giới.

Theo Le Point, có thể xem BTS là hiện thân của ban nhạc The Beatles thế hệ YouTube. BTS là nhóm K-pop đầu tiên đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ, đã thu hút khán giả chật cứng nhà hát Bercy, Paris, hai lần vào tháng 10 năm 2018. Tại Berlin, Đức, 17.000 vé đã bán hết trong vỏn vẹn 9 phút.

Với 16 triệu « người theo - followers » trên Twitter, nhóm boys band này đã vừa chiếm lĩnh trang bìa tạp chí Mỹ Time Magazine. Được công nhận là lá cờ đầu của quyền lực mềm Hàn Quốc, BTS đã tháp tùng tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In nhân chuyến công du Pháp hay đến phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc

K-pop hướng tới thế giới sau khi chinh phục châu Á

Với BTS là mũi nhọn, « làn sóng Hàn Quốc Hallyu », vốn đã chinh phục Châu Á, giờ đây đang tràn qua các vùng ngoại ô Mỹ và tỉnh thành Pháp, và đã thu hút đông đảo thanh niên đi tìm miền đất hứa Eldorado đến xứ Triều Tiên.

Ở Seoul, các công ty Pháp nhận được vô số đơn xin việc của những thanh niên muốn thực hiên ‘giấc mơ Hàn Quốc’. Lượng người Pháp đến quê hương K-pop với visa « du lịch làm việc » đã tăng 50% từ năm 2013. Số sinh viên nước ngoài đã được nhân lên 12 lần từ năm 2003 và tăng thêm 18,8% vào năm 2017. Trong một thập niên, lượng sinh viên Pháp đến Hàn Quốc đã tăng gấp 6 lần, và đứng hàng thứ hai sau Mỹ.

Còn ở các khu đaị học Pháp, thì các sinh viên kháo nhau rằng Seoul là điểm hẹn vui chơi mới. Ở Itaewon, khu chơi đêm ở Seoul, người ta còn nghe âm hưởng tiếng Pháp nơi một số người phục vụ tại các quán.

Trên các mạng xã hội, những nhóm thảo luận về K-pop hay phim Hàn Quốc nhiều không kể xiết, và bằng nhiều thứ tiếng.

Sự lan tỏa của văn hóa Hàn Quốc đã bắt đầu từ một thập niên và gây bất ngờ cho giới phụ huynh ngày nay . Một bà mẹtham dự ngày Korea Day, tại Lyon gần đây, tập hợp 3000 fan K-pop đã không giấu được nỗi hoang mang : « Con gái tôi, 12 tuổi, đã tự học tiếng Hàn Quốc một mình trong phòng sau khi từ trường về. Tôi đang cố gắng tìm hiểu xem vì sao ». Bà đã mua một quyển sách về Hàn Quốc để tìm hiểu xem cái gì ở một đất nước xa xôi như thế đã thu hút con gái bà. Nhu cầu học tiếng Hàn đã bùng nổ ở các đại học Pháp, tăng gấp 3 lần ở La Rochelle hay tăng 149% ở Bordeaux-3 từ năm 2008 đến 2010.

Fabien Yoon ngôi sao người Pháp trên màn ảnh nhỏ ở Seoul nhờ các vai trong các phim bộ Hàn Quốc như « Mr Sunshine », vẫn chưa hết ngạc nhiên. Đến đây vào năm 2007, lúc 20 tuổi, vì yêu thích taekwondo, sau đó anh học thêm tiếng Hàn và tiếng Nhật, và lao vào làm việc cật lực trong giới show business Hàn Quốc.

Anh kể lại : « Trước đây, người ta nói là tôi điên rồ ! Ngày nay, giới trẻ thì nói là tôi đã thực hiện giấc mơ của chúng ». Hiện Fabien Yoon đã có 41 000 người theo trên Twitter.

Hàn Quốc hơn hẳn Nhật Bản đang già đi và Trung Quốc vẫn độc tài

Theo các quan sát viên được Le Point trích dẫn, Hàn Quốc quả là đã biết thay da đổi thịt để chuyển hóa từ một xứ sở ít được quan tâm lên thành tâm điểm của giới trẻ thế giới.

Benjamin Joineau, giáo sư tại Đại học Hongik và sáng lập viên L’Atelier des cahiers, một nhà xuất bản chuyên về Hàn Quốc, ghi nhận : « Giới thanh niên đến Hàn Quốc với đôi mắt sáng lên. Hàn Quốc là một ranh giới mới của sự hiện đại và đang thay chỗ của Nhật Bản đang mất đi sức thu hút đang hụt hơi. Sự xinh đẹp tại Hàn Quốc mang đến một hình ảnh về tương lai ít đáng lo ngại hơn ».

Theo Le Point, sau một thời gian dài là « góc chết của Châu Á, nằm trong tầm pháo của Kim Jong Un, Hàn Quốc đã trở thành nam châm thu hút thế hệ Millennial. Và đã qua rồi thời kỳ mà phi hành đoàn của Air France thở dài ngán ngẩm khi trên lịch trình bay phải ghé Seoul, một thủ đô xám xịt ; nơi mà phải vất vả lắm mới có được một cốc cà phê expresso. Ngày nay Seoul đã rộng mở, quán cà phê mọc khắp nơi, tuổi trẻ thế giới đến đây tìm cơ may hay để chụp vài tấm selfies.

Giữa Trung Quốc ô nhiễm và độc đoán và một Nhật Bản ngày càng già đi, vương quốc của Samsung nổi bật với sức sống của mình, với các minh tinh quyến rũ và công nghệ cao. Theo Oriane Lemaire, một phụ nữ đã rời Pháp, sang sống tại Seoul sau khi xem phim Hàn Quốc : « Rất tuyệt vời khi được sống ở thành phố to lớn và sinh đông này, với nhịp sống cuồn cuộn không ngơi nghỉ, nơi mà các « cửa hàng tiện lợi » mở suốt đêm và có ý thức phục vụ thật sự ».

Oriane Lemaire đã hết hạn hợp đồng làm ở đại sứ quán Pháp, và trong hai ngày đã có 80 đơn xin vào làm ở chỗ đó. Điểm quan trọng mà phụ nữ Pháp tại Seoul hay nhắc dến là « ở đây cảm thấy an toàn ».

Đối với Le Point, sự thu hút của đất nước Ban Mai Yên Ả (nhưng ban tối thì cuồng nhiệt) phản ảnh mong muốn của thanh niên phương Tây.

Nền kinh tế thứ tư Châu Á, luôn theo khẩu hiệu pali pali – nhanh nhanh- đã nắm bắt được mong muốn của một thời đại đang thèm khát sự năng động và công nghệ học. một nền văn hóa chuộng dáng vẻ bề ngoài. Những viện thẩm mỹ sửa sắc đẹp dọc đại lộ Gangnam hay những quán cà phê với bài trí tối thiểu hợp với thời đại đã chứng minh được xu hướng này.

Tóm lại người Hàn Quốc biết nắm bắt nhanh những xu hướng thời thượng, họ là những « early adopters », tức là những người khao khát sự mới lạ.

Nhưng Hàn Quốc cũng là một quốc gia bảo thủ về mặt xã hội, nhân danh trật tự, an ninh, tình cảm cao thượng... Phá thai vẫn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, người lao động nhập cư không mấy được ưa thích, hút một điếu cần sa có thể bị tù.

Giấc mơ và ảo ảnh

Theo nhận xét của Le Point, chính vì những lý do kể trên mà nhiều khi giấc mơ Hàn Quốc lại biến thành ảo ảnh.

Một khi sự hào hứng vì những nét mới lạ trong những tháng đầu biến mất, nhiều thanh niên đã thấy thất vọng. Họ vấp phải một xã hội bị khóa chặt trong những quy tắc xã hội nặng tính truyền thống trên bán đảo, nhìn người nước ngoài một cách đầy nghi kỵ, ca ngợi tính chất thuần túy Hàn Quốc.

Và nhất là hy vọng của họ tiêu tan trước một thị trường lao động khép kín, được bảo vệ bằng một chính sách visa chặt chẽ, và đòi hỏi phải biết nói tiếng Hàn. Việc làm có thể tìm được chỉ là tại các công ty nước ngoài, mà thường khi các hãng này lại ưu tiên tuyển mộ những người tại chỗ biết nói tiếng Anh hay tiếng Pháp, mà theo thông lệ, họ đều đầy đủ bằng cấp.

Rào cản này khiến nhiều thanh niên Pháp, khong thể ở lại sau khi hết hạn visa « lao động nhân kỳ nghỉ hè ». Giáo sư Benjamin Joinau rút ra kết luận : « Hàn Quốc cho lấp lánh một giấc mơ nhưng không cho phương tiện để thực hiện ».

Thất vọng cũng được thấy trong cuộc sống hàng ngày, trong một xã hội cạnh tranh dữ dội, với tỷ lệ tự tử cao nhất trong khối OCDE. Đối với phụ nữ, những câu chuyện tình cảm đẹp chỉ được thấy trong phim bô, còn trong thực tế thường rất chua xót trong một xã hội trọng nam khinh nữ : Hàn Quốc đứng hạng 118 thế giới về nam nữ bình quyền, theo Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới. Ly dị là một chủ đề cấm kỵ…

Sự thu hút của Hàn Quốc như giới phân tích ghi nhận, bắt nguồn từ ước muốn tìm đến những nơi xa xôi để thoát ra khỏi sự bế tắc, nhàm chán trong cuộc sống hiện tại. Bà Oriane Lemaire ghi nhận : « Nhiều thanh niên đến Hàn Quốc với ước ao thoát khỏi những ‘rào cản’ ở Pháp ». Điều trớ trêu là chính thanh niên Hàn Quốc cũng muốn thoát khỏi khung cảnh cứng ngắt ở nước họ, và mở tưởng đến những nơi khác.

Theo một cuộc thăm dò dư luận do trang web Saramin thực hiện năm 2016, 80% thanh niên Hàn Quốc từ 20 đến 30 tuổi có ước vọng này. Họ muốn thoát khỏi cái mà họ gọi là ‘địa ngục Joseon’, ám chỉ thời đại 1392–1910, vốn đã đặt ra những gọng kềm mà ngày nay vẫn còn tồn tại.Thanh niên Hàn Quốc tố cáo một xã hội vẫn có những quy củ cứng ngắt, nghẹt thở.

Cho dù vậy, Le Point kết luận, BTS và xứ sở của họ vẫn thu hút thanh niên 5 châu. Một cô gái 18 tuổi ở vùng Bretagne, miền tây nước Pháp cho biết cô đang tiết kiệm để đi Hàn Quốc và vui kể lại : « Trước đây, khi tôi thấy ai mặc một cái áo mang ký hiệu BTS, tôi đều vẫy tay chào. Giờ đây, tôi chẳng còn để ý nữa. Áo BTS đã trở thành bình thường chẳng khác gì một cái áo Beatles ».
viethoaiphuong
#347 Posted : Saturday, February 2, 2019 3:06:41 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)


Unique flower house in Dubai

FB - 30/1/2019

viethoaiphuong
#348 Posted : Saturday, February 2, 2019 9:14:35 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)
Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 02 tháng 2 năm 2019

Tưởng niệm nhà soạn nhạc phim Michel Legrand


Nhạc sĩ Pháp Michel Legrand từng đoạt ba giải Oscar của MỹAFP PHOTO / TIZIANA FABI

Cùng với Maurice Jarre (tác giả nhạc phim Bác sĩ Jivago), Michel Legrand là nhà soạn nhạc người Pháp nổi tiếng nhất trong làng điện ảnh Hollywood. Sinh thời, ông đã soạn nhạc cho hơn 200 bộ phim và từng đoạt ba giải Oscar. Ông vừa qua đời ở Paris hôm 26/01/2019, hưởng thọ 86 tuổi.

Trong thời gian gần đây, cho dù sức khỏe của ông ngày càng yếu đi, nhưng ông vẫn tham gia buổi ra mắt vở nhạc kịch ‘‘Peau d’Âne’’ cuối năm 2018 (đạo diễn Jacques Demy từng phóng tác truyện cổ tích Công chúa Da lừa của Charles Perrault thành phim, còn vở nhạc kịch được diễn tại nhà hát Marigny từ đây cho tới ngày 17/02/2019).

Nổi tiếng là một người hiếu động, không thể nào ngồi yên ở một chỗ, Michel Legrand đã dành trọn cuộc đời cho âm nhạc. Ông không ngừng khám phá tìm tòi cách hoà quyện âm thanh, xóa mờ ranh giới giữa nhạc jazz và dòng nhạc hoà tấu (easy listening). Cho dù thể loại sở trường của ông vẫn là nhạc phim, nhưng ông vẫn dành thời gian trong những năm sau này, để sáng tác một vở kịch opera trào phúng, những khúc giao hưởng đậm chất baroque, những bản concerto dành cho piano và cello.

Sinh năm 1932 tại Paris, Michel Legrand xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ. Thân phụ (Raymond Legrand) chuyên phối khí hoà âm cho dàn nhạc của ông Ray Ventura (cậu ruột của nam ca sĩ Sacha Distel). Năm Michel Legrand được ba tuổi, bố ông lại bỏ nhà ra đi mà không một lời từ biệt, kỷ niệm duy nhất của người cha là chiếc đàn piano bỏ lại trong căn nhà. Sau này, tác giả Michel Legrand cho biết ông căm ghét chuỗi ngày thơ ấu trong cô đơn cũng như thế giới tàn nhẫn của người lớn. Điều may mắn duy nhất (nếu có thể gọi đó là may mắn) là từ lúc còn bé, ông bắt đẫu mò mẫm, tự học một mình các nốt nhạc qua phím đàn dương cầm.

Nhờ có năng khiếu, cậu bé năm lên 10 tuổi, được gia đình cho đi học tại Nhạc viện quốc gia Paris. Ngoài đàn piano, ông còn học cách chơi nhiều nhạc khí khác, kể cả ghi ta và kèn đồng. Thầy của Michel Legrand là giáo sư nổi tiếng Nadia Boulanger, về vai vế bà là ‘‘hậu bối’’ của nhạc sĩ Gabriel Fauré và đã từng đào tạo nhiều thế hệ nhạc sĩ đương đại kể cả George Gershwin, Aaron Copland hay Philip Glass (nhân vật thứ ba thuộc trường phái tối thiểu). Nhạc sư Nadia Boulanger nuôi tham vọng đưa cậu học trò xuất sắc nhất của bà đi tranh giải thưởng có nhiều uy tín Prix de Rome (Khôi Nguyên La Mã).

Thế nhưng, sau khi được xem một buổi trình diễn nhạc jazz đầy hứng thú (của nhạc sĩ chơi kèn Dizzy Gillespie tại nhà hát Pleyel), Michel Legrand quyết định rời bỏ ngành âm nhạc hàn lâm, để đeo đuổi sáng tác và kiếm sống nhờ lưu diễn với các ban nhạc thịnh hành thời bây giờ. Bực mình, giáo sư Nadia Boulanger đã viết thư cho thân mẫu của Michel Legrand, than phiền ông làm cho bà thất vọng, uổng công dạy dỗ.

Vào nghề từ năm 20 tuổi, Michel Legrand đi biểu diễn ban đầu với Henri Salvador và sau đó được mời sang Mỹ vào năm 1956 làm giám đốc nghệ thuật cho nam danh ca Maurice Chevalier. Tài nghệ hòa âm của ông lọt vào tai của ban điều hành hãng đĩa Columbia (New York), sau một album gồm những bản nhạc hòa tấu nổi tiếng về Paris, Michel Legrand được toàn quyền ghi âm với dàn nghệ sĩ nhạc jazz nổi danh thời bấy giờ : John Coltrane, Bill Evans, Paul Chambers và nhất là Miles Davis. Tập nhạc này (Legrand Jazz) được thực hiện tại New York năm 1958, đánh dấu quan hệ hợp tác giữa Michel Legrand và Miles Davis trong vòng nhiều thập niên liền. Miles Davis đặt cho ông cái biệt danh thân mật là Big Mike, hai người cảm thấy gần gũi với nhau do Michel Legrand là một trong những nhạc sĩ hiếm hoi được đào tạo trong làng nhạc cổ điển nhưng lại biết chơi kèn đồng như một nghệ sĩ nhạc jazz.

Song song với dòng nhạc hoà tấu, sáng tác hay hòa nhạc cho các ca sĩ Pháp nổi danh thời bấy giờ (Dario Moreno, Jacqueline François hay Claude Nougaro với bản nhạc đề tựa Cinéma) Michel Legrand vào nghề nghề soạn nhạc phim từ giữa những năm 1950, trở thành một trong những nhà soạn nhạc năng động nhất trong thể loại này, hầu hết các đạo diễn nổi tiếng đều nhờ đến tài năng sáng tác của ông, trong đó có Marcel Carné, Orson Welles, Robert Altman, Louis Malle, Jean Luc Godard, Agnès Varda, Joseph Losey, Jean Becker cũng như nhiều tên tuổi khác... Thế nhưng, dòng nhạc của Michel Legrand vẫn gắn liền với các bộ phim ca nhạc của Jacques Demy. Cặp bài trùng này hợp tác vói nhau trong vòng gần ba thập niên (từ bộ phim đầu tay vào năm 1961 cho đến khi đạo diễn Jacques Demy qua đời vào năm 1988).

Vào năm 1966, bộ phim ‘‘Những chiếc dù Cherbourg’’ được đề cử bốn giải Oscar. Tuy không đoạt giải thưởng nào của làng điện ảnh Mỹ nhưng tác phẩm này lại là chiếc “chìa khóa” mở rộng cánh cửa Hollywood cho tác giả người Pháp.. Trong vòng hơn 10 năm làm việc tại Hoa Kỳ, Michel Legrand sáng tác nhiều nhạc phim và đoạt 3 giải Oscar dành cho các bộ phim The Thomas Crown Affair (1968), Summer 42 (1971) và Yentl (1983).

Michel Legrand từng gọi những năm tháng làm việc tại Hollywood là "cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất" trong đời ông. Nhờ bộ phim The Thomas Crown Affair (1968) của đạo diễn Norman Jewison với cặp diễn viên nổi tiếng Faye Dunaway và Steve McQueen trong vai chính, Michel Legrand trở thành một trong những nhà soạn nhạc phim sáng giá nhất thời bấy giờ. Ngoài cảnh quay nụ hôn nóng bỏng và dài nhất trên màn ảnh lớn, bộ phim Thomas Crown còn có giai điệu cực kỳ nổi tiếng The Windmills of Your Mind.

Lời tiếng Anh là của hai vợ chồng tác giả Marilyn và Alan Bergman, lời tiếng Pháp Les Moulins de Mon Cœur (tạm dịch là Cối xay giữa trời) của Eddy Marnay. Bài hát này từng được tác giả Anh Thơ đặt thêm lời Việt thành bài ‘‘Những mảnh hồn hoang’’. Khi sáng tác bài này, Michel Legrand đã gợi hứng từ một khúc giao hưởng của Mozart, bản nhạc đem về cho ông bức tượng vàng đầu tiên của làng điện ảnh Mỹ. Từ Hoa Kỳ trở về Pháp giữa những năm 1980, Michel Legrand tiếp tục sáng tác không ngừng trong lãnh vực nhạc phim, hầu như cứ hai năm là có một tác phẩm.

Theo các đồng nghiệp của ông, trong đó có các tác giả Vladimir Cosma và Francis Lemarque, Michel Legrand đem lại nhiều nét thanh tao quý phái cho dòng nhạc phim. Theo họ, Michel Legrand không chỉ là một tác giả lớn mà còn là một tay hòa âm xuất sắc, một nhạc trưởng biết điều khiển một dàn nhạc thính phòng. Nếu như trong những năm tháng đầu đời ông tự học âm nhạc, nhưng khi vào nhạc viện ông lại được truyền nghề một cách kỹ lưỡng. Điều đó được phản ánh qua lối sáng tác tinh tế, qua cách liên kết hợp âm như thể có nhiều khúc biến tấu trên cùng một giai điệu.

Trên đời này có biết bao viên ngọc quý. Nhưng có người so sánh Michel Legrand như một nhà kim hoàn. Ngoài cái tài trau chuốt mài dũa, ông còn khéo tay chạm trỗ thêm một chiếc nhẫn vàng để giúp cho viên ngọc quý càng thêm lộng lẫy, huy hoàng. Bàn tay phù thủy của ông tạo ra những chuỗi hợp âm, giúp cho giai điệu tỏa sáng, gió đưa cối xay nhẹ nhàng, quay mãi đôi cánh thời gian.


viethoaiphuong
#349 Posted : Saturday, February 9, 2019 7:25:22 AM(UTC)
viethoaiphuong

Rank: Advanced Member

Groups: Registered
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 7,347
Points: 5,193

Thanks: 639 times
Was thanked: 58 time(s) in 57 post(s)

Tuấn Thảo - RFI - Thứ Bảy, ngày 09 tháng 2 năm 2019

Enrico Macias, album mừng sinh nhật 80 tuổi


Enrico Macias song ca với Khaled nhân kỳ trao giải Victoires de la Musique 2013.
RFI /Edmond Sadaka

Vào đầu tháng Hai năm 2019, album ‘‘Enrico Macias & Al Orchestra’’ được trình làng tại Pháp. Ngày ra mắt album phòng thu thứ 18 trùng với thời điểm Enrico Macias tròn 80 tuổi. Ông ăn mừng sinh nhật lần thứ 80 trên sân khấu Olympia, tại Paris với hai buổi trình diễn 09/02 và 10/02/2019.

Sân khấu nhà hát Olympia có lẽ là nơi ông biểu diễn thường xuyên nhất, tính trung bình là cứ hai năm một lần, và lần này sẽ là đợt biểu diễn lần thứ 26 của Enrico Macias. Trên sân khấu, ông được hỗ trợ bởi 25 nhạc sĩ trong đó có dàn nhạc Al Orchestra (chữ viết tắt của Al Andalus Orchestra). Đây là một nhóm nhạc sĩ Pháp-Algérie chuyên chơi thể điệu arabo-andalou, hoà quyện các dòng nhạc đến từ Nam Âu và Bắc Phi. Ngoài mandoline và violon, họ thường kết hợp đàn ghi ta, nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha với trống darbuka và đàn oud của người Ả Rập.

Dàn nhạc Al Orchestra đã phối lại 13 ca khúc ăn khách nhất của Enrico Macias, kể cả các bài cực kỳ nổi tiếng như Solenzara(‘‘Nắng Xuân’’ lời của tác giả Phạm Duy), L’Oriental, La Femme de mon Ami (‘‘Bản tình ca của chúng ta’’ lời Việt của Khắc Dũng), Paris tu m’as pris dans tes bras (‘‘Paris âu yếm’’ lời của Phạm Duy). Có thể nói là Enrico Macias nằm trong số các ca sĩ hát tiếng Pháp có khá nhiều bài được đặt thêm lời Việt.

Trích đoạn đầu tiên của album này là bài Adieu Mon Pays (Vĩnh biệt Quê hương). Ca khúc này từng được nữ danh ca Khánh Ly ghi âm bằng lời Pháp và lời Việt. Để ghi âm bài này dưới dạng song ca, Enrico Macias đã mời ca sĩ trẻ tuổi Kendji Girac, từng đoạt giải quán quân chương trình The Voice (phiên bản tiếng Pháp) vào năm 2014.

Ở lứa tuổi 80, giọng ca của Enrico Macias có thể không còn mượt mà trầm ấm so với những năm tháng đầu đời, nhưng làn hơi của ông vẫn đầy đặn chắc nhịp, luyến láy truyền cảm, rải chữ tài tình. Ông đã chứng tỏ điều này khi khoác áo mới cho các tình khúc xưa. Khá nhiều phiên bản của năm 2019 trội hơn nhiều so với các bài song ca mà Enrico Macias từng thực hiện vào năm 2012 với thế hệ ca sĩ đàn em (Khaled, Cali, Dany Brillant, Liane Foly, Sofia Essaidi, Natasha St Pier …) trên tập nhạc mang tựa đề Venez tous mes amis (Enrico & Friends).

Về phía ca sĩ Kendji, anh cho biết anh đã được nghe các ca khúc của Enrico Macias từ thời thơ ấu. Có lẽ cũng vì bố của Kendji rất hâm mộ Enrico Macias, cho nên từ khi còn nhỏ, cậu bé đã được các giai điệu của Enrico nuôi dưỡng thấm nhuần, trong số các luồng ảnh hưởng âm nhạc vùng Địa Trung Hải phổ biến trong cộng đồng người du mục. Đối với một ca sĩ trẻ như Kendji, việc ghi âm với Enrico Macias là một món quà, một dịp may trên đường đời sự nghiệp, nhưng anh cho biết người tự hào và vui mừng hơn cả chính là thân phụ của anh (ông cũng là nghệ sĩ), khi ông bố biết rằng đứa con trai cưng đang song ca với thần tượng lớn nhất của mình.

Trung thành với khán giả và khách ngưỡng mộ, Enrico Macias sau khi phát hành tập nhạc mới, sẽ bắt đầu vòng lưu diễn với dàn nhạc Al Orchestra. Trong gần 60 năm sự nghiệp, Enrico Macias đã từng đứng chung sân khấu với hầu như toàn bộ các ca sĩ nổi tiếng ở Pháp như Sylvie Vartan, Claude François, Johnny Hallyday, Sacha Distel, Eddy Mitchell và nhất là Charles Aznavour, người mà ông vô cùng mến phục.

Cũng như danh ca Aznavour, Enrico Macias đã đem dòng nhạc Pháp đi hầu như khắp thế giới New York, Moscow, Rio, Montreal, Buenos Aires, Sydney, Seoul, Tokyo...Trong vòng hơn nửa thế kỷ ca hát, Enrico Macias đã biểu diễn tại hơn 80 quốc gia trên thế giới. Thế nhưng, Enrico Macias lại chưa bao giờ được phép về thăm quê nhà.

Sinh tháng 12 năm 1938 tại thành phố Constantine, miền đông bắc Algérie trong một gia đình nhạc sĩ gốc Do Thái, Enrico Macias (tên thật là Gaston Ghrenassia) buộc phải rời khỏi nguyên quán, năm ông 23 tuổi (1961) vào thời chiến tranh giành độc lập tại Algérie đang diễn ra dữ dội. Trên con đường rời xa xứ sở, bỏ lại đằng sau mái ấm gia đình và những gương mặt thân quen, Enrico Macias đã chấp bút viết bài hát “Adieu mon pays” (Vĩnh biệt quê hương) với tâm trạng da diết nỗi buồn, thương nhớ khôn nguôi, rời bỏ quê mẹ mà không được nói lời giã từ.

Bản nhạc này vì thế có sức sống mãnh liệt ở mọi nơi, ở mọi thời. Bất cứ ai từng trải qua hoàn cảnh phải xa gia đình, quê hương đều có thể bắt gặp mình khi nghe qua bài hát này và họ có cảm tưởng Enrico Macias đã nói thay họ nỗi buồn lưu vong, thở dài thổn thức, nghẹn lời ray rứt. Một bài hát mà theo chính lời của tác giả, với lối kể lể tâm tình gần gũi, càng dễ đi vào lòng người.

Cho tới giờ này, ca sĩ kiêm tác giả Enrico Macias vẫn chưa hề được phép về thăm cố hương một lần, do ông bị chỉ trích có lập trường thân quốc gia Do Thái. Hoàn cảnh ấy đã gợi hứng cho ông sáng tác nhạc phẩm Le Voyage (hiểu theo nghĩa Chuyến về thăm nhà) qua đó, ông mường tượng một chuyến hồi hương, bất kể đường xá gian truân, cho dù lối đi có bị chặn lại bao lần, nhưng cũng như ông nói, tâm hồn kẻ lưu vong chưa bao giờ lạc lối quên đường, vì con tim trung thành tựa như chiếc la bàn, biết nhắm đúng hướng tìm nẻo về quê hương.



Users browsing this topic
Guest (2)
18 Pages«<161718
Forum Jump  
You cannot post new topics in this forum.
You cannot reply to topics in this forum.
You cannot delete your posts in this forum.
You cannot edit your posts in this forum.
You cannot create polls in this forum.
You cannot vote in polls in this forum.